1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”

31 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 454,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cái nhìn khách quan và đa chiều về “Bẫy thu nhập trung bình” cũng như cách để vươn lên thành nước có thu nhập cao hơn nữa, nhóm tiểu luận chọn đề tài “Quá trìnhvượt qua bẫy thu nhậ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm 60 của thế kỉ XX, nhắc đến châu Á là nhắc đến chiến tranh, nghèođói và lạc hậu Tuy nhiên, một vài thập kỉ sau, cả thế giới phải trẩm trồ thán phục và thayđổi cách nhìn về châu Á, khi “những con rồng” châu Á nổi lên bên cạnh Nhật Bản Cụcdiện đã hoàn toàn thay đổi: Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore đã trở thành những quốcgia phát triển hàng đầu thế giới

Trong khi đó, năm 2008 Việt Nam đặt bước chân đầu tiên vào nhóm những nước cóthu nhập trung bình, thoát khỏi tình trạng nghèo đói và kém phát triển Mức thu nhập bìnhquân cũng tăng nhanh trông thấy Tuy nhiên những dấu hiệu của “bẫy thu nhập trungbình” đã xuất hiện một cách hết sức rõ ràng Vậy chúng ta làm thế nào để vượt qua bẫy vàkhông rơi vào tình trạng “chưa giàu thì đã già”

Để có cái nhìn khách quan và đa chiều về “Bẫy thu nhập trung bình” cũng như cách

để vươn lên thành nước có thu nhập cao hơn nữa, nhóm tiểu luận chọn đề tài “Quá trìnhvượt qua bẫy thu nhập trung bình của Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”Bài tiểu luận gồm 03 phần chính:

Chương 1: Tổng quan về bẫy thu nhập trung bình

Chương 2: Nền kinh tế Hàn Quốc giai đoạn 1960 – 2017 và quá trình vượt qua bẫythu nhập trung bình của Chính phủ Hàn Quốc

Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Với các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê nghiên cứu nền kinh tế HànQuốc giai đoạn 1960-2017 và những biện pháp mà Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng đểđưa Hàn Quốc vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nhóm tiểu luận đối chiếu với hiện trạngcủa Việt Nam và từ đó đề xuất những giải pháp tối ưu nhất

Nhóm cũng rất mong nhận được những nhận xét mang tính xây dựng nhằm hoànthiện hơn nữa những nghiên cứu của nhóm về “Quá trình vượt qua bẫy thu nhập trungbình của Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”

Trang 2

1 TỔNG QUAN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH

1.1 Khái niệm bẫy thu nhập trung bình

Theo Indermit Gill, chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank, Viện Brookings(2007):”Bẫy của các nước thu nhập trung bình” hay “bẫy thu nhập trung bình” là tìnhtrạng không đáp ứng nổi những đòi hỏi cao và rất cao khi nền kinh tế đã đạt đến mức thunhập trung bình.[1]

Các ngưỡng để phân loại các nền kinh tế được xác định vào đầu năm tài chính củaNgân hàng thế giới vào tháng 7 và cố định trong 12 tháng với điều chỉnh lạm phát Kể từngày 1 tháng 7 năm 2018, các ngưỡng mới để phân loại theo thu nhập đó là:

Bảng 1: Ngưỡng phân loại các nền kinh tế

Nguồn: World Bank (2018)

Theo giáo sư Kenichi Ohno của Viện nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, bẫythu nhập trung bình là tình huống mà một quốc gia bị mắc kẹt tại mức thu nhập đượcquyết định bởi một nguồn lực nhất định và lợi thế ban đầu, và không được vượt quá mứcthu nhập đó.[2]

Có thể thấy rằng, có rất nhiều quan niệm khác nhau về “bẫy thu nhập trung bình”.Tuy nhiên ta có thể hiểu đơn giản khái niệm về “bẫy thu nhập trung bình” đó là khi mộtquốc gia thoát khỏi mức thu nhập thấp bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình,nhưng trong một thời gian dài vẫn không thể vươn lên hàng các quốc gia có mức thu nhậpcao, các quốc gia phát triển

[1] Gill Indermit S, 2007, East Asian Visions: Perspectives on Economic Development Unknown Binding, trang 42

[2] Ohno Kenichi , 2009, Avoiding the Middle-income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation

in Vietnam, Tạp chí kinh tế ASEAN, số 26, trang 25

Trang 3

1.2 Nguyên nhân sập bẫy thu nhập trung bình

Sau khi vượt ngưỡng thu nhập thấp, một quốc gia sẽ mất dần các lợi thế sẵn có vàcác nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI sẽ bắt đầu chuyển sang các nước kém pháttriển hơn nhưng có nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn hoặc lao động giá rẻ hơn Để tiếp tụctăng trưởng, quốc gia đó sẽ phải hướng phát triển tới các ngành công nghiệp có hàm lượngcông nghệ và tính cạnh tranh cao, giúp nâng cao giá trị nội tại cho nền kinh tế Tuy nhiênviệc này sẽ khó thực hiện vì một số nguyên nhân dưới đây[3]:

• Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng kinh tế

• Nhân lực trong thời kỳ thu nhập thấp chủ yếu được khai thác ở phần thủ công mà chưa được đào tạo về kỹ năng dẫn đến mặt bằng chung có chất lượng kém

• Nền tảng khoa học, công nghệ lạc hậu so với thế giới làm giảm năng suất lao động

và chất lượng hàng nội địa

• Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công: Nền kinh tế trong nước không đủsức tạo ra giá trị gia tăng mới để tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu, sựthống trị của các tập đoàn mang thương hiệu nước ngoài

• Các nhà quản lý kinh tế vĩ mô ngộ nhận những thành quả đã đạt được, không có cácbiện pháp, chính sách kịp thời, phù hợp với tình hình mới khi bước vào nhóm có thunhập trung bình

• Sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn xã hội: Các khu vực nông thônngày càng tụt hậu so với thành thị Các dân tộc thiểu số tham gia rất ít vào quá trìnhtăng trưởng chung

• Sự hủy hoại môi trường sống mà phải mất nhiều nguồn lực và thời gian để có thểkhắc phục được, kết cấu xã hội biến đổi trong thời gian quá ngắn dễ tạo ra nhiềuxung đột, tự tin thái quá của các tầng lớp dẫn dắt đến tâm lý đòi thưởng công trạngbiểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm

Trên thực tế, có nhiều nền kinh tế ở khu vực châu Á từ nghèo chuyển thành nước cóthu nhập trung bình, nhưng rất ít trong số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan, HànQuốc Philippines là một quốc gia điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trungbình, nước này đã không thể vượt được ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên.Indonesia cũng đã mất hơn một thập niên để cải thiện từ 1.000$ lên hơn 2.000

[3] Ohno Kenichi, 2009, Avoiding the Middle-income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation

in Vietnam, Tạp chí kinh tế ASEAN, số 26, trang 32

Trang 4

USD/người Thái Lan cũng đã mất hơn hai thập niên để vượt được con số 3.000 USD do bất ổn kéo dài Dấu hiệu nhận biết bẫy thu nhập trung bình

Giáo sư Kenichi Ohno (2014) đã phân tích 6 khía cạnh dùng để đánh giá liệu một quốc gia đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình hay chưa, cụ thể như sau[4]:

• Thu nhập bình quân đầu người thấp

• Tăng trưởng kinh tê chậm biểu hiện ở sự tăng trưởng chậm lại của GDP

• Năng suất lao động thấp

• Thiếu hụt chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng nghĩa, nặng tính hình thức

• Không có sự cải thiện về chỉ số xếp hạng kinh tế

• Xuất hiện, nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến tăng trưởng như lạm phát, bong bóngchứng khoán và bất động sản, tắc nghẽn giao thông, suy thoái môi trường, nợ xấu của nhà nước…

Những dấu hiệu trên bao quát trên toàn bộ các lĩnh vực của một quốc gia như kinh

tế, chính trị cho đến văn hóa, môi trường Cần lưu ý những dấu hiệu của bẫy thu nhậptrung bình trên để nhanh chóng đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời

1.3 Tác động của bẫy thu nhập trung bình lên nền kinh tế

• Đối với nền kinh tế vĩ mô:

Thứ nhất là đối với khả năng tích lũy vốn của nền kinh tế Khi quốc gia rơi vào bẫythu nhập trung bình, thu nhập bình quân giảm, làm giảm tiết kiệm nội địa dẫn tới mất khảnăng tích lũy vốn của nền kinh tế Bên cạnh đó, đất nước bị mất dần lợi thế cạnh tranhtrong việc thu hút FDI, không huy động được đủ vốn cần thiết cho tái xuất đầu tư và duytrì đà tăng trưởng Vay nợ và viện trợ có thể sẽ không khả thi do bị phụ thuộc về các mặtkinh tế, chính trị, hoặc rơi vào tình trạng “lãi mẹ đẻ lãi con” Do đó, khi một đất nước bịrơi vào bẫy thu nhập càng lâu thì càng khó thoát khỏi nó

Thứ hai, thu nhập thấp dẫn tới người lao động không có nhiều cơ hội được tiếp xúcvới giáo dục và đào tạo bài bản, trình độ lao động không được cải thiện Thiếu hụt laođộng chuyên môn cao gây khó khăn với các ngành cần nhiều chất xám tạo giá trị gia tănglớn, chỉ được tiếp cận công nghệ lạc hậu mà không tạo được các sản phẩm mới mang tínhbứt phá, tạo động lực cho nền kinh tế

• Đối với các cá thể trong nền kinh tế:

[4] Ohno Kenichi, 2009, Avoiding the Middle-income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation

in Vietnam, Tạp chí kinh tế ASEAN, số 26, trang 43

Trang 5

Nền kinh tế tăng trưởng thấp không đủ khả năng tạo việc làm và thu nhập cho ngườidân, tạo thành một vòng luẩn quẩn Tốc độ gia tăng các loại phí tăng nhanh hơn nhiêu sovới tốc độ tăng lương của lao động Sự phụ thuộc vào các quốc gia khác, đặc biệt là vàocác khoản vay nước ngoài sẽ mang tới gánh nặng trả nợ lên vai người dân và doanhnghiệp khiến tỷ lệ phá sản của doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp và đói nghèo tăng cao Thấtnghiệp gia tăng còn dẫn tới tệ nạn xã hội, bất ổn về chính trị Khả năng hưởng thụ của conngười giảm, không được đảm bảo các điều kiện tối thiểu cho cuộc sống bình thường, bịhạn chế các quyền tự do và quyền tiếp cận với hàng hóa công cộng như y tế, giáo dục,nước sạch

2 NỀN KINH TẾ HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1960 - 2018 VÀ QUÁ TRÌNH VƯỢT QUA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH

2.1 Bối cảnh nền kinh tế Hàn Quốc giai đoạn 1960 – 2018

Nền Hàn Quốc đã phát triển vượt bậc trong vòng mấy chục năm qua: có mức thunhập trung bình thấp năm 1969, đạt được mức thu nhập trung bình cao năm 1988, vươnlên ngưỡng các nước có thu nhập cao năm 1996

Biểu đồ1: GDP của Hàn Quốc so với Hồng Kông và Ấn Độ giai đoạn 1960 – 2017

Nguồn: World Bank (2018)

Trang 6

Từ năm 1962 đến 1979, dưới thời Tổng thống Park Chung- hee cầm quyền, HànQuốc bắt đầu bước vào một giai đoạn phát triển mới Đây là giai đoạn Hàn Quốc xâydựng kinh tế theo mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, dựa vào khai thác thị trường thế giới và liên kết quốc tế Để thựchiện mục tiêu chiến lược kinh tế nêu trên, Chính phủ Park đã thực hiện một số biện phápsau:

Một là, mở rộng chức năng kinh tế của nhà nước và thực hiện cải cách hành chính,trong sạch hoá bộ máy chính phủ

Hai là, thực hiện kế hoạch hoá kinh tế bằng các kế hoạch kinh tế 5 năm, cụ thể:Dưới thời tổng thống Park Chung- hee, với sự thành lập của EPB[5], các kế hoạch

hoá kinh tế mới trở thành hệ thống Đó là các kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1962-1966),

kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1967-1971), kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1972-1976), kế hoạch 5 năm lần thứ tư ( 1977-1981) Trải qua hai thập kỷ xây dựng và phát triển quốc

gia, Chính phủ Park Chung-hee đã bước đầu đưa đất nước vượt qua khỏi cảnh nghèo nàn,lạc hậu Nền kinh tế luôn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao về GNP và GDP trong cácthời kỳ (trừ năm 1980 sau cái chết của Tổng thống Park, GNP giảm 5.2%, GDP giảm3.2%) Tuy nhiên, nếu tính bình quân thì trong 15 năm, GNP tăng 19 lần và GDP cũng có

có sự gia tăng tương ứng Cụ thể, về công nghiệp, tốc độ tăng trưởng bình quân khá caođạt 13.5%/năm (1967-1971), 18.1%/ năm (1972-1976)

Bên cạnh những thành tựu kể trên, trong giai đoạn 1961-1979, Hàn Quốc cũng phảiđối mặt với những khó khăn thách thức đòi hỏi chính phủ phải có những biện pháp đểkhắc phục như nền kinh tế phát triển thiếu cân đối trong các ngành sản xuất, nợ nướcngoài tăng nhanh, các tập đoàn kinh tế lớn (Chaebol) do được chính phủ ưu tiên nên dễdẫn đến sự độc quyền về kinh tế và lấn át về chính trị, lạm phát gia tăng

2.1.2 Giai đoạn 1979 đến nay

Kinh tế Hàn Quốc trong giai đoạn 1979 đến trước khi cuộc khủng hoảng tài chínhnăm 1997 gồm các kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1982-1986), lần thứ sáu ( 1987-1991) vàlần thứ bảy ( 1992-1996) Nội dung chủ yếu của nền kinh tế Hàn Quốc trong giai đoạn nàyđược tập trung vào một số vấn đề sau: (1) Sự đổi mới về vai trò kinh tế của nhà nước và

cơ chế vận hành kinh tế Tính chỉ huy trong kinh tế của chính phủ phải được loại bỏ vàthay vào đó là nhà nước phải hoạt động trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường; (2)Kinh tế Hàn Quốc tiếp tục thực hiện kế hoạch hoá, đẩy mạnh việc tự do hoá thị trường,

[5] Econimics Planning Board – Hội đồng Hoạch định Kinh tế Hàn Quốc

Trang 7

hạn chế sự can thiệp của nhà nước; (3) Nhà nước có chính sách hỗ trợ và thúc đẩy bộ phậncông nghiệp nhỏ và vừa phát triển, nhằm khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu côngnghiệp và hướng hoạt động của các bộ phận này vào xuất khẩu; (4) Đẩy mạnh côngnghiệp bằng việc phát triển các ngành kỹ thuật- công nghệ cao của dân tộc nhằm thay thếnguồn công nghệ nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển, gắn liền với việc đẩy mạnhkhoa học kỹ thuật đi vào chiều sâu phục vụ đắc lực cho tăng trưởng kinh tế[6].

