1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

ĐỘC TỐ THỰC PHẨM HẤP THỤ BÁI TIẾT

20 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể Xâm nhập qua đường dạ dày - ruột Nội thấm bào Vận chuyển tích cực Sự thấm lọc Khuyếch tán thụ động qua màng Xâm nhập qua da Xâm nhập qua đường hô hấp.

Trang 1

ĐỘC TỐ THỰC PHẨM

Trang 3

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

Xâm nhập qua đường dạ dày - ruột Nội thấm bào

Vận chuyển tích cực

Sự thấm lọc Khuyếch tán thụ động qua màng

Xâm nhập qua da Xâm nhập qua đường hô hấp

Trang 4

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

Sự thải loại chất độc

Sự phân bố

Sự hấp thu

Trang 5

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.1 Cơ chế hấp thu nhờ khuyếch tán thụ động

Phần lớn các chất độc đi qua màng tế bằng con đường khuyếch tán thụ động.

Đặc điểm của màng tế bào

- Màng tế bào có cấu trúc ngăn cản không cho hầu hết các cấu trúc có kích thước lớn đi qua.

- Màng tế bào chứa lớp lipid kép với nhiều khe và các

protein nằm bên ngoài và xuyên qua màng.

Trang 6

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.1 Cơ chế hấp thu nhờ khuyếch tán thụ động

Khuyếch tán bị động phụ thuộc vào các yếu tố:

- Gradient nồng độ chất độc ở hai bên màng.

- Tính ưa béo của phân tử độc

Đặc điểm:

- Là phương thức xâm nhập của nhiều dược phẩm và chất độc

- Không cần năng lượng

- Các chất hòa tan trong lipid có tốc độ xâm nhập nhanh

Trang 7

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.2 Sự thấm lọc

Các màng của các mao quản và các cuộn tiểu cầu thường có các lỗ tương đối rộng (khoảng 70nm) nên các phân tử có kích thước bé hơn đều có thể đi qua được.

Nhờ lực thuỷ tĩnh hoặc lực thẩm thấu mà dòng nước đi qua các lỗ này sẽ góp phần vào việc vận chuyển các chất độc

Trang 8

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.3 Vận chuyển tích cực

Sự vận chuyển tích cực thường bao gồm cơ chế tạo ra một phức giữa phân tử và chất tải cao phân tử tại một phía của màng

Phức có thể khuyếch tán qua phía bên kia màng và tại đây phân tử sẽ được giải phóng Sau đó chất tải lại quay trở về

vị trí ban đầu và quá trình lại tiếp tục

Trang 9

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.4 Nội thấm bào

Các tiểu phần dạng rắn có thể được hấp thu bởi thực bào hoặc bởi uống bào nếu các tiểu phần ở dạng lỏng

Hệ thống vận chuyển đặc biệt này rất quan trọng đối với các túi phổi cũng như đối với hệ thống lưới - nội – mô khi bài tiết các chất độc có trong máu

Trang 10

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.5 Xâm nhập qua đường dạ dày - ruột

Từ dạ dày và ruột, chất độc phải qua được nhiều hệ thống cấu tạo của cơ thể trước khi có mặt trong hệ tuần hoàn

Các chất không phân cực hòa tan trong lipid dễ xâm nhập qua đường này

Đối với các chất phân cực: Các chất có tính acid yếu thường được hấp thụ từ dạ dày; những chất có tính bazơ yếu thường được hấp thụ ở ruột non

Khuyếch tán thụ động là cơ chế đầu tiên của quá trình xâm nhập qua biểu mô thành dạ dày-ruột

Trang 11

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.5 Xâm nhập qua đường dạ dày - ruột

Một vài chất (như sắt, thallium, cholecalciferol, chì) được hấp thu nhờ hệ thống vận chuyển của chính đường tiêu

hóa

- Hấp thu chất độc còn phụ thuộc vào tuổi của động vật Động vật sơ sinh có hàng rào ngăn cản kém hơn nên chất độc dễ xâm nhập hơn theo đường này

- Các loài khác nhau có mức độ nhiễm chất độc khác nhau

do độ pH khác nhau

Trang 12

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.6 Xâm nhập qua da

 Da cũng là một cấu trúc phòng vệ cho cơ thể nhờ lớp tế bào biểu bì với vô số tế bào và không có cấu trúc mạch

 Khả năng bảo vệ của da sẽ giảm nếu da bị trầy sước, tổn

thương, viêm hay tiếp xúc với các dung môi hữu cơ (dung môi hữu cơ là chất mang cho một sô thuốc trừ sâu)

 Khuyêch tán bị động là cơ chế ban đầu của quá trình xâm

nhiễm qua da

Chất độc có thể xâm nhập nhanh hơn qua các lỗ chân lông

Trang 13

1 Con đuờng chất độc đi vào cơ thể

1.7 Xâm nhập qua đường hô hấp

 Là cách xâm nhập quan trọng của các khí độc:CO, H2S…

Chất độc xâm nhập tại các nhánh phế quản nhỏ và các phế

nang

 Các phế nang có diện tích tiếp xúc lớn với không khí đồng thời tiếp xúc trực tiếp với thành của các mao mạch , ít cấu trúc phòng vệ nên khí độc dễ xâm nhập vào hệ tuần hoàn

