1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

25 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 47,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 1

1.3 Vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trang doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam

2.2 Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam

2.2.1 Các chính sách đã ban hành

2.2.2 Nội dung chính của các chính sách ưu đãi, hỗ trợ

2.3 Đánh giá các chính sách của chính phủ Việt Nam

2.3.1 Một số kết quả đạt được khi thực hiện chính sách

2.3.2 Một số khó khăn, tồn tại làm giảm cơ hội khởi nghiệp

Chương 3 : KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC TRONG VIỆC HỖ TRỢ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TỪ ĐÓ ĐỀ

XUẤT MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

3.1 Kinh nghiệm một số quốc gia trên Thế giới

3.2 Một số giải pháp chính sách nhằm hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp Khoa học và Công nghệ tại Việt Nam

KẾT LUẬN

Trang 2

MỞ ĐẦU

Giai đoạn phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm qua đã chứng kiến sựhình thành và phát triển rất năng động của phong trào khởi nghiệp Có nhiều nhântố dẫn đến khởi nghiệp như là một lực lượng mới của nền kinh tế Trong đó có thểkể đến khả năng sáng tạo, tinh thần kinh doanh của người Việt; sự phát triển gia tốccủa thị trường khi Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình; sự bùng nổ củacông nghệ và sử dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; sự tham gia củacác quỹ đầu tư và các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung và doanhnghiệp khoa học và công nghệ lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng

Ngoài ra, tại Việt Nam hiện nay cũng có nhiều quỹ hỗ trợ khởi nghiệp không thuộcloại đầu tư rủi ro của nước ngoài và tổ chức quốc tế, với phương pháp tiếp cận vàhình thức thực thi khác nhau, từ hỗ trợ kết nối kinh doanh song phương, nhưchương trình B2B của Chính phủ Đan Mạch, chương trình hỗ trợ về đào tạo nhânlực cho khởi nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu như của Chính phủ Anhvà Israel, đến cung cấp tài chính không hoàn lại như chương trình IPP của Chínhphủ Phần Lan, hay Quỹ Đổi mới sáng tạo dành cho người thu nhập thấp VIIP củaNgân hàng Thế giới Thực tế chưa cho thấy những kết quả thật sự nổi bật củanhững chương trình này do những khác biệt về trình độ phát triển kinh doanh, thiếtchế tài chính và văn hóa Tuy vậy, các chương trình đó thể hiện sự quan tâm và kỳvọng đặc biệt của cộng đồng quốc tế đối với phong trào khởi nghiệp của Việt Nam.Vai trò của Nhà nước đối với phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam cho đến nay vẫnchưa rõ nét Nhà nước chưa có những quy định pháp luật điều chỉnh sự hình thànhvà phát triển của những doanh nghiệp khởi nghiệp theo phương thức mới, như quỹđầu tư mạo hiểm Việt Nam, sự công nhận giá trị bằng tiền của tài sản vô hình tronggóp vốn thành lập DN hay bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hữu hiệu đối với doanhnghiệp khởi nghiệp Vai trò của Nhà nước cũng chưa được thấy rõ trong lĩnh vựctài chính, đặc biệt là đối với việc khởi sự kinh doanh tại Việt Nam và tín dụng ngânhàng đối với hoạt động khởi nghiệp của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Trang 3

Vì thế, nhóm em xin lựa chọn đề tài nghiên cứu “Phân tích và đánh giá chính sáchhỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ của một số quốc gia trênthế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Các nhận thức cơ bản

* Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cánhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ (NC&PT) thành lập, tổ chức quản lý và hoạt độngtheo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật KH&CN Hoạt động chính củadoanh nghiệp là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hóa hìnhthành từ kết quả NC&PT do doanh nghiệp được quyền sở hữu hoặc sử dụng hợppháp; thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Doanh nghiệp KH&CN thực hiện sản xuất,kinh doanh và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 1.2,Điều 2, Nghị định 80; Điều 2, Nghị định 96)

* Khái niệm “Doanh nghiệp khởi nghiệp”

Khởi nghiệp (tiếng Anh là: startup hoặc start-up) là thuật ngữ chỉ về những doanhnghiệp đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nó thường được dùngvới nghĩa hẹp chỉ các DN công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp Khởi nghiệp làmột tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điềukiện không chắc chắn nhất