Về thành tựu kinh tế: Hàn Quốc tiếp tục giữ được mức tăng trưởng GNP và GDP vớimức cao và ổn định, bình quân hàng năm 8.1% Sản xuất kinh tế công nghiệp có sự pháttriển cao theo chiều sâu, bình quân tăng hàng năm là 12.6 % Năm 1994, công nghiệp điện

tử chiếm vị trí thứ 5 thế giới

Vào giữa những năm 1980, các tập đoàn Hàn Quốc như Hyundai, Samsung, Goldstar đã bắt đầu tiến hành những đợt lấn chiếm sâu vào thị trường Mỹ GNP của HànQuốc tăng lên với một tỉ lệ đáng kinh ngạc, đạt 11,6% vào năm 1986 và 12,5% vào năm

Lucky-1987, cả hai năm đều giữ kỉ lục toàn cầu Hàn Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớnthứ 7 của Mỹ và nhanh chóng trở thành nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới Nhưng chỉ mộtthập kỉ sau đó, Hàn Quốc rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính hết sức tồi tệ Tháng4/1998, tỉ lệ thất nghiệp của Hàn Quốc tăng lên 8.5%, hơn năm trước đó 2.5% Điều này

có nghĩa là khoảng 10.000 công nhân đang bị mất việc mỗi ngày Tỉ lệ phá sản ở cácdoanh nghiệp nhỏ tăng lên đến mức kỉ lục, ít nhất mỗi ngày có một chủ doanh nghiệp nhỏ

đã phải tự tử Hàn Quốc đã bị tuột dốc từ nền kinh tế lớn thứ 11 xuống thứ 17 thế giới chỉtrong vòng vài tuần

Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, để cải thiện tính minh bạch, chính phủ đưa ranhững bản kê tài chính thống nhất mang tính bắt buộc cho những tập đoàn kinh tế lớn nhấtnhằm xác định giao dịch trong nội bộ công ty và các báo cáo kế toán riêng biệt Chính phủcũng thay đổi Luật thương mại công bằng, hạn chế sự bảo lãnh nợ chéo giữa các công tytrong các tập đoàn lớn, yêu cầu cải thiện cơ cấu vốn của các công ty, hạn chế việc mởrộng quy mô tràn lan, khuyến khích các công ty tập trung phát triển những lĩnh vực nòngcốt, có ưu thế nhất

Những biện pháp trên đã giúp cải thiện việc quản lý và cơ cấu tài chính của các công

ty Hàn Quốc, tỉ lệ nợ của các công ty có trong danh sách cần thay đổi đã giảm từ 76,7%năm 1997 xuống 43,5% năm 2006, trong khi vốn kinh doanh tăng từ 23,3% lên 56,5%trong cùng thời kỳ

[6] Han Seunghee, 2014, Operation of the economic planning board in the era of high economic growth

in Korea, Nhà xuất bản Seoul : KDI School of Public Policy and Management, trang 20

Trang 8

Bảng 2: Xu hướng tăng trưởng GDP của Hàn Quốc 1980 – 2005

Nguồn:World Bank (2006)

Trong tháng 7 năm 2018, tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 51,4 tỷ USD, tăng13,7% so với cùng kỳ năm 2017, giúp kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc lần đầu tăngtrong 9 tháng liên tiếp Cùng với sự phục hồi của xuất khẩu, thị trường chứng khoán cũngtrên đà tăng tốc Trong nửa đầu năm 2018, chỉ số thị trường chứng khoán Hàn Quốc(KOSPI) đã vượt mốc 2.000 điểm từ lâu và không ngừng xác lập kỷ lục mới Giá trị vốnhóa của thị trường Hàn Quốc tính đến hết quý II đạt 1.540 tỷ USD, tăng 20,8% so với cuốinăm 2017, chỉ xếp sau chỉ số chứng khoán Ấn Độ với mức tăng là 25,6% và chỉ số Sàngiao dịch chứng khoán Bombay (BSE) với mức tăng 25,0%

2.2 Quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của Hàn Quốc

2.2.1 Giai đoạn 1960-1970

Bước vào giai đoạn đầu năm 1960 nền kinh tế Hàn Quốc phải đối mặt với vô vànkhó khăn, nổi bật là Mỹ đã giảm dần nguồn vốn viện trợ không hoàn lại cho Hàn Quốc.Mức độ tín nhiệm quốc gia của Hàn Quốc cũng ở mức thấp nên việc vay vốn trở nên khókhăn, cơ sở hạ tầng bị tàn phá sau chiến tranh,…

