Với tư cách là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục, trong nhà trường, tiếng Việt vừa là công cụ để dạy học, vừa là một môn học. Đối với học sinh, tiếng Việt tồn tại dưới hai dạng gồm tiếng Việt nói (khẩu ngữ) và tiếng Việt viết. Hiện nay, do tác động từ ngôn ngữ nói, ngôn ngữ mạng,..., các em học sinh mắc lỗi viết tiếng Việt thường xuyên và phổ biến hơn. Vì vậy việc khảo sát lỗi viết tiếng Việt của học sinh tại trường THCS là cần thiết để chỉ ra thực trạng, tìm ra các nhân tố tác động cả tích cực lẫn tiêu cực để góp phần cải thiện và nâng cao khả năng viết tiếng Việt cho học sinh THCS.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kì một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Hải Phòng
đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho em những kiến thức về ngôn ngữ họclàm cơ sở cho việc nghiên cứu, và đóng góp những ý kiến quý báu để emhoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viêntrường Trung học cơ sở Quán Toan đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ emtrong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, những người bạn và cáchọc sinh đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng năm 2020
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỀ TÀI 0
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐỀN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN .7 1.1 Cơ sở lý thuyết 7
1.1.1 Khái niệm “lỗi ngôn ngữ” 7
1.1.2 Một số hướng nghiên cứu về “lỗi ngôn ngữ” 9
1.1.3 Các hướng phân tích lỗi 14
1.1.4 Một số cách phân loại lỗi 19
1.1.5 Các nguyên nhân tạo lỗi 23
1.2 Giới thiệu khái quát về địa bàn khảo sát 26
1.2.1 Giới thiệu khái quát về thành phố Hải Phòng và đặc điểm tiếng Hải Phòng 26
1.2.2 Giới thiệu về Trường Trung học cơ sở Quán Toan, thành phố Hải Phòng 27
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: KHẢO SÁT LỖI VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS QUÁN TOAN, HẢI PHÒNG 31
2.1 Lỗi viết chính tả của học sinh 31
2.1.1 Một số vấn đề về chính tả tiếng Việt 31
2.1.2 Khảo sát lỗi chính tả của học sinh 33
2.2 Lỗi dùng từ của học sinh 43
2.2.1 Một số vấn đề về từ tiếng Việt 43
2.2.2 Khảo sát các lỗi dùng từ của học sinh 45
2.3 Lỗi ngữ pháp của học sinh THCS Quán Toan 52
Trang 42.3.1 Một số vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt 52
2.3.2 Khảo sát các lỗi ngữ pháp của học sinh 53
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: NGUYÊN NHÂN GÂY LỖI VÀ GIẢI PHÁP CHỮA LỖI VIẾT TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS QUÁN TOAN, HẢI PHÒNG 65
3.1 Đánh giá chung về lỗi viết tiếng Việt của học sinh Trường THCS Quán Toan, Hải Phòng 65
3.2 Nguyên nhân gây lỗi viết tiếng Việt của học sinh Trường THCS Quán Toan, Hải Phòng 66
3.2.1 Môi trường giao tiếp 66
3.2.2 Ảnh hưởng cách phát âm địa phương 67
3.2.3 Ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đời thường 68
3.2.4 Ảnh hưởng của ngôn ngữ mạng 69
3.2.5 Một số nguyên nhân chủ quan 71
3.3 Đề xuất một số giải pháp 73
3.3.1 Các giải pháp chung 73
3.3.2 Các giải pháp cụ thể 81
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỀ TÀI LỖI TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ QUÁN TOAN, HẢI PHÒNG
Số hiệu
2.1
Tổng hợp các lỗi chính tả thường gặp của học sinh
2.2 Các loại lỗi âm đầu thường gặp của học sinh trường
2.3
Các loại lỗi âm đầu thường gặp của học sinh trường
2.4 Thống kê các loại lỗi viết hoa của học sinh trường THCS
2.5 Thống kê các loại lỗi viết tắt của học sinh trường THCS
2.6 Thống kê các kiểu lỗi dùng từ cơ bản của học sinh trường
2.7 Thống kê lỗi ngữ pháp của học sinh trường THCS Quán
2.8 Thống kê lỗi ngữ pháp của học sinh trường THCS Quán
Trang 6MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài
Với tư cách là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục, trongnhà trường, tiếng Việt vừa là công cụ để dạy học, vừa là một môn học Đốivới học sinh, tiếng Việt tồn tại dưới hai dạng gồm tiếng Việt nói (khẩu ngữ)
và tiếng Việt viết Hiện nay, do tác động từ ngôn ngữ nói, ngôn ngữ mạng, ,các em học sinh mắc lỗi viết tiếng Việt thường xuyên và phổ biến hơn Vì vậyviệc khảo sát lỗi viết tiếng Việt của học sinh tại trường THCS là cần thiết đểchỉ ra thực trạng, tìm ra các nhân tố tác động cả tích cực lẫn tiêu cực để gópphần cải thiện và nâng cao khả năng viết tiếng Việt cho học sinh THCS
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành khảo sát “Lỗiviết tiếng Việt của học sinh trường Trung học cơ sở Quán Toan, Hải Phòng”nhằm chỉ ra các lỗi viết tiếng Việt mà học sinh gặp phải, từ đó góp phần vàoviệc nâng cao viết tiếng Việt cho học sinh
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề nghiên cứu tiếng Việt và sửa lỗi trong sử dụng tiếng Việt ở cácnhà trường phổ thông từ lâu đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhànghiên cứu ngôn ngữ Có khá nhiều công trình bàn về lỗi sử dụng tiếng Việtcủa người Việt nói chung, lỗi viết tiếng Việt của học sinh nói riêng
Đầu tiên, phải kể đến công trình Sổ tay sửa lỗi hành văn của hai tác
giả Cao Xuân Hạo – Trần Thị Tuyết Mai (Nhà xuất bản Trẻ, 1986) Các tácgiả trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về lỗi ngôn ngữ đã chỉ ra cáclỗi hành văn mà người viết thường gặp trong trong các bài viết của tất cả các
đội tượng, trong đó có học sinh Công trình: Mẹo giải nghĩa từ Hán - Việt và chữa lỗi chính tả của giáo sư Phan Ngọc(Nhà xuất bản Thanh niên, 2010).
Cũng đề cập khá sâu về nội dung “lỗi ngôn ngữ” Trong công trình này,trên cơ sở tìm hiểu các vấn đề chính tả của các phương ngữ, tác giả đã kháiquát những phương pháp giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả liên
Trang 7quan đến từ Hán Việt.
Ngoài ra, có thể kể đến công trình Từ điển lỗi dùng từ của tác giả
Hà Quang Năng (Nhà xuất bản Giáo dục, 2007) Trong công trình này, ông
đã xác định năm dạng lỗi cơ bản của người Việt khi dùng từ tiếng Việt
gồm: dùng từ sai phong cách và sai từ loại, dùng từ sai ý nghĩa, dùng lặp
từ, dùng thừa từ và thiếu từ, dùng từ sai vỏ âm thanh Từ đó, tác giả đưa ra
biện pháp khắc phục các lỗi cơ bản nêu trên
Có thể nói, những công trình nêu trên đã góp phần giúp chúng ta nhậndiện rõ thêm các lỗi tiếng Việt thường gặp, từ đó, bản thân mỗi người sử dụngtiếng Việt có cách thức sửa chữa, nói và viết tiếng Việt theo đúng chuẩn mực
Ngoài những công trình trên, còn có một số công trình đi vàonghiên cứu cụ thể lỗi viết của học sinh ở từng vùng miền, từng địa phương
trên cả nước Chẳng hạn, trong công trình Chữ quốc ngữ với vấn đề rèn luyện chính tả ở trường phổ thông hiện nay của tác giả Hoàng Trọng Canh (Ngữ học trẻ, 1996), tác giả đã đưa ra những đánh giá, nhận xét về hiện trạng
chính tả ở các ấn phẩm trong lĩnh vực xuất bản và ở trường học Theo tác giả:
“Có thể nói không quá rằng, hiện nay, nhìn vào lĩnh vực xuất bản, công bốcác ấn phẩm là văn bản viết bằng tiếng Việt dưới bất cứ hình thức gì và xétđến phương diện nào của chính tả, chữ viết (các chữ cái ghi các âm và vần,
vị trí ghi dấu thanh, viết hoa, viết tắt, phiên âm,…) dường như đều có vấn
đề để bàn Thực trạng đó cho thấy, chính tả tiếng Việt còn thiếu sự thốngnhất, nhiều vấn đề cụ thể không có chuẩn chính tả để theo Trong trường họccũng như ngoài xã hội, lỗi chính tả rất phổ biến Về mặt xã hội, dường nhưnhững vấn đề cụ thể về kế hoạch hóa ngôn ngữ mang tính lập pháp về chữviết và chính tả đối với tiếng Việt đang còn thiếu đã ảnh hưởng không tốtđến tình hình nói trên” [4, tr.200] Để chứng minh cho luận điểm này, tácgiả đã đưa ra bảng thống kê số liệu cụ thể về các lỗi chính tả thường gặp ởhọc sinh tiểu học trên địa bàn Nghệ Tĩnh, thành phố Hồ Chí Minh và ĐồngTháp Từ đó, chỉ ra những nội dung dạy học chính tả trong trường Tiểu học
Trang 8Trong công trình nghiên cứu “Khảo sát lỗi văn bản của học sinh
THCS ở Hà Tĩnh” (luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, Đại học Vinh 2013), tác
giả Lê Thị Nguyệt Hoa nghiên cứu chuyên sâu một dạng lỗi thường gặp củaTHCS tại địa phương, đó là lỗi văn bản Trong công trình này, tác giả đãkhảo sát, thống kê cụ thể các loại lỗi văn bản mà học sinh THCS ở Hà Tĩnh
thường mắc phải bao gồm: lỗi về các phương tiện liên kết, lỗi logic, lỗi chủ đề Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân dẫn đến các loại lỗi này, tác
giả đã đề xuất cách thức khắc phục, sửa chữa lỗi một cách hệ thống, logic, cụthể
Tác giả Trần Thị Kim Hoa trong đề tài “Khảo sát lỗi chính tả và dùng
từ tiếng Việt của học sinh Tày, Nùng trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc”,
cũng đi sâu khảo sát các dạng lỗi chính tả và lỗi dùng từ cơ bản đối vớihọc sinh người dân tộc Tày – Nùng ở Việt Bắc Theo đó, xét về lỗichính tả, tác giả chỉ ra ba kiểu lỗi cơ bản mà các em học sinh Tày – Nùngthường xuyên mắc phải đó là lỗi phụ âm đầu, lỗi về âm điệu, lỗi phần vần Vềlỗi dùng từ, tác giả cũng đã khảo sát và chỉ ra 5 kiểu lỗi cơ bản là: dùng sainghĩa, sai khả năng kết hợp và dùng từ lặp, thừa, dùng sai vỏ âm thanh, dùngsai phong cách Với mỗi kiểu lỗi, tác giả đều chỉ ra nguyên nhân khách quan,chủ quan và đề xuất cách khắc phục khoa học, cụ thể
