1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học phật giáo của trần nhân tông tiểu luận cao học

35 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 178,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới có nguồn gốc từ Ấn Độ. Phật giáo đã truyền vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên, đến nay đã gần 2000 năm. Từ đó đến nay, Phật giáo đã để lại cho dân tộc ta nhiều dấu ấn có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến văn hóa, phong tục, tập quán, từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảm. Từ khi du nhập vào nước ta, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sử dân tộc, Phật giáo được bản địa hóa, mang đậm màu sắc văn hóa Việt Nam và là một bộ phận của nền văn hóa tinh thần, cũng như nếp sống của người Việt. Ngay từ thời kỳ đầu dựng nước, thời kỳ khẳng định nền độc lập dân tộc, Phật giáo và dân tộc đã gắn bó mật thiết, khăng khít với nhau. Lý Nam Đế (451 547) vừa tạo lập ra nước “Vạn Xuân” vừa xây dựng chùa “Khai Quốc”. Hình ảnh nước “Vạn Xuân” và chùa “Khai Quốc” đã quyện chặt vào nhau trong buổi đầu dựng nước và giữ nước. Ở thời Lý, Phật giáo tiếp tục chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân. Câu tục ngữ “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” phản ánh trong ý thức người dân vai trò của Phật giáo trong giai đoạn lịch sử này. Dưới triều đại nhà Trần ở thế kỷ XIII, Phật giáo phát triển mạnh và được xem như là quốc giáo. Đặc biệt vào thời đại vua Trần Nhân Tông là thời đại mà Phật giáo phát triển đến cực thịnh. Đời Trần là thời đại mà Phật giáo thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc từ hình thức lẫn nội dung, yếu tố đưa đến thành công và những đặc sắc của đạo Phật không tách rời với sự phát triển của dân tộc. Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc. Nó hoàn toàn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của một dân tộc khao khát hoà bình, yêu thích tự do độc lập. Khi chiến tranh chống ngoại xâm, đạo Phật đã tập hợp những tâm hồn yêu nước, thương dân, đoàn kết một lòng mọi người với ông Bụt từ bi, với Quan Âm cứu khổ và giáo lý thực tiễn không tách rời cuộc sống bằng thân, khẩu, ý. Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là tính tích cực nhập thế. Có thể nói rằng các vị vua, các thiền sư đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến cho nó trở thành một tôn giáo không thể thiếu trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam. Trong số những vị vua, các nhà thiền sư của nhà Trần, thì Trần Nhân Tông nổi lên không chỉ với tư cách là nhà chính trị, nhà quân sự nổi tiếng, là một anh hùng dân tộc đã hai lần lãnh đạo nhân dân nước Đại Việt đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông để giành lấy chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước; mà ông còn là nhà văn hóa, nhà tư tưởng nổi tiếng đương thời. Điều đáng chú ý là Trần Nhân Tông còn là vị hòa thượng chân tu, một nhà thiền học có công lớn nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Ông xuất phát từ thực tế Việt Nam để sáng lập ra một tông phái Phật giáo mang bản sắc Việt Nam thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Vì vậy, nghiên cứu triết học Trần Nhân Tông có ý nghĩa vô cùng to lớn. Bởi nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Nhân Tông để làm sáng tỏ vị trí, vai trò của Trần Nhân Tông đối với Phật giáo Việt Nam nói chung và đời sống văn hóa tinh thần của con người Việt Nam nói riêng. Đồng thời, nó giúp chúng ta biết đến những di sản tư tưởng văn hóa quý báu của cha ông, để “gạn đục, khơi trong” tiếp nhận, phát huy những gì là tích cực, ngăn chặn, gạt bỏ những gì là tiêu cực trong công cuộc đổi mới, mở cửa hiện nay, góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông” để làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới có nguồn gốc từ Ấn

Độ Phật giáo đã truyền vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu côngnguyên, đến nay đã gần 2000 năm Từ đó đến nay, Phật giáo đã để lạicho dân tộc ta nhiều dấu ấn có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến vănhóa, phong tục, tập quán, từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ tưtưởng đến tình cảm Từ khi du nhập vào nước ta, Phật giáo đã tồn tại

và gắn liền với lịch sử dân tộc, Phật giáo được bản địa hóa, mangđậm màu sắc văn hóa Việt Nam và là một bộ phận của nền văn hóatinh thần, cũng như nếp sống của người Việt

