1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở thành phố hồ chí minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

287 217 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 287
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu thực hiện tốt các biện pháp quản lý kiểm định chất lượnggiáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh như: Tổ chức hoạtđộng tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan

Trang 1

NGUYỄN ĐẶNG AN LONG

QU¶N Lý KIÓM §ÞNH CHÊT L¦îNG GI¸O DôC

C¸C TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së ë THµNH PHè Hå CHÝ MINH

TRONG BèI C¶NH §æI MíI GI¸O DôC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

NGUYỄN ĐẶNG AN LONG

QU¶N Lý KIÓM §ÞNH CHÊT L¦îNG GI¸O DôC C¸C TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së ë THµNH PHè Hå CHÝ MINH

TRONG BèI C¶NH §æI MíI GI¸O DôC

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục

Mã số : 914 01 14

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Ngô Minh Tuấn

2 TS Nguyễn Trần Nghĩa

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Đặng An Long

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 5

1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến kiểm định chất lượng giáo

1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý kiểm định chất

1.3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và

GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH

2.1 Những vấn đề lý luận về kiểm định chất lượng giáo dục trường trung

2.2 Những vấn đề lý luận về quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường

trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục 652.3 Những yếu tố tác động tới quản lý kiểm định chất lượng giáo dục

trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục 86

GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ

3.1 Khái quát giáo dục trung học cơ sở và công tác kiểm định chất lượng

3.3 Thực trạng kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở

3.4 Thực trạng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học

3.5 Thực trạng yếu tố tác động đến quản lý kiểm định chất lượng giáo dục

trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh 1293.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục

trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh 130

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ KIỂM ĐỊNH CHẤT

LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở THÀNH

4.1 Định hướng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ

sở thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục 1374.2 Biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ

sở thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục 1394.3 Kiểm chứng các biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các

trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh 164

Trang 5

STT Tên bảng Nội dung Trang

1 Bảng 2.1 Các tiêu chuẩn, tiêu chí trong kiểm định chất

lượng giáo dục trường trung học cơ sở 64

2 Bảng 2.2 Nội dung kế hoạch tự đánh giá trường trung

7 Bảng 3.5 Kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở 96

8 Bảng 3.6 Kết quả hạnh kiểm học sinh trung học cơ sở 96

9 Bảng 3.7 Kết quả thi tốt nghiệp trung học cơ sở trong 3

10 Bảng 3.8 Bảng thống kê kiểm định chất lượng giáo dục

11 Bảng 3.9 Đội ngũ cán bộ đánh giá ngoài cấp trung học cơ

12 Bảng 3.10 Các trường trung học cơ sở tham gia khảo sát 102

13 Bảng 3.11 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo

viên và kiểm định viên về mức độ quan trọngcủa hoạt động kiểm định chất lượng cáctrường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí

14 Bảng 3.12 Kết quả đánh giá của các lực lượng tham gia

khảo sát về việc thực hiện các nội dung tựđánh giá của hoạt động kiểm định chất lượngcác trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ

15 Bảng 3.13 Kết quả đánh giá của các lực lượng tham gia

khảo sát về việc thực hiện quy trình tự đánhgiá của hoạt động kiểm định chất lượng cáctrường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí

16 Bảng 3.14 Thực trạng đội ngũ kiểm định viên cấp trung

Trang 6

sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 113

18 Bảng 3.16 Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát

về quy trình đánh giá ngoài các trường trunghọc cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 116

19 Bảng 3.17 Kết quả khảo sát năng lực làm việc của đội ngũ

tham gia đánh giá ngoài trường trung học cơ sở

20 Bảng 3.18 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý,

kiểm định viên, giáo viên về quản lý kiểmđịnh chất lượng các trường trung học cơ sở

21 Bảng 3.19 Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát về

việc xây dựng kế hoạch tự đánh giá và đánh giángoài các trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ

22 Bảng 3.20 Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát

về mức độ tổ chức tự đánh giá và đánh giángoài các trường trung học cơ sở ở thành phố

23 Bảng 3.21 Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát

về việc chỉ đạo thực hiện tự đánh giá và đánhgiá ngoài các trường trung học cơ sở ở thành

24 Bảng 3.22 Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát về

kết quả kiểm tra, đánh giá hoạt động tự đánh giá

và đánh giá ngoài các trường trung học cơ sở ở

26 Bảng 3.23 Kết quả đánh giá của các lực lượng tham gia

khảo sát về thực trạng các yếu tố ảnh hưởngđến quản lý kiểm định chất lượng giáo dục cáctrường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí

27 Bảng 4.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các

biện quản lý kiểm định chất lượng giáo dục

các trường trung học cơ sở thành phố Hồ Chí

28 Bảng 4.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện

quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các

trường trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh

169

Trang 7

của các biện pháp 171

30 Bảng 4.4 So sánh tương quan thứ hạng tính cần thiết và

31 Bảng 4.5 Số lượng kiểm định viên tham gia thử nghiệm 176

32 Bảng 4.6 Trình độ kiểm định viên tham gia thử nghiệm 176

33 Bảng 4.7 Kết quả đánh giá kiến thức kiểm định chất

lượng của các kiểm định viên trung học cơ sở 178

34 Bảng 4.8 Phân bố (tần suất, tần suất tích lũy) về điểm

của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm 179

35 Bảng 4.9 Kết quả đánh giá kỹ năng của các kiểm định

viên về kiểm định chất lượng giáo dục cáctrường trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh

36 Bảng 4.10 Kết quả đánh giá việc huy động nhân lực để

kiểm định chất lượng giáo dục các trườngtrung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh ở

37 Bảng 4.11 Bảng tần suất và tần suất tích lũy về kỹ năng

kiểm định chất lượng giáo dục các trườngtrung học cơ sở của các kiểm định viên tham

Trang 8

1 Sơ đồ 2.1 Chất lượng giáo dục theo đầu vào - quá trình - đầu

ra của Mỹ (Hoy W.K and Misked C.G, (2001)

2 Sơ đồ 2.2 Cấu trúc tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo đánh giá 65

3 Biểu đồ 3.1 Đội ngũ kiểm định viên cấp trung học cơ sở ở

2 Biểu đồ 3.2 Chất lượng đội ngũ kiểm định viên cấp trung học

3 Biểu đồ 3.3 Mối tương quan đánh giá mức độ năng lực làm

4 Biểu đồ 4.1 Biểu đồ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả

5 Biểu đồ 4.2 Biểu đồ tổng hợp đánh giá việc huy động nhân lực để

kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với sự hưng thịnh của dân tộc, làchìa khóa, động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Giáo dục nước ta đang trong bốicảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp Toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ, côngnghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tácđộng trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới Đổi mới để nângcao chất lượng giáo dục đáp ứng được yêu cầu thay đổi của khoa học công nghệ vàtoàn cầu hóa là nhiệm vụ được chú trọng hàng đầu với mọi nền giáo dục

Ở Việt Nam, chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng và nâng cao chất lượnggiáo dục đang là những vấn đề được Nhà nước và xã hội quan tâm Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh phải “Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục,đào tạo ở tất cả các bậc học” [2] Trong Luật giáo dục năm 2005 cũng nêu rõ “Kiểmđịnh chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiệnmục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dụckhác Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cảnước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục đượccông bố công khai để xã hội biết và giám sát Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cótrách nhiệm chỉ đạo thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục” [6]

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 cũng đã xác định: Để đạtđược mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục, chúng ta cần thực hiện tốt 8 giải pháp,trong đó “Đổi mới quản lý giáo dục” là giải pháp mang tính đột phá, giải pháp đãnêu rõ: “Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu ra và các điềukiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về khoa học giáodục, khoa học công nghệ và khoa học quản lý, từng bước vận dụng chuẩn của cácnước tiên tiến; công khai về chất lượng giáo dục, các điều kiện cơ sở vật chất, nhânlực và tài chính của các cơ sở giáo dục; thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng

và hiệu quả giáo dục; xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục,thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo vàkiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học” [17]

Trang 10

Kiểm định chất lượng giáo dục được xác định là một giải pháp quản lý đểnâng cao chất lượng giáo dục Trong những năm gần đây, công tác này tiếp tụcđược đổi mới, các giải pháp phát huy hiệu quả, góp phần duy trì đảm bảo và nângcao chất lượng giáo dục các nhà trường Các cấp quản lý giáo dục, các nhà trườngđược tiếp cận với mô hình quản lý hiện đại, tiên tiến Qua tự đánh giá, đánh giángoài, nhiều nhà trường đã thấy được hiện trạng chất lượng, điểm mạnh, điểm yếu

và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sát thực và hiệu quả hơn Kiểm địnhchất lượng giao dục từng bước làm thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý vàchỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học Trong các nhàtrường được công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục, văn hóa chất lượng từngbước hình thành, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh và các lực lượng xãhội có trách nhiệm xây dựng nhà trường ngày một tốt hơn

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập Cục Quản lý chất lượng Đây

là cơ quan giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc chỉ đạo, triển khai thực hiệnkiểm định chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng

đã ban hành hệ thống các văn bản triển khai kiểm định chất lượng giáo dục ở tất cảcác cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, công tác kiểm định chất lượng giáo dục các cơ

sở giáo dục phổ thông được triển khai bắt đầu từ năm học 2009 - 2010 Sở Giáo dục

và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức các lớp tập huấn, ban hành các vănbản hướng dẫn, các kế hoạch thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục đối với tất cảcác cấp học nói chung và cấp học trung học cơ sở nói riêng Các Phòng Giáo dục vàĐào tạo và các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố đã xây dựng kế hoạch

và triển khai các biện pháp quản lý, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục

Thực trạng công tác kiểm định chất lượng giáo dục dưới sự chỉ đạo của lãnhđạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự cố gắng của Sở Giáo dục và Đào tạo cùng với sự nỗlực của các trường đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận Tuy nhiên,trong quá trình thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục, vẫn còn một số đơn

vị, cá nhân thực hiện thiếu quy trình, chưa đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đàotạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Còn một bộ phận cán bộ, giáo viên, nhân viên trong cácnhà trường chưa nhận thức đúng về kiểm định chất lượng, chưa hiểu rõ bản chất, quytrình, cách triển khai tự đánh giá, chưa cập nhật thường xuyên, đầy đủ các văn bản chỉ

Trang 11

đạo của các cấp có liên quan đến giáo dục để vận dụng trong quá trình triển khai nhiệm

vụ Quá trình thực hiện hoạt động tự đánh giá, một số trường đã hiểu sai về mục đích, ýnghĩa, vai trò của công tác kiểm định chất lượng, triển khai không đủ quy trình nênhiệu quả của hoạt động này không cao, thậm chí là hình thức (chỉ tập trung hoàn thànhbáo cáo tự đánh giá, không triển khai hoạt động tự đánh giá theo quy trình 6 bước).Một số đoàn đánh giá ngoài chưa làm tốt công tác tư vấn, hỗ trợ các nhà trường trongviệc đánh giá chính xác hiện trạng và xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng; cònbuông lỏng, nể nang, xuê xoa, chạy theo thành tích, đánh giá không sát kết quả mà nhàtrường đạt được Quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục còn bộc lộ nhữnghạn chế hạn chế, tồn tại như chưa nâng cao nhận thức về kiểm định chất lượng giáodục, chỉ đạo thiếu cương quyết, chưa có kế hoạch cụ thể, chất lượng báo cáo công tác

tự đánh giá và đánh giá ngoài chưa bảo đảm được tốt theo yêu cầu

Có thể nói, chưa bao giờ chất lượng được toàn xã hội quan tâm và mong chờnhư ngày hôm nay, đặc biệt, khi mà giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu và làđộng lực phát triển của toàn xã hội Chúng ta chưa thể quên tình trạng học hết cấptrung học cơ sở và trung học phổ thông nhưng chưa viết thành chữ trong các kỳ thitốt nghiệp, học sinh hết tiểu học nhưng chưa biết đọc, biết viết, nhiều sinh viên tốtnghiệp đại học ra trường nhưng không làm được việc vì trình độ chuyên mônnghiệp vụ kém chưa đáp ứng nhu cầu công việc và xã hội, hiện tượng học sinh ngôinhầm lớp ngày càng gia tăng, do bệnh thành tích cứ ùn học sinh lên lớp Một trongnhững nguyên cớ chính là do công tác kiểm định chất lượng giáo dục và quản lýhoạt động này ở các nhà trường chưa thật sự hiệu quả Do đó việc nghiên cứu quản

lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở để từ đó có những biệnpháp hữu hiệu để cải thiện chất lượng giáo dục nói chung, giáo dục trung học cơ sởnói riêng là việc làm cần thiết Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay,khi chương trình giáo dục phổ thông mới đã ban hành đòi hỏi sự thay đổi đồng bộgiáo dục phổ thông trong đó có bậc trung học cơ sở Hơn nữa, Thành phố Hồ ChíMinh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của khu vực miền nam và của cả nướctrong những năm qua có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt, đòi hỏi giáodục phải đi trước, đón trước và kéo theo sự phát triển, cung ứng cho thành phốnguồn năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội Mặt khác, về lý luận cũng

Trang 12

chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về quản lý kiểm định chất lượng giáo dụccác trường trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáodục Xuất phát từ những lý do trên và bản thân tác giả là cán bộ của Sở Giáo dục vàĐào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, người trực tiếp tổ chức thực hiện và triển khaihoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ

Chí Minh, vì vậy, tác giả chọn: “Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục” làm đề tài luận án tiến sỹ quản lý giáo dục để nghiên cứu.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý kiểm định chất lượng giáo dụctrường trung học cơ sở, từ đó đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượnghoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở Thành phố HồChí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận giải cơ sở lý luận về kiểm định chất lượng giáo dục và quản lý kiểm địnhchất lượng giáo dục trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng kiểm định chất lượng giáo dục và quản

lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh

Đề xuất các biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học

cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm các biệnpháp đã đề xuất

3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Khách thể nghiên cứu

Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở

Đối tượng nghiên cứu

Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở Thành phố

Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Trang 13

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý kiểm định chất

lượng giáo dục trường trung học cơ sở công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất

và thử nghiệm 1 biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trunghọc cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Phạm vi về khách thể khảo sát: Gồm 18 trường trung học cơ sở (trong 3 quận

nội thành và 3 huyện) đại diện cho các trường: trường ở vùng khó khăn, trườngvùng nông thôn, trường ở khu đô thị mới, trường trong nội thành, Cụ thể là:

Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo, cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo, hiệutrưởng, phó hiệu trưởng là 30 người

Giáo viên, nhân viên các trường trung học cơ sở có 240 người

Thu thập và phân tích, nghiên cứu số lượng thống kê về hoạt động kiểm định

chất lượng giáo dục với số lượng 270 người.

Phạm vi về thời gian: Tiến hành điều tra nghiên cứu và sử dụng các số liệu để

phân tích thực trạng từ năm 2015 đến nay

Giả thuyết khoa học

Kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở là hoạt động đảm bảo chấtlượng nhằm xác định mức độ trường trung học cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giáchất lượng giáo dục Nếu thực hiện tốt các biện pháp quản lý kiểm định chất lượnggiáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh như: Tổ chức hoạtđộng tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của quản lý kiểm địnhchất lượng giáo dục trường trung học cơ sở cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên,nhân viên và các lực lượng có liên quan đến công tác kiểm định chất lượng giáodục; Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực kiểm định chất lượng giáo dục trườngtrung học cơ sở cho đội ngũ kiểm định viên; Chỉ đạo thường xuyên hoạt động tựđánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở; Tổ chứcthực hiện hiệu quả hoạt động đánh giá ngoài và thẩm định kết quả đánh giá ngoàicác trường trung học cơ sở trong kiểm định chất lượng giáo dục; Xây dựng hệ thốngquản lý thông tin kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở; Hoàn thiệnchính sách hỗ trợ và phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường về công tác kiểm

Trang 14

định chất lượng giáo dục thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cáctrường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh.

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng, Nhà nước về quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học

cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh và các quan điểm tiếp cận sau:

Tiếp cận hệ thống - cấu trúc

Quá trình giáo dục và đào tạo là một hệ thống trong đó có sự tương tác giữacác thành tố như: Mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục,môi trường giáo dục Theo quan điểm hệ thống, nghiên cứu quản lý kiểm định chấtlượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bốicảnh đổi mới giáo dục phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu, nội dung kiểmđịnh chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở

Tiếp cận lịch sử, xã hội

Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thànhphố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục nói riêng luôn gắn với lịch sử, vănhóa của từng quốc gia, vùng miền và phù hợp với sự phát triển của thời đại Do vậy,trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, xã hội, quản lý kiểm định chất lượng giáodục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mớigiáo dục đòi hỏi có sự tương thích với xã hội về mục đích, nội dung, phương pháp, cáchthức tổ chức Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ởThành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục không tách rời với các yêucầu đòi hỏi của xã hội trong từng thời kỳ và xu thế đổi mới trong giáo dục

Tiếp cận thực tiễn

Thực tiễn là nguồn gốc, là động lực, là mục tiêu, là tiêu chuẩn để đánh giákết quả của mọi hoạt động Những yêu cầu của thực tiễn giáo dục sẽ là nhữngtiêu chí cụ thể để đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục và quản lý kiểm định

Trang 15

chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh Bởivậy, khi nghiên cứu quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ

sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục phải dựa trên cơ sởthực tiễn về đối tượng, địa bàn nghiên cứu, điều kiện thực hiện cụ thể nhằm làmsáng tỏ thực trạng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ

sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, mô hình hoá… các tài liệu, các văn bản cóliên quan đến vấn đề nghiên cứu như sách, tài liệu về giáo dục, về quản lý giáo dục,

về kiểm định chất lượng giáo dục; chủ trương đường lối, nghị quyết, chính sách củaĐảng, pháp luật của nhà nước, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục

và Đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh về kiểm định chất lượng giáo dục và quản lýviệc kiểm định chất lượng giáo dục nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài tiếp cận theo quan điểm thực tiễn để nghiên cứu về kiểm định chất lượnggiáo dục và quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở Đồng thời,căn cứ vào các số liệu trong báo cáo tổng kết, đánh giá công tác kiểm định chất lượnggiáo dục ở các trường trung học cơ sở trong những năm gần đây và các tư liệu, số liệu

Trang 16

đã được người nghiên cứu thu thập, điều tra, khảo sát thực tế và nhu cầu thực tiễn trongđời sống xã hội, văn hóa, các hoạt động khác đều có liên quan đến giáo dục Chấtlượng giáo dục theo quan điểm thực tiễn là thỏa mãn các nhu cầu của người học, vì vậykiểm định chất lượng giáo dục phải trên cơ sở các nhu cầu của người học để xây dựngcác tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiêncứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, bao gồm:

Phương pháp quan sát: Thu thập trực tiếp thông tin về tất cả những gì đang diễn

ra trong thực tế hiện nay ở các trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh vàghi chép trung thực những nhân tố có liên quan đến đối tượng và mục đích nghiên cứu.Phương pháp tọa đàm trao đổi: Tọa đàm, trao đổi với Hiệu trưởng, giáo viên ởcác bộ môn và cán bộ quản lý cấp phòng và cấp sở, học sinh ở các trường, từ đó rút

ra những kết luận phục vụ nghiên cứu

Phương pháp điều tra: Thu thập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu

đã có ở các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh làm tư liệu cho luận

án Qua quá trình điều tra chọn lựa các biện pháp thích hợp để đảm bảo tính ổn định

và làm sáng tỏ khả năng thực hiện các biện pháp

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Qua nhiều năm bản thân đã tham giagiảng dạy, làm công tác quản lý, tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác, nay đượctham gia lớp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục Từ những kiến thức lý thuyết

và những bài học thực tiễn đã được tổng kết rút kinh nghiệm, đúc kết lại thànhnhững ý kiến tham gia xây dựng các biện pháp

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Thu thập, phân tích các sản phẩm minh

chứng kết quả hoạt động giáo dục và quản lý nhà trường của cán bộ quản lý, giáoviên, học sinh Từ sản phẩm đối chiếu với mục tiêu đã xác định, làm cơ sở xác địnhcác chỉ báo, tiêu chí, tiêu chuẩn trong kiểm định chất lượng giáo dục

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học,cán bộ quản lý giáo dục về sử dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trườngtrung học cơ sở, trao đổi phỏng vấn hoặc phản biện về nội dung nghiên cứu có liênquan đến đề tài luận án

Trang 17

Nhóm phương pháp bổ trợ

Sử dụng phương pháp thống kê và xử lý kết quả nghiên cứu, dựa trên phần mềmExcel để xử lý kết quả, phương pháp ngoại suy, phương pháp so sánh tương quan

5 Đóng góp mới của luận án

Góp phần vào cách tiếp cận mới trong vận dụng lý luận kiểm định chất lượng giáodục và quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố HồChí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Khảo cứu, đánh giá thực trạng, đưa ra một số nhận định về thực trạng kiểm địnhchất lượng giáo dục, quản lý kiểm định chất lượng giáo dục và những vấn đề đặt ra cầngiải quyết trong quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ởThành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Đề xuất các biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học

cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục, góp phần đảm bảo vàtừng bước nâng cao chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố

Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận

Góp phần phát triển lý luận về kiểm định chất lượng giáo dục nói chung vàquản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở nói riêng Luận án hìnhthành các khái niệm cốt lõi, đó là: Kiểm định, chất lượng giáo dục, kiểm định chấtlượng, kiểm định chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục trường trunghọc cơ sở; Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý chất lượng giáo dục, quản lý kiểm địnhchất lượng giáo dục ở trường trung học cơ sở Các khái niệm này quan hệ mật thiếtvới nhau, tác động qua lại nhau, tạo ra những nền tảng lý luận cơ bản để tác giả đi sâuphân tích các đặc trưng nội dung kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ

sở mà trong đó quy trình tổng thể 5 bước chiếm vị trí trọng tâm trong hoạt động kiểmđịnh chất lượng giáo dục là: 1 Tự đánh giá; 2 Đăng ký đánh giá ngoài; 3 Đánh giángoài; 4 Công nhận mức chất lượng; 5 Duy trì, khắc phục và cải tiến chất lượng sauđánh giá ngoài Các bước của quy trình trên phải thực hiện dựa trên bộ tiêu chuẩn

Trang 18

đánh giá chất lượng trường trung học cơ sở Trên cơ sở tiếp cận theo mục tiêu quản lý

và chức năng quản lý, tác giả đã đi sâu phân tích mục tiêu và chức năng quản lý kiểmđịnh chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở thông qua các khâu lập kế hoạch, tổchức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện hoạt động kiểmđịnh chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở

Ý nghĩa thực tiễn

Vận dụng lý luận trên vào đánh giá vấn đề cơ bản của thực trạng là: Thựctrạng kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở qua các khâu tự đánhgiá và đánh giá ngoài theo tiêu chuẩn và thực trạng quản lý kiểm định chất lượnggiáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh qua các khâu: Lập kế hoạch - tổ chức - chỉ đạo

- kiểm tra Trong đó, khâu tổ chức tập huấn chuyên môn về kiểm định chất lượnggiáo dục là yếu tố quan trọng của công tác tổ chức Ngoài ra, luận án còn phân tíchđánh giá chuyên sâu thực trạng về nội dung đào tạo kiểm định viên cũng như nănglực kiểm định viên phổ thông hiện nay Luận án đã rút ra được những nhận định vềthực trạng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục thông qua yếu tố như về phân cấpquản lý, nhận thức, kiểm định viên, tiêu chuẩn, chính sách,…

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương, kết luận và kiến nghị; Công trình khoa học

của tác giả đã công bố; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục.

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở

Kiểm định chất lượng giáo dục đã được hình thành và phát triển từ lâu Hiệnnay, hoạt động này ngày càng phổ biến và trở thành một xu hướng toàn cầu tronggiáo dục bởi nó là một công cụ hiệu quả giúp các trường kiểm soát và đảm bảo chấtlượng đào tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục Do đó, hoạtđộng kiểm định chất lượng giáo dục đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới cũngnhư ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong lịch sử, kiểm định chất lượng được coi là xuất phát từ Mỹ vào cuối thế kỷXIX, phát triển như một phần của tiến trình phát triển hệ thống giáo dục đại học và cósức lan tỏa mạnh mẽ ra khắp thế giới như một công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục(Alexandra Hegji, 2017 [67]), tác giả Đỗ Thị Ngọc Quyên (2017) Hầu hết các quốcgia bắt đầu triển khai kiểm định chất lượng giáo dục từ giữa thập niên 1990, bao gồm:các nước khu vực Đông Âu như Albania, Bulgaria, Hungary và Romania; các nước

có nền giáo dục phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức; các nước Mỹ Latin vàvùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Arab Saudi, Chile; các nước châu Á - TháiBình Dương như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,Indonesia, Malaysia, Brunei, Lào và Campuchia Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á đãphát triển hệ thống kiểm định chất lượng SEAN University Network (Mạng lưới Cáctrường đại học khu vực Đông Nam Á - AUN-QA) dành cho các trường đại học trongkhu vực Ở khu vực châu Phi, Kenya và Nam Phi cũng đã triển khai các hoạt độngkiểm định chất lượng giáo dục [52]

Theo định nghĩa của Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học Hoa Kỳ (Councilfor Higher Education Accreditation - CHEA) (2003), kiểm định là một quá trìnhxem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát, đánhgiá các cơ sở giáo dục và các chương trình đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chấtlượng [73] Theo đó, ở Hoa Kỳ, kiểm định được thực hiện bởi các tổ chức tư nhân,phi lợi nhuận được thành lập cho mục đích kiểm định Các tổ chức và các chương

Trang 20

trình đào tạo triển khai kiểm định như một phương tiện để chứng minh chất lượngđào tạo của họ với sinh viên và công chúng và để đáp ứng đủ điều kiện đối với cácquỹ liên bang Do đó, kiểm định phục vụ mục đích đảm bảo chất lượng học tập chosinh viên và công chúng, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận các quỹ liên bang đểvay vốn và các loại quỹ hỗ trợ khác, dễ dàng chuyển giao các khóa học và chươngtrình giữa các trường cao đẳng và đại học cũng như đáp ứng niềm tin của người sửdụng lao động.

Tương tự, Hội đồng các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (South East AsianMinisters of Education Organization - SEAMEO) (2012) xác định, kiểm định chấtlượng là quá trình đánh giá của bên ngoài về chất lượng và hiệu lực của các yếutố/quá trình (của hệ thống quản lý) trong việc thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của nhàtrường; so sánh nhà trường với các chuẩn mực chất lượng chung (của khu vực vàthế giới) để công nhận về chất lượng giáo dục, được công bố công khai để xã hộibiết và giám sát [109]

Trải qua quá trình phát triển, với những ưu thế nhất định, kiểm định chấtlượng đã được các bậc giáo dục khác ngoài đại học sử dụng để kiểm định cácchương trình giáo dục cũng như các cơ sở giáo dục Theo đó, khái niệm kiểm địnhchất lượng đã được mở rộng hơn Basso (2003) cho rằng, kiểm định là một quytrình được sử dụng bởi các trường công lập và tư thục để đánh giá hiệu quả giáo dụctheo quy định Mặc dù kiểm định được xem xét như một chỉ số chất lượng chotrường học, nhưng mục tiêu chính của quy trình kiểm định là cải tiến trường họcliên tục [69] Tương tự, Vlãsceanu và cộng sự (2007) cho rằng, kiểm định chấtlượng là quá trình mà một tổ chức chính phủ hoặc tư nhân đánh giá chất lượng củatoàn bộ cơ sở giáo dục hoặc của một chương trình giáo dục cụ thể nhằm chính thứccông nhận cơ sở hoặc chương trình đã đáp ứng các tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểunào đó do tổ chức đánh giá đặt ra [115] Đồng quan điểm, Hala A Sabri (2006)nhấn mạnh, kiểm định liên quan đến một quá trình đánh giá và xem xét cho phépkhóa học hoặc cơ sở đào tạo giáo dục được công nhận hoặc chứng nhận đáp ứng cáctiêu chuẩn quy định Trên bình diện quốc tế, kiểm định thường là một trong những

bộ phận chính của đảm bảo chất lượng, trong đó đề cập đến các quy trình xem xét,đánh giá và giám sát đang diễn ra áp dụng cho tất cả các nhà cung cấp giáo dục

