1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ GIÁO dục đạo đức CHO học SINH TRƯỜNG TRUNG học cơ sở tại THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH TRONG điều KIỆN đổi mới HIỆN NAY

208 630 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đang đặt ra những yêu cầu to lớn về chất lượng nguồn lực con người. Đó là sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và một cách khái quát nhân cách nói chung của con người Việt Nam, mà trước hết là của thế hệ trẻ.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nướcđang đặt ra những yêu cầu to lớn về chất lượng nguồn lực con người Đó là

sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và một cáchkhái quát nhân cách nói chung của con người Việt Nam, mà trước hết làcủa thế hệ trẻ

Coi giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) là quốc sách hàng đầu, Đảng ta đòihỏi phải "tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch

sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bảnthân và tiền đồ của đất nước" [29, tr 29] Từ đó cho thấy, giáo dục đạo đức

là một trong những điểm chủ yếu, cốt lõi xuyên suốt và giữ vị trí chủ đạotrong toàn bộ quá trình giáo dục nhân cách, đào tạo con người trong nhàtrường ở nước ta, đặc biệt là trong nhà trường phổ thông, đối với học sinh ởlứa tuổi thiếu niên

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đang đi vào chiều sâu và được triểnkhai trên quy mô lớn, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cơ chế thịtrường (CCTT), nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đang phát huy tácdụng tích cực, tạo nên sự phát triển năng động và thúc đẩy nhịp độ tăngtrưởng kinh tế ở nước ta Nhưng, kinh tế thị trường (KTTT) cũng ngàycàng bộc lộ những mặt trái, gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống tinh thần,

sự cảm thụ văn hóa - nghệ thuật cũng như trong tâm lý - đạo đức của cáctầng lớp dân cư trong xã hội Những ảnh hưởng tiêu cực đó len lỏi, thẩmthấu vào mọi quan hệ xã hội, làm sai lệch các chuẩn mực giá trị, dẫn tới sựsuy thoái về đạo đức ở một bộ phận xã hội, ảnh hưởng xấu tới thế hệ trẻ

Trang 2

Vậy có thể ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái đạo đức đóđược không? Nhà trường, gia đình và toàn xã hội có thể chủ động trongmột chương trình hành động phối hợp tích cực để thực hiện giáo dục đạođức, để bảo vệ sự trong sạch, lành mạnh của đời sống đạo đức cho thế hệtrẻ được hay không?

Phải chăng đẩy mạnh giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông làgóp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh bảo vệ định hướng

xã hội chủ nghĩa (XHCN), chống lại âm mưu "Diễn biến hòa bình" của cácthế lực đế quốc chủ nghĩa nhằm thực hiện một cách tinh vi, thâm độc màmột trong những mũi tiến công là tàn phá đạo đức, nhân cách của thế hệtrẻ?

Như thế, giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông gắn liền với mụctiêu và nhiệm vụ chính trị, với cuộc đấu tranh ý thức hệ hiện nay

Để đem lại câu trả lời cho vấn đề hệ trọng nêu trên, việc nghiên cứuđạo đức và giáo dục đạo đức vào lúc này đang là một đòi hỏi cấp bách, bứcxúc

Bấy lâu nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông là đềtài nghiên cứu rất quen thuộc của khoa học sư phạm Trong nhận thức củakhông ít người, giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông dường như chỉ làđối tượng nghiên cứu của khoa học sư phạm, là vấn đề của đời sống họcđường

Cần nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này Đã đến lúc phải mở rộngnghiên cứu đề tài này theo hướng tiếp cận lý luận chính trị - xã hội của chủnghĩa cộng sản (CNCS) khoa học, nghĩa là nghiên cứu vấn đề giáo dục đạođức cho học sinh phổ thông cũng như cho thế hệ trẻ nói chung từ góc độ lýluận chính trị, để từ đó, với những kiến giải khoa học đưa ra những phântích triết học, chính trị - xã hội về đạo đức và giáo dục đạo đức

Trang 3

Có thể nói, chưa bao giờ, vấn đề giáo dục đạo đức được đặt ra với tầm quan trọng, tính cấp thiết và ý nghĩa xã hội rộng lớn như lúc này.

Chăm lo cho sự phát triển đạo đức và đời sống tinh thần lành mạnh của cộngđồng xã hội là chăm lo tới tiềm lực phát triển lâu bền của cả một dân tộc

Nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tạithành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) trong điều kiện đổi mới hiện nay đượcđặt ra trong khung cảnh và ý nghĩa xã hội đó TP HCM có lịch sử 300năm, từ ngày giải phóng đến nay đã tròn 1/4 thế kỷ và cùng cả nước đi vào

sự nghiệp đổi mới từ 15 năm nay; nơi đang dẫn đầu cả nước về tốc độ, quy

mô phát triển kinh tế Trên địa bàn này, sự hội tụ những đặc điểm, nhữngbiểu hiện đạo đức của lớp trẻ và thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinhphổ thông đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc cần phải nghiên cứu và giảiquyết Việc đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng các vấn đề và tìnhhuống, phát hiện được những trở ngại và vướng mắc để tìm ra các nguyênnhân và đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới nội dung và phương pháp giáodục đạo đức trong nhà trường ở TP HCM sẽ góp phần tạo nên nhữngchuyển biến tích cực của đời sống đạo đức và giáo dục đạo đức hiện nay

Đó là một việc làm cần thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chothành phố và cho đất nước

Những lý do trên đã nói lên tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu này,

là động lực thôi thúc nội tâm để tác giả, từ thực tiễn và kinh nghiệm sư

phạm của mình trong nhiều năm, lựa chọn vấn đề: "Giáo dục đạo đức cho

học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay" làm đề tài nghiên cứu và viết công trình luận án.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm 60, 70 nhiều công trình nghiên cứu về giáo dụcđạo đức của nhiều tác giả trong nước đã được công bố từ góc độ tâm lýhọc, giáo dục học

Trang 4

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm HàNội đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với cáctác giả Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Minh Hạc,Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác Để đi đến các quan niệm và giảipháp về giáo dục đạo đức, các tác giả đã lựa chọn cho mình những cáchtiếp cận khác nhau, tạo ra một sự đa dạng, phong phú về nội dung vàphương pháp nghiên cứu.

- Nguyễn Đức Minh nghiên cứu và trình bày cơ sở tâm lý - giáo dụchọc của giáo dục đạo đức

- Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạođức thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoahọc xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ

sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức,hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh

- Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sáthành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách,thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đónhư mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục

- Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạtđộng giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động nàyvới giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghềnghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ

Có những tác giả tuy không đi sâu vào giáo dục đạo đức, nhưng khibàn về giáo dục đã đề cập tới giáo dục đạo đức Ví dụ, Hồ Ngọc Đại, khi đềxuất "công nghệ giáo dục", tìm kiếm những giải pháp hiện đại hóa (HĐH)

"nền giáo dục giành cho trăm phần trăm dân cư" đã công bố một số côngtrình có liên quan tới giáo dục đạo đức

Trang 5

Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục nhận thứckhoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống

và đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000

Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà giáo,nhà hoạt động xã hội hết sức nhức nhối đối với hiện tượng suy thoái, thậmchí băng hoại đạo đức ở một bộ phận thanh thiếu niên do tác động tiêu cực

từ những mặt trái của CCTT và đã có nhiều bài viết đáng quan tâm

Trong các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức từ sau Đại hộiĐảng lần thứ VI (1986), cần kể đến một số đề tài như công trình mang mã

số NN7: "Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân" do Phạm

Tất Dong làm chủ nhiệm

Đề tài NN7 đã mang lại nhiều nội dung mới về giáo dục đạo đức,chính trị và tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những nămđầu của thập kỷ 90

Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, do nhận thức được tầmquan trọng đặc biệt của nhân tố con người, nhiều nhà khoa học có uy tín đãtập hợp trong chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc giaKX.07 (1991 - 1995) do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm nhằm nghiên cứucác đề tài về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của sự pháttriển Trong phạm vi của chương trình nghiên cứu này đã xuất hiện nhiềucông trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách Đáng lưu

ý nhất là vấn đề giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng đã được cáctác giả đề cập và lý giải trên cơ sở khoa học

Trong những năm đổi mới, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết nhiềutác phẩm nghiên cứu về Hồ Chí Minh và về giáo dục, thể hiện tâm huyếtđối với giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ mà ông xem là chức năng quan

Trang 6

trọng của nhà trường Ông đã viết: Nhà trường, từ mẫu giáo đến đại học lànơi rèn luyện, nơi đào tạo con người trở thành những người được trang bịtốt về phẩm chất, đạo đức, nghề nghiệp, phong cách và cống hiến, trở thànhnhững người chiến sĩ của một sự nghiệp vĩ đại xây dựng Tổ quốc ta, dântộc Việt Nam ta, sự nghiệp nước ta theo định hướng XHCN và tiến lên caohơn nữa, tiến đến cái đích mà C Mác đã chỉ rõ: "Thay cho xã hội tư sản cũ,với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp,trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự

do của tất cả mọi người" [59, tr 628]

Tác giả đã kế thừa trực tiếp những thành quả nghiên cứu nêu trênđây, dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phươngpháp để triển khai công trình của mình

Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn rất hiếm những chuyên khảo về

giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông nghiên cứu và trình bày từ góc độ

lý luận chính trị - xã hội của chủ nghĩa cộng sản khoa học và hầu như chưa

có một chuyên khảo đi sâu vào đề tài giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay Tác giả

mong muốn và hy vọng góp được một phần nhỏ bé của mình vào việc khắcphục sự thiếu hụt nói trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của bản luận án này là làm rõ vai trò và ý nghĩa của giáo

dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh trunghọc cơ sở (THCS) trong điều kiện đổi mới, nêu ra những định hướng vàgiải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng đạo đức cho học sinh THCS tại TP.HCM nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước trong thời kỳ CNH,HĐH

Trang 7

- Đánh giá hiện trạng giáo dục đạo đức trong các trường THCS tại

TP HCM

- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông, đặc biệt là học sinhTHCS, phù hợp với hoàn cảnh và đáp ứng yêu cầu phát triển của TP HCMtrong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh

trong trường THCS

Để giải quyết những vấn đề nêu trên, luận án giới hạn vào các trường THCS trên địa bàn TP HCM trong khoảng 10 năm trở lại đây.

