Tri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc CơtuTri thức bản địa đặc trưng của dân tộc Cơtu
Trang 1TRI THỨC BẢN ĐỊA ĐẶC TRƯNG
CỦA DÂN TỘC CƠ TU
GVHD: Lê Thị Lâm
NHÓM I
Trang 2I Giới thiệu chung về dân tộc Cơ Tu
Trang 3• Người Cơ Tu (còn gọi là người Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tang).
• Dân số người Cơ Tu có khoảng trên 76 nghìn người
• Người Cơ Tu nói tiếng Cơ Tu, một ngôn ngữ
thuộc ngữ tộc Môn-Khmer trong Hệ ngôn ngữ Nam Á
Trang 4I Giới thiệu chung về dân tộc Cơ Tu
• Cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Cơ Tu cư trú tập trung tại các tỉnh:
Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh
• Quan hệ của tộc người Cơ Tu là tập hợp của cá quan hệ phân chi
Trang 5I Giới thiệu chung về dân tộc Cơ Tu
• Hình thái cư trú xen cư giữa người Cơ Tu Tây Giang với các dân tộc khác rất ít xảy ra nên nó
Trang 6II Một số đặc điểm cơ bản về dân tộc Cơ Tu
Trang 71 Về thiên nhiên
Đây là loại rừng tích tụ và lưu giữ nguồn nước phục
vụ sản xuất và sinh hoạt của con người Để bảo vệ những khu rừng này người Cơ-tu đã xây dựng nên những truyền thuyết, huyền thoại các khu rừng hay một vài loại cây, loài động vật hoang dã.
Trang 81 Về thiên nhiên
• Đối với rừng khai thác
Với người Cơ-tu, mỗi khu rừng có chủ riêng
để quản lý, khai thác, săn bắt Ai từ nơi khác đến muốn có đất làm rẫy phải mua rừng, mua đoạn sông, đoạn suối bằng vật có giá trị nhất của
mình
Trang 92 Phong tục của dân tộc Cơ Tu
Người Cơ-tu ăn cơm lẻ, cơm nếp Thịt cá thường được ướp sấy hoặc làm chua trong các ống tre, nứa gác bếp để dự trữ Nam, nữ ăn riêng và thường ăn bốc Uống có nhiều loại như rượu cần, rượu sắn, rượu gạo, rượu
tà vạc (chế từ cây rừng)
Trang 102 Phong tục của dân tộc Cơ Tu
Nhà ở quây theo hình bầu dục thành làng, có ngôi nhà chung gọi là gươl (nhà rông)
Người Cơ-tu ở nhà sàn Nhà có mái tròn hình mui rùa, đầu đốc
có trang trí khau cút
Trang 112 Phong tục của dân tộc Cơ Tu
• Hôn nhân: Người Cơ-tu có chế độ một vợ một chồng, nhưng có quan hệ hôn nhân một chiều giữa hai dòng họ Vợ góa lấy anh hoặc em
chồng quá cố Khi lấy vợ phải qua các nghi
thức, khi đã khá giả thường tổ chức cưới thêm một lần nữa
Trang 122 Phong tục của dân tộc Cơ Tu
• Tang ma: Người Cơ-tu thường dựng nhà mồ cho người chết Chôn cất xong là bỏ mả ngay Sau 5 - 10 năm, người ta làm lễ dồn mồ Đối với những người chết trong dòng họ chôn
chung vào một huyệt lớn
Trang 133 Văn hóa của dân tộc Cơ Tu
Trang 14• Gươl
Trang 15Văn hóa ăn mặc của người Cơ Tu
Trang 16Lễ hội đâm trâu – niềm háo hức của người
Cơ Tu
Trang 17Ngủ Duông – Lướt Dướng
• Tục ngủ duông là một thông điệp gửi gắm những mối tình trai gái Cơ Tu nên vợ nên chồng để hôm nay nó vẫn còn trường tồn mãi với thời gian.
• Tuy đôi nam nữ có quyền tự do tìm hiểu nhưng luật tục Cơtu cũng quy định rất rõ và rất nghiêm khắc xử lý những trường hợp quan hệ tình dục bừa bãi hoặc có thai trước khi cưới
• Tục ngủ duông của người Cơ Tu là sự hội tụ của
những nét đẹp văn hoá đặc sắc còn bảo lưu nhiều yếu
tố truyền thống trong nghi thức đám cưới truyền
thống của người Cơ Tu
Trang 18III Tri thức bản địa đặc trưng của dân tộc
Cơ Tu
Trang 191 Về thiên nhiên
• Thứ nhất, rừng thiêng (còn gọi là rừng cấm) theo
họ là khu rừng có chôn người chết tức là “nghĩa
địa” (pịng xal).
• Thứ hai, rừng thiêng là những khu rừng có người bị
chết hoang, tự tử hay khi đi săn bị sa bẫy chết,
hoặc chết vì bị cây đè người Cơ-tu gọi là chết xấu (pịng xal mốp) thường chôn ở những khu rừng sâu.