Ngay từ thời kỳ đầu dựng nước, thời kỳ khẳng định nền độc lậpdân tộc, Phật giáo và dân tộc đã gắn bó mật thiết, khăng khít vớinhau Lý Nam Đế (451- 547) vừa tạo lập ra nước “Vạn Xuân” vừaxây dựng chùa “Khai Quốc” Hình ảnh nước “Vạn Xuân” và chùa

“Khai Quốc” đã quyện chặt vào nhau trong buổi đầu dựng nước vàgiữ nước Ở thời Lý, Phật giáo tiếp tục chiếm vị trí chủ đạo trong đờisống tinh thần của nhân dân Câu tục ngữ “Đất vua, chùa làng, phongcảnh Bụt” phản ánh trong ý thức người dân vai trò của Phật giáotrong giai đoạn lịch sử này Dưới triều đại nhà Trần ở thế kỷ XIII,Phật giáo phát triển mạnh và được xem như là quốc giáo Đặc biệtvào thời đại vua Trần Nhân Tông là thời đại mà Phật giáo phát triểnđến cực thịnh

Trang 2

Đời Trần là thời đại mà Phật giáo thật sự hoà nhập vào lòng dântộc từ hình thức lẫn nội dung, yếu tố đưa đến thành công và nhữngđặc sắc của đạo Phật không tách rời với sự phát triển của dân tộc.Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc.

Nó hoàn toàn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của một dân tộc khaokhát hoà bình, yêu thích tự do độc lập Khi chiến tranh chống ngoạixâm, đạo Phật đã tập hợp những tâm hồn yêu nước, thương dân, đoànkết một lòng mọi người với ông Bụt từ bi, với Quan Âm cứu khổ vàgiáo lý thực tiễn không tách rời cuộc sống bằng thân, khẩu, ý Đặcsắc của Phật giáo đời Trần là tính tích cực nhập thế Có thể nói rằngcác vị vua, các thiền sư đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật,khiến cho nó trở thành một tôn giáo không thể thiếu trong đời sốngvăn hóa xã hội Việt Nam

Trong số những vị vua, các nhà thiền sư của nhà Trần, thì TrầnNhân Tông nổi lên không chỉ với tư cách là nhà chính trị, nhà quân

sự nổi tiếng, là một anh hùng dân tộc đã hai lần lãnh đạo nhân dânnước Đại Việt đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông để giành lấychủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước; mà ông còn là nhà vănhóa, nhà tư tưởng nổi tiếng đương thời Điều đáng chú ý là TrầnNhân Tông còn là vị hòa thượng chân tu, một nhà thiền học có cônglớn nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Ông xuất phát từ thực tếViệt Nam để sáng lập ra một tông phái Phật giáo mang bản sắc ViệtNam - thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Vì vậy, nghiên cứu triết học Trần Nhân Tông có ý nghĩa vôcùng to lớn Bởi nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Nhân Tông để

Trang 3

làm sáng tỏ vị trí, vai trò của Trần Nhân Tông đối với Phật giáo ViệtNam nói chung và đời sống văn hóa tinh thần của con người ViệtNam nói riêng Đồng thời, nó giúp chúng ta biết đến những di sản tưtưởng văn hóa quý báu của cha ông, để “gạn đục, khơi trong” tiếpnhận, phát huy những gì là tích cực, ngăn chặn, gạt bỏ những gì làtiêu cực trong công cuộc đổi mới, mở cửa hiện nay, góp phần xâydựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Góp phần tìm hiểu

tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông” để làm đề tài

nghiên cứu khoa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về những

tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông Ở đây có thể nêu lên một sốtác phẩm tiêu biểu sau:

- Nguyễn Tài Đông, “Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần NhânTông”, Tạp chí Triết học số 12 – 2008

- Nguyễn Đức Sự, “Trần Nhân Tông nhà Thiền học, nhà tưtưởng lỗi lạc thời Trần”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 12 – 2008

- Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông – Con người và tác phẩm,

Trang 4

- Hoàng Ngọc Vĩnh, Giáo trình tôn giáo học đại cương, Nxb

Đại học Huế, Huế 2009

- Hoàng Ngọc Vĩnh, Hồ Chí Minh với một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Đại học Huế, Huế 2009.