Trang 21

được công nhận để đảm bảo rằng các khóa học và chương trình đạt tiêu chuẩn cao

và sự giám sát của tổ chức là có hiệu quả Kiểm định giữ vai trò quan trọng đối vớingười học, người sử dụng lao động, chính phủ và công chúng trong việc xác địnhchương trình giáo dục và đào tạo đạt chất lượng [82]

Kiểm định chất lượng là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất của đảm bảochất lượng bên ngoài, bởi nó đảm bảo mức độ chất lượng cụ thể theo sứ mệnh của tổchức, các mục tiêu của các chương trình và kỳ vọng của các bên liên quan khác nhau,bao gồm cả người học và người sử dụng lao động Quá trình này thường dẫn đến sựcông nhận trong một khoảng thời gian giới hạn Theo Michaela Martin và Bikas C.Sanyal (2007), các nguyên nhân sau đây đã khiến cho kiểm định chất lượng giáo dục

ngày nay trở nên đặc biệt quan trọng: Thứ nhất, khi các nhà cung cấp giáo dục ngày

càng đa dạng, nhu cầu về giáo dục được chứng nhận càng gia tăng Không chỉ ngườihọc và gia đình của họ, mà còn cả thị trường lao động ngày càng tìm cách phân biệtgiữa các nhà cung cấp giáo dục, do đó một chứng nhận chất lượng sẽ đáp ứng được

nhu cầu này Thứ hai, các mối đe dọa đối với chất lượng có thể đến từ các nguồn

khác nhau, bao gồm các nhà cung cấp gian lận Do đó, bằng cấp được trao bởi một tổchức phải đi kèm với một sự đảm bảo Kiểm định là một cách cung cấp sự đảm bảo

đó Thứ ba, số lượng các nhà cung cấp giáo dục và nhà cung cấp các tài liệu gian lận

ngày càng tăng cũng thúc đẩy nhu cầu về một cơ quan có thể kiểm định các tổ chứcnày để duy trì các tiêu chuẩn cần thiết đáp ứng điều kiện tốt nghiệp để từ đó ngườihọc được nhận vào các tổ chức chuyên môn cao hơn hoặc chuyên ngành hơn trong

thực tiễn nghề nghiệp của thị trường việc làm ngày nay Thứ tư, các tổ chức giáo dục

đang phải đối mặt với một thế giới cạnh tranh hơn bao giờ hết Họ có hứng thú trongviệc thu hút những sinh viên giỏi nhất và chuyển đổi văn bằng, chứng nhận của họthành một loại tiền tệ có thể chuyển đổi (bao gồm thông qua các cơ chế chuyển đổitín dụng) Họ cũng có tiềm năng trở thành các tổ chức học tập với chất lượng ngàycàng hoàn thiện Do đó, đóng vai trò: (1) Kiểm soát chất lượng (các tiêu chuẩn tốithiểu) trong giáo dục; (2) Trách nhiệm và minh bạch; (3) Nâng cao chất lượng; và (4)Tạo điều kiện cho sự dịch chuyển của người học [96]

Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, trong khi bằng cấp hoặc chứng chỉ từ một trườngđược công nhận phù hợp có thể mang lại khoản đầu tư hoàn vốn đặc biệt, thì việcchứng nhận từ một trường không được công nhận có thể là một sự lãng phí rất lớn

Trang 22

cả về tiền bạc và thời gian Đó là một phần khiến cho việc kiểm định cơ sở đào tạo

và chương trình cấp bằng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Tại Hoa Kỳ, côngnhận là một quá trình đánh giá tự nguyện, phi chính phủ Nói cách khác, cáctrường không phải được công nhận để mở cửa hoặc cung cấp chương trình giáodục Theo Bộ Lao động Hoa Kỳ, mục tiêu của kiểm định là để đảm bảo rằng các

tổ chức giáo dục đáp ứng mức độ chất lượng chấp nhận được Mục tiêu này đượcthực hiện bằng cách công nhận các cơ quan kiểm tra cá nhân các trường học vàchương trình để đảm bảo tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu được đáp ứng Mặc dù, các

cơ quan kiểm định khác nhau về quy mô và phạm vi, họ chia sẻ mục tiêu chung làđảm bảo tất cả các tổ chức giáo dục theo cùng tiêu chuẩn chất lượng hàng năm.Trong khi một số trường học và chương trình được công nhận trong khu vực,những trường khác được cung cấp công nhận bởi một cơ quan kiểm định quốc gia.Ngoài ra, các trường khác có thể được công nhận bởi các cơ quan kiểm địnhchuyên ngành tập trung vào các ngành hoặc loại chương trình giáo dục cụ thể.Nhìn chung, các bước trong quy trình kiểm định bao gồm: (1) Chuẩn bị và tự kiểmtra: Các trường chuẩn bị các tài liệu (báo cáo bằng văn bản) thể hiện kết quả thànhtích của tổ chức, đảm bảo làm nổi bật những thành tựu cụ thể giúp tổ chức đápứng các tiêu chuẩn của cơ quan kiểm định và chứng nhận; (2) Đánh giá đồng cấp:Sau khi nộp giấy tờ chính thức, các đồng nghiệp hành chính và giảng viên tiếnhành đánh giá chuyên sâu các tài liệu đã chuẩn bị, báo cáo bằng văn bản và cáchoạt động chung của trường; (3) Tham quan và kiểm tra: Sau khi đánh giá đồngnghiệp đã được hoàn thành, hầu hết các tổ chức kiểm định cử một nhóm chuyêngia đến thăm trường Đội ngũ này thường gồm các đồng nghiệp và các thành viêncủa cộng đồng tình nguyện dành thời gian của họ để đảm bảo các tiêu chuẩn giáodục chất lượng giáo dục được đáp ứng (4) Đưa ra quyết định: Sau khi các bướctrước được hoàn thành, tổ chức kiểm định yêu cầu ủy ban của họ xem xét thôngtin thu thập được và xác nhận hoặc từ chối tình trạng công nhận cho nhà trường.(5) Đánh giá liên tục: Thông qua việc được công nhận bởi một tổ chức kiểm định,nhà trường duy trì các tiêu chuẩn chất lượng do tổ chức kiểm định công nhận vàđịnh kỳ nộp bản đánh giá đổi mới công nhận Kiểm định thường là một quá trìnhliên tục và các trường phải liên tục chứng minh rằng họ đang đáp ứng các tiêuchuẩn giáo dục chất lượng cao hàng năm [114]

Trang 23

Mặc dù ở mỗi nước có các tiêu chí kiểm định khác nhau song thực tế chúnggiống nhau đáng kể ở nhiều khía cạnh Theo đánh giá của Sywelem và Witte, (2009),tất cả các trường được công nhận ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác thường bao gồmmột đánh giá về các khía cạnh như sứ mệnh, quản trị, giảng dạy, giáo viên, cơ sở hạtầng, dịch vụ người học, tài chính và năng lực lập kế hoạch của tổ chức [110].

Kể từ thập niên 1980, toàn cầu hóa và những thay đổi trong giáo dục có sựtương tác chặt chẽ với nhau ngày càng mạnh mẽ Do khoảng cách thu hẹp, toàn cầuhóa đã và đang ảnh hưởng đến chính trị, các hệ thống kinh tế, bản sắc và sự độc lậpcủa các quốc gia Hơn nữa, toàn cầu hóa cũng ảnh hưởng đến chương trình giáo dụccủa các quốc gia Toàn cầu hóa đang ảnh hưởng đến việc dạy và học cũng như khảnăng của người học trong việc ứng phó với sự khác biệt về văn hóa và xã hội Nóđang định hình lại giá trị cốt lõi của các tổ chức giáo dục thông qua những ảnhhưởng của thị trường và mối quan tâm mang tính biểu tượng về bản sắc văn hóa.Mặt khác, toàn cầu hóa cũng mang đến những cơ hội và thách thức cho các trườnghọc (Ginkel, 2003) [80] Để ứng phó với sự cạnh tranh toàn cầu trong bối cảnh hiệnnay, các trường học ngày càng được chính phủ khuyến khích tìm kiếm sự kiểm địnhquốc tế, do đó điều này đặt ra một số thách thức cho các tổ chức và cơ quan kiểmđịnh quốc gia (Angela Yung-Chi Hou và Roger C Y Chen, 2011) [65] Với hơn

80 cơ quan kiểm định cơ sở đào tạo và chương trình giáo dục, Hoa Kỳ đang trởthành một quốc gia xuất khẩu đáng kể về đảm bảo chất lượng bằng cách kiểm định

và công nhận giáo dục sau trung học ở các quốc gia phát triển (CHEA, 2008) [70].Theo CHEA, vào năm 2006 - 2007, 40 cơ quan kiểm định đã hoạt động tại 52 quốcgia, công nhận 385 tổ chức và chương trình không thuộc Hoa Kỳ Ewell (2008) chỉ

rõ, sự công nhận của Hoa Kỳ có thể cung cấp một bước đệm bổ sung trong một thịtrường địa phương cạnh tranh, đặc biệt là cho các tổ chức tư nhân [78] Hayward(2002) cũng nêu rõ, trong giáo dục đại học, một số trường đại học và cao đẳng nướcngoài muốn sự công nhận của Hoa Kỳ bởi vì, ít nhất là tại thời điểm này, đây là