• Thứ ba, rừng thiêng còn là những khu “rừng tích”
tức là có một sự tích rùng rợn nào đó được người xưa kể lại
Trang 202 Về lao động sản xuất
a Lịch nông vụ
• Người Cơ Tu ở các huyện miền núi cao Tây Giang, Đông
Giang, Nam Giang (Quảng Nam) đã tích lũy nhiều kinh
nghiệm trong trồng trọt, chăn nuôi Họ dựa theo chu kỳ của mặt trăng theo ngày âm lịch làm nông lịch và chia các tháng trong năm để ấn định các công việc nương rẫy, xem như là nông lịch.
• Cũng dựa vào Nông lịch, người Cơ Tu còn có kinh nghiệm xem ngày tốt xấu, nên làm việc gì, nên tránh việc gì.
• Các già làng và những người còn có kinh nghiệm nhìn trăng, mây và số lượng các ngày mưa dông đã qua để tính toán thời gian sẽ tiến hành tỉa lúa…
Trang 212 Về lao động sản xuất
b Kinh Tế
• Rẫy làm theo kiểu du canh du cư, từ du canh theo từng chu kì dến du cư Chọn rẫy chủ yếu là xem màu đất theo kinh nghiệm dân gian, rẫy tốt phải ở nơi rừng có đát dày, xốp Mùa chọn rẫy
là vào tháng 12 và tháng 1 theo lịch của đồng bào Đồng bào kiêng làm rẫy ở những nơi có cây đa hoặc một cây cổ thụ nào
đó Theo quan niệm của họ, nếu làm rẫy ở nơi ấy thì sau này
ma sẽ làm hại màu màng và gây ra dịch bệnh.Trước đây, khi có công việc như phát rẫy, đốt rẫy, tra hạt hay thu hoạch mùa
màng ở vùng Cơ-tu đều có hình thức đổi công giũa các gia đình, mọi thành quả thu hoạch thì chia đều cho các nhân khẩu
Trang 222 Về lao động sản xuất
c Dệt Thổ Cẩm
• Người Cơtu vốn có những kỹ xảo trong dệt vải, nhất là kỹ xảo, nghệ thuật nhuộm màu, trang trí hoa văn cấu tạo các dạng hoa văn, đặc biệt
là dùng hạt cườm nhựa, cườm chì tạo hoa
văn, những sản phẩm của những làng dệt
thường có độ thẩm mỹ cao hơn những nơi
khác, giá trị lưu thông cao hơn
Trang 233 Về y học
• Người đồng bào Cơ Tu cho rằng mọi bệnh tật mà họ mắc phải đều do thần linh quở phạt hoặc ma quỷ gây nên.
• Người bệnh không hoặc rất ít khi được đưa vào bệnh
viện để chữa trị mà đa số là được mời thầy cúng về để “ điều trị” tại nhà Người Cơ Tu cho rằng họ bị bệnh là do
bị ma ám cho nên phải mời thầy về bắt ma.
• Theo người dân Cơ Tu miền núi xã Trà Cang, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, sau khi sinh con, nếu người mẹ không may bị chết thì đứa bé phải bị chôn theo mẹ.
Trang 24IV Một số giải pháp đề xuất hỗ trợ người dân tộc Cơ Tu trong gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống
Trang 251 Các giải pháp về kinh tế
• Thứ nhất, đầu tư hoàn thiện dần cơ sở hạ tầng
kinh tế: điện- đường- trường- trạm đối với từng
xã vùng cao.
• Thứ hai, quy hoạch tái định cư cho dân để đảm
bảo an cư và tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp, đảm bảo lương thực tại chỗ cho miền núi.
• Thứ ba, trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ dịch
vụ nông nghiệp và đầu tư giống cây trồng, con
vật nuôi đến từng hộ dân.
Trang 261 Các giải pháp về kinh tế
• Thứ tư, lập kế hoạch giao đất, giao rừng cho dân, đồng
thời tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
• Thứ năm, từ lợi thế thủy điện và lòng hồ, rừng và các
sông, suối, thác ghềnh đẹp, cần xây dựng mô hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để phát triển kinh tế du lịch, thúc đẩy phát triển thương mại và các ngành nghề thủ công ở địa phương.
• Thứ sáu, đầu tư, mở rộng các tụ điểm mua bán, trao
đổi hàng hóa, mở rộng kinh tế cửa khẩu để kích thích thương nghiệp phát triển ở từng xã vùng cao.
Trang 272 Các giải pháp về tư tưởng – chính trị
• Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
vận động, giáo dục về chính trị tư tưởng, giúp đồng bào nâng cao nhận thức, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách- pháp luật của Nhà nước
• Thứ hai, giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc,
tôn giáo
Trang 283 Các giải pháp về văn hóa giáo dục
• Thứ nhất, chú trọng khôi phục, bảo tồn và
phát huy không gian sinh hoạt văn hóa làng và các giá trị văn hóa của đồng bào Cơtu
• Thứ hai, khôi phục và phát triển ngành nghề
truyền thống Giải pháp này có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy những giá trị kinh tế-
văn hóa người Cơ Tu
Trang 293 Các giải pháp về văn hóa giáo dục
• Thứ ba, đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục là
giải pháp hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay ở vùng cao
• Thứ tư, vận động xóa bỏ những hủ tục trong
cưới xin, tang ma là giải pháp cụ thể và trực tiếp đối trong việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu trong đời sống người Cơ Tu
Trang 30V Kết luận
Trang 31Cảm Ơn Cô Và Các Bạn Đã Lắng Nghe Phần Thuyết Trình
Của Nhóm!