Mặc dù đây là một giai đoạn khó khăn với đất nước Hàn Quốc, Chính phủ Hàn Quốc

đã có những bước đi biến nó trở thành giai đoạn tiền đề trong quá trình vượt qua bẫy thunhập trung bình của Hàn Quốc Nhìn chung, giai đoạn này nổi bật với Kế hoạch phát triểnkinh tế của Chính phủ Hàn Quốc: Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962-1966)

Với Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962-1966), Hàn Quốc theođuổi mục tiêu công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu sử dụng lao động giá rẻ Trọng tâmchính sách trong Kế hoạch này là: (1) Tăng các nguồn năng lượng như điện than; (2) Tăngthu nhập khu vực nông nghiệp và cải thiện sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế; (3) Xâydựng các ngành công nghiệp lớn và cơ sở hạ tầng xã hội; (4) Sử dụng các nguồn lực nhàn

Trang 9

rỗi, gia tăng việc làm; (5) Cải thiện cán cân thanh toán thông qua xúc tiến xuất khẩu; (6)Phát triển công nghệ.

Thành tựu lớn nhất của kế hoạch phát triển kinh tế lần thứ nhất là tốc độ tăng trưởng

và tốc độ xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,8%/năm Vượt qua mục tiêu banđầu là 7,1%/năm

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 44%/năm, gấp đôi mục tiêu đề ra nhờđẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp Sơ lược kết quả được tóm tắt trong bảngsau:

Bảng 3: Kết quả hoạt động xuất khẩu trong kế hoạch phát triển lần thứ nhất của Hàn Quốc

Cơ cấu xuất khẩu theo ngành (%)

Với những chính sách đó, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc đã có những thay đổi rất tích cực được thể hiện trong biểu đồ sau:

Trang 10

Biểu đồ 2: GDP/người của Hàn Quốc 1960-1970

Nguồn: World Bank (2000)

2.2.2 Giai đoạn 1970-1990

Tiếp sau giai đoạn của kế hoạch năm năm 1962-1966 Chính phủ Hàn Quốc đã tiếptục có những cải cách mạnh mẽ Cùng với sự đồng lòng của nhân dân, Hàn Quốc đã trởthành nước có thu nhập trung bình vào đầu những năm 1970

Biểu đồ 3: GDP/người và tốc độ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc 1970-1990

Nguồn: World Bank(2000)

Cụ thể, giai đoạn này chứng kiến sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo Tốc

độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp là 13,1%, trong đó công nghiệp chế tạo tăngtrưởng với tốc độ 13,2% Hàn Quốc trở thành quốc gia công nghiệp mới ở châu Á với98% xuất khẩu thuộc về hàng chế tạo Cho đến những năm đầu thập niên 90, Hàn Quốc đãtrở thành nước có thu nhập cao và đến năm 1996 Hàn Quốc gia nhập vào tổ chức Hợp tác

và Phát triển Kinh tế OECD

Trang 11

Không chỉ vậy, số các quốc gia nhập khẩu sản phẩm của Hàn Quốc đã tăng từ 33nước vào năm 1973 lên tới 131 nước vào năm 1977 Số mặt hàng xuất khẩu cũng nhảy vọt

từ 69 lên gần 1200 mặt hàng Vào năm 1976, Hàn Quốc đã đạt mục tiêu kim ngạch xuấtkhẩu 8 tỷ USD sớm hơn hai tháng so với kế hoạch Và chỉ một năm sau, Hàn Quốc cuốicùng đã cán mốc 10 tỷ USD xuất khẩu

Kể từ đó đến nay nền kinh tế Hàn Quốc vẫn duy trì tốc độ phát triển một cách mạnh

mẽ nhờ vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, sản xuất ôtô,… Đến năm 2017,thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc đạt tới 28.380 USD/người/năm

Biểu đồ 4: Giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc 1970-1995

Nguồn: World Bank(2000)

2.3 Các giải pháp vượt qua bẫy thu nhập trung bình của chính phủ Hàn Quốc

2.3.1 Phong trào Làng mới

2.3.1.1 Định nghĩa

Phong trào Làng mới còn được gọi là Saemaul Undong, là phong trào tổng độngviên toàn thể cộng đồng cùng chung tay cải tổ, thay đổi và phát triển cộng đồng mới hơn,tốt đẹp hơn Thực chất, phong trào Làng mới là “phong trào vì cuộc sống thịnh vượng”.Cuộc sống thịnh vượng bao hàm cả sự thịnh vượng về vật chất và tinh thần - cuộc sốngđầy đủ về kinh tế là mục tiêu ưu tiên hàng đầu nhưng không quên hướng tới một cuộcsống có ý nghĩa, hạnh phúc và trong sạch về lối sống, về văn hóa[7]

[7] The National Council of Saemaul Undong Movement, 1997, Saemaul Undong in Korea, Nhà xuấ bản Seoul, Hàn Quốc, trang 5

Trang 12

Tổng thống đương nhiệm Park Chung Hee nhận ra rằng sự ổn định cũng như sự pháttriển của đất nước sẽ khó mà có được nếu khu vực nông thôn bất ổn Ngày 22 tháng 4 năm