“Tiêu chuẩn vàng” trong nhiều lĩnh vực của giáo dục đại học Việc các tổ chức ởNam Mỹ, châu Á, Đông Âu được các chính phủ khuyến khích tìm kiếm sự kiểmđịnh quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, thực sự đã góp phần vào sự thịnh vượng của sựkiểm định của Hoa Kỳ trên toàn thế giới [84]

Trang 24

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Trong những năm gần đây, một trong những chuyển biến mạnh mẽ, có chiềusâu, thực chất, hiệu quả của nền giáo dục nước ta là công tác bảo đảm, kiểm địnhchất lượng được triển khai rộng rãi So với nhiều quốc gia khác, hoạt động kiểmđịnh chất lượng ở Việt Nam vẫn là một lĩnh vực hoạt động còn khá mới mẻ song đãnhận được sự quan tâm, chú trọng của ngành giáo dục Điều này xuất phát từ nhucầu tất yếu khách quan của công tác đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc pháttriển kinh tế - xã hội đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh Chính phủ chủ trương đổimới cơ bản, toàn diện nền giáo dục

Ở nước ta, Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn kiểm định chất lượng giáo dụcnhư một biện pháp chính thức để nâng cao chất lượng giáo dục Được triển khai bắtđầu từ năm 2002 với mô hình kiểm định chất lượng giáo dục đại học, đến nay, côngtác kiểm định chất lượng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Kiểm định chấtlượng giáo dục ở nước ta đã từng bước được triển khai thực hiện ở tất cả các bậchọc từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyênnghiệp, cao đẳng và đại học Điều 17, Luật Giáo dục (2005) xác định: “Kiểm địnhchất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mụctiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác.Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước

và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công

bố công khai để xã hội biết và giám sát” [6]

Theo tác giả Nguyễn An Ninh và Phạm Xuân Thanh (2008), kiểm định chấtlượng giáo dục là một hoạt động đánh giá nhằm công nhận các cơ sở giáo dục haychương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng Các tiêu chuẩn kiểm định chấtlượng chủ yếu là tiêu chuẩn tối thiểu Thông qua kiểm định chất lượng, các trườngphấn đấu đạt các tiêu chuẩn tối thiểu Định kỳ, các tiêu chuẩn kiểm định được nângcao, đòi hỏi các trường tiếp tục phấn đấu vươn lên, nhờ đó mặt bằng chất lượng củacác trường cũng sẽ được nâng lên Quy trình kiểm định chất lượng sẽ có tác độngđến hầu hết các trường, nhờ đó chất lượng giáo dục sẽ có những bước chuyển biếnmạnh nếu triển khai kiểm định tất cả các trường học trong cả nước [50]

Trang 25

Tác giả Dương Nguyên Quốc (2013) cho rằng, kiểm định chất lượng giáo dục là

yếu tố sống còn đối với các cơ sở giáo dục, thể hiện ở các vai trò sau: Thứ nhất, kiểm

định chất lượng giáo dục giúp các nhà quản lý giáo dục nhìn lại toàn bộ hoạt động củanhà trường một cách có hệ thống để điều chỉnh các hoạt động giáo dục của nhà trườngtheo một chuẩn mực nhất định Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục phản ánh chấtlượng đào tạo của nhà trường, giúp lãnh đạo trường nắm được điểm mạnh, điểm yếu

của tổ chức, làm căn cứ để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục Thứ hai,

kiểm định chất lượng giáo dục giúp nhà trường định hướng và xác định chuẩn chất

lượng nhất định theo quy định của Nhà nước, đảm bảo chất lượng đầu ra Thứ ba, kiểm

định chất lượng giáo dục tạo ra cơ chế đảm bảo chất lượng vừa linh hoạt vừa chặt chẽbao gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài [51] Tương tự, tác giả Nguyễn Thị Uyên, TrầnXuân Sang và Trần Thị Kim Oanh (2017) khẳng định, đánh giá và kiểm định chấtlượng giáo dục là hoạt động cần thiết và quan trọng tại các cơ sở giáo dục Đối vớinước ta, hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến bởi nó là một công cụ hiệu quả giúpcác trường kiểm soát và đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh Kiểm định chất lượng giáo dục giúp các trường có cơ hội xem xét lại toàn bộhoạt động của tổ chức một cách hệ thống, từ đó điều chỉnh các hoạt động theo mộtchuẩn mực nhất định [62] Theo đó, kết quả kiểm định chất lượng giáo dục của cáctrường đạt hay không so với tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ gópphần định hướng cho các hoạt động sau của xã hội: giúp học sinh và phụ huynh lựachọn trường, làm cơ sở để nhà trường kêu gọi đầu tư từ các tổ chức xã hội, định hướngphát triển cho các trường nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực

về giáo dục (Trần Thanh Bình, 2009) [5]

Thực tiễn kiểm định chất lượng giáo dục khá đa dạng và phức tạp, tuy nhiên theotổng kết của Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội thì ởViệt Nam, kiểm định chất lượng giáo dục đại học hay phổ thông đều có điểm chung làthực hiện theo quy trình đánh giá (bao gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài và thẩm địnhcông nhận chất lượng) dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí để xác định mức độ nhà trường/chương trình đào tạo đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Hiện nay, quy trìnhkiểm định chất lượng giáo dục phổ thông ở nước ta được thực hiện theo quy trình gồm

4 bước: (1) Tự đánh giá của các cơ sở giáo dục; (2) Đăng ký đánh giá ngoài của các cơ

Trang 26

sở giáo dục; (3) Đánh giá ngoài cơ sở giáo dục; (4) Công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêuchuẩn chất lượng giáo dục và cấp giấy chứng nhận chất lượng giáo dục Trong quytrình này, hoạt động tự đánh giá và đăng ký đánh giá ngoài là trách nhiệm của các cơ

sở giáo dục; tổ chức đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục làthẩm quyền của Sở Giáo dục và Đào tạo Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục phổthông được thực hiện theo chu kỳ 5 năm với 5 tiêu chuẩn (tổ chức và quản lý nhàtrường; cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; quan hệgiữa nhà trường, gia đình và xã hội; hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục), mỗi tiêuchuẩn có một số tiêu chí, mỗi tiêu chí có 3 chỉ số [23]

Theo tác giả Phạm Xuân Thanh (2014), việc xây dựng một hệ thống kiểm địnhchất lượng giáo dục ở cấp quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc duy trìcác chuẩn mực, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam Hệ thốngđảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục cung cấp cơ sở để nhà nước

đề ra các chính sách đầu tư hiệu quả cho hệ thống giáo dục, người học dễ dàng địnhhướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp hoặc mong muốn tiếp tục nâng cao trình độ,còn các nhà tuyển dụng dễ dàng lựa chọn những người có chuyên môn, tiết kiệmđáng kể chi phí đào tạo lại cho nhân viên mới tuyển dụng [56]

Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập toàn cầu, kiểm định chất lượng giáo dục đào tạotheo chuẩn của các tổ chức quốc tế được xem là một xu hướng bắt buộc đối với cáctrường học, đặc biệt là các trường đại học Theo tác giả Phạm Quang Huy (2016), đốivới các trường đại học tại Việt Nam, ban lãnh đạo nhà trường đang định hướng kiểmđịnh chương trình đào tạo các ngành bậc đại học theo chuẩn của AUN và thực tế tiêuchuẩn AUN đã thực hiện kiểm định cho nhiều trường Trong quá trình đánh giá chấtlượng, một trong những điểm quan trọng mà AUN quan tâm đó là triết lý giáo dục củacác trường Triết lý này giúp người học và người dạy nắm bắt được tinh thần chung mànhà trường đang hướng tới Nó cũng sẽ định hướng cho giáo viên có các phương phápphù hợp để hướng đến chuẩn đầu ra mong đợi trong chương trình đào tạo [37]

Những phân tích của tác giả Đỗ Thị Ngọc Quyên (2017) cũng nhấn mạnh, tínhđến hiện tại, năng lực của hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam chưađáp ứng nhu cầu kiểm định bắt buộc của tất cả các trường đại học và cao đẳng, do đóviệc các trường được khuyến khích tham gia kiểm định chất lượng quốc tế là cần

Trang 27

thiết, tuy nhiên cần xem xét ở mức độ nào và quy mô nào để đạt hiệu quả Theo tácgiả, các trường nên tham gia kiểm định chất lượng quốc tế cấp chương trình vớinhững chương trình có thế mạnh; còn với cấp trường, chỉ cần kiểm định chất lượngquốc gia theo bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đối với những chương trìnhchưa đủ mạnh để kiểm định chất lượng quốc tế, các trường có thể tham khảo bộ tiêuchuẩn kiểm định chất lượng chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để cóđịnh hướng phát triển và cải tiến chương trình trong khi chờ đợi kiểm định chất lượngchính thức Với những áp lực ngày càng gia tăng về trách nhiệm giải trình cũng như

sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong tuyển sinh, việc chuẩn bị để sẵn sàng tham giakiểm định chất lượng ở cấp chương trình dù theo chuẩn quốc gia hay quốc tế đềumang tính quan trọng sống còn đối với các trường trong thời gian tới [52]