Vì luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về chế định startup, cho nên thuật ngữnày đang được hiểu theo thuật ngữ kinh doanh Tuy nhiên, startup thực chất là một

“quá trình” khởi sự một hoạt động kinh doanh, sự xuất hiện của startup không nhấtthiết là phải gắn với việc thành lập của một DN mới, thậm chí đôi khi bắt đầu chỉ làmột ý tưởng, dự án khởi nghiệp Khía cạnh khác, mặc dù DN nào, ngành, nghề hoạtđộng kinh tế nào cũng phải trải qua giai đoạn khởi nghiệp ban đầu nhưng startup lạithường được dùng với nghĩa hẹp hơn rất nhiều, ám chỉ các DN công nghệ tronggiai đoạn khởi nghiệp

Trang 5

1.2 Các yếu tố và điều kiện của việc hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ

Các yếu tố và điều kiện để DN KH&CN tồn tại và phát triển bao gồm: Yếu tốchính trị và pháp luật, Yếu tố kinh tế và Yếu tố Kỹ thuật và Công nghệ

- Yếu tố chính trị và pháp luật: Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của mộtquốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môitrường kinh doanh và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậynghiên cứu các yếu tố chính trị và luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khidoanh nghiệp khoa học và công nghệ tham gia vào thị trường

- Yếu tố kinh tế:

Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, thúc đẩyngành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả ngành hàng khác Các yếu tốkinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng pháttriển của các ngành hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm:

Hoạt động ngoại thương: Xu hướng đóng mở của nền kinh tế có ảnh hưởng các cơhội phát triển của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, các điều kiện cạnh tranh,khả năng sử dụng ưu thế quốc gia về công nghệ, nguồn vốn

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay sẽ tác động mạnh đối với cácngành kinh tế nói chung và các doanh nghiệp khoa học và công nghệ nói riêng Đặcbiệt, khi Việt Nam gia nhập vào ngôi nhà chung WTO, FTA…

Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ, tiêudùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư

Đối với các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sản xuất, tỷ lệ lạmphát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự ổn địnhgiả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt độnghạch toán kinh doanh Nếu một doanh nghiệp khoa học và công nghệ nào đó có tỷsuất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn Lạm phát ở nước tamấy năm nay dao động trên dưới 7%, đây cũng là một lợi thế cho các doanh nghiệpkhoa học và công nghệ vì với tỷ lệ lạm phát này, các DN KH&CN có thể không bị

Trang 6

ảnh hưởng nhiều nhưng trong giai đoạn dài hạn có thể gây ra những biến độngtrong chiến lược nếu doanh nghiệp dự tính đến hoạt động xuất nhập khẩu…

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tếliên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanhnghiệp khoa học và công nghệ

- Yếu tố kỹ thuật công nghệ

Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, tình hình ứng dụng của khoa học

kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnh hưởngtới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanhnghiệp do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng tớihiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khoa học và công nghệ Doanhnghiệp khoa học và công nghệ thì yếu tố khoa học, công nghệ lại càng quan trọng,nó khẳng định vị thế, địa vị của doanh nghiệp trên thị trường khoa học và côngnghệ Yếu tố công nghệ sẽ giúp cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiếtkiệm được chi phí sản xuất, tạo ra giá thành sản phẩm thấp hơn so với các đối thủkhác, tạo ra lợi thế trong cạnh tranh Đồng thời, yếu tố khoa học và kỹ thuật sẽ tạo

ra năng suất lao động cao hơn, tạo ra lợi thế tối ưu hơn trên thị trường các sản phẩmkhoa học và công nghệ

1.3 Vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, một quốc gia có trình độ đổimới sáng tạo cao sẽ có nhiều cơ hội tham gia sân chơi lớn Khởi nghiệp châm ngòisức sáng tạo, vì vậy, việc thôi thúc “ngọn lửa” khởi nghiệp bùng cháy đang là quyếttâm chung của toàn xã hội Tuy nhiên, hiện nay, môi trường và các điều kiện chokhởi nghiệp, gồm hệ thống khung pháp luật, các chính sách hỗ trợ, quỹ đầu tư mạohiểm (ĐTMH)… giúp bảo đảm tính ổn định và độ sẵn sàng vẫn còn gặp nhiềuvướng mắc Hoàn thiện các điều kiện cho khởi nghiệp chính là yêu cầu bức thiếtnhất, giúp cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam vươn lên và phát triển mạnh mẽ

