1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHƯƠNG TRÌNH ĐÁNH GIÁ học SINH QUỐC tế PISA và bài học KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

34 507 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 76,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt: Bài chuyên đề giới thiệu khái quát về PISA, dự án nghiên cứu so sánh giáo dục quốc tế lớn nhất từ trước đến nay và tác động của PISA đến hệ thống giáo dục các nước, từ đó phân tích những cơ hội và những bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam khi tham gia PISA, như: Hiểu và tiếp cận được các chuẩn quốc tế về giáo dục; Học hỏi được kinh nghiệm giáo dục của các nước đã đạt được những thành tích cao qua các kì PISA;

Trang 1

Mục lục

Trang I.Vài nét khái quát về chương trình PISA 2 II.Nội dung

1.Tiến trình thực hiện PISA

8

2.Vài nét sơ bộ về kết quả của dự án PISA 9 III.Tác động của PISA đến hệ thông giáo dục các nước

4.Đối với Hong Kong

16

IV.Việt Nam với chương trình PISA và bài học kinh nghiệm 19

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH ĐÁNH GIÁ HỌC SINH QUỐC TẾ PISA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Tóm tắt: Bài chuyên đề giới thiệu khái quát về PISA, dự án nghiên cứu so

sánh giáo dục quốc tế lớn nhất từ trước đến nay và tác động của PISA đến hệ thốnggiáo dục các nước, từ đó phân tích những cơ hội và những bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam khi tham gia PISA, như:

- Hiểu và tiếp cận được các chuẩn quốc tế về giáo dục;

- Học hỏi được kinh nghiệm giáo dục của các nước đã đạt được những thànhtích cao qua các kì PISA;

- Trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm đánh giá giáo dục của PISA mà xây dựng được cho Việt Nam một hệ thống đánh giá riêng;

- Tham gia vào mối quan hệ hợp tác quốc tế về giáo dục

I:

V ài nét khái quát về chương trình PISA

1 PISA là gì?

Vài nét giới thiệu chung về dự án PISA

PISA là chữ viết tắt của “Programme for International Student

Assessment-chương trình đánh giá học sinh quốc tế”, là dự án nghiên cứu so sánh, đánh giáchất lượng giáo dục lớn nhất trên thế giới từ trước đến nay Dự án PISA được triểnkhai với mục đích kiểm tra, đánh giá và so sánh trình độ học sinh ở độ tuổi 15 giữacác nước trong khối OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới -

Organization for Economic Cooperation and Development) và các nước khác trên

thế giới do chính OECD khởi xướng và chỉ đạo

2 Đặc điểm của PISA.

*QUY MÔ

Dự án PISA được tổ chức định kì 3 năm một lần (lần đầu tiên vào năm2000), với mục đích theo dõi liên tục việc quản lý tổ chức hệ thống giáo dục TuyPISA không chỉ ra cho các nước cách thức cụ thể cho việc quản lý hệ thống trườnghọc nhưng những dữ liệu thu thập được (ở qui mô lớn, với độ tin cậy cao) từ PISA

Trang 3

chỉ ra thành công của nền giáo dục của một số nước và những hạn chế mà nền giáodục không ít nước mắc phải Những kết quả này giúp cho các nước chưa thànhcông về giáo dục nghiên cứu so sánh mô hình giáo dục của mình với những môhình giáo dục tốt nhất, từ đó rút ra những bài học quí báu cho việc cải cách hệthống giáo dục

Ở mỗi nước, số lượng học sinh tham gia vào dự chương trình đánh giá nàydao động từ 4500 đến 10000 học sinh Số lượng các nước (đặc biệt là các nướckhông thuộc OECD) tham gia PISA qua các kì tăng lên rõ rệt: PISA 2000 có 43nước tham gia (trong đó có 14 nước không thuộc khối OECD), vào năm 2003 tổng

số các nước tham gia PISA chỉ còn 41 (có 10 nước không thuộc khối OECD) ĐếnPISA 2006, số nước tham gia lên đến 57 (trong đó có 27 nước không thuộc khốiOECD) và đến PISA 2009 có tới 65 nước tham gia (số nước không thuộc OECDlên đến 33) Điều đó chứng tỏ ngày càng có nhiều quốc gia nhận thức được ý nghĩacủa PISA và quyết định tham gia để thông qua đó có được cái nhìn đúng đắn vềnhững mặt mạnh, yếu của hệ thống giáo dục nước mình và rút ra được những bàihọc cải tổ cần thiết

PISA đánh giá học sinh ở giai đoạn chuẩn bị kết thúc thời gian học tập bắtbuộc về những kiến thức và kĩ năng không chỉ cần thiết cho mỗi cá nhân trong việcsống và làm việc trong xã hội mà còn quan trọng cho sự phát triển của mỗi quốcgia về mặt xã hội, chính trị và kinh tế, trong đó tập trung vào bốn mảng năng lựcchính: Khoa học, Đọc hiểu, Toán học và Khả năng xử lý tình huống (Khả năng xử

lý tình huống bắt đầu được đưa vào từ PISA 2003) PISA 2000 đặt trọng tâm ở nộidung đọc hiểu PISA 2003 đặt trọng tâm là Toán học, trong đó đưa ra các tìnhhuống thực tế đòi hỏi khả năng tính toán Trọng tâm của PISA 2006 là Khoa học tựnhiên và của 2009 là Khả năng xử lý tình huống Những kết quả của PISA cũngchứa đựng những thông tin về mối liên hệ giữa năng lực của học sinh và nhữngnhân tố xã hội và nền văn hóa, hoàn cảnh gia đình và môi trường học tập