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là nguyên

lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để cắtnghĩa sự tác động qua lại giữa nền KTTT với đạo đức và hoạt động giáo dụcđạo đức

- Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp lôgíc và lịch sử,phân tích và tổng hợp từ các tri thức lý luận chuyên ngành và liên ngành,

Trang 8

tổng kết thực tiễn giáo dục trong các nhà trường phổ thông Phân tích kinhnghiệm giáo dục đạo đức là một trong những phương pháp quan trọng đượctác giả chú ý vận dụng.

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Góp phần làm rõ thêm bản chất, nội dung và những đặc điểm củagiáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông từ hướng tiếp cận và phươngpháp nghiên cứu của CNCS khoa học

- Phân tích những nhân tố tác động tới quá trình giáo dục đạo đứccho học sinh phổ thông trong bối cảnh đổi mới xã hội theo định hướngXHCN Chỉ rõ những yêu cầu mới đặt ra đối với giáo dục đạo đức cho họcsinh phổ thông trong điều kiện đổi mới và khả năng giải quyết yêu cầu đó

từ thực tiễn xã hội và thực tiễn giáo dục

- Phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay ở cácnhà trường phổ thông tại TP HCM trên quan điểm thực tiễn và phát triển

Đề xuất và luận chứng những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông hiện nay

7 YÙ nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo,đóng góp vào việc nghiên cứu giảng dạy và học tập lý luận chính trị thuộcchuyên ngành CNCS khoa học trong các trường chính trị, các trường đạihọc và cao đẳng, các trường sư phạm và quản lý giáo dục cũng như trongcông tác chỉ đạo của các cán bộ quản lý giáo dục

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 10

Chương 1

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VỚI SỰ HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA THẾ HỆ TRẺ

1.1 ĐẠO ĐỨC LÀ NỀN TẢNG CỦA NHÂN CÁCH

1.1.1 Con người và nhân cách

Để hiểu rõ đạo đức là nền tảng của nhân cách cũng như vai trò củagiáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ

trẻ cần phải bắt đầu nghiên cứu từ vấn đề con người.

Chỉ có thể tiến hành giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông mộtcách có hiệu quả nếu nhà giáo dục có được những hiểu biết thấu đáo về conngười và những vấn đề thuộc về cuộc sống của con người, nếu biết cáchứng xử với từng học sinh - những cá nhân mang nhân cách với tất cả sự hiểubiết, cảm thông và tôn trọng nó trên tinh thần dân chủ, bình đẳng và côngbằng

Nhà giáo dục nhân văn Xô viết trước đây Xukhomlinxki đã từngnhấn mạnh giáo dục đạo lý làm người như một điều hệ trọng bậc nhất, bởi

vì thế hệ trẻ, từ trẻ thơ trong giáo dục mầm non đến thanh thiếu niên tronggiáo dục phổ thông và đại học Điều hệ trọng ấy chính là làm cho mỗi conngười, từ khi còn là một đứa trẻ đến khi trưởng thành, khôn lớn và vào đời,trong trái tim và tâm hồn của nó luôn luôn nảy nở những tình cảm caothượng, đẹp đẽ, hướng tới những gì tốt đẹp nhất của con người và cuộcsống Lòng nhân hậu, vị tha là cội nguồn và là nền tảng vững chắc củanhững tình cảm đẹp đẽ ấy, mà thiếu nó, con người không thể có được đờisống tinh thần phong phú, sự nhạy cảm và tâm hồn dễ xúc động trướcnhững cuộc đời và số phận con người Ấy là sự quên mình, là làm cho đứatrẻ sớm biết quan tâm tới những niềm vui và nỗi đau của người khác, rằng

Trang 11

nó cần phải sống tốt đẹp, lương thiện và tử tế vì nó cần cho những ngườikhác, nó sống vì người khác Đó là chỗ sâu sắc nhất của nhân tính Pháttriển và hoàn thiện nhân tính, đó là chức năng cơ bản của giáo dục đạo đức.

Vì thế, văn hóa đạo đức trở thành thước đo hàng đầu về văn hóa làm ngườicủa mỗi cá nhân

Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta cả một triết lý nhân sinh và hànhđộng vì nhân sinh, triết lý ở đời và làm người ễÛ đời con người ta ai cũng

có cái hay cái dở, cái tốt và cái xấu Phải làm cho cái hay, cái tốt của mỗingười sẽ nảy nở như hoa mùa xuân, còn cái xấu, cái dở sẽ mất dần đi dướiảnh hưởng của giáo dục và tự giáo dục Đây là một trong những luận điểmtiêu biểu nhất cho chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh

Nhìn lại lịch sử tư tưởng triết học nhân loại ở mọi thời đại, ta thấycác nhà tư tưởng phương Đông cũng như phương Tây đã từng suy tư vàchiêm nghiệm biết bao điều về con người

Vậy con người là gì? Nó mang bản chất như thế nào? Con người tựmình hành động và tranh đấu cho tự do để trở thành tự do và đạt được hạnhphúc hay nó phải lệ thuộc và được quyết định từ một đấng tối cao, siêunhiên nào đó, mãi mãi chỉ là hình ảnh, là cái bóng của sức mạnh "tinh thầnthế giới", của "ý niệm tuyệt đối", của đức Chúa và đức Phật với những hư

ảo về cuộc đời tạm bợ khi còn sống và trở nên vĩnh hằng sau khi đã thoátxác, đưa linh hồn đến với Chúa hoặc ở nơi cửa Phật thiêng liêng, thoát tục.Những câu hỏi như thế đã từng được đặt ra và tranh cãi không dứt giữa cácnhà triết học ở mọi thời đại, từ khi loài người biết tư duy triết học cho tớinay

Con người đã từng là chủ đề trung tâm thu hút sự chú ý của các nhàtriết học và các nền triết học khác nhau trong lịch sử mấy ngàn năm

Triết học Mác ra đời vào thế kỷ XIX là sự kiện đánh dấu bướcngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng nhân loại

Trang 12

Lênin đã đánh giá rằng, triết học Mác là sự khắc phục hai cái quênlớn nhất trong lịch sử triết học: "Quên" mất điểm xuất phát là hiện thựckhách quan của chủ nghĩa duy tâm và "quên" không tính đến vai trò tíchcực của chủ thể con người của chủ nghĩa duy vật siêu hình.

Bàn về vấn đề con người, Mác - Ăngghen và sau này là Lênin, đãđặc biệt chú ý tới bản chất xã hội của nó, lý giải các quan hệ xã hội thamgia vào sự hình thành bản chất ấy cũng như vai trò của thực tiễn và hoạtđộng thực tiễn đối với sự bộc lộ những sức mạnh bản chất của con người,tới sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách

Trung tâm chú ý của các ông hướng vào sự luận chứng khoa học vềphạm trù "thực tiễn" và phạm trù "con người hiện thực" Với Mác và

Ăngghen, lần đầu tiên phạm trù thực tiễn được làm sáng tỏ từ nội dung

hoạt động, lao động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm

khoa học Cũng từ đó, Mác - Ăngghen đã xây dựng nên phạm trù con người hiện thực (con người thực tiễn) và khám phá ra bản chất xã hội của

con người Với phạm trù "con người hiện thực" của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, các ông đã khắc phục được một cách triệt để những sự lầm lạc vàxuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm thần bí bởi phạm trù "con người ý thức"

và vượt lên xa hơn, cao hơn hẳn về chất so với chủ nghĩa duy vật siêu hình,nhân bản trong phạm trù "con người sinh vật"

Mác nhấn mạnh rằng: phải xem xét sự vật tận gốc rễ của nó, mà gốc

rễ đối với con người chính là bản chất con người Mác nhận thấy, conngười là kết quả, là sản phẩm của một quá trình tiến hóa hết sức lâu dàitrong lịch sử Kết quả của quá trình phát triển tự nhiên ấy, con người vừa làmột thực thể tự nhiên, sinh vật, vừa là một thực thể xã hội Con ngườimang bản chất xã hội mà bản chất ấy chỉ có thể hiểu một cách đúng đắn khixem xét nó trong tính hiện thực của tồn tại người, trong những quan hệ hiện

Trang 13

thực xã hội - lịch sử mà con người tham dự Đó là con người hiện thực chứkhông phải là con người ý niệm trừu tượng.