Đánh giá gần đây về năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam chỉ là nền kinh tế vậnhành ở giai đoạn cơ bản còn một khoảng cách khá xa để vươn tới nền kinh tế trithức Do đó, các DN KH&CN cần rất nhiều nổ lực và sự quan tâm của chính phủmới có thể thực hiện được nhiệm vụ gia tăng số lượng và chất lượng DN KH&CN

Trang 7

Việt Nam xác định 4 ngành ưu tiên là CNTT, vật liệu mới, công nghệ sinh học, cơkhí tự động nhưng thực sự vẫn chưa có qui hoạch tổng thể cho phát triển côngnghiệp Do vậy phạm vi và quy mô đầu tư về vật chất, nguồn nhân lực cho cácngành công nghiệp không trọng điểm Theo đó việc thực hiện mục tiêu tái cấu trúcnền công nghiệp sẽ lúng túng trong xây dựng mục tiêu hoạt động.

Ngân sách cho KHCN Việt Nam chỉ đạt 0.5% GDP, nếu so với Nhật Bản, Hoa Kỳthì đầu tư từ 2.7-3.4% GDP thì đây là con số nhỏ Đầu tư KHCN Việt Nam gồm40% chi xây dựng cơ sở hạ tầng, 40% chi thường xuyên (bộ máy quản lý và nghiêncứu) Bên cạnh đó tồn tại cơ chế thu chi vướng thủ tục hành chánh, không theo thịtrường, tăng chi phí thời gian (60% thời gian của nghiên cứu trong nước)

Từ khi thừa nhận vai trò thành phần kinh tế tư nhân thông qua hiến pháp, luật DN,luật KHCN, luật công nghệ cao, sở hữu trí tuệ, chuyển giao KHCN… trong đó xácnhận “quyền” tự do của các tổ chức, cá nhân Khởi đầu thực hiện phi tập trung hóatrong hoạt động KHCN (1981) cho phép các đơn vị nghiên cứu tham gia sản xuất,chấm dứt cơ chế bao cấp Năm 1983 đến nay đã có nhiều nghị định nâng dần mứcđộ tự do các thành phần trong xã hội như nghị định 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tựchủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập, thực tế nghị định này gặpkhó khăn do yếu kém trong thực hiện bản thân cá nhân và tổ chức, “sức ỳ” do thờigian dài sống trong “bao cấp”, qui định thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ của các vănbản dưới luật Chính sách khuyến khích DN đầu tư cho KHCN như nghị định119/1999/NĐ-CP hỗ trợ DN đổi mới công nghệ, năm 2010 con số của tổng cụcthống kê đưa ra chỉ 509/290767 DN có đầu tư cho KHCN tức khoảng 2.8% nguồnvốn DN

Tham gia đầu tư cho DN KHCN từ quỹ KHCN, quỹ đầu tư mạo hiểm còn là mộttrong nguồn tài chính hỗ trợ khởi nghiệp ngày càng phổ biến ở Hoa Kỳ, Châu Âu,

TQ và một số nước khác Tại Việt Nam gồm có Dragon Capital, Mekong Capital,IDG Venture, Vina Capital, Thanh Việt, Vietfund, Phangxiphang… nhưng đa phầnđầu tư vào lĩnh vực bất động sản, đầu tư chứng khoán, gần đây một số quỹ ưu tiênđầu tư trong lĩnh vực CNTT nhưng không đáng kể Các điều kiện tiếp cận quỹ hầunhư các khởi nghiệp khó đạt được bởi những yêu cầu về chuẩn mức trong quản lý,khả năng phát triển thị trường tiềm năng đối với sản phẩm

Trang 8

Sở dĩ quỹ đầu tư mạo hiểm Việt Nam không tham gia đầu tư cho DN KH&CN domột số các nguyên nhân thị trường tiềm năng KH&CN Việt Nam chưa nổi trội,riêng thị trường gia công CNTT mới nổi cũng được quỹ này quan tâm Các yếu tốhỗ trợ cho thị trường KHCN như chính sách phát triển tư nhân, nhân lực, bảo vệ sởhữu trí tuệ chưa đủ mạnh Đồng thời chính sách khuyến khích quỹ đầu tư mạo hiểmchỉ chung chung (nghị định 99/2003/NĐ-CP Ban hành qui chế khu công nghệ caotại điều 19 và 29 chương VI của qui chế khu công nghệ cao).