Được tổ chức định kì, các kết quả PISA được sử dụng như một sự theo dõiliên tục của việc quản lí tổ chức các hệ thống giáo dục PISA cung cấp cho chínhphủ các nước tham gia dự án những kết quả mang tính thực nghiệm giúp họ địnhhướng, điều chỉnh các vấn đề thuộc hệ thống giáo dục trên cơ sở dữ liệu mang quy

mô lớn và đáng tin cậy PISA kiểm tra, đánh giá sự chuẩn bị của nhà trường dànhcho học sinh để bước vào xã hội tri thức, nói cách khác là khả năng thích nghi củahọc sinh đối với những thách thức của xã hội tri thức Cuộc điều tra này đánh giáhọc sinh ở giai đoạn chuẩn bị kết thúc thời gian học tập bắt buộc về kiến thức và kĩnăng cần thiết cho việc sống và làm việc trong xã hội, tập trung vào ba mảng kỹnăng: Khoa học, Đọc hiểu và Toán học PISA tập trung vào những năng lực cơ bản

Trang 4

và mang tính trung tâm, những năng lực không chỉ quan trọng cho việc học tập vàđời sống của mỗi cá nhân mà còn quan trọng cho sự phát triển về mặt xã hội, chínhtrị và kinh tế Những kết quả rút ra từ PISA cũng bao gồm thông tin về mối liên hệgiữa năng lực của học sinh và những nhân tố xã hội và nền văn hóa, cũng như môitrường học tập Tuy PISA không chỉ ra một cách cụ thể cho các nước biết họ cầnquản lí tổ chức hệ thống trường học thế nào nhưng những dữ liệu thu thập được từPISA chỉ ra thành công của nền giáo dục một số nước và những thách thức mà nềngiáo dục một số nước khác gặp phải Nó cho phép các nước so sánh những môhình tốt nhất và từ đó phát triển, cải cách hệ thống giáo dục của họ.

*TÍNH NỔI BẬT

 Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá kiếnthức và kỹ năng của học sinh ở độ tuổi 15- độ tuổi kết thúc giáo dụcbắt buộc ở hầu hết các quốc gia

 Tính độc đáo của PISA cũng thể hiện ở những vấn đề:

- Chính sách công (public policy): Các chính phủ, các hiệu trưởng, giáo viên

và phụ huynh đều muốn có câu trả lời cho các câu hỏi như “Nhà trường của chúng

ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộcsống của người trưởng thành chưa?”

- Hiểu biết phổ thông (literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các

chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của học sinh ứng dụng cáckiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực chuyên môn cơ bản, khả năng phân tích, lýgiải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết cácvấn đề

- Học tập suốt đời (lifelong learning): Học sinh không thể học tất cả mọi thứ

cần thiết trong nhà trường Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả,thanh niên không những phải có kiến thức và kỹ năng mà còn cả ý thức về lý do vàcách học PISA không những đo cả việc thực hiện của học sinh về đọc hiểu, toán

và khoa học mà còn hỏi học sinh cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng như cácchiến lược học tập

3 Mục đích của PISA

Mục đích tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các

Trang 5

thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào Ngoài ra chương trình đánh giá PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau:

(1) Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học của học sinh ở độ tuổi 15

(2) Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của học sinh.(3) Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy – học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh

4 Mục tiêu của PISA

Mục tiêu của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết

thúc phần giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào.

Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiếnthức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung cácchương trình giáo dục quốc gia Đây chính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổthông”

Để làm được việc đó PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu

có thể so sánh được ở tầm quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về

trình độ đọc hiểu, toán học và khoa học của học sinh độ tuổi 15

5 Các lĩnh vực đánh giá của PISA

Như trên đã nói, PISA tập trung đánh giá vào bốn mảng năng lực

chính:Toán học; Đọc hiểu; Khoa học và Năng lực giải quyết vấn đề

* Năng lực T oán học : Là khả năng nhận biết vai trò của Toán học trong đời

sống, đưa ra những nhận định có cơ sở vững chắc và sử dụng Toán học để phục vụđời sống với tư cách là một công dân gương mẫu, tiên tiến, mong muốn xây dựng

và đóng góp có ích cho xã hội Năng lực Toán học thể hiện ở khả năng phân tích,suy luận và trao đổi đáp án của học sinh khi các em đưa ra một bài toán và giảiquyết nó theo cách tối ưu nhất

Trang 6

* Năng lực Đ ọc hiểu : Là khả năng hiểu, sử dụng và cảm nhận những văn

bản viết nhằm đạt được những mục tiêu trong cuộc sống, mở mang kiến thức vàtiềm năng để cống hiến cho xã hội Năng lực đọc hiểu trong PISA được đánh giásâu hơn bằng việc đưa ra một tiêu chí mới, mang tính chủ động hơn, đó là học sinhkhông chỉ cần hiểu bài đọc mà còn cần phải nêu cảm nhận về bài đọc ấy

* Năng lực K hoa học : Là khả năng sử dụng những kiến thức khoa học,

phân tích câu hỏi và rút ra những kết luận hợp lí có cơ sở nhằm đưa ra những quyếtđịnh đúng đắn về thế giới tự nhiên và những thay đổi con người nên tạo ra đối vớithế giới tự nhiên