Bản chất con người và nhân cách của nó, theo Mác không thể làmột cái gì trừu tượng, ở bên ngoài con người và xã hội loài người của nó:

Nhân cách không có con người thì cố nhiên là một điềutrừu tượng, nhưng cũng chỉ trong sự tồn tại của loài của mình,chỉ với tính cách là những con người thì người mới là ý niệmhiện thực của nhân cách Chính những hình thức loài trong đócon người hiện thực biến nội dung hiện thực của mình thành hiệnthực, khách thể hóa bản thân sau khi đã từ bỏ sự trừu tượng củacon người Cái hợp lý không phải ở chỗ lý tính của con ngườihiện thực đạt được tính hiện thực, mà là ở chỗ những yếu tố củakhái niệm trừu tượng đạt tới tính hiện thực [56, tr 345-346]

Mác nói tới con người trên quan điểm phức hợp và hệ thống, đặt nótrong mối quan hệ với tự nhiên và lịch sử Như trên đã nói, con người vừa

là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội Tính thống nhất hữu cơgiữa "cái sinh vật" và "cái xã hội" trong con người là ở chỗ, cái sinh vật tựnhiên ấy là cơ sở vật chất, hiện thực, sinh học của cái xã hội trong bản chất

xã hội của con người Con người tìm kiếm phương tiện tồn tại của nókhông ở đâu khác mà là ở trong tự nhiên Con người là một bộ phận của tựnhiên, gắn liền với tự nhiên Nhưng tồn tại của con người là một tồn tại cótính người, khác với tồn tại thuần túy bản năng của động vật Nếu con vật

chỉ có thể lấy những cái có sẵn trong tự nhiên một cách bản năng để tồn tại,

tuyệt nhiên nó không làm thêm được một cái gì cho tự nhiên, chịu sự thốngtrị của bản năng, lệ thuộc một cách tuyệt đối vào tự nhiên, thì con người,ngoài việc khai thác tự nhiên còn tác động vào tự nhiên nữa, "làm thêm"cho tự nhiên bằng cách biến đổi chính cái môi trường tồn tại của mình Con

Trang 14

vật thì lấy cái có sẵn còn con người thì sản xuất Bằng lao động sản xuất,con người in dấu ấn tác động của mình lên chính cái thế giới tự nhiên, conngười sáng tạo ra một "tự nhiên thứ hai" (tức là xã hội, lịch sử) như là tácphẩm nghệ thuật của chính mình Mác coi hành vi lịch sử ấy chỉ riêng có ởcon người và thế giới nhân loại của nó như là một quá trình hoạt động sángtạo văn hóa, con người thực hiện sự sáng tạo đó theo quy luật của cái đẹp.Nhờ vào hành vi ấy, con người, một mặt không tách rời môi trường tồn tại

tự nhiên của mình, mặt khác dường như bứt lên, đem vào trong tự nhiênvốn có (là đối tượng, khách thể của nó) sự biểu hiện và tự biểu hiện, sựkhẳng định và tự khẳng định, sự phát triển và tự phát triển những năng lựcngười, những "sức mạnh bản chất người của con người" Cái "tự nhiên thứhai" ấy như là sản phẩm sáng tạo của con người có bao hàm trong đó hoạtđộng cải biến tự nhiên ban đầu làm cho tự nhiên trở thành một tự nhiên - xãhội Hoạt động thực tiễn của con người đã làm cho tự nhiên trở thành tựnhiên có tính người, là đối tượng được chủ thể người nhận thức và chiếmlĩnh, nó được nhân tính hóa và xã hội hóa

Mác phân tích rõ con người cá nhân - tự nhiên khi mới sinh ra bởi

sự sinh đẻ với chất lượng con người cá nhân - xã hội như là sản phẩm đã

trưởng thành từ xã hội lịch sử qua lao động, hoạt động, giao tiếp, sốngtrong môi trường hoàn cảnh của xã hội, của giáo dục với những điều kiệnhết sức xác định Mác nhấn mạnh:

Vì sự sinh đẻ chỉ đem lại cho con người sự tồn tại cá

nhân, và trước hết đem lại sự sống cho con người chỉ như là cá nhân tự nhiên, còn những tính quy định nhà nước như quyền lập

pháp v.v , thì lại là những sản phẩm xã hội, là những con đẻ của

xã hội chứ không phải là những sản phẩm của cá nhân tự nhiên[56, tr 471]

Trang 15

Trong thư gửi Rugiơ năm 1843, Mác viết: "Người - đó là nhữngsinh vật biết tư duy" [56, tr 511] và "Trong cái hiện thực gần nhất củamình, trong xã hội công dân, con người là một sinh vật thế tục" [56, tr.537], "nó hành động như một sinh vật loài" [56, tr 539] Trong "Góp phầnphê phán triết học pháp quyền của Hêghen" (1843), ông viết: "Con ngườikhông phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Conngười chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội" [56, tr 569].

Trong "Bản thảo kinh tế - triết học 1844" Mác nói rõ thêm: "Conngười là một sinh vật có tính loài" như sau: Con người có một hoạt độngsinh sống có ý thức Đó không phải là cái có tính quy định, mà với nó, conngười trực tiếp hòa làm một Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệt trựctiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật Chính vì thế, và chỉ vìthế mà con người là một sinh vật có tính loài [63, tr 136] Hơn nữa, "Bảnthân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầusản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổchức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạtcủa mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vậtchất của mình" [58, tr 29] Đó chính là hành vi lịch sử đầu tiên của conngười

Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người, là phương diện lịch sử

-xã hội quan trọng nhất trong hoạt động thực tiễn, là nhân tố quyết định nhấtbản chất xã hội, đạo đức và nhân cách của nó

Theo Ăngghen: Lao động là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn bộđời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó,chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người [62, tr 641]

Và mặc dù: bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta,

là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên [62, tr 655],

Trang 16

nhưng nhờ có lao động mà "Người là giống vật duy nhất có thể bằng laođộng mà thoát ra khỏi trạng thái thuần túy là loài vật" [62, tr 673].

Lao động mang ý nghĩa nhân bản sâu xa bởi nhờ có lao động mà sự

sản xuất ra đời sống xã hội của con người là đời sống có tính loài tích cực

của con người Việc thực hiện những nhu cầu tồn tại người, ngay cả nhữngnhu cầu sinh tồn nhục thể cũng phải được hiểu một cách lành mạnh là sựthực hiện những chức năng thực sự có tính người như Mác đã nhấn mạnh.Cái tính người ấy là một chất lượng xã hội, một thước đo xã hội để phânbiệt nó với tính súc vật, với thú tính

Cho nên trong khi lao động cải biến giới tự nhiên, cải biến xã hội,con người còn cải biến chính bản thân mình

Một quan niệm như vậy đã được Mác trình bày sáng tỏ khi ôngphân biệt "tính người" và tính súc vật ngay từ những hành vi sinh hoạt hàngngày: "Cố nhiên là ăn, uống, sinh đẻ con cái v.v cũng là những chức năngthực sự có tính người Nhưng trong khái niệm trừu tượng tách chúng khỏiphạm vi hoạt động khác của con người và biến chúng thành những mụcđích cuối cùng và duy nhất thì những chức năng ấy mang tính súc vật" [63, tr.133]

Trong "Lời nói đầu góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị" năm

1859, Mác đặt vấn đề về "tính hợp quần" của con người với tính cách là

một "động vật xã hội" đồng thời còn là một động vật chỉ có thể tách riêng

ra trong xã hội mà thôi [61, tr 855].

Mác nhận xét rằng: Bản chất của con người đặc thù không phải làrâu của nó, không phải là máu của nó, không phải là bản chất thể xác trừutượng của nó mà chính là phẩm chất xã hội của nó và "mối quan hệ của anhđối với con người và đối với giới tự nhiên phải là một biểu hiện của đờisống cá nhân hiện thực" [63, tr 216]

Trang 17

Những điều trình bày trên đây cho thấy rõ, tư tưởng của Mác về conngười, về những cá nhân hiện thực: Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống củamình, con người ta có những quan hệ nhất định tất yếu, không tùy thuộc vào ýmuốn của họ - tức là những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp vớimột trình độ nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ.

Cách nhìn biện chứng như vậy về con người và sự phát triển của nócho thấy con người hiện thực tồn tại, hoạt động sống và phát triển tức là tựbiểu hiện đời sống của mình trong những mối liên hệ xã hội với nhữngngười khác, cá nhân khác và với cả cộng đồng

Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", Mác và Ăngghen đã viết:

Sự phát triển của một cá nhân được quyết định bởi sựphát triển của tất cả những cá nhân khác mà cá nhân ấy đang trựctiếp hoặc gián tiếp giao tiếp, rằng các thế hệ của những cá nhânquan hệ với nhau, bị ràng buộc với nhau và lịch sử của một cánhân riêng lẻ tuyệt nhiên không thể tách rời với lịch sử củanhững cá nhân trước kia hoặc cùng thời với mình, mà là do lịch

sử ấy quyết định [58, tr 642]

Định nghĩa về con người mà Mác nêu ra từ năm 1845 trong "Luậncương về Feuerbach"(Phơ-bách) là một định nghĩa có tính kinh điển Ông nhấnmạnh:

Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn Quan điểm của chủ nghĩa duy vật mới là xã hội loài người, hay loài người xã hội hóa Bản chất con người không phải là một sự trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiệnthực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội [58, tr 11-12]

Trong lý luận về con người, Mác - Ăngghen còn đề cập tới tình trạngtha hóa lao động và tha hóa bản chất con người mà những người vô sản

Trang 18

phải hứng chịu trong những điều kiện lao động làm thuê dưới chủ nghĩa tưbản (CNTB) "Bản thảo kinh tế - triết học" năm 1844 đã trình bày trực tiếp

và sâu sắc tình trạng tha hóa đó khi những người vô sản phải bán sức laođộng của mình cho nhà tư bản để tìm kiếm những phương tiện sinh tồnnhục thể

Cội nguồn sâu xa của tình trạng tha hóa đó là ở chế độ chiếm hữu

tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất, ở quan hệ sản xuất TBCN đã đẩy nhữngngười vô sản lao động làm thuê vào tình cảnh bị bóc lột về kinh tế, bị ápbức về chính trị và bị nô dịch về tinh thần

Do đó, con đường giải tha hóa, xóa bỏ tha hóa lao động và tha hóacon người chỉ có thể là xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN, xác lập sở hữu xã hộithông qua những cuộc cải biến cách mạng, giải phóng cho giai cấp vô sản

và quần chúng lao động ra khỏi thân phận nô lệ, trở thành tự do và làm chủ.Chỉ như vậy mới làm cho họ có được sự tồn tại đích thực của con người,sống trong những điều kiện xứng đáng với con người

Đạt tới trình độ phát triển như vậy là cả một quá trình lịch sử lâudài của sự nghiệp xây dựng xã hội mới - XHCN và CSCN, trong đó cùngvới phát triển kinh tế còn phải xây dựng và phát triển văn hóa, đào tạo conngười, giáo dục đạo đức và lối sống, đặc biệt đối với thế hệ trẻ