1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở

Kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng trở nên phổ biến và là một hoạtđộng không thể thiếu trong quản lý giáo dục của nhiều nước trên thế giới bởi nó đãchứng tỏ là một công cụ hữu hiệu để duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục Do

đó, hoạt động quản lý kiểm định chất lượng giáo dục đóng vai trò rất quan trọng,bởi kết quả kiểm định là căn cứ để giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lựchay các cơ quan, tổ chức tài trợ

1.2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Hiện nay, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của các quốc gia nhìnchung khá đa dạng về mặt sở hữu (của nhà nước, các hiệp hội hay các tổ chức, cánhân khác), đối tượng kiểm định (nhà trường, chương trình, tất cả các cấp học haychỉ có cấp giáo dục đại học), tính phụ thuộc hay độc lập với nhà nước (độc lập hoàntoàn với nhà nước, độc lập trong việc ra các quyết định chuyên môn nhưng vẫnnhận kinh phí của nhà nước hay phụ thuộc hoàn toàn nhà nước) Ở Hoa Kỳ, tất cảcác tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục độc lập với chính phủ và được thực hiệnbởi các cơ quan tư nhân Tuy nhiên, đối với đa phần các tổ chức kiểm định chấtlượng giáo dục của các nước khác đều do nhà nước thành lập (chẳng hạn như TháiLan, Mông Cổ, Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia), nhưng sau đó trở thành các

tổ chức kiểm định độc lập (Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia…) và vẫn đượcnhận kinh phí hỗ trợ của nhà nước (Australia, Ấn Độ, Indonesia)

Trang 28

Mặc dù có sự khác biệt giữa các hệ thống song nhìn chung hiện nay trên thếgiới có 3 mô hình tổ chức hệ thống quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục các bậchọc, bao gồm: Mô hình thứ nhất gồm một số tổ chức kiểm định chất lượng giáo dụcđộc lập với nhau, có nhiệm vụ triển khai các hoạt động đánh giá ngoài và có thẩmquyền công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chấtlượng giáo dục Mô hình thứ hai tập trung vào mỗi hoặc một vài cấp học Phần lớncác nước sử dụng mô hình này Mô hình thứ ba tập trung vào tất cả các cấp học, ví dụnhư tổ chức đánh giá và kiểm định chất lượng các trường mầm non, phổ thông, trungcấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học với sự hỗ trợ của hệ thống các đơn vị đánh giángoài Ngoài ra, mô hình tổ chức của các tổ chức kiểm định chất lượng cũng khácnhau Hầu hết có tên gọi là tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục (Accreditationagency) song thực chất là một công ty Một số được gọi là trung tâm Các tổ chứckiểm định chất lượng giáo dục đều có hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục để phêduyệt kế hoạch đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, phê chuẩn thành phầnđoàn đánh giá ngoài, quyết định công nhận hoặc không công nhận cơ sở giáo dục vàchương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Các tổ chức kiểm định chấtlượng giáo dục có giám đốc điều hành và bộ máy hoạt động để trực tiếp triển khai cáchoạt động đánh giá và điều hành hoạt động chuyên môn hàng ngày của tổ chức kiểmđịnh chất lượng, đồng thời có đội ngũ chuyên gia đánh giá cơ hữu phối hợp với một

hệ thống cộng tác viên để triển khai các hoạt động đánh giá ngoài [12]

Bàn về chiến lược quản lý hệ thống kiểm định, tác giả Michaela Martin và

Bikas C Sanyal (2007) đề xuất các nhóm giải pháp sau: Thứ nhất, chiến lược kiểm

định đối với cấp quốc gia: Tất cả các chính phủ nên có một chính sách kiểm địnhcấp quốc gia; tạo điều kiện cho việc thành lập cơ chế kiểm định để đảm bảo chấtlượng hệ thống giáo dục trong bối cảnh ngày càng mở rộng quy mô, toàn cầu hóa,

đa dạng các nhà cung cấp giáo dục đại học ; chia sẻ trách nhiệm kiểm định với các

tổ chức tự nguyện và tư nhân, giám sát về mặt pháp lý nhưng không can thiệp vàocác vấn đề đào tạo; thiết lập một hệ thống giám sát chặt chẽ và một cơ chế thông tincông khai hiệu quả cho các nhà cung cấp xuyên quốc gia, xem xét các hướng dẫncủa các tổ chức kiểm định quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia; thành lập một cơ quan

giám sát hoạt động của các tổ chức kiểm định Thứ hai, chiến lược đối với các cơ

Trang 29

quan kiểm định: Các cơ quan nên có mục tiêu rõ ràng; có một cơ sở pháp lý đượcthiết lập, công nhận từ các cơ quan công quyền có thẩm quyền và đảm bảo đủnguồn lực; duy trì trách nhiệm độc lập cho hoạt động, kết luận và khuyến nghị của

họ không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ bên thứ ba nào; xác định rõ ràng, minh bạch tráchnhiệm; xác định các tiêu chí đánh giá đội ngũ giáo viên phải tính đến sự thay đổi vaitrò của họ; đảm bảo sự liên hệ cá nhân cần thiết giữa người dạy và người học; thiếtlập mối liên kết hiệu quả với các cơ quan chính quyền và các tổ chức liên quan; có

chính sách thông tin hiệu quả cho các bên liên quan Thứ ba, chiến lược đối với các

cơ sở giáo dục: Khi cạnh tranh gia tăng giữa các nhà cung cấp và kiểm định trởthành một phương tiện ngày càng phổ biến đảm bảo chất lượng, các cơ sở giáo dụccần xây dựng chính sách tự kiểm định tổ chức và các chương trình của mình; thiếtlập các cơ chế để đánh giá chương trình và các hoạt động liên quan theo các tiêu chíđược thiết lập bởi các cơ quan kiểm định, đặc biệt về sứ mệnh, mục tiêu, số lượng

và chất lượng của các chương trình giáo dục, tiêu chuẩn học tập, chất lượng đào tạo,bao gồm đội ngũ giảng dạy, hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng, nghiên cứu vàcác hoạt động học thuật khác, sự tham gia của cộng đồng và kế hoạch tương lai; hợptác chặt chẽ với các cơ quan kiểm định thông qua cung cấp minh chứng đầy đủ vàđánh giá công bằng các hoạt động; phát triển một hệ thống thông tin phù hợp để sửdụng nội bộ và phục vụ các nhà kiểm định; có chính sách thông tin công khai đểcung cấp cho các bên liên quan (đặc biệt là người học tiềm năng); đảm bảo đủnguồn nhân lực và tài chính để chuẩn bị cho quá trình kiểm định [96]

Xem xét hoạt động kiểm định giáo dục của các tổ chức giáo dục đại học tưnhân tại Philippines, Ching, Gregory S (2012) nhấn mạnh việc thiết lập các tiêuchuẩn chung để kiểm định trong mỗi ngành học có thể cung cấp các cơ chế cho sựcải tiến liên tục của các tổ chức giáo dục Sự công nhận được chứng minh bằng việc

sở hữu chất lượng tiêu chuẩn và nỗ lực không ngừng nghỉ để duy trì chúng ở mứccao Do đó, để đáp ứng các yêu cầu của các cấp kiểm định khác nhau, các tổ chứcgiáo dục đại học tiến hành kiểm định cần tập trung vào bốn lĩnh vực kết quả chính,

đó là: chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, sự hỗ trợ sinh viên, quan hệ với cộngđồng và quản lý tài nguyên [71]

Trang 30

Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiểm định chương trình học tập và chất lượnggiáo dục đại học ở Nigeria trên cơ sở khảo sát các đối tượng gồm các trường đại họcliên bang, giảng viên, sinh viên và nhà tuyển dụng, C P Akpan và C R Etor (2016)cho thấy mức độ đáp ứng yêu cầu kiểm định của các chương trình học thuật cũng nhưchất lượng sinh viên tốt nghiệp được đánh giá vừa phải Thực tế có một sự khác biệtđáng kể giữa giảng viên và sinh viên trong nhận thức về chất lượng giáo dục đại học.

Do đó, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cụ thể gồm: (1) Các nhà quản trị cần đảmbảo rằng việc giảng dạy được đáp ứng đủ nhân sự tuyển dụng cũng như cơ sở hạ tầngchất lượng được cung cấp đầy đủ, bởi chất lượng giảng dạy phụ thuộc rất lớn vàoviệc cung cấp các nguồn lực này cho chất lượng đầu ra (2) Các ủy ban kiểm định nênđược thành lập ở cả cấp khoa và bộ phận đào tạo để theo dõi hoạt động của cácchương trình giảng dạy và để đánh giá định kỳ mức độ mà các chương trình giảngdạy đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định; theo cách này, chất lượng giáo dục sẽ đượctăng cường (3) Ủy ban kiểm định cần tăng cường nỗ lực để đảm bảo rằng việc kiểmđịnh các chương trình giảng dạy được thực hiện thường xuyên để đảm bảo cải thiệnchất lượng giáo dục đại học (4) Chính phủ nên tài trợ đầy đủ cho giáo dục đại học đểcho phép nhà quản trị cung cấp các nguồn lực vật chất và con người cần thiết nhằmnâng cao chất lượng giáo dục đại học [72]