* Năng lực G iải quyết vấn đề : Là khả năng nhận biết và giải quyết các tình

huống thật trong cuộc sống thông qua quá trình nhận thức Đó là các tình huốngkhông có một cách giải quyết đơn giản rõ ràng nào và giải pháp của chúng yêu cầuứng dụng cả ba năng lực Toán học, Đọc và Khoa học

6 Các lĩnh vực năng lực phổ thông (literacy domain) được đánh giá trong PISA

Khái niệm ( literacy - tạm dịch là năng lực phổ thông) : là một khái niệm quantrọng trong việc xác định nội dung đánh giá của PISA.Việc xác định khái niệm nàyxuất phát từ quan tâm tới những điều mà một học sinh sau giai đoạn giáo dục cơ sởcần biết, trân trọng và có khả năng thực hiện – những điều cần thiết chuẩn bị chocuộc sống trong một xã hội hiện đại Các lĩnh vực năng lực phổ thông về làm toán,

về khoa học, về đọc hiểu được sử dụng trong PISA

Năng lực làm toán phổ thông ( mathematic literacy ): Năng lực của một cánhân để nhận biết về vai trò của toán học trong thế giới, biết dựa vào toán học đểđưa ra những suy đoán có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu củađời sống cá nhân vừa như một công dân biết suy luận, có mối quan tâm và có tínhxây dựng Đó là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao đổi thôngtin) một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toánhọc trong các tình huống và hoàn cảnh khác nhau

Năng lực đọc hiểu phổ thông ( reading literacy ): Năng lực của một cá nhân

để hiểu, sử dụng và phản ánh trên văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, nâng caokiến thức và tiềm năng của cá nhân đó và tham gia vào đời sống xã hội Trong địnhnghĩa này cần lưu ý: Khái niệm biết đọc như là sự giải mã và thấu hiểu tư liệu baohàm cả việc hiểu, sử dụng và phản hồi về những thông tin với nhiều mục đích khácnhau

Trang 7

Năng lực khoa học phổ thông ( science literacy ): Năng lực của một cá nhânbiết sử dụng kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trênchứng cứ để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên và thông qua hoạt độngcủa con người, thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên.

7 Đối tượng đánh giá

Học sinh trong độ tuổi 15 (được định nghĩa chính xác là từ 15 tuổi 3 thángđến 16 tuổi 2 tháng) đang theo học ở chương trình phổ thông và giáo dục thườngxuyên Một tỷ lệ học sinh được chọn theo mẫu ngẫu nhiên, không phân biệt đanghọc lớp nào, sẽ được chọn để tiến hành đánh giá, tuy nhiên các quốc gia tham gia

có thể chọn một tỷ lệ cao hơn tỷ lệ chung của PISA nếu thấy cần có các phân tíchchi tiết hơn về tình hình giáo dục trong nước

8 Những quốc gia đã tham gia PISA

Tất cả các nước thành viên OECD, cùng với một số quốc gia đối tác khác

Kỳ đánh giá năm 2000 có 43 nước tham gia, năm 2003 có 41 nước, năm 2006 có

57 nước và năm 2009 có 67 nước trong đó Đông Nam Á có các nước Thailand,Indonesia tham gia từ năm 2000, Singapore từ năm 2009, Việt Nam đã tham gianăm 2012 Năm 2011 đã tiến hành thử nghiệm ở Việt Nam và tỉnh Gia Lai có trongdanh sách các tỉnh tham gia thử nghiệm do đó trong các ngày từ 25 đến 28/11/2010Văn phòng PISA Việt Nam đã tiến hành khảo sát, tập huấn ở tỉnh

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA là cuộc khảo sát tin cậy về kiếnthức và kỹ năng của học sinh song chúng ta đang đứng trước những thách thức lớnkhi lần đầu tiên Việt Nam tham gia PISA

Trang 8

II NỘI DUNG

1 Tiến trình thực hiện PISA

Ở mỗi nước, số lượng học sinh tham gia vào dự chương trình đánh giá nàydao động từ 4500 đến 10000 học sinh

Số lượng các nước (đặc biệt là các nước không thuộc OECD) tham gia PISAqua các kì tăng lên rõ rệt: PISA 2000 có 43 nước tham gia (trong đó có 14 nướckhông thuộc khối OECD), vào năm 2003 tổng số các nước tham gia PISA chỉ còn

41 (có 10 nước không thuộc khối OECD) Đến PISA 2006, số nước tham gia lênđến 57 (trong đó có 27 nước không thuộc khối OECD) và đến PISA 2009 có tới 65nước tham gia (số nước không thuộc OECD lên đến 33) Điều đó chứng tỏ ngàycàng có nhiều quốc gia nhận thức được ý nghĩa của PISA và quyết định tham gia

để thông qua đó có được cái nhìn đúng đắn về những mặt mạnh, yếu của hệ thốnggiáo dục nước mình và rút ra được những bài học cải tổ cần thiết

Việc thực hiện PISA bao gồm khâu thiết kế bài kiểm tra và chọn trường thựcnghiệm Nhìn chung, các bước tiến hành thiết kế bài kiểm tra qua các kì PISAđược diễn ra như sau :

1 Lập đề cương

2 Phát triển dữ liệu

3 Thu thập dữ liệu từ các nước

4 Đánh giá dữ liệu quốc gia

5 Gửi bản mẫu thử nghiệm

6 Chuyển ngữ bản mẫu

7 Tập huấn cho giáo viên chấm điểm

8 Thử nghiệm tại các nước thành viên

10 Công bố công trình nghiên cứu chính thức

11 Tập huấn chính thức cho giáo viên chấm điểm

12 Chính thức tiến hành ở các nước thành viên

Trang 9

Việc chọn trường thực nghiệm bao gồm các bước như sau:

1 Xác định thời lượng của bài kiểm tra và độ tuổi của học sinh

2 Xác định nguồn nhu cầu nơi thực nghiệm

3 Xác định số lượng học sinh sẽ tham gia thực nghiệm

4 Thiết lập và mô tả cấu trúc trường thực nghiệm

5 Xác định trường bị loại

6 Cách xử lí đối với những trường có quy mô nhỏ

7 Phân lớp để tiến hành kiểm tra

8 Xác định số lượng thành viên trong một nhóm thực nghiệm

9 Phân bố thí sinh theo nhóm

10 Chọn trường thí điểm

11 Đánh số trường thí điểm

12 Thiết lập bảng theo dõi

2 Vài nét sơ bộ về kết quả của dự án PISA qua các kỳ

Vài nét sơ bộ về kết quả của dự án PISA qua các kì Dưới đây là kết quả củacác nước đứng đầu về các môn qua 3 kì PISA

Các nước đứng đầu về khoa học từ 2000 - 2006

2000 2003 2006

1 Hàn Quốc 552 1 Phần Lan, Nhật Bản 548 1 Phần Lan 563

2 Nhật Bản 550 2 Hồng Kông* 539 2 Hồng Kông 542

3 Phần Lan 538 3 Hàn Quốc 538 3 Canada 534

4 Anh 532 4 Úc, Liechtenstein, Ma Cao 525 4 Đài Loan* 532

5 Canada 529 5 Hà Lan 524 5 Estonia*, Nhật 531

Trang 10

III Tác động của PISA đến hệ thống giáo dục các nước

Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, sự công bố kết quả khảo sát của PISA lần đầu tiên (2000) được xem như “một sự cảnh tỉnh thô bạo” về thực trạng nền giáo dục các nước tham gia PISA Trước PISA chưa có một cuộc điều tra nào

so sánh trình độ học sinh giữa các nước, bởi thế không ít quốc gia đã ngỡ ngàng vềkết quả đánh giá trình độ học sinh của nước mình, đặc biệt là trong mối tương quanvới các nước khác Nhiều cường quốc lớn như Anh, Pháp, Mỹ, Đức xưa nay vẫn rất tự hào cho rằng nền giáo dục của mình là ưu việt nhất, là nơi sản sinh ra những nhân tài, các nhà bác học Đặc biệt, nền giáo dục của Đức - từng được xem là niềm

tự hào châu Âu, là nơi sản sinh ra các vĩ nhân mọi thời đại, nhưng kết quả yếu kémsau hai lần điều tra (đứng dưới mức trung bình OECD) đã khiến toàn xã hội đứng trước tình trạng “tự vấn”

Kết quả khảo sát qua các kì PISA cho thấy sự tiến bộ rõ rệt của học sinh cácnước Kết quả năm 2006 cho thấy học sinh Hàn Quốc đã nâng được số điểm đạt được trong môn đọc lên 31 điểm trong vòng một năm chỉ bằng cách tập trung phát triển các mũi nhọn Trong cùng khoảng thời gian đó, học sinh Ba Lan cũng nâng được thành tích của mình trong môn đọc lên 29 điểm Học sinh các nước Mexico

và Hy Lạp lại có được những sự tiến bộ hết sức đáng kể trong môn Toán Tuy nhiên, nhìn chung kết quả học tập của học sinh các nước trong khối OECD không mấy thay đổi trong những năm gần đây mặc dù khoản tiền đầu tư cho giáo dục của các nước này đã tăng khoảng 39% từ năm 1995 đến năm 2004

*Nói về ảnh hưởng của PISA đối với hệ thống giáo dục các nước không thể không

kể đến tác động đối với giáo dục của một số nước sau:

1 Đối với nước Đức

Kết quả của nước Đức qua các kì PISA (điểm số và số thứ tự xếp hạng)

Năm Toán Khoa học tự nhiên Đọc

Trang 11

- Ở môn Đọc hiểu (trọng tâm đánh giá của PISA năm này), mức điểm của

học sinh Đức kém xa mức điểm trung bình của các nước OECD (trong khi các nước Tây Âu, ngoại trừ Lich-ten-xten và Luc-xem-buốc) đều có kết quả cao hơn mức trung bình Trong số những quốc gia tham gia, sự chênh lệch về trình độ giữa những học sinh đạt điểm cao nhất và những học sinh đạt điểm kém nhất của Đức làcao nhất (kết quả của Đức không cao do điểm của các học sinh kém kéo xuống) Học sinh Đức đặc biệt kém trong những bài tập đòi hỏi tư duy, đánh giá Gần 25%

số học sinh Đức chỉ có thể đọc ở mức độ sơ đẳng (tỉ lệ trung bình của OECD là 18%, ở những nước như Hàn Quốc, Phần Lan, Canada, Úc và Thụy Điển tỉ lệ này chỉ khoảng 15%) Những học sinh này được coi hoàn toàn không có khả năng tự học suốt đời Một nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém trong khả năng đọc hiểu do học sinh không ham thích đọc sách 42% trong số học sinh Đức được hỏi nói rằng họ hoàn toàn không thích đọc sách

- Ở môn Toán, kết quả của học sinh Đức cũng dưới mức trung bình của

các nước OECD (cùng với Mỹ, Tây Ban Nha và một số nước Đông Âu Chỉ có 1,3% số học sinh Đức có khả năng tính toán độc lập (mức đánh giá cao nhất, trình