Mác hình dung thấy tương lai của cả loài người hoàn toàn phụthuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt quan tâm đến thế hệtrẻ, đánh giá cao vai trò, vị trí của thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng thếgiới, đã chú ý rất nhiều đến nhiệm vụ giáo dục, coi đó là biện pháp hàngđầu để đào tạo con người mới với tư cách là chủ thể sáng tạo có ý thức của

xã hội mới

Trang 19

Lênin đã từng nhấn mạnh: nền giáo dục XHCN và CSCN có nhiệm

vụ đem lại toàn bộ những giá trị văn hóa cho nhân dân lao động, góp phầntích cực đào tạo những con người mới phát triển toàn diện, biết "thấm nhuầntổng số những kiến thức của nhân loại, mà chính CNCS là kết quả" Theo

đó, Lênin đòi hỏi rằng: "Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biếtlàm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mànhân loại đã tạo ra", đồng thời "chỉ khi nào cùng lao động với công nhân vànông dân, người ta mới trở nên một người cộng sản chân chính được" [51, tr.376] Điều đó có nghĩa là phải gắn liền lý luận, sự lĩnh hội những tri thứcsách vở với hoạt động thực tiễn, tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị -

xã hội để giác ngộ CNCS và thực hành CNCS Giáo dục con người khôngchỉ là giáo dục nhận thức, trau dồi các năng lực trí tuệ mà còn là và chủ yếu

là giáo dục, rèn luyện, thực hành đạo đức, lối sống và nhân cách nói chung

để thực sự đem hiểu biết vào "làm việc, làm người", làm cách mạng, phục

vụ nhân dân, quần chúng Hồ Chí Minh nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xãhội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa" [71, tr 310] là vìvậy

Một quan niệm chung về phạm trù con người như đã trình bày trênđây là cơ sở để bàn tới phạm trù nhân cách

Về phương diện này, trước hết có hai điều đáng lưu ý sau đây:

Thứ nhất, nói tới nhân cách là nói tới nhân cách của con người hiện thực, gắn liền với bản chất xã hội và chất lượng phát triển người của con

người Nếu con người là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử - xã hội thì nhâncách của nó cũng vậy Nhân cách là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, củahoạt động mà con người thực hiện trong những môi trường và điều kiệnxác định, của quá trình giáo dục xã hội mà con người tiếp nhận đồng thờichuyển hóa thành tự giáo dục chính bản thân mình Kết quả của quá trình

ấy trong tiến hóa và phát triển lịch sử của xã hội làm nổi bật vai trò của

Trang 20

văn hóa đối với sự phát triển và hoàn thiện bản chất người, làm cho con

người trở thành chủ thể văn hóa, thành kẻ sáng tạo ra văn hóa rồi trở thànhgiá trị cao nhất của văn hóa

Đến lượt nó, văn hóa đóng vai trò không thể thiếu đối với sự pháttriển và hoàn thiện con người

Có thể nói, con người sáng tạo ra văn hóa trong chừng mực mà vănhóa ngày càng thâm nhập sâu sắc và tinh tế vào quá trình phát triển và hoànthiện con người, tạo cho con người diện mạo của chính nó - ấy là nhân cách

Nhân cách con người có cơ sở vật chất, hiện thực của nó là cái sinhvật; những yếu tố của di truyền thế hệ trong tính loài của con người sinhvật có ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành nhân cách của con người xãhội, nhưng cái quyết định nhân cách, quyết định chất lượng xã hội thuộc vềbản chất nhân cách của nó vẫn thuộc về xã hội lịch sử mà ở đó con ngườisống, hoạt động, phát triển và tạo dựng nhân cách cho mình

Nhà triết học Xô viết trước đây, Smirnov đã từng nêu lên một luận

đề sâu sắc rằng: "Con người được sinh ra nhưng nhân cách thì phải đượchình thành" [83] Cũng như vậy, bà Bozovitch, một nhà tâm lý học nhâncách có uy tín đã phát hiện rằng, nhân cách là sản phẩm muộn của sự phát

triển người Do nhân cách là một sản phẩm muộn của sự phát triển người

nên đứa trẻ khi mới lọt lòng, nó mới chỉ là con người trong tính bản thểsinh vật người của nó chứ chưa phải là một nhân cách Chỉ khi nào bắt đầunhận ra cái Tôi của mình, tức là ý thức về mình như một bản ngã thì lúc đómới bắt đầu hình thành nhân cách

Cũng do nhân cách là một sản phẩm muộn của sự phát triển người

mà ở đứa trẻ (thiếu niên và thanh niên) thường diễn ra một hiện tượng có

tính phổ biến, gần như là một tính quy luật AÁy là, trong con người trẻ

tuổi đang trưởng thành, sự phát triển sinh lý thường sớm hơn, thường đitrước hơn so với sự phát triển chất lượng xã hội ở bản thân nó Chính ở đây

Trang 21

xuất hiện một đòi hỏi khách quan về sự cần thiết phải đặc biệt chăm lo giáodục đạo đức, giáo dục nhân tính và giáo dục nhân cách nói chung đối vớituổi trẻ, nhất là ở giai đoạn trẻ bước vào tuổi dậy thì.

Nhà giáo dục Xô viết Xukhomlinxki tỏ ra đặc biệt nhạy cảm và tinh

tế khi ông đưa ra những lời khuyên sư phạm rằng:

Khi những dấu hiệu người đàn ông đã bắt đầu xuất hiện ởđứa con trai và những dấu hiệu người thiếu nữ đã thức dậy trongtâm hồn các em gái thì đó là lúc đặc biệt cần đến vai trò chỉ dẫncủa nhà giáo dục ở các ông bố, bà mẹ, các thầy giáo, cô giáo.Mọi sự chậm trễ, muộn màng hoặc thiếu vắng vai trò giáo dục đóđều có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc, tai hại, thậm chí cóthể gây ra những bi kịch tinh thần [102, tr 63]

Và để con người thực sự có được những phát triển lành mạnh, xứngđáng với nhân tính và có nhân cách để làm người khi nó sớm được hướngdẫn bởi văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức Ông coi giáo dục trở nên cầnthiết giúp cho con người tránh xa tình trạng hoang dã, bản năng, những sựthô lỗ về đạo đức và tinh thần

Con người và nhân cách của nó, trong quá trình hình thành và pháttriển, có phần chịu những tác động của quy luật sinh học, có phần lớn hơn,

bị chi phối bởi các quy luật xã hội

Giáo dục và sự tương tác giữa giáo dục với tự giáo dục không chỉ indấu ấn đặc biệt quan trọng lên trình độ phát triển người và nhân cách của

con người mà nó còn là con đường và phương thức chủ yếu để tạo ra diện

mạo nhân cách của con người Trên quy mô rộng lớn của những tác độnggiáo dục đó, giáo dục đạo đức để hình thành và phát triển nhân cách giữ vịtrí nền tảng, cốt lõi Nó là hạt nhân và chủ đạo của toàn bộ quá trình giáodục con người

Trang 22

Thứ hai, nói tới nhân cách của con người là nói tới tính xác định, lịch sử - cụ thể của con người trong tư cách cá nhân và cá thể Nhân cách

là nhân cách của từng người, của từng cá nhân riêng biệt, cụ thể trong mốiliên hệ mật thiết với hoàn cảnh sống, điều kiện và môi trường xã hội màmỗi người trưởng thành với tư cách là một cá nhân

Nếu con người là tác phẩm kỳ diệu của thiên nhiên, là bộ phận của vũ

trụ, vừa là kẻ sáng tạo đồng thời vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội, thì con người ấy, với tư cách một đơn vị của loài, là cá thể; với tư cách một đơn vị của xã hội, là cá nhân; với tư cách chủ thể hành động, là nhân cách [40, tr.

141]

Nhân cách thuộc về cá nhân, nó thể hiện toàn bộ sự phát triển vềchất lượng xã hội của cá nhân đó, tạo thành cái cá tính và bản sắc cá nhânđược biểu hiện ra và được khẳng định

Trước hết, nói đến nhân cách là nói đến sự phát triển ý thức cánhân, đến khả năng tự ý thức về bản thân với tư cách là một thành viên củatập thể, cộng đồng và xã hội YÙ thức công dân về quyền và nghĩa vụ là sựđánh dấu mức độ trưởng thành của ý thức cá nhân YÙ thức cá nhân baohàm khả năng nhận thức về ý nghĩa cuộc sống, thái độ lựa chọn lối sống,vai trò của mình giữa những người khác, nó quy định tính tích cực, tự giác,tính chủ động sáng tạo trong hoạt động, trong hành vi, biết tự điều chỉnhhành vi của mình giữa những người khác sao cho phù hợp với nhữngnguyên tắc và chuẩn mực mà xã hội yêu cầu Do đó, sự phát triển của ýthức cá nhân không chỉ biểu hiện một trình độ nhận thức mà còn biểu hiện

cả tình cảm, đạo đức, cả tri thức và kinh nghiệm sống của cá nhân Những

nhân tố này tham gia trực tiếp vào sự hình thành, sự quy định thái độ của

cá nhân trong ứng xử với những người xung quanh, biểu hiện ra thành

hành vi.