Các công trình nghiên cứu mới này đã khẳng định: Phật giáoTrúc Lâm là nhập thế; phụng sự cho đời sống; giải thoát tâm linhcũng như giải thoát đời sống xã hội là hai phương diện liên quan đếnnhau, bổ túc cho nhau; Phật tại tâm của Trúc Lâm Yên Tử là sự pháttriển đến trình độ cao gần như hoàn thiện quan niệm Phật tại tâm củaPhật giáo

Trong quá trình thực hiện đề tài “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông” nhóm tác giả đã có sự

tiếp thu kế thừa những thành tựu đã đạt được trong các công trìnhnêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm sáng tỏ vị trí vai trò củaTrần Nhân Tông trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là tưtưởng về bản thể luận và nhân sinh quan của Trần Nhân Tông; nhữngđóng góp của ông trong sự phát triển tư tưởng triết học Việt Nam.Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Trình bày cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Trần Nhân

Tông

- Làm sáng tỏ một số nội dung triết học Phật giáo cơ bản củaTrần Nhân Tông như bản thể luận, nhân sinh quan v.v

Trang 5

- Làm rõ những đóng góp của Trần Nhân Tông đối với Phậtgiáo Việt Nam nói riêng, với đời sống văn hóa Việt Nam nói chung.

4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về vấn đề tôn giáo

Phương pháp nghiên cứu

- Phép biện chứng duy vật, với những nguyên tắc khách quan,toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể là phương pháp nghiên cứu xuyênsuốt của đề tài

- Bên cạnh đó đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể khácnhư phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, trừu tượng hóa, khái quáthóa v.v để thực hiện đề tài

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo,

đề tài được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết:

Chương 1: Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông

Trang 6

Chương 2: Những nội dung cơ bản trong triết học Phật giáo củaTrần Nhân Tông

Trang 7

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO TRẦN NHÂN TÔNG

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Trần NhânTông không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, bất thường, mà làmột hiện tượng có tính tất yếu lịch sử Nó không những phản ánhnhững điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ, mà còn là kếtquả của sự tiến triển nội tại của Phật giáo Việt Nam

Nếu cuối thời Lý nền kinh tế bị suy thoái thì với triều Trần lựclượng sản xuất bắt đầu được phục hồi và phát triển Nhà Trần đề rachủ trương khai khẩn đất hoang, đắp đê quai vạc ngăn úng lụt, nướcmặn Bởi vậy số làng quê tăng lên nhanh chóng Trong các lộ, tỉnh,nhà Trần đều có người theo dõi đê điều, canh tác đất hoang và quản

lý dân số Những chính sách tích cực của nhà Trần nhằm đẩy mạnhsản xuất nông nghiệp, đã có tác dụng đáng kể, nhiều năm được mùalớn, cuộc sống nhân dân ổn định

Những biến đổi to lớn trong cơ sở kinh tế, trong thượng tầngkiến trúc, nhà nước đã tạo nên những yếu tố tích cực thúc đẩy sựphục hồi, phát triển của xã hội Việt Nam ở thế kỷ XIII và cho đấtnước một sức mạnh mới đủ sức đánh bại các cuộc xâm lược của quânNguyên Mông vào những năm 1258, 1285 và 1287 - 1288

Sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi, donhiều nguyên nhân khác nhau như mất mùa, đói kém làm nhân dân

Trang 8

rơi vào tình trạng bần cùng hóa, nên “nhân dân nhiều người phải bánruộng đất và bán con trai, con gái làm nô tỳ” làm cho xã hội lúc nàyhình thành một tầng lớp đông đảo những người nông nô và nô tỳ.Trong khi đó, quan lại, quý tộc nhà Trần chiếm hết ruộng đất, ăn chơi

xa xỉ, không quan tâm đến cuộc sống của người dân

Nhận thức được những mâu thuẫn đó, tập đoàn quý tộc tôn thấtnhà Trần đã cố gắng xoa dịu mâu thuẫn Tư tưởng của Trần NhânTông một mặt phản ánh phản ánh nhu cầu, khát vọng của dân tộcViệt Nam đang xây dựng, bảo vệ một quốc gia độc lập, tự chủ, thốngnhất, mặt khác nhằm duy trì và củng cố quyền lực, địa vị thống trịtrên toàn xã hội của dòng họ Trần