độ V) và chỉ một nửa số học sinh Đức giải được những bài tập trong sách giáo khoa, 25% học sinh dưới 15 tuổi chỉ làm được những bài tập Toán ở mức sơ đẳng, trình độ I (những học sinh này được xem như ở mức báo động về trình độ Toán, hổng trầm trọng kiến thức về Toán)

- Ở môn Khoa học, kết quả của nước Đức cũng tương tự như ở môn

Toán, Đức nằm trong tốp cuối, trong khi Hàn Quốc, Nhật tiếp tục đạt kết quả cao nhất, tiếp đến là Phần Lan, Anh, Canada, Niu Di Lân và Úc Chỉ có 3% học sinh Đức đạt trình độ cao nhất (trình độ V) Hơn 25% học sinh dưới 15 tuổi chỉ đạt mức

độ sơ đẳng hoặc kém hơn Đức tỏ ra yếu kém trong việc giúp đỡ các học sinh kém Những học sinh kém nhất ở các nước khác như Hàn Quốc, Anh hay Áo cũng có kết quả cao hơn nhiều so với học sinh yếu nhất của Đức Học sinh Đức có những yếu kém trầm trọng trong việc hiểu và ứng dụng các kiến thức khoa học Điều đó chứng tỏ việc dạy các môn khoa học ở Đức chưa có tính thực tiễn và chưa hướng đến việc giải quyết vấn đề

Phân tích tại sao?

- Ở Đức, địa vị xã hội có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh Chỉ

có 10% số học sinh từ các gia đình khá giả có trình độ kém ở mức báo động về đọchiểu, trong khi ở những nhóm học sinh khác thì tỉ lệ này lên tới 20 đến 30% Gần một nửa số học sinh ở trường Gymnasium (trường chọn cho học sinh khá giỏi để tạo nguồn vào đại học) xuất thân từ gia đình khá giả và chỉ có 10% xuất thân từ giađình có địa vị thấp trong xã hội Ngược lại, gần 40% số học sinh ở trường

Trang 12

Hauptschule (dạy nghề) xuất thân từ gia đình có địa vị thấp trong xã hội và chỉ có 10% xuất thân từ gia đình giàu có

- Có sự khác bịêt lớn trong so sánh trình độ giữa các học sinh bản xứ và các học sinh từ những gia đình nhập cư ở Đức Hơn 30% số học sinh có cha mẹ gốc Đức chọn theo học trường Gymnasium, trong khi chỉ có 15% học sinh nhập cưtheo học loại trường này Ngược lại, trong khi chỉ có 25% học sinh gốc Đức theo học trường Hauptschule thì tỉ lệ này ở học sinh nhập cư lên đến 50%

- Sự chênh lệch về trình độ giữa các học sinh ở Đức là khá lớn: Trong số cácquốc gia tham gia, Đức cũng là nước có sự chênh lệch lớn nhất về trình độ giữa những học sinh đạt điểm cao nhất và những học sinh đạt điểm thấp nhất

- Học sinh Đức đặc biệt kém trong các bài tập đòi hỏi sự tư duy, đánh giá Trình độ của học sinh cũng rất khác nhau Kết quả của nước Đức không được cao

vì bị điểm của các học sinh yếu kém kéo xuống Ở Đức, 13% học sinh nằm trong khung điểm kém nhất và gần 10% thậm chí còn không đạt nổi mức này Điều này chỉ ra rằng gần 25% số học sinh Đức chỉ có thể đọc ở mức độ sơ đẳng (tỉ lệ trung bình của OECD là 18%) Những học sinh này cũng được coi là hoàn toàn không cókhả năng tự học suốt đời Ở những nước như Hàn Quốc, Phần Lan, Canada, Úc và Thụy Điển, tỉ lệ này chỉ ở khoảng 15%, thấp hơn nhiều so với nước Đức

Năm 2003, Đức có tiến bộ hơn năm 2000 nhưng không cải thiện đáng kể Năm 2000, về tổng thể Đức đứng thứ 25/32 (nếu tính cả các nước không thuộc OECD), xếp dưới mức trung bình ở tất cả các môn, đứng thứ 21/27 nước OECD vềĐọc hiểu, 19/27 về Toán, 20/27 về Khoa học Năm 2003, kết quả của Đức có tiến

bộ hơn nhưng chưa đáng kể, Đức đứng 16/30 về Toán, 18/30 về Đọc hiểu, 15/30

về Khoa học và 15/30 về Giải quyết tình huống Thế nhưng, sang đến PISA năm

2006, lần đầu tiên học sinh Đức đã đạt kết quả cao hơn mức trung bình các nước OECD (trừ kĩ năng Đọc hiểu), giáo dục Đức đã nhảy lên tốp 10 ở môn Khoa học Trong môn khoa học, kết quả của học sinh Đức đã vượt qua mức trung bình của 57nước tham gia Các nhà hoạch định chính sách giáo dục coi đây là một thành công lớn Tuy nhiên trong các môn như Đọc hiểu và Toán học, học sinh Đức không có tiến bộ đáng kể so với PISA 2000 và PISA 2003 Trong 30 nước OECD tham gia, Đức đứng thứ 8, điểm số học sinh nam và nữ khá đồng đều Tuy ở môn Đọc hiểu

và Toán không được thành công như ở môn Khoa học, nhưng xét một cách tổng quan học sinh Đức đã vượt lên xếp thứ 14 trong số 30 nước OECD Điều này chứng tỏ nước Đức đã có những tác động đúng hướng nhằm cải thiện đáng kể và nhanh chóng tình hình giáo dục của mình Bộ trưởng Bộ Giáo dục Liên bang, Annette Schavan và Trưởng Hội đồng các Bộ trưởng Giáo dục và Văn hóa của Đức, Jurgen Zollner, đã nhận xét khá lạc quan về kết quả PISA 2006: “Chúng ta