Trang 23

Mỗi cá nhân là một chủ thể mang nhân cách, nhờ sự ổn định, sự

phát triển của chủ thể cũng như nhân cách của nó, mà nó có khả năng nhận xét, đánh giá nhân cách của chủ thể khác, đồng thời tự đánh giá nhân cách của chính mình Đây là sự liên kết và chế ước lẫn nhau giữa vai trò chủ thể

và khách thể của nhân cách trong cùng một con người, một cá nhân Conngười là chủ thể tự đánh giá về mình và đánh giá người khác đồng thời lại

là khách thể được đánh giá về nhân cách bởi chính mình và những chủ thểkhác Thước đo đánh giá, tự đánh giá này là một thước đo xã hội được mỗi

cá nhân lĩnh hội và thực hiện cho mình và cho người khác Do đó, nhân

cách cá nhân bị chi phối bởi nhân cách xã hội, bởi một hệ giá trị, chuẩnmực xã hội Hệ giá trị, chuẩn mực xã hội ấy bao gồm những yêu cầu vềphẩm chất đạo đức và năng lực mà xã hội đề ra, đòi hỏi mỗi cá nhân phảiđáp ứng vì mục đích, lợi ích chung của xã hội Những giá trị và chuẩn mựcnày không phải là cái gì cố định, bất biến mà thay đổi theo sự phát triển của

xã hội ễÛ một thời đại, những giá trị và chuẩn mực này thuộc về một giớihạn lịch sử nhất định, phản ánh tính chất và trình độ phát triển của xã hộitrong một khung cảnh, một điều kiện nhất định nào đó Xã hội đào tạo, rènluyện con người theo hệ giá trị và chuẩn mực ấy như một định hướng nhâncách Thông qua định hướng này, xã hội tác động tới cá nhân, làm cho cánhân đạt được yêu cầu xã hội Như vậy, nhân cách cá nhân phản ánh, thểhiện nhân cách xã hội đồng thời nhân cách xã hội tìm thấy hình ảnh củamình, tính hiện thực của mình qua những diện mạo cụ thể, những sắc thái cụthể, đa dạng của từng cá nhân Về mặt này, bảng giá trị của nhân cách xã hội

có ý nghĩa như là những giá trị văn hóa và trình độ phát triển của những nhâncách cá nhân như là sự sống động thực tiễn, là tính phong phú muôn vẻ trong

việc biểu hiện nhân cách xã hội ễÛ đây, tính thống nhất trong đa dạng như

là đặc trưng bản chất của văn hóa có thể được sử dụng để nói về mối quan

hệ giữa nhân cách xã hội và nhân cách cá nhân, mối quan hệ liên nhân cách.

Trang 24

Những giá trị và chuẩn mực nào được lấy làm định hướng giá trịnhân cách và giáo dục nhân cách xét trên bình diện phổ quát nhất? Đóchính là các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, tương ứng với nó là Khoa học(Chân) - Đạo đức (Thiện) - Nghệ thuật, nói rộng hơn là Văn hóa tinh thần(Mỹ) để đạt tới chiều sâu, sức biểu cảm và sự tinh tế của Nhân bản - Nhânđạo và Nhân văn, đảm bảo cho con người là một con người văn hóa vànhân cách của nó là một nhân cách văn hóa [7, tr 262].

Thông thường, trong lịch sử các khoa học xã hội - nhân văn, "nhâncách" vẫn được hiểu là một phạm trù tâm lý và do đó, nghiên cứu nhâncách vẫn được hiểu là địa hạt của tâm lý học, và tâm lý học có hẳn mộtphân ngành là tâm lý học nhân cách Tiếp cận tâm lý học về nhân cáchcũng từ lâu trở thành một cách tiếp cận đặc trưng, có tính cổ điển và đạt tới

sự ổn định khá bền vững

Tuy vậy, cần nhận thấy, quy mô rộng lớn và phức tạp của hệ vấn đề

"con người, cá nhân, cá thể và nhân cách" đòi hỏi cách tiếp cận mới khái

quát và sâu sắc hơn đối với phạm trù nhân cách, không dừng lại ở địa hạt

tâm lý học, càng không coi tâm lý học là khoa học duy nhất đi sâu trongnghiên cứu và giải quyết những vấn đề về nhân cách Triết học, từ khởi đầu

đã chú ý tới con người, xem con người là đối tượng nghiên cứu Do conngười vừa là một khách thể vừa là một chủ thể nhận thức, chủ thể hànhđộng nên việc mở rộng nghiên cứu chung từ vấn đề con người sang nghiêncứu sâu vấn đề nhân cách, xác lập một phương hướng tiếp cận triết học về

nhân cách, đưa ra luận chứng triết học về bản chất và cấu trúc của nhân

cách - đó là sự phát triển hợp lôgíc của nghiên cứu triết học

Tiếp cận truyền thống theo dòng tâm lý học và tiếp cận triết học vềnhân cách không những không đối lập nhau mà còn bổ sung cho nhau, làmhài hòa lẫn nhau, cùng đem lại những cái mới trong nhận thức khoa học vềnhân cách

Trang 25

Hơn nữa, trên thực tế, con người và nhân cách ngày càng đượcnhiều khoa học quan tâm nghiên cứu Vai trị ngày càng tăng lên của conngười, của nhân tố con người và nguồn nhân lực trong sự phát triển của xã

hội hiện đại đã dường như khách quan hĩa sự cần thiết nghiên cứu con

người và nhân cách từ những lý thuyết và phương pháp khác nhau Đã vàđang diễn ra xu hướng liên ngành và hợp ngành để tăng sức mạnh tổng hợptrong việc chiếm lĩnh đối tượng nghiên cứu cực kỳ phức tạp này Từ giữathế kỷ XIX, Mác đã từng dự báo, sẽ đến lúc mọi khoa học sẽ cùng hợpthành một khoa học chung - khoa học nghiên cứu về con người (trong đĩđương nhiên cĩ nhân cách) Con người và nhân cách đang vừa được nghiêncứu ở cấp độ chung, phổ biến, lại vừa được nghiên cứu ở các cấp độchuyên biệt, do những khoa học chuyên ngành thực hiện

Tâm lý học dựa trên cách tiếp cận hoạt động - giá trị đưa ra cách

hiểu nhân cách như là bộ mặt tâm lý của cá nhân, là một hệ thống thái độ của con người với người khác, với cuộc sống Thế giới tâm lý bao gồm các

quá trình nhận thức và tình cảm, chú ý và ghi nhớ, tính khí và tâm trạng,ngõn ngửừ vaứ tử duy Nhưng chừng nào những hiện tượng tâm lý ấy cĩ

thái độ riêng, trở thành thuộc tính của chủ thể, chừng đĩ mới cĩ thể nĩi tới nhân cách của chủ thể ấy Các thái độ riêng trở thành thuộc tính riêng -

những nét độc đáo này hợp thành bộ mặt tâm lý, thành nhân cách của từngngười Từ lập luận ấy, đa số các nhà tâm lý học cho rằng, nhân cách là tổhợp các thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng ngườivới thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do lồi người sáng tạo, với xã hội vàvới bản thân [40, tr 290]

Vấn đề đặt ra là phải xem xét tính chất xã hội của các thái độ và

thuộc tính ấy Do đĩ, nhân cách cịn được hiểu là mức độ phù hợp giữa

thang giá trị, thước đo giá trị của người cĩ nhân cách ấy với thang giá trị,thước đo giá trị của xã hội, cộng đồng hay nhĩm người [40, tr 290]

Trang 26

Quan điểm tâm lý học còn nhấn mạnh rằng, nhân cách là một chủ thể tự ý thức thuộc mỗi con người, thể hiện thông qua quá trình tự khẳng

định của chính mình

Nhân cách là một cái gì đó rất riêng, rất gần với cá tính Đó là đơn

vị cuối cùng, là cái đơn nhất, tạo nên chính nó, chứ không phải bởi một cái

gì khác

Nhân cách hình thành ở mỗi cá nhân và do cá nhân đó tự biểu hiện

như một trình độ phát triển của con người Là một sản phẩm xã hội nênhiện tượng nhân cách hóa và phi nhân cách hóa thường diễn ra trong sựphụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi xã hội cụ thể Nhân cách hóa không

tách rời kiểu loại hóa nhân cách, gắn liền với tính cách cụ thể của con

người trong mỗi vùng, mỗi miền xác định mà người ta thường gọi là "địa vănhóa" Do đó, có nét riêng của những nhân cách thuộc về cá thể của từngngười, lại có những nét riêng độc đáo thuộc về kiểu loại nhân cách của mộtcộng đồng người như người Hà Nội, người Nghệ Tĩnh, người Nam Bộ [55,

tr 9-10] Trong "Từ điển Tâm lý học", nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện đãxác định:

- Nhân cách là tổng hòa tất cả những gì hợp thành mộtcon người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét, đặc điểm thểchất, tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức và vai trò xã hội của nó

- Nhân cách là một cá nhân có ý thức về bản thân mình,

đã tự khẳng định được, đã có thể giữ được phần nào tính nhấtquán trong mọi hành vi Sự hình thành nhân cách là một quá trìnhkéo dài nhiều năm đến lúc "nên thân người" ễÛ mỗi lứa tuổi,nhân cách biểu hiện với những hình dạng đặc biệt Sự hình thànhnày kết hợp mấy yếu tố sau đây: sự sinh trưởng, thành thục của

cơ thể; sự tiếp nhận các yếu tố văn hóa, xã hội qua nhiều mối

Trang 27

quan hệ xã hội phức tạp; sự hình thành những cơ cấu tâm lýthông qua những quá trình vô thức hay hữu thức [99, tr 246].Xem nhân cách là vấn đề trung tâm của tâm lý học, cần thiết phảinhìn nhận những lĩnh vực cơ bản của nhân cách bao gồm: nhận thức, tìnhcảm, ý chí [87, tr 52] Nhưng sẽ là không đầy đủ để hình dung một nhâncách trong hiện thực, tức là tính hiện thực của nhân cách nếu không tínhđến hoạt động và hành vi của mỗi cá nhân, của chủ thể mang nhân cách đó.

Do vậy, hoạt động và hành vi của cá nhân có thể và cần phải được xem nhưmột lĩnh vực cơ bản của sự biểu hiện nhân cách

Đáng lưu ý là, dù nhấn mạnh đến các đặc điểm của quá trình tâm lýsong những đặc điểm (hay đặc trưng) tâm lý của nhân cách không thể xuất

hiện ở đâu khác ngoài các quan hệ xã hội của con người tạo nên bản chất của nó và trong chính môi trường xã hội, nơi mà nhân cách hình thành.