Ngoài ra, một số sách tham khảo, công trình nghiên cứu, luận văn, luận
án cũng đề cấp đến lỗi tiếng Việt và lỗi tiếng Việt của học sinh ở nhiều khíacạnh nghiên cứu khác nhau, tiêu biểu như:
- Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt của tác giả Nguyễn
Linh Chi (Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện ngôn ngữ học, 2009)
- Ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết của học sinh THPT của Trần Thị Hậu, (Dựa trên cứ liệu bài làm văn của học sinh trường THPT
Nguyễn Đức Cảnh, Hải Phòng), luận văn thạc sĩ
- Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn
đề liên quan của tác giả Nguyễn Thiện Nam (Luận văn Tiến sĩ Ngữ văn,
Trang 9ĐHQG Hà Nội, 2001)
- Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp và cách khắc phục của tác giả Lê
Trung Hoa (Nxb KHXH, 2002)
- Lỗi ngữ pháp của học sinh- nguyên nhân và cách chữa của tác giả
Nguyễn Xuân Khoa (1975), (Ngôn ngữ số 1.1975)
- Mấy gợi ý về việc phân tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh của tác
giả Nguyễn Minh Thuyết (1947), (Ngôn ngữ số 3.1974)
- Phương pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh tiểu học Thừa Thiên – Huế của tác giả Hoàng Thảo Nguyên (Luận án Tiến sĩ giáo dục,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2000)
Như vậy, nhìn một cách khái quát, có thể thấy rằng, cho đến nay đã cókhá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học tiếng Việt và vấn đề chữalỗi sử dụng tiếng Việt cho học sinh ở các bậc học Những công trình này hoặc
đi vào tìm hiểu, đánh giá một cách khái quát, hoặc đi vào từng phương diện,từng đặc điểm cụ thể của vấn đề nghiên cứu Có thể khẳng định rằng, kếtquả nghiên cứu của những công trình này chính là cơ sở lí luận quan trọng
để tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn khảo sát các loại lỗi viết tiếng Việt thường gặp của học sinhtrường THCS Quán Toan ở các bình diện chính tả, từ vựng, ngữ pháp Kếtquả này góp phần vào việc nghiên cứu lỗi ngôn ngữ cũng như các giải phápnâng cao khả năng viết tiếng Việt của học sinh bậc THCS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận có liên quan đến việc giải quyết các vấn đề: thếnào là lỗi ngôn ngữ, các khuynh hướng nghiên cứu lỗi ngôn ngữ, phân tíchlỗi, nguyên nhân tạo lỗi
- Khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả các loại lỗi ở các phương diệnchính tả, từ vựng, ngữ pháp
Trang 10- Phân tích chỉ ra những nguyên nhân gây lỗi
- Đề xuất giải pháp sửa chữa và cách khắc phục lỗi viết tiếng Việt củahọc sinh trường THCS Quán Toan, Hải Phòng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là lỗi viết tiếngViệt thường gặp của học sinh ở bậc THCS (từ lớp 6 đến lớp 9) tại trườngTHCS Quán Toan, Hải Phòng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát các lỗi viết tiếng Việt của học sinh thông qua các văn bản viết(bài viết 90', bài kiểm tra học kì) Mỗi lớp 6, 7, 8, 9 chọn một số bài (nhằm sosánh lỗi)
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành đề tài này chúng tôi thực hiện trên cơ sở một số phương phápnghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê và phân loại những bàiviết của học sinh xuất hiện lỗi Thống kê số lỗi, trên cơ sở đó tiến hành phânloại các lỗi về chính tả, từ vựng, ngữ pháp
- Phương pháp miêu tả và phân tích lỗi: trên cơ sở miêu tả các loại lỗi
để tìm nguyên nhân mắc lỗi từ đó đề ra các giải pháp sửa lỗi
6 Ý nghĩa của luận văn
Việc khảo sát, nghiên cứu và phân tích lỗi, chỉ ra hệ thống các lỗi củahọc sinh trường THCS Quán Toan khi viết tiếng Việt nhằm góp phần vào việcnâng cao việc dạy và học ở trường THCS Đồng thời góp thêm một bước tiếnmới trong việc nghiên cứu lỗi và chỉ ra lỗi sử dụng tiếng Việt của học sinhHải Phòng
Những kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho việc nâng cao trình độ sửdụng tiếng Việt cho học sinh và có thể áp dụng vào việc giảng dạy cho cácđồng nghiệp dạy học ở các trường THCS tại Hải Phòng
Trang 117 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận văn
Chương 2 Khảo sát các lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp học sinh trường THCS Quán Toan, Hải Phòng
Chương 3 Nguyên nhân gây lỗi và giải pháp chữa lỗi viết tiếng Việt
cho học sinh trường THCS Quán Toan, Hải Phòng
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐỀN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Khái niệm “lỗi ngôn ngữ”
Lỗi ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm, ngay từđầu những năm 30 của thế kỷ XX Tuy nhiên, cho đến nay, các công trìnhnghiên cứu của các tác giả vẫn còn tồn tại những quan điểm và cách tiếp cậnkhác nhau
Nhà ngôn ngữ học Pit Corder (1918 – 1990) là một trong những ngườiđầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của lỗi Theo ông, lỗi không phải mộtđiều gì sai trái, hay đáng xấu hổ bắt buộc phải xóa bỏ Lỗi phát sinh một cách
tự nhiên và có vai trò quan trọng đối với giáo viên cũng như với bản thânngười học Lỗi cung cấp cho ta những sự hiểu biết, cho ta cái nhìn đúng hơn
về cách sử dụng ngôn ngữ để từ đó rút ra kinh nghiệm cho chính bản thânmình cũng như mọi người để viết, nói một cách chính xác S.P Corder trongquá trình nghiên cứu và giảng dạy đã tìm hiểu và phân tích các loại lỗi ngônngữ Ông cho rằng, lỗi ngôn ngữ là kết quả của sự thể hiện chưa thành côngkhi người học thụ đắc một ngôn ngữ nào đó với tư cách là ngôn ngữ thứ hai.Tuy vậy, S.P Corder nhận định rằng, lỗi ngôn ngữ “không phải là vấn đề phảivượt qua hay những cái gì sai trái, hay là điều đáng xấu hổ cần xóa bỏ Thực
ra, lỗi là một phần của việc học và qua lỗi có thể phát hiện ra những chiếnlược mà người học đã sử dụng để học một ngoại ngữ Lỗi cung cấp cho chúng
ta những hiểu biết, những cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu trongquá trình học một ngoại ngữ” [dẫn theo 9, tr.8]
Trong công trình Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng của Nhà xuất bản
Longman năm 1985, lỗi ngôn ngữ được định nghĩa như sau: “Lỗi của ngườihọc (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là
Trang 13hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữpháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc ngườigiỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc là chưa đầy đủ” [dẫn theo 32, tr.13] Như
vậy, so với quan điểm của S.P Corder, quan điểm của các tác giả trong Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng về lỗi ngôn ngữ có phần đơn giản hơn.
Nhà ngôn ngữ học Hendrickson cũng có chung quan điểm khi nhìnnhận lỗi ngôn ngữ như một hiện tượng xảy ra trong quá trình tiếp nhận ngoạingữ của người học Ông cho rằng lỗi ngôn ngữ là một hình thức biểu đạt, mộtphát ngôn hoặc một kết cấu mà giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng khôngthể chấp nhận được, bởi lý do cách sử dụng không hợp lý của chúng, hoặc là
sự vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường Tác giả nhấn mạnh,trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ thứ hai, sự khoan dung của người dạytrong việc mắc lỗi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí người học Tác giảkhẳng định khi giáo viên khoan dung hơn trong đối với một số lỗi của ngườihọc thì sẽ giúp cho người học sẽ cảm thấy tự tin hơn khi sử dụng ngôn ngữ
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, các nhà ngôn ngữ học nhìn nhận lỗingôn ngữ như một sự sai lệch về âm vị hoặc sai lệch về quy tắc cấu trúc,một dạng thức sử dụng hoặc là diễn đạt không chuẩn mực của người họctrong những tình huống cụ thể Phần lớn các nhà ngôn ngữ học nhìn nhậnbản chất của việc mắc lỗi như những biểu hiện của hoạt động tích cựcnhằm kiểm nghiệm các giả thuyết của mình về bản chất ngôn ngữ mìnhđang học Dưới góc độ sư phạm, lỗi cung cấp cho người dạy những thông tin
vô cùng quý báu để đưa ra quyết định nên chú ý hơn tới những phần nàotrong quá trình dạy học
Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về lỗi ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữhọc ứng dụng đã phân biệt hai loại lỗi, đó là “lỗi” (error) và “lầm” (mistake)
Lỗi (error) hình thành do những tri thức về ngôn ngữ đích (ngôn ngữđược học) còn hạn chế Tác giả S.P Corder cho rằng, loại lỗi này lặp đilặp lại nhiều lần, mang tính hệ thống và cần được đặc biệt qun tâm và
Trang 14đây chính là đối tượng của phân tích lỗi Tuy nhiên theo gợi ý của W.T.Little Wood “tiêu chí đáng tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên(regularity)- chứng cớ tốt nhất mà một lỗi (error) phản ánh hệ thống chiềusâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học”[25, tr.8] Theo gợi ý này, chúng tôi chỉ khảo sát những lỗi có tần số xuấthiện nhiều lần.