1970, ông đã phát động “phong trào cải thiện làng mới”, bắt đầu từ việc khuyến khíchngười dân tự lực, hợp tác cải thiện môi trường sống ở nông thôn Năm 1971, phong tràođổi tên thành “Saemaul undong - Phong trào làng mới” và được triển khai trên phạm vitoàn quốc dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, người dân tham gia tích cực

2.3.1.3 Nội dung phong trào

Sau khi được tuyên bố chính thức triển khai, phong trào làng mới đã có nhiều thay đổitrong quá trình phát triển Nhìn một cách tổng thể, phong trào làng mới đã trải qua 5 giaiđoạn:

a Giai đoạn thứ nhất - Giai đoạn cơ sở (1970-1973)

Giai đoạn này tập trung phát động tinh thần làng mới của người dân qua việc thựchiện chương trình cải thiện môi trường sống cơ bản và chương trình tăng thu nhập thôngthường Nó được chia thành nhiều giai đoạn và thực hiện cụ thể theo từng năm Năm 1970được coi là kỳ khởi động, năm 1971 là kỳ thử nghiệm, năm 1972 là kỳ khởi động cơ sở,năm 1973 là thời kỳ xác lập nền tảng cho việc hệ thống hóa phong trào làng mới

Năm 1971, chính phủ lợi dụng mùa nông nhàn của nông dân và đưa ra thử nghiệm

10 chương trình dự án gồm: trồng cây gây rừng, mở rộng đường xá, làm cầu cống, nhà vệsinh, nạo vét kênh mương, xây dựng khu giặt giũ và giếng nước công cộng, diệt chuột…Chính phủ hỗ trợ 335 bao xi măng cho 33,267 làng 2 trên toàn quốc, toàn bộ dự án dochính làng đó quản lý Mỗi làng tiến cử một người có năng lực, không phân biệt nam nữgiữ vai trò lãnh đạo cùng mọi người lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, mọi người tựnguyện tham gia đông đủ

Trang 13

Năm 1972, Chính phủ xúc tiến thực hiện phong trào làng mới thực tế hơn, đó là đưa

ra chính sách cạnh tranh với việc chọn ra 16,600 làng có thành tích xuất sắc trong năm

1971, hỗ trợ cho mỗi làng 500 bao xi măng và 1 tấn sắt theo phương châm hỗ trợ nhữnglàng biết vượt lên khó khăn Ngoài những làng được Chính phủ hỗ trợ trong năm thứ 2này, còn có 6,108 làng tự nguyện tham gia phong trào thi đua, nâng tổng số làng tham giaphong trào lên 22,708 làng (chiếm 68%) Sau 1 năm thực hiện phong trào, Chính phủnhận ra vai trò quan trọng của người lãnh đạo, làng nào có người lãnh đạo tâm huyết thìlàng đó thực hiện các dự án rất thành công Chính vì vậy, trong năm 1972 Chính phủ đãthành lập Học viện bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo phong trào làng mới, mỗi làng được cử mộtngười tham gia khóa đào tạo, họ sẽ là những người lãnh đạo và hướng dẫn cho dân làngsau này

Sang năm 1973, Chính phủ thực hiện phân loại các làng theo 3 tiêu chuẩn: cơ sở, tựlực, tự lập nhằm khuyến khích các làng phát huy tinh thần tự lực, làm chủ, thi đua nhauthực hiện tốt dự án và có kế hoạch hỗ trợ phù hợp Toàn quốc có 34,665 làng tham giaphong trào thi đua, kết quả có 18,415 làng đạt danh hiệu làng cơ sở, 13,943 làng tự lực và2,307 làng tự lập Cũng trong năm này, Chính phủ thành lập 170 “nhà máy làng mới”nhằm tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân

b Giai đoạn thứ hai - Giai đoạn phát triển tự lực (1974-1976)

Phong trào làng mới ở giai đoạn này là phong trào toàn dân, bởi lẽ, hoạt động và ýchí của phong trào làng mới đã bắt đầu lan rộng từ nông thôn đến thành thị Trong giaiđoạn này, 3 chương trình cải tạo môi trường sống, tăng thu nhập và cải tổ ý thức củangười dân vẫn tiếp tục được thực hiện Chương trình gia tăng thu nhập cho người dânđược chú trọng hơn cả

Cụ thể, năm 1974, Chính phủ tập trung thực hiện chương trình gia tăng thu nhập chongười dân qua việc phát triển hệ thống thủy lợi, thực hiện phương pháp canh tác tổng hợpthay cho tập quán trồng lúa và lúa mạch trước đây, thành lập các khu liên hiệp sản xuấtvừa gia tăng thu nhập vừa khuyến khích người dân giúp đỡ lẫn nhau Chương trình cải tạomôi trường sống của người dân ở nông thôn tiếp tục mở rộng với việc ngói hóa, bê tônghóa tường xây, sửa sang xây mới nơi ăn chốn ở, lắp đặt hệ thống nước, xây dựng trungtâm giải trí của làng