Đúng như quan niệm của nhà tâm lý học Xô viết A.N.Leontiev đã nêutrong một luận đề rất sâu sắc của ông: "Con người là giao điểm của quan hệ

xã hội" Cũng như vậy, Lucien Seve, trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mác vànhững vấn đề lý luận về nhân cách" đã đặc biệt nhấn mạnh tới bản chất conngười và nhân cách của nó dựa trên các quan hệ xã hội Ông bình luận

rằng, bản chất con người ở ngoài cơ thể họ, ở trong mối quan hệ xã hội.

Muốn biết con người thiện hay ác chẳng hạn, ta phải soi vào quan hệ xã hộichứ không thể bằng giải phẫu sinh lý Ông đã đưa ra một quan niệm rấthàm súc, có tính khái quát cao, một cách hiểu về nhân cách không chỉ dừnglại ở địa hạt tâm lý học nữa mà đã hướng tới tầm phổ quát, triết học của nó:

"Nhân cách là những quan hệ xã hội giữa những cách xử sửù" [82, tr 126].

Một cách hiểu đúng đắn, khoa học về nhân cách và khảo sát vai tròcủa đạo đức, giáo dục đạo đức trong cấu trúc nhân cách chỉ có thể dựa trên

Trang 28

những nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác,trước hết là triết học Mác.

Đứng trên quan điểm mácxít để nghiên cứu về nhân cách, các lýthuyết về nhân cách trong tâm lý học Xô viết đạt tới tính đúng đắn, khoahọc vì nó xuất phát từ nguyên tắc thừa nhận bản chất con người và do đó,

bản chất nhân cách của nó là một bản chất xã hội Họ xem xét nhân cách là một chất lượng xã hội của cá nhân ở trình độ trưởng thành, nhân cách được nghiên cứu dựa trên quyết định luận xã hội, theo nguyên tắc tính lịch

sử và phát triển, tính thống nhất giữa ý thức, nhân cách và hoạt động của

con người chủ thể trong mối quan hệ với khách thể

A.V Petrovxki xem nhân cách là chủ thể của nhận thức và cải tạo

tích cực hiện thực

A.G Covaliov xem nhân cách là một cá thể có ý thức, chiếm một vị

trí nhất định trong xã hội và thực hiện một vai trò nào đó trong xã hội

E.V Sorokhova nhấn mạnh rằng, nhân cách là một con người với tưcách là một vật mang toàn bộ những thuộc tính và phẩm chất tâm lý quyđịnh các hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội

V.N Miasaev lại chú trọng tới khía cạnh thái độ trong nhân cách, thái

độ đối với người khác, với bản thân, với thế giới bên ngoài, trong đó thái

độ đối với người khác là quyết định mang tính chất của mối quan hệ qualại

Triết học Mác tiếp cận nhân cách như một quá trình mở rộng và đisâu từ "con người hiện thực" và "bản chất xã hội", "quan hệ xã hội" của conngười đến hệ thống các giá trị và chức năng xã hội mà con người tự biểuhiện và tự khẳng định mình trong đời sống hiện thực giữa những ngườikhác và trong cộng đồng xã hội Ngoài ra, phương pháp tiếp cận hệ thốngcấu trúc đòi hỏi phải xem xét nhân cách như một cấu trúc phức hợp giữa

Trang 29

các tác nhân sinh vật và xã hội, giữa thể lực (sinh thể) với phẩm chất (đạođức) và năng lực (trí tuệ), trong đó có tính đến vai trò rất quan trọng của

kinh nghiệm sống trong hoạt động và trong đời sống của con người Đó còn

là quan hệ giữa nhận thức - tình cảm - niềm tin và hành động của cá nhântrong hoạt động sống và trong giao tiếp, ứng xử với người khác, cũng nhưảnh hưởng của những người khác, của môi trường và hoàn cảnh xungquanh tới nhân cách của chủ thể mang nhân cách

Xem xét nhân cách theo nhiều chiều như vậy trong trạng thái

"động" chứ không "tĩnh", trong tập hợp hệ thống - chỉnh thể chứ không

phiến diện, cô lập các yếu tố, suy đến cùng là để hình thành một hệ quan niệm sau đây về nhân cách từ cách nhìn triết học:

- Trước hết, các khái niệm "con người", "cá nhân", "cá thể", "cátính" và "nhân cách" có mối liên hệ mật thiết với nhau nhưng không phải lànhững khái niệm đồng nghĩa, càng không thể đồng nhất làm một Bằng

hoạt động lao động và giao tiếp, hình thành thế giới tinh thần, con người đã

chuyển dịch từ sự phát triển sinh học sang hình thành các hệ thống riêng cócủa xã hội Kết quả là con người được sinh thành như một chỉnh thể sinhhọc - xã hội Cái tự nhiên (sinh vật) và cái xã hội ở con người không phải làsong song tồn tại mà làm môi giới cho nhau, thâm nhập vào nhau và in dấulên toàn bộ hoạt động sống của con người Con người là một thực thể sinhvật - xã hội mang bản chất xã hội Còn nhân cách nói lên trình độ phát triển

và trưởng thành về chất lượng xã hội của người đó Trình độ người của sự phát triển này, tức là văn hóa cho thấy, nhân cách của con người định hình

ở từng cá nhân, cá thể là một trình độ trưởng thành văn hóa của con người Nhân cách, nhìn từ thước đo văn hóa chính là văn hóa làm người mà từng

cá nhân phải tập luyện, trau dồi, biểu hiện thành nhu cầu và giá trị củamình Con người chỉ được xem là một cá nhân khi nó đạt tới sự trưởngthành về mặt thể lực, trí tuệ và đạo đức Cá tính chỉ tính độc đáo, tính

Trang 30

không lặp lại ở mỗi cá nhân Nó góp phần tạo nên bản sắc, làm hình thànhcái "Tôi" độc đáo của mỗi con người như là một nhân cách.

- Nhân cách (Personality) chính là chất lượng xã hội của con người.Giá trị xã hội của nhân cách được tạo lập từ các phẩm chất và năng lực củacon người, kết quả của giáo dục và tự giáo dục Nhân cách nói lên diệnmạo tinh thần của mỗi người đồng thời biểu hiện xu hướng phát triển của

nó Nhân cách của con người là cái để con người trở thành chính họ Conngười sống trong cộng đồng mà chỉ là cái bóng của người khác, là sự saochép người khác thì họ đã làm mất nhân cách của riêng mình

- Quá trình con người tham gia vào hoạt động để thâu thái, chiếm lĩnhcác giá trị xã hội, biến nó thành phẩm chất bên trong của cá nhân cũng đồng

thời là quá trình mỗi cá nhân thực hiện các chức năng xã hội của mình [8].

Nhờ đó các giá trị xã hội của chủ thể mang nhân cách được xác nhận trongthực tiễn, được đánh giá bởi xã hội, bởi các chủ thể khác Như vậy, nhâncách là tổng hợp các giá trị mà con người đạt được ở trình độ trưởng thành

về phẩm chất và năng lực của mỗi cá nhân thông qua những hoạt động vàcác mối quan hệ của nó, được xã hội thừa nhận, đánh giá [8]

- Hệ giá trị và chức năng xã hội là hai phương diện của cùng mộtchỉnh thể nhân cách của con người Chúng thống nhất và tác động lẫn nhau,

bổ sung, điều chỉnh và chế ước lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trìnhphát triển nhân cách

- Nhân cách là một sản phẩm lịch sử xã hội xác định chịu tác động

đồng thời bởi cơ chế di truyền sinh học (di truyền) và cơ chế di sản xã hội

(di sản) nhờ hoạt động, giáo dục và tự giáo dục bởi môi trường xã hội Sản

phẩm đó phải được cá thể hóa sâu sắc ở mỗi con người với tất cả sự khác

biệt về sinh thể, về sắc thái của từng người tạo thành nét bản sắc, độc đáo,mang tính trội, tính đơn nhất Nhân cách của mỗi người như thế nào, điều

Trang 31

đó tùy thuộc vào năng lực tiếp nhận giáo dục xã hội và chuyển hóa thànhnhu cầu và năng lực tự giáo dục của mỗi cá nhân.

Sự hình thành và phát triển nhân cách còn là quá trình xã hội hóa cánhân, chịu tác động bởi nhiều nhân tố: di truyền, hoàn cảnh và hoạt động,trong đó hoạt động giữ vai trò quyết định Nói cách khác, "xã hội hóa cái cánhân" và "cá nhân hóa cái xã hội" là một tổng hợp tác động qua lại giữahoàn cảnh và con người thông qua hoạt động để hình thành nhân cách Như

vậy, có thể nói, nhân cách là tất cả những gì ưu tú nhất được kết tinh bởi

sự phát triển của con người.