Trang 13

đang đi đúng đường nhưng không được phép ngủ quên trong chiến thắng” “Chúng

ta đã nằm trong top 10, tuy nhiên vẫn chưa phải là người đứng đầu”, Heino von Meyer, Giám đốc Trung tâm OECD tại Berlin nhận xét về kết quả đạt được ở lĩnh vực Khoa học Trong 30 nước OECD tham gia, Đức đứng thứ 8 Điểm số của học sinh nam và học sinh nữ là khá đồng đều

Tóm lại, kết quả của học sinh Đức qua 3 kì PISA đã giúp Đức đưa ra những

cải cách quyết liệt và đồng bộ:

- Bộ Giáo dục cam kết đưa giáo dục Đức vào top 5 nước đứng đầu OECD sau 10 năm Nước Đức sẽ chuyển từ hệ thống sàng lọc học sinh theo 3 cấp độ sang

hệ thống giáo dục toàn diện (comprehensive schooling) như của Phần Lan Năm

2002, chính phủ Đức đã dành một khoản ngân sách 4 tỉ Euro cho các bang để xây mới 10.000 trường học toàn diện từ 2002-2006

- Tăng ngân sách cho giáo dục: từ 1998- 2002 ngân sách chi cho giáo dục tăng 21% và ngân sách giáo dục và nghiên cứu sẽ tăng từ 5.3% lên 6% GDP bắt đầu từ năm 2010

- Từ năm 2001, Đức lập ra một cơ quan độc lập để xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá trình độ của học sinh áp dụng chung cho toàn quốc (thông qua tháng 12.2003) Bộ tiêu chuẩn đánh giá chung này (áp dụng thí điểm từ năm 2004- 2005)đưa ra những tiêu chí cụ thể đánh giá trình độ tối thiểu của học sinh ở từng độ tuổi

về tất cả các môn học với mục đích cân bằng trình độ học sinh giữa các bang, tuy nhiên, quyền tự chủ của các bang, các trường trong việc xây dựng chương trình, lựa chọn sách giáo khoa, phương pháp dạy học vần được tôn trọng Thêm nữa, Đức cũng lập ra một ủy ban gồm các chuyên gia giáo dục hàng đầu để giám sát chất lượng giáo dục trên cả nước

2.Đối với Phần Lan

Khảo sát qua 3 kì PISA cho thấy học sinh Phần Lan đứng đầu tuyệt đối về kĩnăng đọc hiểu và trong tốp đứng đầu về Toán và Khoa học tự nhiên Ngoài thành tích xếp hạng, kết quả khảo sát còn cho thấy tính ưu việt của giáo dục Phần Lan, thể hiện ở chỗ:

- Trình độ học sinh đạt không chỉ đạt ở mức cao nhất mà còn đồng đều nhất (mức độ chênh lệch giữa thành tích cao nhất và thấp nhất của học sinh là thấp nhất);

- Chênh lệch trình độ giữa các vùng miền và giữa các trường là không đáng kể;

Trang 14

- Các nhóm ngôn ngữ và các điều kiện xã hội, kinh tế của gia đình ảnh hưởng không lớn đến thành tích học sinh như ở các nước khác Ở Phần Lan hoàn cảnh gia đình (địa vị xã hội, trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình) không ảnh hưởng tới kết quả học tập của học sinh (về điểm này Phần Lan chỉthua Iceland);

- Số giờ học sinh Phần Lan phải học trong tuần ít hơn so với các nước

OECD khác và chi phí giáo dục lại chỉ ở mức trung bình so với các nước này Trung bình, học sinh Phần Lan ở độ tuổi 15 học 30 giờ một tuần (kể cả giờ học trên lớp và ngoại khóa), trong khi mức trung bình của các nước OECD là 35 giờ,

và ở Hàn Quốc là 50 giờ Nếu tính riêng về Toán, trung bình 1 tuần học sinh Phần Lan học 4,5 giờ, trong khi mức trung bình của OECD là 7 giờ Theo đánh giá của các chuyên gia giáo dục Phần Lan, sở dĩ giáo dục Phần Lan đạt được những kết quả như trên là do một số nguyên nhân chính như sau:

- Giáo dục hoàn toàn miễn phí (kể cả sách vở, giấy bút và chăm sóc y tế, ăn trưa, đi lại, dạy phụ đạo, ) và bình đẳng cho mọi người, không phân biệt nơi sinh sống, giới tính, điều kiện kinh tế gia đình hay các nhóm dân có gốc văn hóa và ngôn ngữ khác với Phần Lan Mọi học sinh đều bình đẳng và nhận được dịch vụ giáo dục tốt nhất Giáo dục Phần Lan là một dịch vụ phúc lợi được tổ chức khoa học và văn minh nhất

- Triết lý giáo dục toàn diện Phần Lan khác các nước khác ở chỗ không áp dụng hệ thống sàng lọc, phân loại học sinh thành các trường chuyên lớp chọn Học sinh Phần Lan không hề bị áp lực thi cử và cạnh tranh không lành mạnh Trong suốt 9 năm học, học sinh không phải dự bất cứ một kì thi toàn quốc nào