Loại lỗi thứ hai được các nhà ngôn ngữ học phân biệt là “mistake”(lầm) Loại lỗi này, theo các nhà nghiên cứu, chúng thường xuất hiện donhững yếu tố tâm lý, sinh lý của người học Khi họ không đảm bảo về sứckhỏe như mệt mỏi, lơ đãng, thiếu quan tâm, không tập trung học tập Nhữngloại lỗi này không xuất hiện thường xuyên và có tính chất ngẫu nhiên, khôngtạo thành hệ thống nên chúng không được coi là đối tượng phân tích lỗi
Trong quá trình nghiên cứu các loại lỗi để thực hiện luận văn của mình,căn cứ vào đối tượng khảo sát với phạm vi là lỗi tiếng Việt của học sinhbậc học THCS thông qua các bài làm văn nên tác giả không phân định rõràng và chi tiết các loại theo những tiêu chí phân loại như trên Do đó,trong quá trình khái quát và phân tích các kết quả khảo sát thực tế, tác giả sửdụng thuật ngữ cơ bản “lỗi ngôn ngữ” cho toàn bộ các nội dung, hiện tươngngôn ngữ
1.1.2 Một số hướng nghiên cứu về “lỗi ngôn ngữ”
Lỗi ngôn ngữ được nghiên cứu từ sớm, và trải qua nhiều giai đoạn khácnhau, cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội, lỗi ngôn ngữ được các nhàkhoa học nhìn nhận cũng có những thay đổi nhất định theo các cách khácnhau Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung trình ba khuynhhướng nghiên cứu cơ bản nhất về "lỗi ngôn ngữ" bao gồm: thuyết hành vi - cơ
sở lí thuyết của phân tích tương phản, phương pháp phân tích tương phản vàphân tích lỗi
1.1.2.1 Thuyết hành vi
Những năm đầu thế kỷ XX, tâm lý học thế giới nghiên cứu tâm lý
Trang 15người thường thiên về cảm nhận chủ quan của các nhà khoa học Chính vìvậy, thuyết tiếp cận hành vi ra đời là một trong những nỗ lực lớn của các nhàkhoa học thời kỳ này để khắc phục khuyết điểm đó Giữa thể kỷ XX, tâm lýhọc hành vi ra đời, đây là trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự pháttriển của tâm lý học thế giới trong suốt thế kỷ XX với các đại biểu xuất sắccủa trường phái này là các nhà tâm lý học hàng đầu như: A.Bandura, B.F.Skinner, E.C Tolman, J.B.J Watson ,…
Theo quan điểm của thuyết hành vi, mỗi con người có khả năng thựchiện nhiều hành vi khác nhau, con người là một tổ chức Sự xuất hiện củanhững hành vi này phụ thuộc vào các yếu tổ chủ yếu trong quá trình học, đólà: kích thích (stimulus) để tạo ra hành vi phản ứng (respone) và củng cố(reinforcement) nhằm khẳng định sự phù hợp (hay không phủ hợp) củaphản ứng và khuyến khích sự lặp lại (hoặc mất đi) phản ứng trong tương lai
để có được thói quen
Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuyết hành vi nghiên cứu sự thụ đắc ngônngữ thứ hai dựa trên ngôn ngữ thực mà người học đã tạo ra, cùng với đó lànghiên cứu và phân tích, xem xét quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Quagóc nhìn của thuyết hành vi, các nhà ngôn ngữ học cho rằng, việc học ngônngữ thứ hai cũng tương đồng với các hình thức học khác, đó là sự hình thànhthói quen Một thói quen sẽ tạo nên bởi một phản hồi một cách tự động trướcmột kích thích có sẵn Như vậy, chỉ có hành vi nói đúng và chính xác,người học mới có thể học được ngôn ngữ thứ hai Và hành vi này phảithường xuyên được củng cố, trau dồi thì thói quen mới được hình thành.Cũng theo thuyết hành vi, trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai, dù làlỗi đơn giản hay phức tạp, nhiều hay ít cũng phải được ngăn chặn ngay từđầu, bởi đó là sự lệch chuẩn, không được chấp nhận và phải khắc phụcbằng mọi cách Lỗi là những nhân tố chủ yếu ngăn cản việc hình thànhthói quen sử dụng ngôn ngữ đích và là những biểu hiện không tốt cho việchọc tiếng Lỗi là những nhân tố ngăn cản việc hình thành thói quen sử
Trang 16dụng đúng ngôn ngữ đích và là những biểu hiện không tốt cho việc học tiếng.Theo thuyết hành vi, hai vấn đề chính gây lỗi trong quá trình người họctiếp nhận ngôn ngữ thứ hai đó chính là thói quen và sự chuyển di ngônngữ
* Thói quen
Dưới góc nhìn của thuyết hành vi, các nhà ngôn ngữ học cho rằng, thóiquen được hình thành trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của con người cả khihọc tiếng mẹ đẻ cho đến khi học ngôn ngữ thứ hai Thói quen được hình thànhtrong điều kiện có một kích tích dẫn đến những phản ứng thông qua bắt chước
và phản xạ
Thói quen có hai đặc trưng quan trọng, đó chính là chúng có thể quan sátđược và mang tính tự động Vì mang tính tự động nên việc xóa bỏ thói quen làhết sức khó khăn, cho nên muốn thay đổi được thói quen, phải thay đổi môitrường, lúc đó các kích thích dẫn đến thói quen sẽ không còn Cũng theo thuyếthành vi, thói quen được hình thành từ những kích thước đặc biệt có liên hệ vớimột phản ứng đặc biệt Watson là một nhà tâm lý học tiêu biểu đại diện chothuyết hành vi Ông cho rằng, kích thích sẽ gợi ra phản ứng, có nghĩa là nếukích thích xuất hiện thì phản ứng theo đó cũng xuất hiện theo Còn đối vớiSkinner, ông nhấn mạnh đến phản ứng mà không quan tâm đến tầm quantrọng của kích thích, bởi theo ông, hành vi tiếp theo của phản ứng sẽ củng cố,
và qua đó giúp cho việc tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng Kết quả làviệc học một thói quen cần diễn ra qua sự bắt chước hoặc qua củng cố
Các nhà ngôn ngữ học cho rằng, việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai diễn ragiống như quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất Bởi theo họ, sở dĩ trẻ em cóthể nắm vững được tiếng mẹ đẻ là do chúng bắt chước các phát ngôn củangười lớn tạo ra Khi đó, đứa trẻ sẽ tạo cho mình một sự hiểu biết về các mẫuhoặc hình thành nên những thói quen ngôn ngữ mà chúng được chỉ dạy Vàquá trình học ngôn ngữ thứ hai cũng diễn ra như vậy, bắt chước và củng cố lànhững phương tiện quan trọng mà người học dùng để tạo nên sự liên kết giữa
Trang 17các kích thích phản ứng, và sự liên kết này hình thành nên thói quen của ngônngữ thứ hai Khi các nhiệm vụ được phân thành một số các mối liên hệ kíchthích quá trình học ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai thành công, vàmối liên hệ này đòi hỏi người học luyện tập một cách có hệ thống mới có thểnắm vững chúng.