Hệ thống hành lang pháp lý bảo vệ và phát triển DN KH&CN đóng vai trò quantrọng Luật chuyển giao KHCN phục vụ mục tiêu nghiên cứu gắn với thị trường,tuy nhiên giới nghiên cứu đánh giá can thiệp của nhà nước quá nhiều vào thị trườngKHCN Vấn đề cần bàn khác luật công chức cấm cán bộ công chức thành lập DN,trong khi đa phần các cán bộ và giảng viên là cán bộ công chức cũng là nhóm có tỷlệ lao động trình độ cao chiếm rất lớn/ lực lượng lao động toàn xã hội

Riêng về chính sách dành cho vườn ươm, có thể nói mô hình vườn ươm tại ViệtNam chưa được xem trọng, đến nay vườn ươm DN vẫn chưa có chính sách cụ thểđể hoạt động Các đầu tư cho vườn ươm không tương xứng với mục tiêu vườn ươmphục vụ cho địa phương trong hỗ trợ DN KHCN

Chất lượng nguồn nhân lực quyết định sự ra đời của DN KHCN Một số đề án giáodục như đề án 322, đề án “Đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đạihọc, cao đẳng giai đoạn 2010 - 2020”, tận dụng quỹ giáo dục quốc tế, chính sách xãhội hóa giáo dục đại học cho phép tư nhân tham gia đầu tư giáo dục… thời giangần đây tạo ra những thay đổi tốt trong chất lượng nhân lực Đối với thu hút trí thứckiều bào đã có những thay đổi đáng kể như luật quốc tịch sửa đổi, miễn thị thựcngười Việt Nam ở nước ngoài; quy chế cư trú người Việt Nam ở nước ngoài; sửađổi bổ sung luật nhà ở, luật đầu tư, luật DN Tuy nhiên để phát huy tác dụng thu hútkiều bào trí thức cần có thêm sự đồng bộ về môi trường làm việc, chính sách sửdụng người tại tổ chức, môi trường nghỉ ngơi, giáo dục, chăm sóc sức khỏe y tế.Chính sách thẩm thấu công nghệ từ FDI đối với nhân lực chưa đem lại kết quả đángkể do cấu trúc ngành FDI tập trung nhiều ngành công nghệ thấp như dệt may, dagiày, đồ gỗ; số lượng quá ít của DN FDI công nghệ cao cũng như mức độ chuyểngiao do hạn chế của trình độ nhân lực Kết quả mức độ chuyển giao công nghệ củaFDI xếp hạng trung bình 62/142

Trang 9

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trang doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay, cả nước đã cótrên 3.000 doanh nghiệp (DN) khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đặc biệt, số lượng vàchất lượng các DN này ngày càng tăng, thể hiện ở giá trị thương vụ đầu tư Chẳnghạn, nền tảng kết nối ẩm thực trực tuyến Foody đã có khoản bán cổ phần lên tới 64triệu USD; trang thương mại điện tử Tiki.vn nhận được khoản đầu tư 44 triệu USDtừ công ty bán lẻ trực tuyến lớn nhất Trung Quốc là JD.com; đại lý du lịch trựctuyến Vntrip tuyên bố nhận được 10 triệu USD từ Hendale Capital…Có thể thấy,KHCN và đổi mới sáng tạo đóng góp quan trọng ở tất cả các ngành, lĩnh vực, cácđịa phương trong cả nước Căn cứ báo cáo của các Sở Khoa học và Công nghệ, tínhđến tháng 11/2020, cả nước đã có 538 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhậnDoanh nghiệp khoa học – công nghệ (DNKHCN) Sau khi Nghị định số13/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạođăng ký và được cấp Giấy chứng nhận DNKHCN có xu hướng gia tăng nhanh, đặcbiệt ở các thành phố như Hồ Chí Minh, Hà Nội là những địa phương chú trọng xâydựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tăng cường triển khaicác hoạt động truyền thông, giới thiệu chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp khởinghiệp đổi mới sáng tạo

Về tình hình hoạt động của DNKHCN: căn cứ báo cáo của 235 doanh nghiệp cungcấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn 2019-2020:

- DNKHCN tạo việc làm cho 31.264 người lao động

- Tổng doanh thu của 235 doanh nghiệp năm 2019 đạt: 147.170,5 tỷ đồng Trongđó, có 217 doanh nghiệp có doanh thu từ sản phẩm KH&CN với tổng: 24.123,1 tỷđồng (chiếm 16,3% tổng doanh thu)

Năm 2019, GDP theo giá hiện hành của Việt Nam đạt 6294000 tỷ đồng Như vậy,tổng doanh thu của 235 DNKHCN đạt 2,39 % GDP cả nước

Trang 10

- 198 doanh nghiệp có lãi với tổng lợi nhuận trước thuế năm 2019 đạt: 5.268,5 tỷđồng.