- Một đội ngũ giáo viên có tâm và có tầm Do nghề giáo viên được xã hội coi trọng bậc nhất ở Phần Lan nên các trường đại học lựa chọn được những sinh viên ưu tú nhất Giáo viên Phần Lan hoàn toàn độc lập về chuyên môn và có quyền

tự chủ lớn hơn nhiều so với các nước khác Kĩ năng sư phạm được đặc biệt chú trọng

- Đội ngũ giáo viên tư vấn và giáo viên đặc biệt Giáo viên tư vấn có trách nhiệm đưa ra phương pháp học tập tốt nhất cho từng học sinh và giúp học sinh lựa chọn ngành học sau khi tốt nghiệp phổ thông Giáo viên đặc biệt phụ đạo tại

trường cho học sinh yếu để có thể theo kịp trình độ các học sinh khác (tất cả điều này được qui định trong Chương trình chuẩn quốc gia)

- Cách đánh giá thành tích học tập rất văn minh, chỉ mang tính khuyến khích

và có mục đích chủ yếu là nâng đỡ, đưa ra những thông tin của trường và học sinh giúp cho trường và học sinh trên cơ sở thực trạng đó mà cải tiến hoạt động dạy và

Trang 15

học được tốt hơn Ở Phần Lan không có kì thi tốt nghiệp chung cho tòan quốc, không có xếp hạng các trường và không tồn tại khái niệm thanh tra giáo dục.

- Ý nghĩa của giáo dục được tòan xã hội đánh giá cao và trình độ được giáo dục của toàn dân cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn chung của thế giới

- Hệ thống giáo dục linh hoạt và dựa trên sự phân quyền Định hướng giáo dục được qui định thông qua luật, nghị định và chuẩn giáo dục quốc gia Chính quyền các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục dựa trên luật, nghị định và chuẩn giáo dục quốc gia Trường và giáo viên tự chủ về nội dung và cách thức đào tạo

- Sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các trường với nhau, giữa các cấp

độ quản lý, giữa các trường với các tổ chức xã hội liên quan đến giáo dục như phúclợi, bảo hiểm, giao thông, bệnh viện, thư viện, các hiệp hội,

- Cuối cùng là triết lý giáo dục “tất cả vì học sinh” Phần Lan đã xây dựng thành công một quan niệm học tập tích cực cho toàn xã hội

3.Đối với nước Mỹ

Nước Mỹ là một ví dụ điển hình cho thấy mức độ đầu tư nhiều cho giáo dụckhông phải bao giờ cũng mang lại những hiệu quả tương xứng Mĩ là nước đầu tư cho giáo dục có thể nói là cao nhất nhất thế giới (chỉ thua Thụy Sĩ) nhưng kết quả của giáo dục lại chỉ ở mức thấp, chỉ hơn Na Uy, Ý, Bồ Đào Nha, Hi Lạp, Thổ Nhĩ

Kì và Mê xi cô Theo số liệu điều tra, Mỹ không chỉ là một trong những nước dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người (khoảng 36000 US$- theo số liệu điều tra năm 2003) mà còn là một quốc gia dẫn đầu về chi phí cho giáo dục tính theo đầu học sinh (gần 8000 US$), tuy nhiên kết quả của các học sinh Mỹ trong PISA lại không cao (xem bảng dưới)

- Kết quả PISA năm 2003 Mỹ xếp thứ 26 ở môn Toán (có sự tiến bộ rất ít so với năm 2000) và thứ 20 ở môn Khoa học trên tổng số 32 nước OECD tham gia (do lỗi in ấn nên không có kết quả môn Đọc hiểu)

- Kết quả PISA năm 2006 cho thấy học sinh Mỹ đạt điểm tương đối thấp ở môn Toán và Khoa học Cụ thể, Mỹ xếp thứ 25 ở môn Toán và thứ 21 trong 30 nước thành viên OECD Roy Romer, nguyên thống đốc bang Colorado, chánh thanh tra trường Angeles Unified School District cho rằng kết quả của học sinh Mỹtrong các kì PISA đã chứng tỏ hơn nữa tình trạng suy thoái của nền giáo dục Mỹ Nguyên thống đốc bang West Virginia, Bob Wise nhấn mạnh “Kết quả đánh giá vềhọc sinh Mỹ trong các kỳ thi của PISA đã gửi một thông điệp hết sức rõ ràng đến các nhà cầm quyền, các nhà giáo dục và người dân Mỹ rằng nền giáo dục của

Trang 16

chúng ta đang ngày càng tụt hậu hơn so với thế giới Thất bại ở các kỳ Olimpic chỉ

là sự tổn thất về danh dự quốc gia, nhưng sự thể hiện tầm thường trong các kì thi của PISA là một dự đoán cho khả năng cạnh tranh yếu kém của lao động Mỹ trong thị trường lao động toàn cầu hết sức khắc nghiệt ngày nay

Kết quả của một số nước châu Á

Trong các nước châu Á, nổi lên có một số nước có kết quả cao qua các kì PISA, điển hình là Hàn Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản

4.Đối với Hồng Kông

- Sự chênh lệch kết quả của học sinh Hồng Kông là không lớn, mức chênh lệch điểm của học sinh cao điểm nhất và kém điểm nhất ở Hồng Kông trong 3 lĩnh vực Đọc hiểu, Toán và Khoa học là 277, 309 và 280, trong khi mức trung bình của OECD là 328, 329 và 325 Điều này cho thấy giáo dục Hồng Kông đồng đều với tất cả các đối tượng