* Sự chuyển di ngôn ngữ
Sự chuyển di là sự áp dụng những hiểu biết có trước trong tình huống
A vào việc học trong tình huống B, điều này được vận dụng vào trong lýthuyết về quá trình học nói chung (không chỉ ngôn ngữ)… “Chuyển di ngônngữ là chiến lược mà người học áp dụng những tri thức có sẵn về ngôn ngữnguồn vào việc hình thành những giả thuyết về ngôn ngữ đích” [21, tr 19]
Theo quan điểm của thuyết hành vi, trong quá trình thụ đắc ngôn ngữthứ hai, các thói quen cũ sẽ giao thoa với các thói que mới, vì vậy dẫn tới hiệntượng chuyển di Điều này có nghĩa là khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, ở chỗ màngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có cùng một ý nghĩa, tuy nhiên ýnghĩa đó được thể hiện theo các cách khác nhau thì khả năng lỗi sẽ xuất hiệntrong ngôn ngữ thứ hai Và cho đến lúc này, người học sẽ có xu hướngchuyển di những hiểu biết của mình từ ngôn ngữ thứ nhất sang ngôn ngữ thứhai Cùng với đó, việc học ngôn ngữ thứ hai có liên quan đến việc hìnhthành những thói quen mới, do đó, người học phải thực sự nỗ lực cố gắng,vượt qua được sự ngăn chặn để hình thành thói quen mới
Quan điểm của thuyết hành vi cũng cho rằng, có hai loại chuyển di, đó làchuyển di tiêu cực và chuyển di tích cực Chuyển di tiêu cực thường xuất hiệnkhi có sự ngăn chặn trước, nó cản trở việc học một thói quen mới Đó cũngchính là thời điểm xuất hiện lỗi khiến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai gặpnhiều khó khăn Ngược lại, sự chuyển di tích cực được hình thành khi thói quenngôn ngữ thứ hai và ngôn ngữ thứ nhất có được sự tương đồng, và lỗi sẽ khôngxuất hiện, lúc này việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai sẽ trở nên dễ dàng hơn
Trang 18Quan điểm học như vậy ảnh hưởng rất nhiều tới việc học ngôn ngữ ởmột số lớp học Ở đó các giáo viên yêu cầu học sinh bắt chước và ghi nhớ một
số cách biểu đạt mẫu đúng rồi cố gắng sử dụng thành thạo những mẫu đó.Nếu mắc bất kì lỗi nào trong quá trình nhắc lại từ, cụm từ, câu thì giáo viên sẽuốn nắn ngay lập tức Lỗi được cho là nên tránh và mắc lỗi là một điều nguyhiểm khi học ngôn ngữ Tuy nhiên, quan điểm này bị loại bỏ triệt để bằngnhững quan điểm khác do N Chomsky đưa ra Theo ông, con người có mộtkhả năng bẩm sinh do đó có thể hướng dẫn các khả năng tạo câu Khả năngbẩm sinh đó sẽ giúp một đứa trẻ tuy mới chỉ lên 5 hoặc 6 tuổi nhưng chúng cókhả năng thụ đắc ngữ pháp của một ngôn ngữ Đó chính là khả năng “ngữpháp phổ quát”, đây cũng chính là khả năng của con người mà ngôn ngữ họcnhằm mục đích theo đuổi
1.1.2.2 Khuynh hướng phân tích đối chiếu
Weireich là một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng với tác phẩm: “Các ngônngữ trong quá trình tiếp xúc” vào đầu những năm 50 của thế kỉ XX Trongtác phẩm này, ông quan tâm đến các hành vi ngôn ngữ của những người songngữ sống trong những cộng đồng thường xuyên sử dụng hai ngôn ngữ cùngmột lúc và ông đã thu được kết quả với phát hiện ra hiện tượng đặc biệt thú
vị Đó chính là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ Từ đó, Weireich đi đến kếtluận: “Những sai lệch so với chuẩn mực của cả hai ngôn ngữ xảy ra tronglời nói của người song ngữ là do sự quen thuộc của họ đối với ngôn ngữnày hay đối với ngôn ngữ kia hơn Đó là kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ”[Dẫn theo 10, tr.18] Ông chỉ rõ: “Sự khác biệt giữa hai hệ thống càng lớn…thì vấn đề gây ra cho việc học và phạm vi giao thoa tiềm năng càng nhiều”[Dẫn theo 10, tr.18] Sau này, tư tưởng của ông được Lado và nhiều nhà ngônngữ học đối chiếu khác trên thế giới phát triển thêm khi họ tiến hành so sánhđối chiếu giữa ngôn ngữ và văn hóa của tiếng mẹ đẻ và văn hóa của ngônngữ đích để dự báo những khó khăn hoặc các lỗi tiềm năng của người học
sẽ mắc phải trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai
Trang 19Như vậy, theo quan điểm ngôn ngữ học, khuynh hướng phân tích đốichiếu đặc trưng đầu tiên là dựa trên quan điểm lý thuyết hành vi, coi việc thụđắc ngôn ngữ là hình thành một thói quen Thứ hai, khuynh hướng này cũnggiống như lý thuyết hành vi cho rằng lỗi xuất hiện do chuyển di tiêu cực củaquá trình giao thoa hai ngôn ngữ mà không có những nguyên nhân khác Thứ
ba, khuynh hướng phân tích đối chiếu cũng cho rằng lỗi là sự thể hiện khôngthành công và cần phải loại trừ Thứ tư, khuynh hướng này so sánh hai hệthống ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai) để tìm ra những điểm khácnhau nhằm tiên đoán và ngăn chặn lỗi
1.1.2.3 Khuynh hướng phân tích lỗi
Khuynh hướng phân tích lỗi ra đời vào cuối những năm 60 với nhữngcái tên tiêu biểu S.P Corder, Selinker, William Nemser, E.Tarone,… Khuynhhướng phân tích lỗi đi vào nghiên cứu và phân tích các lỗi do người học ngônngữ gây ra hay là quá trình xác định sự tác động, bản chất và nguyên nhâncũng như kết quả của việc học ngôn ngữ không hiệu quả và nguyên nhân tạonên sự hạn chế trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai của người học
1.1.3 Các hướng phân tích lỗi
Lý thuyết phân tích lỗi được S.P Corder khởi xướng và tiên phongnghiên cứu Theo S.P Corder, việc nghiên cứu và phân tích các lỗi do ngườihọc ngôn ngữ gây ra đó chính là đối tượng trọng tâm của phân tích lỗi, haynói một cách cụ thể, đây là quá trình xác định sự tác động, bản chất vànguyên nhân cũng như kết quả của việc học ngôn ngữ chưa thành công Phântích lỗi chú ý đến quá trình năng lực giao tiếp và tập trung vào phân tích lỗicủa người học, phân loại lỗi, miêu tả lỗi đồng thời đánh giá mức độ nghiêmtrọng của lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ
S.P Corder lý giải, trong việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, giống nhưngôn ngữ thứ nhất, người học cũng sử dụng các chiến lược tươngđồng Tuy vậy, hai quá trình này không hoàn toàn giống nay Cácnhà nghiên cứu đã biết được rất nhiều về quá trình thụ đắc ngôn ngữ, từ
Trang 20việc phân loại lỗi mà người học mắc cho đến xem xét các chiến lược màngười học ngôn ngữ sử dụng Với người học, lỗi là cái gì đó “không thểtránh khỏi” và phải mắc lỗi mới có thể học được ngôn ngữ thứ hai, lỗi được
ví như những lần vấp ngã nhưng đứng dậy mạnh mẽ hơn và sẽ không còn vấpngã nữa, vì kinh nghiệm đã được hình thành, phẩm chất và năng lực ngôn ngữnhờ đó mà được tôi luyện
Chúng ta thấy rằng, việc phân tích lỗi của người học giúp chúng tahiểu được quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai một cách toàn diện hơn Từ đó,giáo viên sẽ có phương pháp và kịp thời giúp người học có thể sửa chữa lỗi
để họ có thể đạt được kết quả tốt khi học ngôn ngữ thứ hai
* Các giai đoạn phân tích lỗi
Theo S.P.Corder để giúp người học học được những gì họ cần và giúpcác giáo viên không can thiệp sâu vào quá trình học của người học cần phải
có một cách phân tích hệ thống các lỗi của người học Trong quá trình nghiêncứu về lỗi, S.P.Corder chỉ ra ba giai đoạn phân tích lỗi cơ bản, đó là:
(i) Nhận diện lỗi (Recognition of errore)
(ii) Miêu tả lỗi (Description of errore)
(iii) Giải thích lỗi (Explanation of errore)
(i) Nhận diện lỗi (Recognition of errore)
Trong giai đoạn này, S.P.Corder phân thành ba loại lỗi:
- Lỗi trước hệ thống: là những lỗi mà người học mắc phải khi họđang cố gắng nắm vững một kiến thức mới
- Lỗi hệ thống: là những lỗi xuất hiện khi người học hình thành giảthuyết không chính xác về ngôn ngữ đích
- Lỗi sau hệ thống: là lỗi xảy ra khi người học tạm thời quên một kiếnthức mà họ đã nắm và hiểu trước đó
Một quy luật chung mà Corder đưa ra là để nhận diện lỗi, ta phải xemxét hình thức và nội dung của phát ngôn
Trang 21Về hình thức, cần xem xét phát ngôn có cấu tạo ngữ pháp đúngvới ngôn ngữ đích hay không Nếu đúng thì xét tiếp về mặt nội dung, nếusai thì sẽ chuyển sang miêu tả và giải thích lỗi.