1.1.2 Đạo đức trong cấu trúc của nhân cách

ễÛ phần trên, khi bàn về quan niệm nhân cách, chúng ta đã ít nhiều

đề cập tới cấu trúc của nhân cách, những nhân tố tác động tới sự hình thànhnhân cách

Cấu trúc của nhân cách là một vấn đề phức tạp và có nhiều cáchhiểu khác nhau trong lý luận nhân cách

Freud đã từng quan niệm, nhân cách bao gồm cái Nó, cái Tôi và cáiSiêu Tôi

Từ đó, Freud hình dung cấu trúc nhân cách gồm ba tầng: Bản năng,

ý thức và lương tâm

Dù quan niệm này của Freud đã từng gây nên những tranh luận kéodài về học thuật và quan điểm đánh giá, song vẫn có thể rút ra từ đây một ýnghĩa khách quan có tác dụng giáo dục nhân sinh Đó là: muốn cho conngười tránh được những sai trái trong hành vi và hoạt động, cần phải đặcbiệt chú ý giáo dục đạo đức, sao cho nó nắm vững những quy định, chuẩnmực ràng buộc của xã hội, hướng tới những giá trị mà xã hội đòi hỏi Mặtkhác, phải bằng tác động của giáo dục, trong đó có giáo dục đạo đức, giúp

cho con người luôn có năng lực thức tỉnh lương tâm, nó như một cái phanh

Trang 32

hãm giúp con người tự mình phòng tránh và khắc phục những sự suy thoái

đạo đức, nhân cách

Một quan niệm khác thường thấy, là xem nhân cách có một cấu trúc

tầng "nổi" kèm theo một cấu trúc tầng "chìm", có sự tác động trong mâu

thuẫn giữa chúng Nhưng tầng "nổi" đó là gì? Phải chăng là những yếu tốcấu thành của ý thức, ý chí, tình cảm, sự hiểu biết, nhận biết và hành động?

và tầng "chìm" gồm những gì? Phải chăng là những cái tiềm ẩn, không hoặc chưa bộc lộ ra, là những động cơ bên trong, là chiều sâu nội tâm hay

là trạng thái của cái vô thức?

Lại cũng có cách tiếp cận cấu trúc từ hệ thống và các tiểu hệ thống

từ sinh lý - tâm lý - kinh nghiệm và xu hướng

Cách hiểu nhân cách là một hệ thống thái độ cũng đồng thời xem hệthống đó là thuộc về cấu trúc của nhân cách Mọi thái độ của con người đềuxoay quanh các quan hệ giữa nó với những người khác trong giao tiếp xãhội Vậy cấu trúc của nhân cách dựa trên những lớp quan hệ giữa chủ thể

và đối tượng mà thông qua đó, nhân cách của con người biểu hiện ra, đượcđánh giá dựa trên những thái độ và hành vi của nó

Xuất phát từ quan niệm "nhân cách là người mang ý thức",

K.K.Platonov xem cấu trúc nhân cách là một hệ thống lớn bao gồm bốn tiểu hệ thống Mỗi tiểu hệ thống đó như một tiểu cấu trúc hợp thành một

cấu trúc lớn Đó là:

- Cấu trúc xu hướng bao gồm: ý nguyện, hứng thú, khuynh hướng,

nhân sinh quan, thế giới quan, niềm tin

- Cấu trúc kinh nghiệm bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

- Cấu trúc phản ánh bao gồm các đặc điểm và các hình thức phản

ánh Đó là đặc điểm của tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ ở mỗi conngười cụ thể

Trang 33

- Cấu trúc sinh lý, bao gồm những đặc điểm chịu sự chế ước sinh

vật từ đặc điểm sinh lý thể chất đến bệnh lý, khí chất

Theo Platonov, sự kết hợp các thành tố trong bốn tiểu cấu trúc đó

tạo ra sự tương ứng của con người với công việc thì được hiểu là năng lực,

còn tạo ra sự tương ứng với một yêu cầu xã hội để thực hiện một quan hệ

xã hội được gọi là tính cách Tính cách bao gồm những phẩm chất đạo đức.

Như vậy, có thể quan niệm cấu trúc nhân cách bao gồm năng lực vàphẩm chất, được kết hợp hữu cơ trong một chỉnh thể, trực tiếp chi phối hoạtđộng và hành vi cá nhân, hình thành từ những cơ sở sinh lý, tâm lý cá nhâncũng như những ảnh hưởng từ môi trường xã hội và sự trưởng thành xã hộicủa cá nhân đó

Phẩm chất và năng lực trong cấu trúc nhân cách có mối quan hệ chếước lẫn nhau mà chúng ta vẫn thường gọi là quan hệ Đức - Tài Đức hayđạo đức là sự quy tụ của những phẩm chất Tài hay tài năng là sự biểu hiệntập trung và nổi bật của những năng lực

Đây là quan niệm có tính phổ biến và hợp lý hơn cả về cấu trúc của

nhân cách bởi nó chỉ ra được hai thành phần nòng cốt nhất của nhân cách.

Đó cũng chính là những tiêu chí, những thước đo đánh giá một nhân cách ởtrình độ trưởng thành Nó vừa nói lên những giá trị xã hội của chủ thểmang nhân cách, vừa bao hàm những yêu cầu từ phía xã hội mà chủ thểphải đáp ứng để thực hiện nhân cách của mình và làm cho nhân cách cánhân phù hợp với bảng giá trị nhân cách của xã hội

Tóm lại, Đức và Tài là cấu trúc tổng quát của nhân cách [39, tr 27].Xem xét đạo đức trong cấu trúc của nhân cách là xem xét mối quan

hệ giữa đạo đức với năng lực, với tư cách là hai thành phần nòng cốt trong

cấu trúc của nhân cách con người - đó là mặt thứ nhất Mặt thứ hai của vấn

đề đặt ra là xem xét quan hệ giữa đạo đức - thành phần nòng cốt, là quan trọng nhất, là gốc, là nền tảng quyết định nhất của nhân cách với toàn bộ

Trang 34

chỉnh thể của nhân cách con người nói chung ễÛ đó nổi bật vai trò của

đạo đức và giáo dục đạo đức đối với nhân cách và giáo dục nhân cách củacon người, đối với sự phát triển của con người, sự trưởng thành của nó vềmặt chất lượng xã hội

Đạo đức quyết định nhân cách Đến lượt nó, nhân cách đã định hình

sẽ đảm bảo và thúc đẩy sự hoàn thiện đạo đức, làm cho con người - chủ thể mang nhân cách đồng thời phải là con người - chủ thể văn hóa đạo đức của

chính mình

ễÛ một con người có nhân cách thực sự thì đạo đức của họ pháttriển bền vững và chín muồi đến trình độ nâng đạo đức lên thành một thứ

văn hóa đạo đức.

Nói tới đạo đức là nói tới một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực,các nguyên tắc mà con người lựa chọn, theo đuổi và thực hành trong cuộc

sống, thể hiện trong quan hệ và thái độ đối với người, với công việc và với chính mình Nó xoay quanh cái cốt lõi là cái Thiện, một phạm trù trung tâm

của đạo đức học Nó đối lập với cái ác như là đạo đức đối lập với phản đạođức vậy Cái thiện biểu hiện ra bởi hàng loạt những đức tính mà nổi bật ở

tính trung thực và lòng nhân ái.

Người có đức tính trung thực là người biết tôn trọng sự thật, trọng

lẽ phải, sự công bằng, chính trực Người có đức tính trung thực tôn trọngchân lý khách quan và do đó căm ghét mọi sự xuyên tạc, giả dối, xemnhững thủ đoạn xấu xa, ác độc, những tính toán tầm thường, thấp hènkhông xứng đáng với con người Cái thiện biểu hiện ở sự trung thực, đốilập với cái ác là sự giả dối Cái thiện là lòng chân thành, sự trong sáng, sựnhất quán từ suy nghĩ đến hành động, từ lời nói đến việc làm; nó ngaythẳng từ trong suy nghĩ, tư duy đến tâm hồn và tình cảm, đến toàn bộ vẻđẹp của thế giới tinh thần, rộng mở tấm lòng với mọi người, với cuộc sống

Trang 35

Còn cái ác biểu hiện thành thủ đoạn, giả dối, lừa lọc, khuất tất, mờ ám, làmtổn hại tới người khác chỉ vì cái lợi cho nó Nhiều khi chỉ vì một cái lợinhỏ, mà nó có thể làm những cái hại lớn cho đời, cho người Cái thiện là

lòng lành, là thiện tâm, trong khi cái dữ, tà tâm, độc địa, nó có thể bộc lộ ra

trực tiếp như một cái ác, cái xấu Nguy hiểm hơn, nó có thể che đậy, dấumình, như mang một cái mặt nạ, mượn hình thức bề ngoài của cái thiện, cáitâm để thực hành một cái ác, cái tà tâm Người trung thực là người lươngthiện, tử tế, trung thực không chỉ với người, với đời mà còn với chínhmình Đức tính trung thực với biểu hiện của tấm lòng chân thành, sự ngay

thẳng là điểm tựa căn bản nhất để phát triển trí tuệ, để có tư duy lành mạnh, đúng đắn, là cơ sở quan trọng nhất để phát triển mọi đức tính khác của đạo đức và nhân cách làm người Nó cũng đảm bảo chắc chắn, bền vững cho cái đẹp của nhân tính, từ tâm hồn, tình cảm đến hành vi, cử chỉ

trong lối sống, cách sống của con người Như thế, trung thực có thể xem là

đức tính, là phẩm chất và phẩm giá hàng đầu của con người được coi là có

đạo đức, có tâm

Như một sự phát triển hợp lôgíc của đạo lý làm người, nhờ có tínhtrung thực mà con người có lòng nhân ái, có tình thương yêu con người vàđồng loại "Thương người như thể thương thân" - là đạo lý căn bản của conngười, là truyền thống đạo đức tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam.Lòng nhân ái chính là tư duy và hành động đạo đức theo chuẩn mực của cáithiện "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" là lời dạy đạo đức của ông cha: cái gìkhông muốn cho mình thì đừng làm cho người khác Làm điều tốt tránhđiều ác, cao hơn nữa, đấu tranh cho cái đúng, cái tốt, phê phán và loại trừcái sai, cái xấu, cái ác ra khỏi cuộc sống của con người và xã hội, vươn tớivăn hóa đạo đức cho con người và xây dựng một xã hội có văn hóa đạo đứccao - đó là cả một quá trình lịch sử nhằm tổ chức, xây dựng một xã hội văn

Trang 36

minh, tiến bộ, trong đó nổi bật vai trò của giáo dục đạo đức, từ trong giađình đến nhà trường và xã hội.

