1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.

37 838 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 4,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.Tri thức địa phương của dân tộc Chăm.

Trang 1

VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ

NHÓM 5

Trang 2

CÁC ĐẶC TRƯNG

VỀ KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

CHĂM

NHÓM 5

Trang 3

Vài nét về Dân Tộc Chăm

Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 145.235 người Chăm sinh sống, sống rải rác ở các tỉnh phía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh

Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang,

• Do đặc điểm cư trú, tính chất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt

Nam được chia thành 3 nhóm cộng đồng chính

là: Chăm H'roi, Chăm Ninh Thuận - Bình Thuận,

và Chăm Nam Bộ.

Trang 4

theo tổng điều tra dân số của Nhà nước Việt Nam vào năm 2009, người Chăm chỉ còn

161.729 người.

Trang 5

II Đặc trưng kiến thức bản địa của dân tộc

Chăm

Trang 7

Tiếng nói

• Người Chăm là một trong các dân tộc ở Việt Nam

thuộc loại hình nhân chủng Indonesien Tiếng nói của

họ có quan hệ rất gần gủi với các ngôn ngữ của các dân

tộc Raglai, Churu, Jarai và Ê-đê, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo (Malayo – Polynesian) được xếp chung trong một gia đình ngôn ngữ Nam Đảo

(Austronesian).

• Sự phân hóa thành ba phương ngữ khác nhau: phương

ngữ cộng đồng người Chăm Hroi (tiêu biểu cho người

Chăm ở Bình Định, Phú Yên); phương ngữ cộng đồng

người Chăm Klak (tiêu biểu cho người Chăm ở Ninh

Thuận, Bình Thuận); phương ngữ cộng đồng người

Chăm Birau (tiêu biểu cho người Chăm ở An Giang,

Tây Ninh, Tp Hồ Chí Minh)

Trang 8

Chữ viết

• Lúc đầu, tộc người Chăm vay mượn văn tự Ấn Độ cổ (chữ

Sanskrit) để ghi chép và giao dịch hàng ngày Dần dần, dựa trên hệ thống chữ viết này, người Chăm đã sáng tạo nhiều loại hình chữ viết ngày càng hoàn thiện hơn nhằm để ghi chép các sự kiện lịch sử, phục vụ nhu cầu giáo dục, truyền dạy kiến thức và văn hóa cho thế hệ sau

Trang 9

Mặc dù trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, ngoài các văn khắc trên các bia ký, người Chăm vẫn còn lưu giữ, tìm cách bảo quản các văn bản viết tay bằng văn tự có nguồn gốc từ Sanskrit và Arabic như là một di sản văn hóa được cha ông truyền lại từ bao đời nay.

Mặc dù, văn tự Chăm có sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng vẫn luôn giữ những qui tắc

cơ bản của cấu trúc và hệ thống của văn tự Sankrit Điều này, có thể nói rằng, văn hoá Ấn Độ và văn hoá Việt Nam nói chung, văn hoá Chăm nói riêng là hai nền văn hoá đã có mối quan hệ giao lưu từ lâu đời.

Trang 10

KIẾN TRÚC- NGHỆ THUẬT

Trang 11

a) Tháp Chàm

Tháp chàm là một dạng công trình thuộc thể loại kiến trúc đền

tháp Champa, thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Chàm (còn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền Nam Trung

Bộ Việt Nam ngày nay) Có thể thấy vị trí phân bố các đền tháp

là những nơi từng là nơi ở của người Champa, xa hơn nữa còn có những ngôi tháp có thể coi là tháp Champa trên đất nước

Campuchia như tháp Damray Krap

• Những điều bí ẩn xung quanh vật liệu được người Chăm sử dụng

để xây dựng các công trình tôn giáo ở Việt Nam sau hơn 100

năm đã được giải mã Trước đó, một người thợ thủ công tên là Lê Văn Chỉnh (thuộc tỉnh Quảng Nam) cũng đã bỏ nhiều thời gian

để nghiên cứu phương pháp xây dựng tháp Chăm đã phát hiện được hợp chất dầu rái trong gạch để xây tháp và chất dính

Trang 12

• Khu đền tháp Chăm nằm trên diện tích: 4000m2, bao

gồm: Tháp chính - tháp Kalan cao hơn 20m, tháp

cổng - tháp Gopura cao hơn 8m và tháp hỏa - tháp Kosaghra cao hơn 9m Giá trị nghệ thuật tiêu biểu tập trung chủ yếu ở tháp chính - tháp trung tâm.