Về nội dung, cần xem xét phát ngôn có nghĩa trong ngữ cảnhhay không Khi phát ngôn đó đúng với ngữ pháp của ngữ đích và có nghĩa thìcâu đó là đúng và không cần phải xem xét, phân tích lỗi Nếu sai, phảichuyển sang giai đoạn miêu tả và giải thích lỗi
Sự giải thích này được gọi là "diễn giải có căn cứ" Sau đó các phátngôn được tái tạo lại dựa trên các quy ước của ngôn ngữ đó Việc đó được gọi
là "tái tạo có căn cứ"
Nhìn một cách khái quát, S.P Corder cho rằng tất cả các câutrong ngôn ngữ của người học đều được coi là “có thể sai” cho đến khi xácminh được chúng Và ông nhận định “nhận diện lỗi chủ yếu phụ thuộc vào sựdiễn giải chính xác của người học” Người dạy có thể yêu cầu người họcgiải thíc khi muốn biết họ định nói gì, và có thể yêu cầu họ giải thích bằntiếng mẹ đẻ Sau đó, giáo viên dịch ngôn ngữ đó sang ngôn ngữ đíchmột cách chính xác cả nội dung và hình thức Từ đó, ta có thể so sánh câunày với câu ban đầu mà người học đã sai
Trong trường hợp giáo viên không tiếp cận được với người học thìnhững gì gọi là "diễn giải hợp lí" và "tái tạo hợp lí" có thể được tiến hànhbằng cách nghiên cứu kết cấu nổi của các câu trong bài Sau đó xây dựng lạicác phát ngôn để truyền đạt những điều mà người học muốn nói Để xác địnhlỗi thì ta phải so sánh những phát ngôn gốc với những câu tái tạo có căn cứ vànhững câu tái tạo hợp lí Khi ta đã nhận diện được lỗi thì chuyển sang giaiđoạn miêu tả lỗi
(ii) Miêu tả lỗi (Description of errore)
Ở giai đoạn này các phát ngôn không đúng về mặt hình thức hoặc nộidung ở giai đoạn nhận diện lỗi sẽ được xử lí trong giai đoạn này Trong giaiđoạn này, người dạy sẽ đưa ra một cặp phát ngôn: một phát ngôn sai của
Trang 22người học và một phát ngôn được sửa đúng với ngữ đích Hai phát ngôn này
sẽ được đưa ra so sánh để người dạy chỉ ra và miêu tả một cách rõ ràng sự sailệch của người học trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Đặc biệt, ở giaiđoạn này, người dạy nên tìm những lỗi lặp đi lặp lại để có thể khái quát cácloại lỗi mà người học thường mắc phải, từ đó có biện pháp giảng dạy hiệuquả hơn
Giáo viên sẽ chỉ cho người học thấy rõ họ đã thất bại như thế nào khikhông hiểu được thông tin mong đợi Theo Mc Donough, không nên chorằng tất cả người học đều có một quy trình mắc lỗi chung và không nên giảđịnh một người học ở những thời điểm khác nhau sẽ không mắc cùng một lỗi
Theo cách này thì chỉ những lỗi hệ thống được xem xét Tuy nhiênCorder cho rằng điều này không hợp lí và chúng ta nên tìm những lỗi lặp đilặp lại để quan sát được quy tắc mà người học đang sử dụng và cố gắng miêu
tả nó Đây là một nhiệm vụ khó khăn vì người học có lẽ không nhất quántrong lỗi của mình Corder đồng ý rằng tính nhất quán là một đặc điểm của lỗihơn là tính hệ thống Khi lỗi đã được miêu tả hợp lí thì chuyển sang giai đoạncuối là giải thích lỗi
(iii) Giải thích lỗi (Explanation of errore)
Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình phân tích lỗi chính là
giai đoạn giải thích lỗi Nếu như hai giai đoạn trước, việc phân tích lỗi chỉđược nhìn ở góc độ ngôn ngữ học thì ở giai đoạn này, việc phân tích lỗi đượcnhìn nhận dưới góc độ tâm lí ngôn ngữ học Việc phân tích lúc này phải dựavào tiếng mẹ đẻ của người học ngôn ngữ thứ hai Có hai cách giải thích
về nguyên nhân mắc lỗi:
Nguyên nhân thứ nhất là do người học chuyển di những thói quentrong học quá trình tiếng mẹ đẻ của họ sang tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai Vàtheo đó, rất khó để hình thành những thói quen mới
Nguyên nhân thứ hai là nguyên nhân “vượt tuyến” Đây là việc ngườihọc sử dụng những tri thức đã có hoặc tri thức suy đoán trong quá trình
Trang 23tri nhận ngôn ngữ để phát triển năng lực ngôn ngữ của mình dẫn đến việc tạo
ra các lỗi vượt ra khỏi chuẩn mực của ngôn ngữ thứ hai
Giải thích lỗi chủ yếu vẫn là suy đoán vì cùng một lỗi nhưng lại đượcxem xét ở nhiều quan điểm khác nhau Ví dụ khi các em sử dụng ngôn ngữmạng trong bài viết của mình như: a (anh), ngĩ (nghĩ), ko (không), Mắc lỗinày có thể do các em muốn tiết kiệm thời gian, muốn viết nhanh hoặc có thể
do các em có tâm lí muốn thể hiện cái tôi của mình, muốn mình trở nên nổibật, Giải thích lỗi là hệ quả của quá trình nhận diện và miêu tả lỗi
Mỗi một giai đoạn của phân tích lỗi đều có một số vấn đề cần giảiquyết Hiểu biết sâu sắc về những vấn đề này cũng như nắm được các phươngpháp tốt để khắc phục là một điều rất cần thiết
* Ý nghĩa của lỗi và phân tích lỗi
Trước hết, có thể khẳng định, trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứhai, lỗi là điều tất yếu xảy ra Việc mắc lỗi và sửa lỗi chính là một cách thứcngười học sử dụng để tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai một cách hiệu quả
Đối với người dạy, lỗi giúp giáo viên nắm bắt được trình độ của họcsinh, từ đó, đưa ra phương pháp giảng dạy tốt nhất, giúp người học khắc phụcđược hạn chế trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai
Ở góc độ khoa học ngôn ngữ, có thể thấy, lỗi cung cấp cho c á c nhànghiên cứu những chứng cứ quan trọng về việc ngôn ngữ đã được học nhưthế nào, người học đã sử dụng chiến lược học ra sao, dùng những biệnpháp gì trong quá trình khám phá ngôn ngữ
Như vậy, có thể thấy rằng, việc phân tích lỗi có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc giải thích cơ chế thể hiện ngôn ngữ của người học, nghĩa lànghiên cứu những chiến lược học và những giả thuyết mà người học đã sửdụng để tạo ra ngôn ngữ riêng của mình Đồng thời, từ việc phân tíchnhững lỗi sai của người học, có thể tìm ra những phương pháp phù hợp hơn
để sửa lỗi, giúp người học hoàn thiện hơn về khả năng sử dụng ngôn ngữđích của mình Trong luận văn này, những quan điểm về lỗi của khuynh
Trang 24hướng phân tích lỗi chính là những tiền đề lí luận quan trọng để chúng tôiphân tích lỗi viết tiếng Việt của học sinh THCS trong quá trình học tiếngViệt.
1.1.4 Một số cách phân loại lỗi
Như chúng ta đã biết, cho đến nay, lỗi ngôn ngữ được nhìn nhận vàđánh giá dưới nhiều góc nhìn khác nhau, vì vậy, việc phân loại lỗi cũnghết sức đa dạng và phức tạp
1.1.4.1 Phân loại lỗi theo góc độ miêu tả (Descriptive taxobnomy)
Theo Durlay, Burt và Krashen, phân loại theo góc độ miêu tả có hailoại lỗi: lỗi theo góc độ ngôn ngữ học và lỗi ở kết cấu bề mặt
* Lỗi theo góc độ ngôn ngữ học
Lỗi này được phân theo vị trí mà lỗi được xác định trong hệ thống tổngthể của ngôn ngữ đích dựa trên những thành phần ngôn ngữ ảnh hưởng bởi lỗi.Trước hết nó chỉ ra trong lĩnh vực hay bộ phận nào của ngôn ngữ thì lỗi đượcxác định: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn hay văn bản Sau đó sẽ phân loạichi tiết những đơn vị ngôn ngữ có lỗi Bước tiếp theo là xem xét các nhóm lỗi.Việc phân loại này rất hữu ích và có thể giải quyết được nhiều loại lỗi
* Lỗi ở kết cấu bề mặt
Cách phân loại này được James gọi là phân loại những biến thể ngônngữ đích vì nó dựa trên những cách mà những kiểu mắc lỗi của người họckhác với kiểu lỗi được cho là của ngôn ngữ đích Durlay, Burt và Krashenmiêu tả cách phân loại này dựa vào cách các kết cấu bề mặt bị thay đổi Ở đâyngười học thay đổi hoặc làm biến đổi hình thức biểu đạt của ngôn ngữ đíchbằng nhiều cách Dưới đây là năm kiểu loại lỗi người học hay mắc phải: lỗitỉnh lược, lỗi thêm vào, lỗi lựa chọn sai lầm, lỗi dùng sai trật tự và lỗi trộn lẫn
1.1.4.2 Phân loại lỗi theo các tiêu chí cụ thể
Luận văn dựa theo cách phân loại của James (1998), cách phân loại nàydựa vào ba tiêu chí cụ thể: thể thức/phương thức, phương tiện và trình độ
Trang 25Tiêu chí thể thức nói đến liệu hành vi của người học là tiếp nhận hay sản sinhTiêu chí phương tiện muốn nói liệu ngôn ngữ được sản sinh hay tiếp nhận ởdạng nói hay viết Việc kết hợp xem xét cả phương thức và phương tiện sẽcho phép xác định rõ được kĩ năng nào bị mắc lỗi trong các kỹ năng mà ngườihọc đang sử dụng, lỗi nói, viết, nghe hay đọc Ngoài ra còn có thể xác địnhđược trình độ ngôn ngữ của người học ở thời điểm mắc lỗi Có 3 trình độngôn ngữ: mức độ chất liệu (substance), đoạn văn (text), diễn ngôn(discourse) Dưới đây là bảng thể hiện 3 loại lỗi, mỗi loại lỗi này được chiathành 12 lỗi cụ thể:
Bảng 1: Các mức độ lỗi
1 lỗi mã hóa khi nói
10 lỗi khi trình bàymột diễn ngôn viết (tạolập sai)
3 lỗi giải mã khi nghe
12 lỗi khi xử lí diễnngôn viết
12 lỗi này có thể chia nhỏ tiếp thành nhiều kiểu loại lỗi nhỏ khác nhau:
a Lỗi chất liệu
(1) Lỗi đánh vần sai: Loại lỗi này có hai biểu hiện chủ yếu là viết sai
và lỗi phát âm sai Lỗi viết thuộc mức độ văn bản và diễn ngôn liên quan đếnliên kết và tính không mạch lạc Ngoài lỗi đánh vần sai còn có các loại lỗichất liệu khác liên quan đến viết được gọi là lỗi cơ học 3 loại lỗi này là: lỗi
Trang 26về phép chấm câu; lỗi đánh máy, lỗi trình bày; lỗi chính tả.