Nghiên cứu của Verda Gizem Furuzan (2012) về chính sách kiểm định chấtlượng giáo dục tại các trường tiểu học và trung học ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy, giáo viêncông nhận sự kiểm định quá trình đào tạo đã cải thiện chương trình giảng dạy nhằmđảm bảo sự phát triển học thuật và phát triển các chương trình hỗ trợ người học Tuynhiên, để đạt được chất lượng trong giáo dục tiểu học và trung học, tiếp tục cải thiện làđiều cần thiết trong bối cảnh hiện nay Theo đó, ban quản lý trường học có sự truyềnthông tốt với tất cả các đơn vị và thành viên trong tổ chức sẽ cung cấp cơ hội phát triểncho tất cả các giáo viên Nhà trường cần quy định hài hòa với các khuyến nghị và tiêuchí trong chính sách công nhận, các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng và hướng dẫn phảixác định được các nguyên tắc để đánh giá và cải thiện các hoạt động dạy và học củanhà trường [116] Sunday N Orji (2012) cũng nhấn mạnh đến vai trò của hiệu trưởngtrong công tác quản lý hoạt động kiểm định chất lượng thể hiện ở các hoạt động sau:Cung cấp định hướng lãnh đạo; Đảm bảo có sẵn các nguồn lực cơ sở hạ tầng cần thiết;Liên kết chặt chẽ với các tổ chức kiểm định [111]

Trang 31

Theo tác giả Đỗ Thị Ngọc Quyên (2017), đối với các nhà nghiên cứu và thựchành đảm bảo chất lượng giáo dục trên thế giới, kiểm định chất lượng là công cụtăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục Mặc dù công cụ này đãđược sử dụng phổ biến song vẫn gặp phải nhiều sự chỉ trích do một số hệ quả tiêucực nhất định Chẳng hạn, ở nhiều nước phát triển, giới học thuật đã phản đốikiểm định chất lượng với cáo buộc rằng công cụ này củng cố sự dập khuôn vàthúc đẩy văn hóa đối phó, vốn được cho là cản trở sự cải tiến và nâng cao chấtlượng Kiểm định chất lượng cũng bị cho là công cụ cồng kềnh, mang nặng tínhhành chính, làm cho tệ quan liêu thêm nặng nề Tuy nhiên, xét về những lợi íchmang lại, hiện nay kiểm định chất lượng vẫn được coi là công cụ hoàn chỉnh nhất

về quy trình cũng như khung pháp lý, và thực tế chưa có công cụ thay thế tiềmnăng nào Chính phủ các quốc gia vẫn phải dựa vào kiểm định chất lượng để quản

lý chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục Do đó, cơ quan quản lý ở các nướcnhư Mỹ, Australia, Hà Lan đã tích cực rà soát, đánh giá chặt chẽ hệ thống kiểmđịnh chất lượng của họ để liên tục điều chỉnh, khắc phục những bất cập của hệthống này cũng như ngày càng hoàn thiện nó hơn [52]

1.2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hình thành hệ thống đảm bảo

và kiểm định chất lượng giáo dục trong cả nước Trong xu thế hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng, công tác kiểm định chất lượng giáo dục càng trở nên bức thiết.Đặc biệt, đứng trước bối cảnh Chính phủ chủ trương đổi mới cơ bản, toàn diện giáodục đại học Việt Nam, thực hiện đổi mới quản lý giáo dục, kiểm định chất lượngđược sử dụng như một giải pháp quan trọng để khuyến khích các cơ sở giáo dụcnâng cao chất lượng giáo dục, đạt các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục trong nước vàxếp hạng quốc tế Và do đó, vấn đề quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các bậchọc nói chung và trung học cơ sở nói riêng lại càng được chú trọng và quan tâm

Từ năm 2002, hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục tại Việt Nam bắt đầuđược hình thành khi Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Phòng kiểm định chất lượngđào tạo thuộc Vụ Đại học Năm 2003, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáodục (nay là Cục Quản lý Chất lượng) được thành lập, đánh dấu bước tiến mới trongphát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam Kiểm định chất lượng

Trang 32

được đưa vào thí điểm trong giáo dục đại học như là công cụ quản lý nhà nước đốivới chất lượng giáo dục đại học Tuy nhiên phải đến năm 2005, Luật Giáo dục mớiban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục đối với hệ thống giáo dục quốcdân, bao gồm giáo dục mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo), giáo dục phổ thông (tiểu học,trung học cơ sở, trung học phổ thông), giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyênnghiệp và dạy nghề), giáo dục đại học và sau đại học) Năm 2007, Bộ Giáo dục vàĐào tạo đã ban hành Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáodục và chương trình đào tạo, chu kỳ và quy trình kiểm định; hệ thống các văn bảnquy định về công tác đánh giá và kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạocùng các hướng dẫn cụ thể các tiêu chuẩn dùng để làm công cụ thực hiện Hệ thốngvăn bản quy định về công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục ngày càngđầy đủ, đánh dấu sự hoàn thiện về quá trình chuyển giao các phương pháp đánh giácủa Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các cơ sở giáo dục trên cả nước, chuẩn bị tiếnđến kiểm định chất lượng toàn diện Gần đây nhất, năm 2018, Bộ Giáo dục và Đàotạo ban hành Thông tư Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạtchuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông vàtrường phổ thông có nhiều cấp học, thay thế Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐTngày 23/11/2012 về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳkiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thườngxuyên và thay thế Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT ngày 07/12/2012 về quy chếcông nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông

có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia [15] Theo đó, kiểm định chất lượng giáo dụcphổ thông được thực hiện với cấp trường xác định trường trung học đạt mức đápứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì

và nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường; thông báo công khai với các

cơ quan quản lý Nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của trường trung học;

để cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường đạtkiểm định chất lượng giáo dục

Theo thống kê của Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), tính đếntháng 5/2017, trong đó 43.896 trường phổ thông (gồm các bậc học mầm non tiểuhọc, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên), đã có

Trang 33

41.850 cơ sở hoàn thành tự đánh giá (chiếm 36,2%) Số trường được công nhận đạttiêu chuẩn chất lượng chiếm 98,9% số trường được đánh giá ngoài Ngoài ra, cóhơn 20.000 cán bộ quản lý, giáo viên các Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục

và Đào tạo, các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên được được BộGiáo dục và Đào tạo tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về đánh giá ngoài.Đội ngũ cán bộ này đã góp phần quan trọng trong việc triển khai các hoạt động đảmbảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục tại các địa phương Nhìn chung,trong gần 10 năm triển khai hoạt động kiểm định chất lượng, Bộ Giáo dục và Đàotạo đã ban hành hệ thống văn bản cho hoạt động kiểm định chất lượng giáo dụctương đối đầy đủ; các cơ sở giáo dục đã có nhận thức về tầm quan trọng của côngtác kiểm định chất lượng giáo dục; đã hình thành được đội ngũ cán bộ được bồidưỡng về kiến thức trong công tác này Đồng thời, các sở Giáo dục và Đào tạo - cơquan quản lý giáo dục trực tiếp các cơ sở giáo dục phổ thông đã có chỉ đạo sát đểcác cơ sở giáo dục đồng loạt triển khai thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.Hoạt động đánh giá ngoài đã phát huy được tác dụng nhất định đối với các cơ sởgiáo dục phổ thông, là một kênh thông tin tư vấn, giúp nhà trường nhận thấy rõ hơnthực trạng để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng hợp lý, thiết thực hơn [22].Đồng quan điểm, nhóm nghiên cứu Nguyễn Quốc Chính, Nguyễn Hội Nghĩa, HồĐắc Hải Miên, Lã Hoài Tuấn thuộc Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục Đạihọc Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2018) đánh giá, hệ thống văn bản quản lý vềcông tác kiểm định chất lượng giáo dục đã tương đối hoàn thiện, tạo hành lang pháp

lý ổn định và bền vững cho hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục Hệ thốngkiểm định chất lượng đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức về chất lượng của các cơ

sở giáo dục; giúp Nhà nước, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách, có thông tin

về thực trạng giáo dục toàn quốc; người học có thông tin về chất lượng chính sáchgiáo dục, tạo cơ sở cho việc lựa chọn trường học phù hợp [19]

Đi vào chi tiết chất lượng báo cáo tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáodục, Nguyễn Quang Giao (2014) cho rằng, hiện nay nhiều trường đang gặp khókhăn trong quá trình tự đánh giá, như nhận thức của các thành viên trong trường vềkiểm định chất lượng nói chung và hoạt động tự đánh giá nói riêng còn hạn chế, độingũ tham gia hoạt động tự đánh giá đa phần là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài

Trang 34

bản về kỹ năng viết báo cáo, nguồn kinh phí cho hoạt động còn hạn hẹp Do đó, tácgiả đề xuất một số biện pháp về quản lý như sau: (1) Nâng cao nhận thức của cácthành viên nhà trường về kiểm định chất lượng giáo dục và tự đánh giá trong kiểmđịnh chất lượng; (2) Xây dựng kế hoạch tự đánh giá đầy đủ, phù hợp, khả thi; (3)Tăng cường năng lực của ban thư ký và các nhóm công tác chuyên trách; (4) Ápdụng phương thức triển khai hoạt động tự đánh giá phù hợp; (5) Tăng cường chỉđạo, kiểm tra, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự đánh giá; (6) Đảm bảo nguồntài chính cho hoạt động tự đánh giá; (7) Tăng cường vai trò của chuyên gia tư vấn

hỗ trợ quá trình tự đánh giá [39]