1.2 Nguồn gốc tư tưởng

Sự hình thành những tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là

sự phát triển nội tại, kế thừa, dung hợp các dòng thiền trước đó(Vinitaruci, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường)

Quan điểm trọng tâm và xuyên suốt của dòng Thiền Vinitaruci

là vươn tới bản chất của sự giác ngộ Kinh tượng đầu tịnh xá màVinitaruci rất ưa thích, thấu hiểu, ông đã dịch ra để làm căn bản cho

sự hành thiền Quá trình truyền thừa của nó đã kết hợp có chọn lọcDịch pháp với Phật pháp tạo nên sắc thái mới cho Thiền Tông ViệtNam

Nếu thiền phái Vinitaruci là thiền phái mang đậm màu sắc Phậtgiáo Ấn Độ, thì thiền phái Vô Ngôn Thông là dòng thiền của Phật

Trang 9

giáo Trung Hoa mà nét đặc trưng của nó là sự kết hợp giữa Thiền vớiLão Đặc trưng chủ yếu của thiền Vô Ngôn Thông là sự phát triểnkhái niệm “tâm”, đặt cơ sở lí luận cho khuynh hướng triết lý hướngnội và biện tâm sau này của Trần Thái Tông, mà đặc biệt là quanniệm “Phật tại tâm” của Trần Nhân Tông sau này.

Thiền phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông (1054- 1068) sánglập là sự kết hợp giữa thiền, tịnh và Nho Thiền phái này mặc dù chỉtồn tại trong một thời gian ngắn nhưng nó cũng có ảnh hưởng nhấtđịnh đến tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông với khuynh hướng

“tam giáo đồng nguyên” và khuynh hướng trọng tri thức, triết lý thơ

ca

Những giáo lý cơ bản của Thiền tông (tâm, Phật, đốn ngộ, sinhtử, giữa chúng có ảnh hưởng đến nhau và đều mang tinh thần nhậpthế) đã hòa mình vào cuộc sống thường nhật Tuy nhiên, càng về sau

cả 3 thiền phái này đều không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triểnlịch sử dân tộc Việt Nam Sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

do Trần Nhân Tông đứng đầu đã thống nhất 3 phái thiền trên bằngdung hợp nó trên nền tảng ý thức độc lập chủ quyền của dân tộc,hạnh phúc của nhân dân Sự dung hợp này đã được các thiền sưThường Chiếu (?- 1203), Huyền Quang (?- 1220), Trúc Lâm quốc sư

và một vài thiền sư khác ở Yên Tử thực hiện bước đầu Họ nhưnhững người thợ cần cù mải miết pha màu để tạo ra những màu sắcmới, mang phong cách và tinh thần thiền học Việt Nam Họ là chiếccầu nối giữa thiền học đời Lý và thiền Trúc Lâm và tạo tiền đề choTrần Thái Tông - “một ông vua”, “một Phật tử” đầy tài năng và tinh

Trang 10

thần sáng tạo, đặt những nét chấm phá mới cho bức tranh thiền họcViệt Nam - kết hợp được các luồng tư tưởng trước đó một cách cóchọn lựa và nhào nặn chúng thành một triết lý hoàn chỉnh, làm nềntảng cho tư tưởng triết học của ông và thiền phái Trúc Lâm Yên Tửsau này.

Khi đề cập đến tư tưởng triết học Trần Nhân Tông không thể

không nhắc đến triết học Trần Thái Tông (1218 - 1277) - “tập đạithành đầu tiên của Phật giáo Việt Nam” và tư tưởng của Tuệ TrungThượng Sĩ - ngọn đèn tổ của Phật hoàng Trần Nhân Tông