Đến năm 1976 trên địa bàn nông thôn, Chính phủ tăng cường giáo dục về làng mớinhằm nuôi dưỡng năng lực và khí chất của người lãnh đạo làng mới, mặt khác, mở rộng

Trang 14

cơ hội được đào tạo cho mọi tầng lớp từ các công chức nhà nước, các tầng lớp lãnh đạotrong xã hội tới dân thường giúp họ có nhận thức đúng đắn về phong trào làng mới và tíchcực tham gia phong trào.

c Giai đoạn thứ ba - Giai đoạn hoàn thành tự lập (1977-1979)

Giai đoạn hoàn thành tự lập được coi là thời kỳ phát triển “chiều sâu” của phong tràolàng mới theo xu hướng mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh tế của các dự án Các dự

án trọng điểm của phong trào làng mới ở giai đoạn này không chỉ dừng lại ở nông thôn màcòn lan sang khu vực thành thị

Ở khu vực nông thôn, để gia tăng thu nhập cho người dân, chính sách của Chính phủchủ trương hướng dẫn người dân thực hiện canh tác tổng hợp và chăn nuôi gia súc bêncạnh việc xây dựng thêm các nhà máy làng mới và các khu liên hợp công nông

Ở thành thị, phong trào làng mới bắt đầu với việc thực hiện ba chiến dịch là chiếndịch tinh thần, chiến dịch hành động, chiến dịch môi trường Chiến dịch tinh thần nhấnmạnh đến việc tôn trọng người lớn, sống căn cơ tiết kiệm và biết giúp đỡ lẫn nhau Chiếndịch hành động nhấn mạnh đến việc giữ trật tự giao thông, hành xử có đạo đức nơi côngcộng, kinh doanh buôn bán đứng đắn Chiến dịch môi trường nhấn mạnh đến việc giữ vệsinh môi trường sống, giữ gìn môi trường đường phố và bảo vệ môi trường Phong tràolàng mới nơi công sở, nhà máy được triển khai rất mạnh mẽ với mục tiêu nâng cao năngsuất sản xuất, tiết kiệm vật tư, cách ứng xử lành mạnh giữa chủ và thợ Đặc biệt, để nângcao năng suất sản xuất và cải thiện mối quan hệ giữa chủ và thợ, hàng loạt dự án đã đượcthực hiện như mở trường học công nghiệp, mở rộng hệ thống phúc lợi trong nhà máy, cảithiện phúc lợi xã hội cho người lao động…

d Giai đoạn thứ tư (1980 - 1989)

Điểm đáng lưu ý trong giai đoạn này là sự qua đời của Tổng thống Park Chung Hee.Điều này dẫn đến thực trạng là đất nước Hàn Quốc rơi vào giai đoạn bất ổn Đối vớiphong trào làng mới, nếu như những giai đoạn trước, phong trào được dẫn dắt bởi chínhphủ thì trong giai đoạn này phong trào được chuyển sang cho khu vực tư nhân Ngày 13tháng 12 năm 1980, đạo luật thúc đẩy tổ chức làng mới có hiệu lực đã hướng đến mụcđích hỗ trợ thúc đẩy các tổ chức làng mới tự nguyện được hình thành bởi khu vực tư nhân.Một điểm cần đề cập đến trong giai đoạn này là phong trào gặp phải tai tiếng liênquan đến việc quản lý tài chính Tuy vậy, phong trào đã nỗ lực vượt qua những tác động

Trang 15

tiêu cực này và tiếp tục thực hiện các dự án làm đường, dự án đào tạo về nông nghiệp phốihợp, cải thiện việc phân bố và hoạt động của liên minh tín dụng Saemaul

e Giai đoạn thứ năm (1990 - 1998)

Đây là giai đoạn phát triển tự chủ, chú trọng vào củng cố nền tảng của sự tự quản và

tự lực, đáp ứng nhu cầu của tự do hóa và địa phương hóa, nỗ lực vượt qua khủng hoảngkinh tế Giai đoạn này cũng chú trọng khuyến khích công dân chuyển tình yêu cộng đồngláng giềng thành thực tế đi liền với việc phục vụ người khác, đồng thời với việc thúc đẩyquan niệm về việc chia sẻ vận mệnh chung và phục hồi đạo đức trong cộng đồng

2.3.1.4 Kết quả

a Thành tựu

Về mặt kinh tế: Phong trào làng mới đã hiện đại hóa nông thôn Hàn Quốc Lần đầutiên trong lịch sử Hàn Quốc, thu nhập trung bình của hộ gia đình sống ở khu vực nôngthôn cao hơn thu nhập trung bình của hộ gia đình sống ở khu vực đô thị Cụ thể là năm

1974, ba năm sau khi thực hiện phong trào làng mới, thu nhập bình quân của hộ gia đìnhsống ở khu vực nông thôn là 674.000 KRW, trong khi đó thu nhập bình quân của hộ giađình sống ở khu vực đô thị chỉ là 644.000[8] Cuối thập kỷ 1970, Hàn Quốc không cònphải đối mặt với thiếu hụt lương thực do nguyên nhân nguồn cung trong nước Điều đặcbiệt quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là phong trào làng mới đã tạo nên sự phát triểnmạnh cơ sở hạ tầng ở nông thôn Hàn Quốc như đường sá, cầu cống, hệ thống cung cấpnước, lưới điện, v.v…