 Các yếu tố ảnh hưởng đến xâm nhập của chất độc bao gồm: khả năng hòa tan của khí độc;, kích thước các phần tử khí (nếu kích thước >5 micron sẽ tác động mạnh vào các màng nhầy mũi - thanh quản; kích thước từ 2-5 micron có thể xuống đến các nhánh của cây phế quản; các hạt có kích thước < 1micron

có thể xuống đến phế nang và xâm nhập qua thành phế nang

Trang 14

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.1 Sự hấp thu

Sự hấp thu chất độc qua đường tiêu hoá

Đa phần các chất độc đi vào đường tiêu hoá cùng với nước và thức ăn hoặc đi vào một cách độc lập (trường hợp chất thuốc

và một số chất độc)

Sự hấp thu có thể xảy ra trên toàn bộ chiều dài của ống tiêu

hoá, như một số chất thuốc được uống dưới dạng thỏi hay dưới dạng rời nhằm mục đích để được hấp thụ ở miệng hoặc ở trực tràng

Đây là hai vùng hấp thu tối thiểu chất độc từ môi trường

Trang 15

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.1 Sự hấp thu

Sự hấp thu chất độc qua đường tiêu hoá

Sự hấp thu ở ruột còn được tăng thêm do thời gian tiếp xúc kéo dài và do bề mặt ruột có các lông nhung hỗ trợ

Trong ruột có các hệ thống vận chuyển đặc biệt đảm bảo cho

sự hấp thu các chất dinh dưỡng (monosaccharid, acid amin và các nguyên tố vô cơ như sắt, canxi, natri)

Một số chất độc như tali và chì thường bị hấp thu bởi ruột nhờ các hệ thống vận chuyển tích cực

Trang 16

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.1 Sự hấp thu

Sự hấp thu chất độc qua đường da

 Một số sản phẩm hoá học có thể được hấp thu qua các túi nang của

lông, qua các tế bào của tuyến mồ hôi hoặc qua các tuyến bã nhờn

Tuy nhiên đây là những con đường hấp thu được ít, bởi vì các cấu

trúc này chỉ là phần nhỏ bé của bề mặt da Vì thế sự hấp thu một sản phẩm hoá học xuyên qua được là do biểu bì và chân bì.

 Chân bì là một môi trường khuyếch tán xốp, có nước và có tính

không chọn lọc So với lớp sừng thì chân bì là hàng rào kém chọn

lọc hơn Khi mài mòn hoặc huỷ bỏ lớp sừng đều làm tăng khả năng hấp thu Các acid, base, hơi ngạt thường làm tăng khả năng hấp thu ở chân bì là do làm thương tổn lớp sừng

Trang 17

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.2 Sự phân bố

Hàng rào máu - não thường định vị ở thành mao mạch Các tế bào của nội mô mao mạch thường nối kết chặt chẽ với nhau, chỉ để hở một ít hoặc không có không gian do đó có tác dụng ngăn cản sự đi qua của các chất độc

Hàng rào máu - nhau là một vật cản trở ngại cho sự vận chuyển các chất độc và do đó có tác dụng bảo vệ cho các bào thai.

Các hàng rào khác ở các cơ quan như mắt và ở các tinh hoàn Các hồng cầu cũng có vai trò trong sự phân một số chất độc Chẳng hạn, màng của hồng cầu cản trở sự xâm nhập của các dẫn xuất vô cơ của thuỷ ngân nhưng lại không cản trở các dẫn xuất ankyl của thuỷ ngân

Trang 18

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.3 Sự thải loại chất độc

 Các chất độc sau khi hấp thu và phân bố trong cơ thể, thì nhanh hay chậm đều bị bài xuất ra hoặc dưới dạng không đổi hoặc dưới dạng các chất trao đổi của chúng hoặc dưới dạng các chất liên hợp.

 Nước tiểu là con đường bài xuất chính, nhưng đối

với một số phân tử thì gan và phổi lại có vai trò quan trọng

Trang 19

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.3 Sự thải loại chất độc

Bài xuất qua nước tiểu

Các sản phẩm cuối của trao đổi chất cũng như các chất độc đều được thấm lọc qua tiểu cầu thận, rồi khuyếch tán qua ống thận và bài tiết qua ống thận

Các mao quản của tiểu cầu thường có lỗ rộng (70nm) nên

phần lớn các chất độc đều có thể đi qua, trừ những chất độc có kích thước rất lớn hoặc được liên kết với các protein dịch tương

Trang 20

2 Sự hấp thụ, phân bố và loại bỏ các độc tố

2.3 Sự thải loại chất độc

2 Bài xuất qua mật

Mật cũng là một cơ quan quan trọng trong việc bài xuất các chất độc

đặc biệt là các hợp chất có cực mạnh (anion hoặc cation), các dẫn xuất đã được liên kết với protein bào tương và các hợp chất có khối lượng phân tử cao hơn 300

Khi vào trong mật, các hợp chất này được bài xuất qua phân và không được hấp thu trở lại vào trong máu Tuy nhiên cũng có một vài ngoại

lệ, chẳng hạn như các hợp chất đã liên kết với gluconic khi bị thuỷ phân bởi hệ vi sinh vật đường ruột thì sẽ được hấp thu trở lại dưới dạng ban đầu

Ngày đăng: 01/03/2017, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w