Toàn bộ tư tưởng của Trần Thái Tông được thể hiện trong 2 tác

phẩm Thiền tông chỉ nam và Khóa hư lục Đó là những tác phẩm mà

hình như máu chảy ngọn bút, nước mắt thấm trên từng trang giấy.Những tác phẩm này là sau bao khát khao tìm tòi chân lý với nổi đauthái thế nhân tình, để rồi đạt đến sở đắc “chân tâm” Ông đề cao tinhthần “đốn ngộ” vừa coi trọng việc thực hiện tuần tự tam học, chủtrương dung hợp cả “đốn ngộ” lẫn “tiệm ngộ” Ông không đề caophép niệm Phật mà chỉ coi nó là một trong những bước đi thiền củangười trung trí và hạ trí Tất cả các tư tưởng trên của Trần Thái Tông

về sau được cháu nội của mình là Trần Nhân Tông kế thừa và pháttriển

Tuệ Trung (1230 - 1291) - ngọn đuốc sáng nhất của thiền họcđời Trần, là đỉnh cao của tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XIII được các

vị tổ Trúc Lâm coi đã “thấu suốt đến cội nguồn của tâm tính, tột cùngcủa trí tuệ” Thiền ở Tuệ Trung Thượng Sĩ là một thái độ, hành độngsống, đưa con người trở về với chính mình để khai mở con người

Trang 11

đích thực không vị trí Ở ông thiền không chỉ là hành thiền mà còn là

“sống thiền” tức là đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, đánh giặc cứunước cũng là thiền, thậm chí chẳng thiền gì cả cũng là thiền

Trong quan niệm nhân sinh quan của mình, ông đặt mục tiêu tự

do tuyệt đối lên hàng đầu, coi nó là chuẩn mực là thước đo của thiền.Ông cho rằng, tự do tuyệt đối là sống ung dung tự tại, thuận với tựnhiên, hòa đồng với tự nhiên “Phật là Phật, anh là anh, trong tâm cóPhật ăn gì chẳng được”

Tất cả những tư tưởng đó đều ảnh hưởng rất lớn đến ngọn đèn

tổ Phật hoàng Trần Nhân Tông “là ngọn gió lành của nhà Phật, đềxướng những châm ngôn để dẫn dắt lớp người hậu học đi tới vầngsáng trác việt”

1.3 Phẩm chất đặc biệt của Trần Nhân Tông

Không phải ngẫu nhiên lịch sử tôn vinh Trần Nhân Tông là vịanh hùng, là nhà văn hoá của dân tộc

Ông là vị vua có công lớn trong việc lãnh đạo nhân dân ĐạiViệt hai lần đánh thắng quân Nguyên-Mông Trần Nhân Tông là vịvua anh minh, văn võ toàn tài, ông chịu ảnh hưởng bởi triết lý Phậtgiáo - một triết lý sau hai thế kỷ chiếm địa vị quốc giáo dưới thời Lý.Đến đầu nhà Trần, triết lý đó đã đủ thời gian và điều kiện hòa nhậpvới truyền thống, bản sắc dân tộc Việt, vì vậy nó ăn sâu vào nếpsống, suy nghĩ, hành động của ông

Trang 12

Ngay từ nhỏ, Trần Nhân Tông đã tỏ ra là người xuất chúng.

Tam tổ thực lục còn ghi, Trần Nhân Tông “thánh tính thông minh, tài

giỏi hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển (kinh Phật) vàngoại điển (sách vở khác)”; “thông thảo cả các vấn đề thiên văn, lịch

số, binh pháp, y dược, âm luật” Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần

Nhân Tông là “tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái nhưvàng , thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng… Vua nhân từ hòa nhãcấu kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thủa trước thực là

bậc vua hiền của nhà Trần” Điều này sách Tam tổ thực lục nói “Điều

Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ vàthực hành giáo lý Thập Thiện”

Tất cả những tư tưởng của ông đều được lãnh hội trên tinh thầndung hợp Nho, Phật và coi nó có tính chất chỉ đường cho cuộc đờihoạt động của chính mình và thế hệ mai sau Ông đã cố gắng thực

hiện nó trên cơ sở kết hợp giữa đời và đạo “Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dưới dùng người giỏi, lập nên võ công Nếu không có tư chất nhân, minh, anh, võ thì sao được như thế?” Việc

Trần Nhân Tông xuất gia không chỉ mang mục đích thuần túy tôngiáo mà còn bao hàm cả ý đồ chính trị, điều đó đã nâng cao hơn nữađịa vị và thế lực tinh thần của mình, đã kết hợp trong đời mình mộtanh hùng võ công hiển hách với một đức Phật từ bi, cốt cách thanhtao Vì thế, ông trở thành một ông vua triết gia, một Phật tử có nhãnquan chính trị, ảnh hưởng lớn lao đến triều đình và toàn xã hội Bằng

uy tín và đức độ của mình Trần Nhân Tông đã thúc đẩy nhanh chóngthanh thế cho thiền phái Trúc Lâm nhằm biến nó thành thế lực tinh

Trang 13

thần có ảnh hưởng mạnh mẽ, không chỉ ở trong tầng lớp quan lại màvới toàn thể dân chúng Ông dù làm vua hay làm giáo chủ thì đều dốchết lòng, hết sức cho sự nghiệp đời và đạo.