Lòng nhân ái là giá trị căn bản của nhân tính, nó đối lập với thútính, nó phân biệt nhân tính với phi nhân tính, phân biệt con người - ý thức

và có đạo đức với con vật - bản năng và thú tính Nó cũng phân biệt conngười mang thiện tâm với kẻ ác, với cái ác đã đánh mất tính người Người

có lòng nhân ái mang đặc trưng tâm lý là giàu cảm xúc, dễ động lòng trắc

ẩn trước những sự bất hạnh của người khác; ân cần, chu đáo, quan tâm giúp

đỡ mọi người, có thể hy sinh vì người khác; giàu lòng vị tha, khoan dung,

độ lượng; không chỉ biết suy nghĩ tốt đẹp về người khác mà còn làm nhữngđiều tốt đẹp cho người khác một cách vô tư, trong sáng như một sự thôithúc tự nguyện bởi sức mạnh nội tâm, xuất phát từ những rung động sâu xa

và tinh tế của một tâm hồn luôn có nhu cầu cảm thông và chia sẻ, từ mộttấm lòng và trái tim nhân hậu Nó xa lạ với sự tính toán vị kỷ, vụ lợi, vốn làđặc trưng của chủ nghĩa cá nhân ở những kẻ yếu kém về đạo đức

Thiếu sự trung thực và lòng nhân ái, có thể nói là thiếu cái căn bản,

do đó cũng có nguy cơ thiếu tất cả những gì tạo nên giá trị và nội dung củađạo đức làm người Đây là sự thiếu hụt đáng sợ nhất, là khiếm khuyết tệ hạinhất đối với đời sống đạo đức của con người Sự thiếu hụt và khiếm khuyếtnày đẩy con người tiến gần tới cái ác trong hành vi, ứng xử Nó như nhữngkhoảng tối, những bóng tối cứ lan dần, che lấp hết đời sống tinh thần conngười, đẩy con người về phía sự thống trị của những bản năng và phi nhân.Trong trường hợp nó chưa có những hành vi gây ác và làm ác thì với sựthiếu trung thực và lòng nhân ái, con người ấy cũng không có sự tự biểuhiện nào hơn ngoài sự tầm thường, nhỏ mọn, vị kỷ [90, tr 196]

Nếu ở nó, sự xấu hổ mà Xukhomlinxki gọi là bến nước trong lành,bến đỗ bình yên cho con thuyền lương tâm và danh dự còn neo lại được [103, tr.213] mà không còn nữa thì nó đã dường như không còn đời sống đạo đức

Trang 37

tinh thần của con người lành mạnh Đánh mất cảm giác biết tự xấu hổ vềnhững suy nghĩ và hành vi trái đạo đức của mình, con người tự đánh mấtcái đảm bảo cuối cùng giữ cho mình sự trong sạch, lương thiện, sự chínhtrực, tử tế Đủ thấy, ủeồ coự khả năng hướng thiện, và có sức mạnh tiềmtàng của đạo đức, ủeồ gìn giữ và phát triển, con người phải được giáo dục

và tự giáo dục một cách bền bỉ về lương tâm, thường xuyên có được nănglực nhạy cảm về sự dằn vặt lương tâm Nó chính là năng lực tự nhận biết,

tự đánh giá đạo đức từ mỗi hành vi của bản thân mình Thước đo đạo đức

ấy, con người phải tự gìn giữ và củng cố nó trong nội tâm, trong chiều sâuthế giới tinh thần của mình và hướng ra bên ngoài để đối xử với nhữngngười khác một cách đạo đức, với thái độ chân thành, với cử chỉ ân cần, sựtận tâm chu đáo trong quan hệ với con người và công việc

Trung thực và nhân ái làm nảy nở bao điều tốt đẹp khác của phẩmchất đạo đức, của tính phong phú muôn vẻ về những hình thức biểu hiện củacái thiện, của đạo đức làm người Đó là thái độ dũng cảm tự phê phán những

gì còn khiếm khuyết ở bản thân hoặc những lỗi lầm mắc phải, là sự dũng cảmđấu tranh bảo vệ sự thật, lẽ phải, sự công bằng, dũng cảm đấu tranh chống lại

sự giả dối, thói đạo đức giả, chống lại những cái xấu, cái ác trong đời sống

Đó còn là tính khiêm tốn và yêu cầu cao với chính mình bắt nguồn từ lòng tựtrọng, là thái độ tôn trọng con người, tôn trọng nhân cách của người khác

Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn quan trọng mang ý nghĩa khái quátrất cao về thái độ đạo đức và giá trị đạo đức Người đòi hỏi phải nghiêmkhắc với mình và rộng lòng khoan thứ với người

Người nêu rõ: con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính,

mà nếu thiếu một đức thì không thành người Theo Hồ Chí Minh, có cần,

có kiệm, có liêm thì mới chính được Đủ cả bốn đức ấy mới là người hoàntoàn AÁy là xét ở phạm vi tu dưỡng đạo đức cá nhân Còn xét rộng ra, vớimột dân tộc, có đủ cả cần - kiệm - liêm - chính thì dân tộc đó sẽ vừa giàu

Trang 38

có về vật chất lại vừa cao quý văn minh về mặt tinh thần ễÛ đây, Hồ ChíMinh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là giá trị căn bản để làm người mà còn

đề cập tới một cách sâu sắc vai trò động lực của đạo đức đối với sự pháttriển và tiến bộ xã hội

Tầm quan trọng của đạo đức được Người nêu lên thành một triết lý đạođức, triết lý nhân sinh và hành động để làm người và ở đời Người nhấnmạnh: Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác trong lúcnày là vấn đề ở đời và làm người ễÛ đời và làm người thì phải thươngnước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, áp bức Đạo làm ngườithì phải chính tâm mà đối với người cách mạng, chính tâm, ấy là cần kiệmliêm chính, chí công vô tư để tận trung với nước, tận hiếu với dân, một lòngmột dạ vì sự nghiệp cách mạng, lấy phục vụ nhân dân làm lẽ sống, làmhạnh phúc lớn nhất của mình Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, muốntrở nên chính tâm, phải ít lòng tham muốn vật chất, không hiếu danh,không kiêu ngạo "Xem thường danh vị, ngôi thứ, tiền bạc vì chúng là cộinguồn sinh ra đố kỵ và hận thù" [65, tr 450]

Sống ở đời thì phải thân dân Thân dân là phục vụ nhân dân, đặt lợiích của dân lên trên hết, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở phải làm chodân tin, dân phục, dân yêu [68, tr 189]

Cũng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng có thể tómtắt trong năm điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Người giải thích cụ thể

và cặn kẽ những điều ấy, đem lại cho chúng ta sự hiểu biết đầy đủ nội dungcủa đạo đức:

a) Nhân là thật thà, thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí

và đồng bào Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, nhữngviệc có hại đến Đảng, đến nhân dân Sẵn lòng chịu cực khổ trướcmọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế mà không hamgiàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền

Trang 39

Những người đã không ham, không e, không sợ gì thìviệc gì là việc phải họ đều làm được.

b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc

bậy, không có việc gì phải giấu Đảng Ngoài lợi ích của Đảng,không có lợi ích riêng phải lo toan

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên

đầu óc trong sạch, sáng suốt Dễ hiểu lý luận Dễ tìm phươnghướng Biết xem người Biết xét việc Vì vậy, mà biết làm việc

có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắcngười tốt, đề phòng người gian

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm.

Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa Cực khổ khó khăn, có ganchịu đựng Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, khôngchính đáng Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng,cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát

đ) Liêm là không tham địa vị Không tham tiền tài Không

tham sung sướng Không ham người tâng bốc mình [67, tr 252] Người đề cập đến nội dung đạo đức cách mạng trên đây trong tácphẩm "Sửa đổi lối làm việc" mà Người viết cách đây trên nửa thế kỷ(1947) Đó là sự phát triển những tư tưởng của Người về đạo đức và nhâncách của người cách mạng mà Người gọi là "tư cách của người cách mạng"trong tác phẩm đầu tiên mà Người viết để truyền bá chủ nghĩa Mác vàoViệt Nam với nhan đề "Đường Kách mệnh" năm 1927 Cho đến nhữngnăm cuối đời, trong bản Di chúc để lại, được viết từ năm 1965 đến năm

1969 cũng như trong bài báo cuối cùng mà Người viết, có thể nói, cả cuộcđời, Người đã phấn đấu để thực hành đạo đức cách mạng, đấu tranh kiênquyết để đánh bại chủ nghĩa cá nhân, cái xấu, cái ác mà Người coi là một

kẻ thù nguy hiểm, một thứ giặc nội xâm [67, tr 254] Người là mẫu mực

Trang 40

trong sáng đến mức lý tưởng của cái Thiện, của đạo đức cách mạng, của nhân

cách cộng sản

Người đặc biệt chú trọng tới việc rèn luyện đạo đức cách mạng chothanh niên, cho thế hệ những người cách mạng trẻ tuổi với những phẩmchất nổi bật là Trung thành, Dũng cảm, Khiêm tốn Trong thư "Gửi các bạnthanh niên" ngày 17-8-1947, Người viết:

Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn

sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởngtrước

Các việc đáng làm, thì khó mấy cũng cố chịu quyết làmcho kỳ được

Ham làm những việc ích quốc lợi dân Không ham địa

vị và công danh phú quý

Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm,trong sạch

Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc Nói ít làm nhiều, thân áiđoàn kết [67, tr 185-186]

Đó chính là đạo đức của người cách mạng Đạo đức cách mạng làcuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong xã hội, trong con người Làmviệc thiện khó như trèo núi Làm việc ác thì dễ như xuống dốc Theo conđường ác thì dễ dàng nhưng lăn xuống hố Theo con đường thiện thì khónhọc nhưng vẻ vang Quyết tâm làm thì được

Cũng cách đây hơn nửa thế kỷ, trong thư gửi cán bộ chiến sĩ công

an, Người đã nêu lên sáu điều phải rèn luyện về đạo đức và nhân cách.Người đề cập tới những mối quan hệ và những phẩm chất, đức tính tương

Ngày đăng: 19/12/2016, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w