Trang 27(2) Lỗi phát âm sai
b Lỗi đoạn văn
Lỗi này bắt nguồn từ việc người học không biết quy tắc ngữ pháp và từvựng dẫn đến sử dụng sai các quy tắc ngữ pháp - từ vựng của ngôn ngữ
(1) Lỗi từ vựng
Richard đưa ra các tiêu chí xem xét một từ gồm: mặt hình thái; đặcđiểm cú pháp; chức năng và phạm vi sử dụng của từ; khả năng kết hợp; đặctrưng ngữ nghĩa và tần số xuất hiện của từ
(2) Lỗi ngữ pháp
Lỗi này thường được xét ở khía cạnh hình thái học (liên quan đến kếtcấu từ) và cú pháp (liên quan đến các kết cấu lớn hơn từ) Tương ứng là hailoại lỗi: lỗi hình thái học và lỗi cú pháp Lỗi cú pháp gồm lỗi về cụm từ, lỗimệnh đề, lỗi câu và lỗi liên kết câu
c Lỗi diễn ngôn
Chủ yếu là lỗi về mạch lạc và ngữ dụng học ngôn ngữ
1.1.4.3 Phân loại lỗi theo góc độ giải thích
Dựa vào nguồn gốc, các nhà ngôn ngữ học ứng dụng như S.Slinker,J.C Rechards, R.Ellis và James cho rằng có năm loại lỗi xuất hiện trong quátrình học một ngoại ngữ, đó là lỗi giao thoa với tiếng mẹ đẻ (interlingualeror), lỗi tự ngữ đích (intralingual eror), lỗi do chiến lược học (learningstrategies) lỗi do chiến lược giao tiếp (communication strategies), lỗi xuấthiện do quá trình giảng dạy (teaching induced errors) Trong đó, lỗi tự ngữđích là lỗi sinh ra do những yếu tố trong nội bộ ngôn ngữ đích; lỗi giao thoa
là lỗi sinh ra do người học mượn những tri thức có trước từ tiếng mẹ đẻ đểkhám phá ngôn ngữ đích Ba loại lỗi sau (lỗi do chiến lược học, lỗi do chiếnlược giao tiếp và lỗi xuất hiện do quá trình giảng dạy) thường được quy vềnguyên nhân tạo lỗi
* Lỗi giao thoa với tiếng mẹ đẻ
Là lỗi do người học sử dụng những tri thức của tiếng mẹ đẻ để áp dụng
Trang 28vào ngôn ngữ đích Kết quả là hiện tượng chuyển di ngôn ngữ được diễn ra,
và kéo theo đó là lỗi giao thoa với tiếng mẹ đẻ xuất hiện
Khi học và sử dụng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ, người họcthường tiếp nhận và hình thành thói quen ngôn ngữ mới dưới áp lực của thóiquen bản ngữ Điều này có thể gây trở ngại cho người sử dụng ngoại ngữ khigiao tiếp với người bản ngữ của ngôn ngữ đó nếu như không ý thức một cáchđầy đủ sự khác biệt về cấu trúc ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp,… giữa tiếng
mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai Hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ này ở người nóisong ngữ được gọi là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ
Các nhà nghiên cứu cho rằng, hiện tượng giao thoa ngôn ngữ có tácdụng giúp cho quá trình học ngôn ngữ mới được tốt hơn (giao thoa tích cực).Tuy nhiên, trong một số trường hợp, phụ thuộc vào các yếu tố tác độngkhách quan, chủ quan, cũng có một số hiện tượng giao thoa gây trở ngại choquá trình học ngôn ngữ mới (giao thoa tiêu cực)
Giao thoa tích cực là việc tao ra sự tương đồng từ ngôn ngữ mẹ đẻ vàngôn ngữ thứ hai Nhờ những ảnh hưởng thuận lợi của ngôn ngữ mẹ đẻ, ngônngữ thứ hai được tiếp thu nhanh hơn và ít bị mắc lỗi
Giao thoa tiêu cực là hiện tượng người sử dụng ngôn ngữ thứhai chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ khiến cho lời nói có những biểuhiện, những đặc điểm của ngôn ngữ mẹ đẻ dẫn đến lời nói bằng ngônngữ thứ hai bị lệch chuẩn Những ảnh hưởng này gây trở ngại cho quátrình thụ đắc ngôn ngữ mới
* Lỗi tự ngữ đích
Đây là lỗi nảy sinh trong bản thân ngôn ngữ đang được học, không phụthuộc và liên quan đến tiếng mẹ đẻ Lỗi tự ngữ đích là lỗi được tạo ra dongười học sử dụng những tri thức đã biết về ngôn ngữ đích tạo ra những sảnphẩm ngôn ngữ mới Những lỗi này rất thường xuyên xảy ra, không kể đếnphông ngôn ngữ của người học (language background)
Trang 29Về cách phân loại lỗi ngôn ngữ, trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảosát lỗi viết tiếng Việt của học sinh THCS Đó là các lỗi viết sai chính tả, dùngsai từ, viết sai cấu tạo ngữ pháp của học sinh trong các bài viết định kì củacác em trong năm học Cụ thể, trong luận văn này, chúng tôi phân chia cácloại lỗi viết tiếng Việt của học sinh thành 3 loại: lỗi chính tả, lỗi dùng từ vàlỗi ngữ pháp.
Lỗi chính tả là cách viết không đúng với chuẩn mực và những quy tắc
về cách viết chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng thức ngôn ngữ viếtcủa chính tả tiếng Việt
Lỗi dùng từ là lỗi mà người học mắc phải khi họ không hiểu hoặc hiểukhông đầy đủ về ngữ nghĩa hay sắc thái ý nghĩa của các từ đã học; khôngthấy được sự khác nhau về nghĩa giữa các từ đã được học dẫn đến sửdụng sai nghĩa của chúng khi sử dụng ngôn ngữ đích
Lỗi ngữ pháp là hiện tượng người học sử dụng sai quy tắc của một haynhiều đơn vị ngữ pháp trong khi tạo câu, bao gồm tất cả các trường hợp sửdụng sai quy tắc của một hay những đơn vị ngữ pháp dẫn đến sự nhiễu loạnhoặc hiểu sai về nghĩa (bình diện nội dung) của một cấu trúc ngôn ngữ
1.1.5 Các nguyên nhân tạo lỗi
Theo quan điểm của phân tích lỗi hiện đại, các nguyên nhân của lỗi là
do người học áp dụng các chiến lược trong qua trình thụ đắc ngôn ngữ thứhai Trong đó, hai chiến lược chính là chiến lược học và chiến lược giao tiếp
1.1.5.1 Nguyên nhân từ chiến lược học
Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, người học sử dụng cácchiến lược giả định, suy luận, áp dụng các quy tắc không hoàn hảo, dư thừa,chuyển di, vượt tuyến, thậm chí là bỏ qua quy tắc của ngôn ngữ thứ hai Đóchính là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến lỗi ngôn ngữ Cụ thể như sau
* Lỗi sinh ra do giả định/ suy luận sai
Khi học một kết cấu ngữ pháp mới hay một từ ngữ mới, người học giảđịnh nhầm rằng một yếu tố B mới (trong kết cấu ngữ pháp hay trong kết
Trang 30cấu từ) cũng giống như yếu tố A mà người học đã biết Do đó, người học ápdụng quy tắc sử dụng yếu tố A sang sử dụng cho yếu tố B.
Chẳng hạn, trong tiếng Việt, người học biết rằng từ “cái” là từ chỉ loạithường đứng trước những danh từ chỉ sự vật, đồ vật trong đời sống khách
quan Chẳng hạn như cái bát, cái chai, cái nồi, cái bút, cái thước kẻ,… (A)
và thế là họ giả định là: bát, dao, chai… Chính vì thế, trong quá trình học
tiếng Việt, người nước ngoài thường sử dụng quy tắc này để kết hợp từ chỉloại “cái” với tất cả những danh từ chỉ sự vật khác mà không hề biết rằng,
một số sự vật không thể đi cùng từ chỉ loại này Ví dụ: Cái vở (quyển vở), cái dao (con dao), cái đá (hòn đá, viên đá, cục đá),….