Trần Nhân Tông được biết đến không chỉ với tư cách là mộtnhà vua, nhà sư mà ông còn là một nhà thơ, nhà văn có những đónggóp cho thơ văn thời Trần lúc bấy giờ Những tác phẩm đó bao gồm:

Trần Nhân Tông thi tập, Tăng già toái sự, Đại Hương hải ấn thi tập, Thạch thất mỵ ngữ… Đáng chú ý nhất là hai tác phẩm chữ Nôm Cư Trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca không chỉ có

giá trị về mặt nội dung tư tưởng Thiền học mà còn góp phần mở đầu

cho sự phát triển tiếng Việt trong lịch sử văn học dân tộc Cư Trần lạc đạo phú là bản tuyên ngôn của con đường sống đạo mà Phật giáo

Đại Việt đã đề ra và chi phối toàn bộ tư tưởng, cuộc sống người dânlúc bấy giờ Nó cũng là một trong những tác phẩm được giới nghiêncứu Phật giáo và văn hoá dân tộc Việt Nam quan tâm khá đặc biệt,được trích dẫn đích danh khi Thiền sư Chân Nguyên trình bày cho

vua Lê Chính Hoà vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục Chính vì thế, nó góp phần tác động vào sự tồn tại và

ảnh hưởng của nó trong quá trình truyền đạt tư tưởng Thiền học ViệtNam

Xuất gia tu hạnh Đầu Đà nhưng vẫn không tách biệt với xã hộiđời thường, chú trọng đến hình tướng của sự vật, hành động nhiềuhơn Khuynh hướng của ông là lấy đạo giúp đời và lấy đời giúp đạo.Trần Nhân Tông đã có những đóng góp trong việc tập hợp, xây dựng

và củng cố một giáo hội Phật giáo thống nhất Các nguyên lý đạo đức

Trang 14

của Phật được ông chú ý truyền dạy cho Phật tử và thần dân Chỉ cóTrần Nhân Tông với cuộc đời hoạt động của ông, với tính cách củaông, khiến ông tạo được sự sẵn sàng (cả về tiền đề khách quan và tiền

đề chủ quan) cho việc thực hiện bước nhảy từ xuất thế đến nhập thế.Tóm lại, tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là sản phẩm tổnghòa của những điều kiện khách quan và chủ quan, của truyền thốngvăn hóa dân tộc cùng với phẩm chất của ông để xây dựng tư tưởngtriết học có ý nghĩa to lớn đối với tư tưởng triết học Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

2.1 Vấn đề thế giới quan trong tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông

Trước Trần Nhân Tông thì các nhà thiền học như Trần TháiTông, Tuệ Trung Thượng Sỹ đã đề cập đến vấn đề bản thể luận thôngqua một loạt các khái niệm như “Phật tâm”, “Phật tính”, “Pháp thân”.Quan niệm về bản thể của Trần Thái Tông là quan điểm

“Không” Khái niệm “không” được hiểu là thực tại tuyệt đối, là thựcthể của vũ trụ “Không” là cội nguồn và là nguyên khởi của toàn bộthế giới sự vật hiện tượng “Không” ở đây là cái tuyệt đối, là thái hư,chân tễ, là không sinh không hóa, không có tướng cũng không cóhình, không có điểm khởi đầu cũng không có điểm kết thúc Nghĩa là

ở trạng thái không có đối lập, không có mâu thuẫn, siêu việt lên tất

cả, trạng thái “vô sở trụ”

Trong triết học Trần Thái Tông, chúng ta còn thấy khái niệm

“bản lai diện mục” “Bản lai diện mục” (khuôn mặt nguyên xưa)cũng chính là bản tâm (cái tâm ban đầu) Cái tâm ban đầu này chính

là bản thể, là không hư Trần Thái Tông gọi Phật tính là bồ đề giáctính hay bát nhã thiện căn Khi diệt được tham, sân, si thì bồ đề giáctính hay bát nhã thiện căn ở mỗi con người lại trong trẻo tràn đầy.Trần Thái Tông cũng đề cập đến khái niệm “Pháp thân” Phápthân là “cái nhơn thân, cái đạo thể, cái thể của pháp tánh , nó tự

Trang 16

nhiên trường tồn không thay đổi” Theo Trần Thái Tông, người đờithường “nhận mình là thực, quên mất pháp thân”.