Trong đó, tổng lợi nhuận trước thuế của sản phẩm KH&CN đạt: 1.343,9 tỷđồng/183 doanh nghiệp

- Doanh nghiệp có doanh thu trên 100 tỷ đồng: 56 doanh nghiệp

- Doanh nghiệp báo cáo lỗ: 9 doanh nghiệp

- Thu nhập bình quân tháng của người lao động: 15 triệu đồng/người

Trong năm 2020, nhiều địa phương trên cả nước đã tham gia và triển khai hiệu quảhoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cả về chất và lượng như: Hà Nội, TP HồChí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu; Đà Nẵng, Thanh Hóa, Nghệ An, ThừaThiên - Huế, Cần Thơ… Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hoạt động ngàycàng sôi động, quy mô của các thành phần được mở rộng Các địa phương đã kếtnối được hàng chục tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo (cơ sở ươm tạo, không gianlàm việc chung, quỹ đầu tư); thiết lập nền tảng kết nối chia sẻ dữ liệu với 134phòng thí nghiệm, 626 chuyên gia, 275 tổ chức KH&CN Qua đó, đã giúp cácthành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp nói chung và doanh nghiệp nói riêng cónhững chuyển biến rõ rệt về nhận thức, vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mớisáng tạo

Điều đáng ghi nhận là trong năm 2020, đại dịch Covid-19 khiến rất nhiều doanhnghiệp gặp khó khăn, nhưng đây lại là năm ghi nhận các doanh nghiệp khởi nghiệptham gia các cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đông đảo nhất với chất lượngvà số lượng vượt trội Điều này chứng tỏ hệ sinh thái khởi nghiệp của các địaphương đã bắt đầu vững vàng sau nhiều năm được đầu tư, ươm tạo và phát triển.Với hàng trăm hồ sơ dự thi trên nhiều lĩnh vực, nhiều sản phẩm tham dự của cácnhóm startup ở địa phương đã và đang gây tiếng vang trên thị trường trong vàngoài nước Bên cạnh đó, nhiều giải pháp đổi mới sáng tạo đến từ các khối giáodục, y tế, doanh nghiệp… đã được triển khai thành công, đem lại hiệu quả cao vàphục vụ lợi ích cho chính cộng đồng

Nhiều doanh nghiệp cho biết, khi được chứng nhận DNKHCN, ngoài những ưu đãihỗ trợ của Nhà nước về thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, thì giá trị thươnghiệu mà DNKHCN mang tới có hỗ trợ rất lớn đối với việc thương mại hóa sản

Trang 11

phẩm, phát triển doanh nghiệp Tuy nhiên, tại một số địa phương, việc tiếp cậnchính sách ưu đãi hỗ trợ vẫn còn khó khăn, doanh nghiệp đề xuất các cơ quan quảnlý cần trao đổi cụ thể, rõ ràng giữa các đơn vị để đạt được việc thống nhất trongtriển khai chính sách.

Các DNKHCN chú trọng tới việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển,đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Khoảng 7%doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận từ kết quả KH&CN có nguồn gốc từ ngânsách nhà nước; hơn 90% doanh nghiệp còn lại tự đầu tư nghiên cứu hoặc nhậnchuyển giao kết quả KH&CN bằng toàn bộ nguồn vốn của chính doanhnghiệp.DNKHCN chú trọng tới việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối vớicác kết quả KH&CN và sản phẩm được tạo ra: có 138 doanh nghiệp được cấp vănbằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và 9 doanh nghiệp đã đăng ký bảo hộ và đang chờkết quả