* Lỗi sinh ra do chiến lược chuyển di
Chiến lược chuyển di là sự áp dụng những hiểu biết có trước trongtiếng mẹ đẻ Ở đây, lỗi ngôn ngữ xảy ra khi người học mượn các quy tắc,kết cấu của tiếng mẹ đẻ để đưa vào trong ngôn ngữ đích Có hai loạichuyển di tích cực và tiêu cực trong quá trình chuyển di từ ngôn ngữ thứnhất sang ngôn ngữ thứ hai
Quá trình chuyển di tiêu cực diễn ra khi người học sử dụng nhữnghình thức biểu đạt, những quy tắc,những kết cấu, có ở tiếng mẹ đẻ để hìnhthành những câu mới
Ngược lại, chuyển di tích cực diễn ra khi người học sử dụng nhữngtri thức có trong tiếng mẹ đẻ để từ đó vận dụng và hình thành những giảthuyết về ngôn ngữ đích
* Lỗi sinh ra do chiến lược vượt tuyến
Đây chính là chiến lược mà cả trẻ em học ngôn ngữ thứ nhất và ngườilớn học ngôn ngữ thứ hai rất hay sử dụng Vượt tuyến là chiến lược ngườihọc nới rộng việc sử dụng những quy tắc ra khỏi phạm vi cho phép
Về mặt lý thuyết, vượt tuyến cũng có nét tương đồng với chuyển di ởchỗ người học cùng sử dụng những tri thức có ở tiếng mẹ đẻ để tạo lập nhữngkinh nghiệm mới Tuy nhiên, ở góc độ chiến lược chuyển di, người học sử
Trang 31dụng kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ mà mình có để cấu trúc nên ngôn ngữ đích.Còn trong chiến lược vượt tuyến, người học sử dụng những tri thức đã có sẵn
về ngôn ngữ đích hay sự suy đoán trong quá trình tri nhận ngôn ngữ như mộtphương tiện để phát triển năng lực ngôn ngữ đích của mình
* Lỗi sinh ra do áp dụng quy tắc không hoàn hảo
Đây là lỗi ngược lại với chiến lược vượt tuyến Điều đó có nghĩa là,trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, người học chỉ áp dụng mộtphần quy tắc ngữ pháp chứ không áp dụng toàn bộ quy tắc nhằm đơn giảnhóa quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Ngay từ đầu, người học đã phân tíchcác quy tắc và chia thành nhiều giai đoạn nhỏ hơn, mỗi giai đoạn hoànhảo tại một thời điểm nào đó
* Lỗi sinh ra do người học bỏ qua quy tắc
Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, có những quy tắc ngữ phápngười học chưa nắm được nên họ liền bỏ qua và sử dụng quy tắc ngữ pháptương đương mình đã biết Đó chính là một trong những nguyên nhân tạo lỗi
1.1.5.2 Nguyên nhân từ chiến lược giao tiếp
Chiến lược giao tiếp là cách người học áp dụng khi họ chưa có đủ trithức ngôn ngữ cần thiết Để cố gắng giao tiếp, một người học có thể tạo ranhững câu sai ngữ pháp nhưng vẫn phục vụ được mục đích giao tiếp tức thờicủa mình Chẳng hạn, để nói “đánh răng”, một người nước ngoài có thể nói
“giặt răng”; để nói “cà phê đá”, một người nước ngoài có thể nói “cà phêlạnh”;… Có hai chiến lược giao tiếp thông thường có thể dẫn đến mắc lỗi là
giải thích và vay mượn.
Giải thích là cách người học dùng một từ, một cấu trúc riêng biệt của
ngôn ngữ đích mà người học biết là không được chính xác nhưng có thểchia sẻ được phần nào ý nghĩa với mục đích giúp người nghe hiểu được điềumình định nói
Vay mượn là cách người học trực dịch từng từ theo ngữ pháp của tiếng
mẹ đẻ (dựa vào chuyển di)
Trang 32Thông thường, sự xuất hiện của những lỗi này thường do những nhucầu giao tiếp tức thời trong khi năng lực về ngữ đích còn hạn chế.
1.1.5.3 Nguyên nhân lỗi xuất hiện do quá trình giảng dạy
Stenson là người sử dụng thuật ngữ này đầu tiên để nói về những lỗicủa người học: “là kết quả của những tình huống học trên lớp hơn là từ nănglực không hoàn hảo của người học khi học tiếng (lỗi tự ngữ đích) hoặc là sựgiao thao của ngôn ngữ thứ nhất (lỗi giao thoa)
1.2 Giới thiệu khái quát về địa bàn khảo sát
1.2.1 Giới thiệu khái quát về thành phố Hải Phòng và đặc điểm tiếng Hải Phòng
Hải Phòng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương có diệntích 1527,4 km² thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng Đây là thành phố cảngquan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển, đồng thời cũng là trung tâmkinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùngduyên hải Bắc Bộ Phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc Biển Đông, phía tâygiáp tỉnh Thái Bình, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam giáp tỉnh HảiDương Thành phố có 7 quận và 8 huyện Dân số toàn thành phố tính đến năm
Trang 33ảnh hưởng tiếng nói của vùng đất ấy Đó cũng là một trong các nguyên nhândẫn đến việc mắc lỗi khi viết tiếng Việt.
Người dân sinh sống trên địa bàn thành phố Hải Phòng đều sử dụngtiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp chung Người Hải Phòng ăn sóng nói gió, doảnh hưởng bởi thổ nhưỡng, nguồn nước, thời tiết, nên tiếng Hải Phòng nặnghơn so với Hà Nội và cách phát âm của đa số người Hải Phòng chưa đúngchuẩn Thực tế, người Hải Phòng trong phát âm thường nhầm lẫn giữa L-N,Ch-Tr, X-S, D-R-Gi như một số vùng miền khác ở Việt Nam Đặc biệt, đa sốngười Hải Phòng phát âm sai L-N và ở một số huyện như Tiên Lãng, VĩnhBảo còn lẫn lộn trong phát âm như sau:
- ao phát âm là âu: bảo -> bẩu
- Lẫn lộn dấu thanh:
Ví dụ: Tôi chửa làm -> Tôi chưa làm.
Biết chửa? -> Biết chưa?
- l phát âm là nh: lời-> nhời
- tr phát âm là d: trời -> dời
Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ viết của học sinh tạitrường Trung học cơ sở Quán Toan dẫn đến học sinh mắc các lỗi khi viếttiếng Việt
1.2.2 Giới thiệu về Trường Trung học cơ sở Quán Toan, thành phố Hải Phòng
Trường Trung học cơ sở Quán Toan nằm trên địa bàn phường QuánToan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng Những ngày mới thành lập làtrường phổ thông cấp 1+2 Quán Toan với 3 lớp, học nhờ trên tầng 5, khu nhàA1 của Thị trấn Quán Toan Từ năm học 1981- 1995, trường đổi tên thànhTrường Phổ thông Cơ sở Quán Toan Năm 1995 tách trường với tên gọitrường Trung học cơ sở Quán Toan và trường Tiểu học Quán Toan Năm học2019- 2020 nhà trường có tổng số 20 lớp với 940 học sinh Nhà trường ra đờimang trong mình trọng trách đem con chữ tới những học sinh ở khu vực Quán
Trang 34Toan - nơi cách xa trung tâm thành phố và còn nhiều thiếu thốn Trải qua 35năm phát triển và trưởng thành, các thế hệ thầy giáo, cô giáo và học trò nhàtrường luôn cố gắng vươn lên khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốtnhiệm vụ của người thầy, đóng góp vào công cuộc trồng người của thành phốCảng nói riêng và nước Việt Nam nói chung
Quán Toan là phường xa trung tâm thành phố, là nơi đặt các khu côngnghiệp, thu hút lượng lớn dân cư từ nhiều nơi tới đây để làm việc Vì vậy họcsinh của nhà trường ngoài là học sinh trên địa bàn phường còn có một phần làcon em của công nhân ở nhiều huyện và tỉnh thành khác nhau Bố mẹ các emthường làm công nhân ở các khu công nghiệp, thời gian làm việc từ 8 đến 10tiếng, thậm chí có bố mẹ còn làm ca đêm, thời gian ở nhà với các con ít nênkhông theo sát, bảo ban và rèn luyện ngôn ngữ cho con Người thân trong giađình các em ở các vùng quê khác nhau, mới chuyển ra đây sinh sống và làmviệc nên trong sử dụng ngôn ngữ nói và viết còn mang đậm sắc thái địaphương trong sử dụng chính tả, sử dụng từ ngữ, ngữ pháp
Ngoài ra, các em ở độ tuổi từ 11 đến 15, đều mang đặc điểm chung vềlứa tuổi của học sinh trung học cơ sở, các em thích bắt chước người lớn,nhanh nhạy trong nắm bắt những cái mới, học và làm theo những điều mới lạhay tự tạo cho mình phong cách riêng Đặc điểm này vừa là yếu tố thuận lợicũng là yếu tố khó khăn Với ngôn ngữ các em dễ học theo, bắt chước nhữngcách nói, cách viết mà theo các em là độc đáo, phong cách để gây sự chú ývới người khác Các em dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè đồng trang lứa nên nhữngcách viết như vậy rất phổ biến và ảnh hưởng lớn tới việc viết tiếng Việt, khiếncác em mắc lỗi tiếng Việt khá nhiều
Tuy nằm trên địa bàn quận Hồng Bàng song trường nằm xa trung tâmthành phố, ngoài học sinh trên địa bàn thì còn có một phần lớn học sinh tráituyến từ các huyện khác Do đặc điểm của trường cấp II là học sinh không thituyển đầu vào mà chỉ thi chuyển cấp nên trường không được chọn lọc họcsinh mà chuyển 100% học sinh từ cấp I lên dẫn đến việc năng lực của học
Trang 35sinh không đồng đều, mặt bằng chung so với các trường trong trung tâmthành phố còn thấp Kiến thức tiếng Việt của học sinh khi vào trường cónhững lỗ hổng nghiêm trọng thể hiện rõ qua cách giao tiếp, qua những bàivăn, bài kiểm tra: mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ và lỗi ngữ pháp.