Cũng như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng coi cáibản thể là “không” “Không” đó vừa có vừa không, rất biện chứng

“có mà không, không mà có” Ông cũng dùng “tâm thể”, “Phật tính”

để chỉ bản thể: “Tâm thể không phải cũng không trái, Phật tính không

hư cũng không thực” Như vậy, tâm thể là cái tâm siêu việt, thườngtịch vắng lặng, không hình không tướng, không trái không phải,không sinh không diệt Cũng như quan điểm của Thiền Tông, TuệTrung Thượng Sĩ coi tâm là cái vô hình, vô sắc, vô thanh, tức làkhông có hình tướng, nếu xem là lớn thì nó vô cùng lớn, nếu nhỏ thì

vô cùng nhỏ

Nối tiếp Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, từ góc độThiền học Trần Nhân Tông đã làm sáng tỏ hơn nữa vấn đề bản thểcủa vũ trụ và vạn vật Ông dùng khái niệm bản và gốc để chỉ cái bảnthể đó

Để chỉ bản thể, Trần Nhân Tông dùng khái niệm “bản” Ôngdùng chữ bản là muốn nói tới cái gốc, cái ngọn nguồn, cái bảnnguyên, cái đầu tiên trong vũ trụ Điều này được ông nói trong bài

Cư trần lạc đạo phú:

“Bụt ở trong nhà;

Chẳng phải tìm xaNhân khuấy bản nên ta tìm bụtĐến cốc hay chỉn bụt là ta”

Trang 17

Ở đây Trần Nhân Tông cho rằng Bụt ở trong bản thân mình,không phải tìm ở đâu khác bên ngoài Tục ngữ ta cũng có câu “Bụt ởtrong nhà mà lại đi cầu Thích Ca ngoài đường” Cầu như vậy thì thấyPhật thế nào được Sở dĩ có hiện tượng đi cầu như vậy, là do ta quêngốc, “khuấy bản” Đến khi hiểu ra thì chính bụt là ta Tất nhiên, ta ởđây là cái ta đã giác ngộ, chứ không phải cái ta ở mọi người

Nếu ở Trần Thái Tông bản thể sâu trầm, trong lặng như như,không vương chút niệm lự, trong suốt, xưa nay không gợn một bụinhơ; còn Tuệ Trung Thượng Sĩ bản thể như nhiên tự không tịnh,vằng vặc chưa hề có mê lầm; thì ở Nhân Tông bản thể lặng yên trongtrẻo Thực ra, tuy diễn đạt có khác nhau, nhưng tư tưởng của ba ông

là một Tư tưởng là một, nhưng những thiền ngữ của Trần Thái Tôngthì bóng bẩy, của Tuệ Trung Thượng Sĩ thì mạnh mẽ, mãnh liệt, còncủa Trần Nhân Tông thì thực tế, chững chạc

Bản thể, Phật tính, theo Trần Nhân Tông về thực chất thì aicũng có đầy đủ, viên thành Ông viết: “Ai ai cũng đủ bản tính, ngườingười đều được viên thành” Cũng như Trần Thái Tông và Tuệ TrungThượng Sĩ, Trần Nhân Tông cho rằng tâm (hay lòng) là Phật, Phật làtâm (hay lòng), Phật ở trong tâm (hay lòng), ngoài tâm (hay lòng)không có Phật Ông viết: “Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mãtổ” Theo Nhân Tông, Di Đà là tính sáng soi chẳng phải nhọc tìm vềcực lạc, còn tịnh độ không phải là phương trời trừu tượng mà chính làlòng trong sạch

Khi đã làm cho Phật tính trong trẻo tròn đầy lại như xưa, tức làkhi đã giác ngộ, thì làm gì còn tội phúc, nhân quả Với ý nghĩa đó,

Ngày đăng: 17/08/2017, 17:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w