Về mặt xã hội Cơ hội giáo dục và hưởng thụ văn hóa của người dân Hàn Quốc đượcnâng cao nhờ vào phong trào làng mới Chẳng hạn, trong lĩnh vực giáo dục, nếu giai đoạn1969-1979 chỉ có khoảng 12% đến 13% chủ hộ gia đình nông thôn có học vấn trung họchoặc cao hơn thì đến năm 1979 con số này tăng lên 30% Lối sống nông thôn cũng đượchiện đại hóa với nhiều hộ gia đình có thiết bị điện tử, máy móc nông nghiệp Điều đánglưu ý ở đây là dân chủ hóa đời sống xã hội được thúc đẩy và vị thế của phụ nữ được giatăng[9]

Về mặt tư tưởng, phong trào đã tạo nên sự thay đổi tinh thần, thái độ của người dântheo hướng tích cực, chuyển tinh thần, tư tưởng “chủ bại” kéo dài trong người dân Hàn

[8] The National Council of Saemaul Undong Movement, 1997, Saemaul Undong in Korea, Nhà xuất bản Seoul, Hàn Quốc, trang 48

[9] The National Council of Saemaul Undong Movement, 1997, Saemaul Undong in Korea, Nhà xuất bản Seoul, Hàn Quốc, trang 50-51

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Asian Development Bank , 2012, Saemaul Undong Movement in the Republic of Korea: Sharing Knowledge on Community-Driven Development, Nhà xuất bản Mandaluyong, Philippines Khác
2. Chang, Ha-Joon, 2002, Kicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical Perspective, Nhà xuất bản Anthem Khác
3. Cimoli, Mario, Giovanni Dosi, and Joseph E. Stiglitz, 2009, Industrial Policy and Development: The Political Economy of Capabilities Accumulation, The Initiative for Policy Dialogue Series, Nhà xuất bản Đại học Oxford Khác
4. Han Seunghee, 2014, Operation of the economic planning board in the era of high economic growth in Korea, Nhà xuất bản Seoul : KDI School of Public Policy and Management Khác
5. Ketels, Christian, Nguyen Dinh Cung, Nguyen Thi Tue Anh, and Do Hong Manh, 2010, Vietnam Competitiveness Report 2010, National University of Singapore Khác
6. Ohno, Kenichi, 2009, Avoiding the Middle-income Trap: Renovating Industrial Policy Formulation in Vietnam,” ASEAN Economic Bulletin, số 26, trang 25-43 Khác
7. Ohno Kenichi, 2013, Learning to Industrialize: From Given Growth to Policy- aided Value Creation, Nha xuất bản Routledge Khác
8. Ohno Kenichi ,2014, Tiếp cận bẫy thu nhập trung bình: Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam, Diễn đàn Phát triển Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, Việt Nam Khác
9. Reed P Edward, 2010, Is Saemaul Undong a Model for Developing Countries Today, Paper prepared for International Symposium in Commemoration of the 40th Anniversary of Saemaul Undong Hosted by the Korea Saemaul Undong Center September 30, 2010 Khác
10. Rodrik Dani, 2007, One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growth, Nhà xuất bản Đại học Princeton Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Ngưỡng phân loại các nền kinh tế - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
Bảng 1 Ngưỡng phân loại các nền kinh tế (Trang 2)
Bảng 2: Xu hướng tăng trưởng GDP của Hàn Quốc 1980 – 2005 - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
Bảng 2 Xu hướng tăng trưởng GDP của Hàn Quốc 1980 – 2005 (Trang 8)
Bảng 3: Kết quả hoạt động xuất khẩu trong kế hoạch phát triển lần thứ nhất của Hàn Quốc - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
Bảng 3 Kết quả hoạt động xuất khẩu trong kế hoạch phát triển lần thứ nhất của Hàn Quốc (Trang 9)
Bảng 4: Hạn ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc giai đoạn 1962-1968 - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
Bảng 4 Hạn ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc giai đoạn 1962-1968 (Trang 18)
Bảng 5: Tỷ trọng ngành công nghiệp Hàn Quốc giai đoạn 1962-1968 - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
Bảng 5 Tỷ trọng ngành công nghiệp Hàn Quốc giai đoạn 1962-1968 (Trang 19)
Bảng 6: Cơ cấu GDP theo ngành qua các nă mở Việt Nam - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
Bảng 6 Cơ cấu GDP theo ngành qua các nă mở Việt Nam (Trang 25)
3.1.4. Không có sự cải thiện trong các bảng xếp hạng kinh tế toàn cầu - tiểu luận kinh tế phát triển quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam”
3.1.4. Không có sự cải thiện trong các bảng xếp hạng kinh tế toàn cầu (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w