Trang 13

Tháp trung tâm được xây bằng

gạch, có bốn mặt hình vuông

đối xứng nhau Mặt trước

hướng về phía đông, có cửa ra

vào, còn ba mặt còn lại ở 3

hướng và cả 3 hướng đều có 3

cửa giả Tháp có 3 tầng được

cấu trúc như nhau, mỗi tầng

càng lên cao càng thu nhỏ dần

và kết thúc bằng một Linga

bằng đá trên nóc tháp

Tất cả thành phần kiến trúc đi vào mảng khối, vòm cửa thu vào và vút cao hình mũi giáo Trên mặt tường các trụ ốp được tạo với những đường gờ nổi chạy dọc thân tường tháp, các góc được tạo những phiến đá điểm cách điệu.

Trang 14

• Một điểm độc đáo khi nói đến tháp Chăm là chất liệu

xây dựng nên chúng đó là đất sét Đất sét là một phần quan trọng trong việc làm nên sự tồn tại bền bỉ qua hàng ngàn năm của các công trình tháp Chăm, bên cạnh

đó, không chỉ độc đáo ở đất sét mà ngay cả chất liệu kết dính những viên gạch với nhau cũng là một điểm đặc biệt độc đáo, riêng có, bởi chất liệu kết dính này là tinh dầu được chiết xuất từ cây Dầu Rái - một loại cây chỉ

có thể tìm thấy ở xung quanh khu Thánh địa Mỹ Sơn.

• Và một nét độc đáo nữa là phương pháp xây dựng

Tháp Tháp không phải được dựng lên một cách thông thường mà sử dụng phương pháp mài chập, nghĩa là dùng hai viên gạch mài nhẵn sau đó ghép gạch lại với nhau và việc ghép này khá tỉ mỉ, tốn nhiều thời gian

Trang 15

dần khi lên cao theo

dạng núi Meru - nơi trú

ngụ cùa các thần Bà la

môn.

Tháp chỉ mở một cửa chính hướng về phía Đông, 3 cửa còn lại đóng kín Theo quan niệm của người Chăm thì hướng Đông là hướng của thần linh, Bắc là hướng của ma quỷ, Tây Nam là hướng của dân chúng nên nhà cửa của người Chăm thường mở cửa về hướng Tây Nam

Trang 16

• Tháp Chăm đặt trong sự gắn kết với cộng đồng

dân cư luôn được coi như một trung tâm chính trị, tôn giáo… là không gian đặc biệt linh thiêng đối với người Chăm.

• Người Chăm luôn tự hào về những ngôi tháp

Chăm-pa cổ kính xây dựng bằng đất nung độc

đáo.Hình ảnh vũ nữ Chăm-pa cổ xưa đã được

chạm khắc vào các đền tháp, trong đó bức phù

điêu Vũ nữ Trà Kiệu là một trong những tuyệt

tác.Là một bộ phận của nền văn hoá dân tộc, kiến trúc dân gian của người Chăm cũng có một lịch

sử và truyền thống lâu đời.