- Học sinh 15 tuổi Hồng Kông có kết quả tốt hơn nhiều so với các nước khác có cùng điều kiện kinh tế chính trị Chênh lệch điểm giữa học sinh có các điều kiện khác nhau cũng không lớn Nghề nghiệp và trình độ học vấn của cha mẹ

ít có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh - Những học sinh có điếm số kém của Hồng Kông cũng cao điểm hơn nhiều so với những học sinh điểm kém của các nước có cùng điều kiện kinh tế chính trị Điều đó chứng tỏ sự quan tâm chu đáo của nhà trường cũng như giáo viên Hồng Kông đối với những học sinh yếu kém

*Dưới đây là kết quả của Hồng Kông qua các kì PISA

Trong ngoặc là vị trí của Hồng Kông trong bảng xếp hạng

- Nói chung, kết quả của Hồng Kông năm 2000 khá tốt so với các nước kháctrên thế giới Hồng Kông đạt vị trí thứ nhất trong Toán học, thứ 3 trong Khoa học

và thứ 6 về Đọc hiểu Trong bảng Toán, Hồng Kông được 560 điểm, vượt xa các nước khác, trừ Nhật (557) và Hàn Quốc (547) Trong bảng Khoa học, Hồng Kông đạt 541 điểm và trong bảng Đọc kết hợp đạt 525 điểm, chỉ sau Phần Lan (546) Trong bảng đọc đơn, Hồng Kông đứng thứ 6 nhưng khoảng cách với các nước đứng trên không đáng kể

- Năm 2003, kết quả của Hồng Kông khá tốt trong cả bốn lĩnh vự kiểm tra Hồng Kông đạt vị trí thứ nhất trong Toán, thứ 2 trong kĩ năng giải quyết vấn đề, thứ 3 trong Khoa học và thứ 10 trong Đọc hiểu Tất cả các điểm số đều trên mức trung bình của OECD

Trang 17

Trong môn Toán, Hồng Kông bảo vệ được vị trí thứ nhất trong điểm toán

kết hợp Không những thế, Hồng Kông còn đứng thứ nhất trong tỉ lệ học sinh đạt trình độ cao môn toán Có 30.7% học sinh đạt mức V hoặc VI Kết quả này cho thấy học sinh Hồng Kông có khả năng hiểu và giải quyết tốt các vấn đề toán học cao cấp cũng như các tình huống trong cuộc sống

Trong môn K hoa H ọc , Hồng Kông đạt 539 điểm, dứng thứ 3 trong số 41

nước Học sinh Hồng Kông đạt điểm cao hơn học sinh các nước trong khu vực OECD trong cả 4 lĩnh vực của Khoa học, đặc biệt là “hiểu khái niệm” và “nhận dạng chứng cứ” Kết quả này thể hiện điểm mạnh của giáo dục Hồng Kông là khoahọc tự nhiên và đề cao phương pháp dạy học điều tra trong khoa học ở các trường nơi đây

Trong Đ ọc hiểu , Hông Kông không đạt được kết quả cao như trong Pisa

2000 khi tụt từ vị trí số 6 (525 điểm) xuống thứ 10 (510 điểm) Sự tụt dốc này có thể là do sự tụt dốc của học sinh giỏi Tỉ lệ học sinh đạt mức độ IV và V giảm trong khi tỉ lệ đạt mức I và II lại tăng

Trong K ĩ năng giải quyết vấn đề, Hồng kông đạt vị trí số 2 với 548 điểm

Trên 1/3 học sinh Hồng Kông đạt mức 3 tức là có khả năng giải quyết những vấn

đề trong giao tiếp và suy nghĩ

- Trong Pisa 2006: Hồng Kông đạt kết quả rất cao khi lọt vào top 5 trong cả

3 kĩ năng kiểm tra là Khoa học tự nhiên, Toán và Đọc hiểu Hồng Kông xếp thứ 2 trong bảng Khoa học với 542 điểm, chỉ sau Phần Lan (563 điểm) Trong Toán học,Hồng Kông tiếp tục nằm trong top đầu, xếp thứ 3 với 547 điểm, sau Trung Quốc vàPhần Lan Hồng Kông cũng giành vị trí thứ 3 trong môn Đọc hiểu với 536 điểm, sau Hàn Quốc và Phần Lan Đây là một tiến bộ lớn so với năm 2003 khi Hồng Kông chỉ giành được vị trí thứ 10 trong Đọc hiểu

5.Đối với Hàn Quốc

- Ở PISA 2000:Hàn Quốc giành vị trí thứ 6 trong môn Đọc hiểu (với 525) điểm sau Phần Lan, Canada, Niu Di Lân, Úc, Ai-len nhưng sự chênh lệch điểm là không đáng kể Hàn Quốc đạt vị trí thứ hai trong môn Toán với 547 điểm, chỉ sau Nhật Bản (557 điểm) Đặc biệt Hàn Quốc đạt số điểm cao nhất trong môn Khoa học tự nhiên với 552 điểm

- Ở PISA 2003:

Trong môn Đọc hiểu, Hàn Quốc đã đạt một bước tiến lớn khi vươn lên vị trí

thứ 2 với 534 điểm, chỉ sau Phần Lan (543 điểm) Mức trung bình của OECD trongmôn Đọc hiểu là 494 điểm

Ngày đăng: 31/01/2017, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w