Đội ngũ giáo viên Ngữ văn của nhà trường gồm 8 thầy cô giáo, trình độđào tạo chuẩn (tốt nghiệp các trường Đại học sư phạm, khoa Ngữ văn), cótâm huyết với nghề và yêu quý học trò Ngoài sinh hoạt chuyên môn quận,nhà trường còn tổ chức sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn đều đặn 4 lần/tháng
để trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục học sinh Học sinh đượckiểm tra chung giúp các giáo viên nắm được những lỗ hổng trong kiến thức
và có phương pháp giảng dạy thích hợp với từng đối tượng
Trang 36Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, qua việc xem xét các quan điểm khác nhau về lỗi nhưquan điểm của khuynh hướng cấu trúc và hành vi luận, quan điểm của cácnhà ngôn ngữ học chức năng, quan điểm của các nhà ngôn ngữ theokhuynh hướng phân tích đối chiếu và phân tích lỗi, luận văn đã đưa rakhái niệm “lỗi”, phân loại lỗi và phân tích các nguyên nhân tạo lỗi Trên cơ
sở đó, luận văn lấy quan điểm phân tích lỗi do S.P Corder khởi xướng làm
cơ sở lí luận để khảo sát và phân tích lỗi viết tiếng Việt của học sinh trunghọc cơ sở Quán Toan khi viết tiếng Việt
Nghiên cứu về địa bàn khảo sát, tác giả luận văn khái quát những nét
cơ bản nhất về thành phố Hải phòng cũng như những đặc điểm về giọng nóicủa người dân địa phương có tác động và ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngônngữ trong quá trình học tập tại trường Trung học cơ sở Quán Toan Đồngthời, những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Trung học cơ sở lứa tuổi 11-
15, môi trường sống là những nhân tố ngoài ngôn ngữ tác động đến việcviết tiếng Việt của học sinh Từ cơ sở lý thuyết và những đặc trưng của địabàn tác giả đưa ra những lý do biện luận cho phạm vi tư liệu mà mình khảosát và văn tiến hành phân tích thực trạng lỗi tiếng Việt của học sinh trườngTrung học cơ sở Quán Toan Các nội dung sẽ này sẽ được trình bày cụ thểtrong chương 2
Trang 37Chương 2 KHẢO SÁT LỖI VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS QUÁN TOAN, HẢI PHÒNG
2.1 Lỗi viết chính tả của học sinh
2.1.1 Một số vấn đề về chính tả tiếng Việt
2.1.1.1 Chính tả - Chuẩn chính tả
Theo giáo sư Hoàng Phê: “Một ngôn ngữ văn hóa dân tộc không thểkhông có chính tả thống nhất Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp, bằngngôn ngữ viết, mới không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước, cũngnhư giữa các thời đại, đời trước và đời sau Chính tả - đó là cách viết chữđược coi là chuẩn” [30, tr.174 -175] Như vậy có thể hiểu khái quát, nhữngcách viết chữ không đúng so với chuẩn được coi là sai chính tả
Chính tả là sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ Đó là một hệthống các qui tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu,lối viết hoa, viết tắt, viết các chữ số; viết giờ, ngày, tháng, năm, cách thức ghidấu thanh; viết các từ ngữ mượn tiếng nước ngoài, Chính tả phải dựa trênchuẩn mực về ngữ âm và theo những quy tắc trong một hệ thống chữ viết
Chuẩn chính tả là những quy định mang tính xã hội cao, được mọingười trong cộng đồng chấp thuận và đều phải tuân thủ Những quy định đóthường là thói quen trong sự vận dụng thực tiễn, nhưng cũng có thể do các tổchức, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và được xã hội chấp nhận;được coi là chuẩn mực nói chung, là chuẩn chính tả nói riêng Nói cáchkhác, chuẩn chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ,
là những quy định buộc mọi người sử dụng tiếng Việt phải tuân theo.Chuẩn chính tả áp dụng cho văn phong quy phạm, làm thước đo trong ngônngữ của các văn bản quản lí nhà nước bao gồm chuẩn viết các âm (phụ âm,nguyên âm, bán âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng, chuẩn viết phiên âm
từ và thuật ngữ vay mượn Chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau:
Trang 38- Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối vì vậy đòi hỏingười viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Khi đã được thừa nhận làchuẩn chính tả thì những chữ viết có thể chưa hợp lí cũng không được tự ýviết khác đi.
- Chuẩn chính tả có tính chất ổn định và ít thay đổi Vì nó có tính chấtbắt buộc gần như tuyệt đối nên ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác củangôn ngữ như chuẩn ngữ pháp, chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ âm Tính ổn địnhcao của chữ viết và chính tả cũng kéo theo sự ổn định cao của những quyđịnh chuẩn chính tả Vì thế, trên thực tế sử dụng ngôn ngữ, chúng ta thườngthấy những thói quen viết chữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người sử dụngnên khi có sự biến đổi nào đó, người sử dụng cảm thấy khó khăn trong cáchviết, khó thay đổi ngay được cách viết mới Tính ổn định cao của chữ viếtđôi khi cũng gây ra rắc rối cho chính tả Khi ngôn ngữ đã có sự thay đổi vàphát triển khác trước (mặt ngữ âm) mà chính tả vẫn nguyên không thayđổi thì rất dễ nảy sinh các mâu thuẫn, tạo nên những bất hợp lý Chẳng hạntrước đây, trong tiếng Việt có sự phân biệt phát âm giữa D và Gi nhưng đếnnay không còn sự phân biệt nữa Ở góc độ chữ viết, việc phân biệt giữa D và
Gi vẫn là quy định về chính tả Điều này tạo nên sự khó khăn về chính tả màtrên thực tế, chuẩn chính tả cũng đành để ở dạng trung gian
- Mặc dù có tính ổn định cao, song chuẩn chính tả không phải là bấtbiến Khi ngữ âm phát triển, chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu màdần dần sẽ có một sự biến động nhất định Do đó, bên cạnh chuẩn mực chính
tả hiện có, có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song Chính vì vậy,trong quá trình miêu tả lỗi, cần tuân thủ các quy tắc về chính tả hiện hành,tránh tình trạng áp đặt
Trang 39cá nhân không đúng với chuẩn ngôn ngữ, chữ viết quốc gia Về cơ bản chính
tả tiếng Việt thống nhất Song Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, tiếngViệt có nhiều phương ngữ và thổ ngữ nên vẫn có những điểm khác nhau trongcách phát âm Và thực tế trên đất nước ta vẫn tồn tại ba giọng khác nhau:giọng miền Bắc, giọng miền Trung, giọng miền Nam Thậm chí trong cùngmột thành phố vẫn có sự khác nhau giữa giọng của người ở quận, huyện nàyvới người ở quận, huyện khác Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chuẩnchính tả của học sinh khi viết
Có thể thấy giữa phát âm và chính tả có sự qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau.Khi một đứa trẻ chào đời và lớn lên, trong quá trình giao tiếp bằng lời nói vớinhững người xung quanh đã hình thành một diện mạo ngôn ngữ đặc trưng củavùng miền đó Đặc biệt là sự ảnh hưởng từ giọng nói của những người tronggia đình Khi đứa trẻ đó lớn lên, đi học, được tiếp xúc với ngôn ngữ viết chắchẳn sẽ có ảnh hưởng từ những thói quen, diện mạo ngôn ngữ gia đình, địaphương của đứa trẻ đó sinh sống Việc phát âm lệch chuẩn sẽ ảnh hưởng ítnhiều tới chữ viết, học sinh sẽ viết sai lỗi chính tả, mặc dù trong quá trình họctập, các thầy cô giáo đã hướng dẫn để học sinh có thể viết chuẩn chính tả.Thực tế là phát âm chuẩn và viết chính tả chuẩn học sinh đã được học ở cấpTiểu học suốt 5 năm nhưng học sinh tới cấp THPT vẫn mắc lỗi chính tả
2.1.2 Khảo sát lỗi chính tả của học sinh
2.1.2.1 Giới hạn khảo sát và cách thức tiến hành
- Mục đích khảo sát:
+ Đánh giá khách quan thực trạng lỗi chính tả của học sinh THCSQuán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng
+ Tìm hiểu một số lỗi chính tả phổ biến của học sinh THCS Quán Toan
- Đối tượng khảo sát:
Các bài viết (bài làm văn) của học sinh THCS Quán Toan Đây lànhững bài kiểm tra thường xuyên và định kì, đòi hỏi học sinh phải huy độngkiến thức về chính tả, chữ viết, về từ ngữ, ngữ pháp của tiếng Việt Hơn nữa,
Trang 40những vấn đề đặt ra trong đề văn thường là những vấn đề gần gũi, những tácphẩm mà các em đã được học, không quá xa lạ với các em, chính vì thế,khảo sát lỗi ở những bài kiểm tra này sẽ trở nên khách quan hơn.
- Nội dung và phương pháp khảo sát:
+ Để đánh giá một cách khách quan, chúng tôi đã lựa chọn tư liệu ở 20lớp khác nhau chia đều cho 4 khối trong trường
+ Mỗi khối, chúng tôi rút ngẫu nhiên bài kiểm tra ở tất cả các lớp + Để đảm bảo đánh giá khách quan, chúng tôi lựa chọn khảo sát 1 bài/1 học sinh
- Số lượng bài khảo sát: 940 bài
- Nguyên tắc miêu tả lỗi: Khi miêu tả lỗi, chúng tôi tuân thủ chặt chẽ
những nguyên tắc sau:
- Tôn trọng chính tả hiện hành (cách viết trong từ điển)
- Xem xét một âm tiết, một từ trong văn cảnh của nó
2.1.2.2 Kết quả khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát lỗi chính tả của học sinh trường Trung học
cơ sở Quán Toan dựa trên cứ liệu là các bài kiểm tra viết 90 phút và bài thihọc kỳ của các em Qua khảo sát, thống kê tôi thấy học sinh nhà trường còn viphạm quy tắc chính tả Các loại lỗi học sinh thường mắc là: Lỗi phụ âm đầu,lỗi về viết hoa và lỗi viết tắt
Qua khảo sát 940 bài kiểm tra của học sinh THCS Quán Toan, chúngtôi đã thống kê được 2375 lỗi chính tả Trung bình, một bài kiểm tra của họcsinh THCS Quán toan có khoảng từ 2 đến 3 lỗi chính tả Lỗi chính tả của họcsinh lớp 6 có số lượng cao hơn rất nhiều so với lỗi chính tả ở của học sinh lớp
9 Theo thống kê của chúng tôi, trung bình một bài viết của các em học sinhlớp 6 có khoảng từ 3 đến 4 lỗi chính tả, trong khi đó một bài viết của họcsinh lớp 9 có khoảng 1 đến 2 lỗi chính tả Các loại lỗi chính tả cụ thể củahọc sinh THCS Quán Toan được thể hiện cụ thể qua bảng tổng hợp sau
Bảng 2.1: Tổng hợp các lỗi chính tả thường gặp của học sinh