Trong hệ sinh thái khởi nghiệp, doanh nhân khởi nghiệp đóng vai trò chủ đạo, nhànước có vai trò tạo ra sân chơi thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp, còn đại học lànguồn cung/tạo ra các doanh nhân khởi nghiệp Các trường đại học với nguồn lựcvề công nghệ, cơ sở vật chất/phòng thí nghiệm tham gia vào hệ sinh thái khởinghiệp vì nhu cầu phát triển của mình (nhu cầu chuyển giao công nghệ) Trong đó,việc hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp nhằm tạo ra các doanh nhân khởi nghiệp Để hiệuquả, hệ thống hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp phải toàn diện, với dự án khởi nghiệpthật, trong môi trường thật, bằng các đối tác cốt lõi, nguồn lực cốt lõi, các hoạtđộng cốt lõi,… Nguồn lực cốt lõi chính là vai trò của KH&CN, ứng dụng KH&CN,sử dụng máy móc thiết bị để phát triển sản phẩm, dịch vụ khởi nghiệp

Trước làn sóng khởi nghiệp, sáng tạo diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, Chính phủViệt Nam đã có nhiều nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và banhành các văn bản liên quan nhằm hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, cụ thể là về khoahọc – công nghệ đơn cử có thể đề cập tới như: ngày 7/2/2017, Bộ Khoa học vàCông nghệ (KH&CN) phê duyệt danh mục nhiệm vụ đặt hàng thuộc và quy địnhtạm thời xử lý hồ sơ tham gia Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đến2025”(Quyết định 3362/QĐ-BKHCN)… Trên cơ sở đó, các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương cũng đã ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình về khởi

Trang 12

nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo, để định hướng, đề ra mục tiêu và giải pháp cơ bảnvề hỗ trợ, thúc đẩy phát triển hoạt động khởi nghiệp.

Thời gian tới, Việt Nam cần ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong phát triển côngnghệ số, thực hiện chuyển đổi số trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản trị…, từngbước hình thành kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, tạo ra những giá trị mới và sứcmạnh tổng hợp mới của đất nước Đồng thời Chính phủ cần lựa chọn và có chínhsách đặc thù đối với một số doanh nghiệp có khát vọng và bản lĩnh, có đủ năng lựcvà quy mô cho đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ mới, tiên phong vươn tầmthế giới Từ đó, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị khuvực, chuỗi giá trị toàn cầu; từng bước làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu,nâng cao năng lực cạnh tranh và hấp dẫn trong “sân chơi” toàn cầu

Mặc dù có nhiều chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo nhưng các hoạt động khởinghiệp về khoa học-công nghệ vẫn còn gặp khó khăn Khó khăn lớn nhất chính lànhận thức Các bạn trẻ cần phân biệt sự khác nhau giữa lập nghiệp với khởi nghiệpvà khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Khái niệm startup tương ứng với khởi nghiệp đổimới sáng tạo, nghĩa là khởi nghiệp từ những ý tưởng mới, những mô hình mới,hình thức kinh doanh mới, những kết quả khoa học - công nghệ mới để nhanhchóng phát triển doanh nghiệp và cạnh tranh trên toàn cầu Còn lập nghiệp thôngthường, như mở cửa hàng để bán hoặc làm lại một mô hình cũ mà không được nhânrộng hoặc phát triển thì khác hoàn toàn.Giới trẻ cần thay đổi quan điểm về độ tuổikhởi nghiệp thành công Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng đó là các bạn trẻ phảibiết “chấp nhận thất bại” Các nước thành công trong việc phát triển doanh nghiệpđổi mới sáng tạo đã tạo ra được văn hóa chấp nhận thất bại Sau mỗi thất bại, doanhnghiệp sẽ đánh giá được hướng đi hiện tại và tìm ra con đường tốt hơn cho tươnglai

Nguồn lực cho KH&CN ở các địa phương còn hạn chế, nguồn kinh phí choKH&CN chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và đang rất thiếu so với nhu cầu, cácnguồn xã hội hóa còn thấp Trừ một số thành phố lớn, còn lại hầu hết các địaphương đều hạn chế về nguồn nhân lực KH&CN, nhất là nguồn nhân lực chấtlượng cao Quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp còn chậm, thiếunhiều yếu tố để thúc đẩy thực hiện đổi mới Chưa có nhiều nhiệm vụ KH&CN cósự liên kết, phân công triển khai giữa các địa phương trong vùng Các công tác

Ngày đăng: 21/04/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w