Trang 17

• Làng Chăm Bầu Trúc duy nhất có nghề làm đồ gốm từ lâu

đời Hầu như gia đình nào cũng làm, phần lớn do phụ nữ đảm đang

Trang 18

• Lu đựng nước, chiếc nồi đất, bộ khuôn đổ bánh xèo đến siêu sắc thuốc, chiếc cà om đều rất dụng công với những hoa văn độc đáo của dân tộc

Trang 19

• Sản phẩm gốm Chăm còn được trao đổi rộng rãi với nhiều vùng và nhiều tộc người khác nữa

Trang 20

Múa Chăm, nhạc cụ truyền thống

• Tiếng trống paranưng nổi lên hoà quyện với tiếng kèn

saranai như cuốn hút những bước chân của những chàng trai, cô gái Chăm bước vào những điệu múa uyển chuyển nhịp nhàng, những điệu múa say cuốn, mê hoặc lòng người mang đậm phong cách văn hoá Chăm

Múa Chăm

Trang 21

• Múa Dân gian Chăm, còn gọi là múa cộng đồng, thường

diễn ra vào các ngày lễ đầu năm, đầu mùa Những điệu múa đặc trưng là đoá pụ (có nghĩa là đội nước, khi múa, những

cô gái đội một cái bình trên đầu- đội đầu là một hình thức vận chuyển phổ biến của người Chăm), múa quạt, múa khăn, múa trống paranưng, múa roi, múa chèo thuyền

Trang 22

• Đa phần các điệu múa của người Chăm đều gắn liền với lễ hội, mà hệ thống lễ hội của người Chăm thì vô cùng phong phú Mỗi điệu múa chứa đựng những nội dung khác nhau, nhưng đều phản ánh ước vọng của người Chăm trước thần linh, thân tộc, thiên nhiên và cộng đồng Họ mong sao cho mưa thuận gió hoà, mùa màng được bội thu, cây cối tươi tốt, con cháu ấm no khoẻ mạnh, hạnh phúc, được sống yên ổn làm ăn và thờ phụng tổ tiên.

Trang 23

• Những điệu múa thể hiện sự cầu mong cho mưa thuận gió hoà, con cháu khoẻ mạnh, yên ổn làm ăn và thờ phụng tổ tiên, nhưng cũng có những điệu múa thể hiện ý chí quật cường sẵn sàng đương đầu mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống (múa roi).

Trang 24

• Múa dân gian Chăm dựa trên bốn động tác cơ bản như: múa con công, múa con gà tây, múa quí phái và múa hoàng tử Các nghệ nhân đã phát triển, biến hoá, kết hợp lại tạo thành những động tác múa hoàn chỉnh.Có thể xuyên suốt bài múa chỉ có bốn động tác chính mang tính chất qui nạp, chủ đạo nhưng vẫn tạo được ấn tượng độc đáo, cuốn hút người xem vào không khí linh thiêng, sâu thẳm nhưng chứa đầy ẩn vọng.

Trang 25

• Múa Chăm là một kho tàng nghệ thuật quí báu không chỉ của dân tộc Chăm mà còn của Việt Nam và nhân loại Bên trong những điệu múa ấy, người ta có thể phần nào cảm nhận được tâm hồn đầy chất văn hóa biển, dạt dào và sôi động, không ít sự lãng mạn trong tâm hồn của dân tộc Chăm

Trang 26

Nhạc cụ

• Nhạc cụ là thành tố quan trọng để tạo nên phần hồn lễ hội

Chăm Nhạc cụ Chăm không chỉ là sản phẩm vật chất đơn thuần mà còn là phương tiện biểu diễn nghệ thuật mang lại biểu cảm thẩm mỹ trong đời sống tâm linh Có thể nói lễ hội Chăm là nơi bảo tồn, lưu giữ nhạc cụ Chăm

Trang 27

• Nhạc cụ của tộc người Chăm nhằm phục vụ cho lễ hội Mỗi

nhạc cụ, hoặc nhóm nhạc cụ lại được gắn với từng lễ hội hoặc người hành lễ của một lễ hội cụ thể Hệ thống nhạc cụ truyền thống của người Chăm rất đa dạng và phong phú, bao gồm bộ gõ hay còn gọi là họ màng rung, bộ hơi và bộ dây

Trang 28

• Bộ gõ bao gồm các loại trống: ghì nằng, paranưng

• bộ hơi có kèn saranai, tù và ốc biển

• bộ dây có đàn ka nhi, nhị mu rùa

Trang 29

• Nhạc cụ Chăm sử dụng

trong lễ hội bao gồm:

Đàn Kanhi, trống Ghinăng, Paranưng, kèn Saranai, Hagar (trống nhỏ), Chiêng, Asăng (tù và), Tăngek (nhạc gõ bằng 2 cây gỗ) Ngoài ra còn có Mã la do người Ra glai biểu diễn.

Trang 30

• Theo quan niệm của người Chăm, 3 nhạc khí kèn saranai,

trống baranưng và trống ginăng tượng trưng: trời, đất, con người nên luôn được diễn tấu với nhau, thể hiện sự hòa nhập “thiên, địa, nhân”

• Nhạc cụ truyền thống là biểu hiện tập trung những thành tựu

âm nhạc đã được kết tinh trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử cộng đồng người Chăm và được người Chăm coi là nhạc khí thiêng.Chúng không những có giá trị về mặt thẩm

mỹ mà còn có giá trị về mặt âm nhạc.Hệ thống nhạc cụ của người Chăm đã góp một phần không nhỏ tạo nên nét văn hóa độc đáo cho nền âm nhạc của người Chăm, cũng như hệ thống âm nhạc cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trang 31

Dệt vải

• Ngày nay, nghề dệt thổ cẩm vẫn còn giữ nhiều nét truyền thống như: những hoa văn, màu sắc đặc trưng được dệt trên loại khung dệt dài (Jih Dalah) chỉ có ở người Chăm, dệt ra những sản phẩm khổ hẹp dùng trong lễ nghi, tôn giáo Hoa văn và hoa văn thổ cẩm Chăm là một đề tài phong phú thể hiện bản sắc văn hóa tộc người rõ rệt Đó là một nền nghệ thuật dân gian độc đáo với óc thẩm mỹ,

tư duy đơn giản mà khúc chiết, giàu có, liên quan đến yếu tố tín ngưỡng dân gian và dấu ấn tôn giáo của người Chăm.

Trang 32

• Các sản phẩm dệt của người Chăm thường có hoa văn, họa tiết: ô vuông, hình học, kẻ sọc, sóng nước, vân mây, bông dâu, lồng đèn…

Trang 34

• Điểm đặc sắc trong kỹ thuật dệt của người Chăm là làm cho hoa văn nổi lên giữa nền vải và đường chỉ ngang mà không

bị che khuất tgiữa các màu Sản phẩm nơi đây thường sử dụng những kiểu hoa văn truyền thống như con thoi, hoa dâu, mắc võng, cánh quạt, răng cưa… đôi khi họ cũng tiếp thu những kiểu hoa văn mới lạ, đẹp từ nơi khác và kết hợp với kiểu hoa văn truyền thống để làm cho sản phẩm sinh động, mới mẻ hơn đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng nhưng vẫn giữ được nét truyền thống văn hóa của dân tộc mình

Trang 35

• Về văn học dân gian: Truyện kể dân gian gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích được Thiên Sanh Cảnh, G.Moussay…sưu tập.

Trang 36

• Về nội dung và đề tài: 250 minh văn Champa được sáng tác

từ thế kỉ III đến thế kỉ thứ XV bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ là cái được kể đầu tiên Đây là điều mà lịch sử văn học Việt Nam chưa hề có, nhưng chỉ chưa đầy 10% minh văn đó được dịch sang tiếng Việt, chủ yếu là để phục vụ cho nghiên cứu chứ chưa là chọn lọc mang tính văn chương 5

sử thi - Akayet Chăm có xuất xứ từ/ mang âm hưởng Mã Lai/ Ấn Độ được viết vào thế kỉ XVI - XVIII, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm, một hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam Nữa, Chăm sở hữu 4 sử thi nổi tiếng; nhưng khác với các dân tộc anh em ở Tây nguyên như Êđê hay Bana… sử thi Chăm đã được văn bản hóa từ thế kỉ XVI Cuối cùng, 3 trường ca - Ariya trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo

Trang 37

CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN

ĐÃ LẮNG NGHE !

Ngày đăng: 15/02/2017, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w