Theo đánh giá của Dương Nguyên Quốc (2013), mặc dù hoạt động kiểm địnhchất lượng giáo dục đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nhà trườngsong thực tiễn vẫn chưa tương xứng Do đó, các cơ sở giáo dục cần làm tốt công táctuyên truyền để nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các lực lượng xã hội, tạo điềukiện thuận lợi để hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục từng bước phát triểnvững chắc và đi vào chiều sâu Khi đã nhận thức đầy đủ và đúng vai trò của côngtác kiểm định chất lượng giáo dục, các nhà quản lý giáo dục sẽ thực hiện tốt mụctiêu nâng cao chất lượng giáo dục Việc tổ chức kiểm định chất lượng cần có sự kếthợp giữa quản lý Nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo) và các tổ chức kiểm định độclập Sự tham gia của các tổ chức kiểm định độc lập sẽ làm cho hoạt động kiểm địnhchất lượng giáo dục thêm phong phú, khách quan, tạo ra kết quả thuyết phục đối với

xã hội Ngoài ra, việc xây dựng một kế hoạch lâu dài cho công tác kiểm định chấtlượng giáo dục là rất cần thiết, bao gồm việc xây dựng quy trình kiểm định và đảmbảo chất lượng giáo dục Các nhà quản lý cần có biện pháp tổ chức, chỉ đạo thựchiện, thanh tra, kiểm tra hợp lý nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động kiểm định chấtlượng giáo dục của nhà trường [51]

Ở cấp độ quản lý vĩ mô, Bùi Võ Anh Hào (2015) đưa ra một số đề xuất vềtriển khai kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam, bao gồm: (1) Áp dụng và thựchiện triển khai nguyên tắc “tính độc lập”, tức là hoạt động kiểm định gồm toàn bộquá trình đánh giá, ra quyết định điều chỉnh đối với cơ sở đào tạo hoặc chương trìnhđào tạo không chịu tác động, ảnh hưởng (về chính trị hay tài chính) của các bên liênquan như Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan quản lý Nhà nước, các

Trang 35

trường đại học, cao đẳng cùng các đối tượng tham gia quá trình này; (2) Tiệm cận,từng bước cải tổ quy trình tổ chức nhằm giảm tải cho việc kiểm định chất lượng trên

cơ sở tham khảo mô hình kiểm định chất lượng của các nước phát triển, tham vấncác chuyên gia cũng như các trường trong và ngoài nước; (3) Hướng đến phươngpháp tiếp cận “bắt buộc” dựa trên cơ sở phân cấp; (4) Bộ tiêu chuẩn kiểm định chấtlượng cần nhấn mạnh về quá trình thực hiện với những bước tiến bộ; (5) Việc triểnkhai thực hiện đảm bảo: tuyển chọn, đào tạo kiểm định viên chú trọng kinh nghiệmthực tế và trình độ; thành lập ban kiểm soát độc lập giám sát, đánh giá hoạt độngcủa các tổ chức kiểm định chất lượng, đảm bảo chất lượng cũng như các hoạt động

và công cụ khác để tư vấn cho Nhà nước, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo vềcác vấn đề liên quan [31]

Trên cơ sở thử nghiệm kiểm định chất lượng giáo dục bậc trung học phổ

thông, Nguyễn Kim Dung (2016) đề xuất một số giải pháp cụ thể sau: Thứ nhất, về

quản lý và tổ chức: Tăng cường xây dựng và thực hiện các tiêu chí bổ nhiệm đối vớilãnh đạo quản lý các trường, định kỳ đánh giá năng lực, xây dựng tầm nhìn chungvới các thành viên khác; Cán bộ quản lý cấp sở Giáo dục và Đào tạo và cấp trườngthường xuyên điều chỉnh việc thực hiện công việc của trường, tập trung vào đánhgiá đầu ra thông qua cơ chế đảm bảo chất lượng hiệu quả; Thực hiện báo cáo vềthành tích của trường cho các đối tượng liên quan để nâng cao tính minh bạch, tínhtrách nhiệm của trường; Chú trọng các vấn đề như sứ mệnh, tầm nhìn và các hướng

ưu tiên phát triển của trường; Tập trung vào kết quả tự đánh giá và báo cáo tổng kếtcủa trường; Đưa công nghệ thông tin vào quản lý và điều hành các hoạt động kiểm

định chất lượng Thứ hai, về đội ngũ: Sở Giáo dục và Đào tạo yêu cầu tập trung vào

các yếu tố đầu ra và tính quy trình kiểm định chất lượng; Cán bộ quản lý chú trọngvào đánh giá cách thức các thành viên trong trương phối hợp với nhau; Chú trọngnăng lực (kỹ năng và thái độ) của giáo viên đối với học sinh; Chú trọng kết quả đầu

ra và kết quả học tập của người học Thứ ba, về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy

học: Chú trọng tính hiệu quả của việc sử dụng cũng như các nhu cầu phát triển của

học sinh, hỗ trợ phù hợp cho các nhu cầu giáo dục đặc biệt Thứ tư, về quan hệ giữa

nhà trường, gia đình và xã hội: Nhấn mạnh vào tính độc đáo, tính riêng của văn hóanhà trường; Phối hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức xã hội bên ngoài, hội cựu

Trang 36

học sinh Thứ năm, về hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục: Tập trung vào tính

hiệu quả của các hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục; Đánh giá thành tích xếploại học sinh dựa trên sự phù hợp với năng lực và nhu cầu thực tế của học sinh;Hoạt động đánh giá cập nhật và chú trọng tính phù hợp để đáp ứng nhu cầu cụ thểcủa học sinh Tác giả nhấn mạnh, cán bộ quản lý các trường và các cấp quản lý caohơn cần có các biện pháp tuyên truyền rộng rãi đến toàn thể cán bộ, giáo viên thôngqua tổ chức tập huấn tại các trường về mục tiêu và ý nghĩa của kiểm định chấtlượng Bản thân cán bộ quản lý cũng cần có ý thức nghiêm túc thực hiện kiểm địnhchất lượng theo hướng cải tiến chất lượng thật sự của trường, thay vì chỉ thực hiệnmang tính hình thức để hoàn thành nhiệm vụ [21]

Đánh giá thực tiễn triển khai kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông trongthời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế cần khắc phục, tác giả Nguyễn Quý Thanh(2010) cho rằng, hiện tại, Việt Nam có 4 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đạihọc được thành lập và đã hoạt động tương đối ổn định Với đội ngũ các kiểm địnhviên được đào tạo bài bản, được trang bị các kỹ thuật đo lường đánh giá, kết quảđánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục và các chương trình đào tạo đến nay bướcđầu đã được xã hội công nhận cũng như được các trường đại học, cao đẳng sửdụng làm căn cứ, động lực để cải tiến chất lượng đào tạo Do vậy, để đảm bảothông suốt trong quá trình quản lý cả hệ thống giáo dục quốc dân, cần thống nhấtgiao cho các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đảm nhiệm việc triển khaithực hiện kiểm định chất lượng giáo dục đối với các cấp học và trình độ đào tạo,trong đó có mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên Để triển khai các hoạtđộng kiểm định chất lượng giáo dục, các tổ chức kiểm định chất lượng nên thànhlập thêm các phòng chuyên môn và thiết lập Tác giả Nguyễn Quý Thanh cũngnhấn mạnh, về cơ chế tài chính, Nhà nước nên có quỹ kiểm định chất lượng giáodục để hỗ trợ tài chính cho các tổ chức kiểm định chất lượng và các cơ sở giáo dục.Hiện tại, nguồn kinh phí cho hoạt động đánh giá ngoài theo quy định chi cho kiểmđịnh chất lượng giáo dục phổ thông là một cản trở không nhỏ khi thực hiện công táckiểm định chất lượng [47]

Theo tác giả Bành Tiến Long (2018), kết quả kiểm định là căn cứ để xác địnhchất lượng, vị thế, uy tín, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục

Trang 37

Trên cơ sở kiểm định, các cơ quan quản lý có cơ sở khoa học để điều chỉnh, đổi mới

cơ chế, chính sách, hỗ trợ đầu tư, giao nhiệm vụ, đồng thời là căn cứ để Nhà nước

và xã hội giám sát hoạt động của các cơ sở giáo dục Ngược lại, nhiều trường cũngcam kết mạnh mẽ và thực hiện cải tiến chất lượng ngay sau đánh giá Theo tác giả,

để công tác bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục tiếp tục phát huy hiệu quả thì:(1) Đối với Nhà nước, cần kịp thời sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp quy về bảođảm, kiểm định chất lượng giáo dục như: Thống nhất tổ chức, hoạt động đánh giá vàcác thước đo giữa các trung tâm kiểm định; quy định, hướng dẫn xây dựng và vậnhành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của các cơ sở giáo dục; danh mục các tổchức kiểm định quốc tế được Việt Nam công nhận; nghiên cứu xây dựng mô hình hệthống bảo đảm, kiểm định giáo dục của Việt Nam phù hợp thực tiễn trong nước vàquốc tế… (2) Đối với các trung tâm kiểm định, cần tổ chức đào tạo, phát triển vànâng cao chất lượng đội ngũ kiểm định viên mang tính chuyên nghiệp; xây dựng cơ

sở dữ liệu và kế hoạch sử dụng đội ngũ kiểm định viên một cách hợp lý; mở rộng hợptác với các mạng lưới bảo đảm và kiểm định chất lượng quốc tế (3) Đối với các cơ sởgiáo dục, cần xây dựng tổ chức bảo đảm chất lượng không chỉ ở cấp trường mà còn

có cán bộ kiểm định viên ở cấp khoa, phòng, ban; cần có cơ chế tài chính hợp lý chocác trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục để duy trì hoạt động và phát triển [42].Trên cơ sở đánh giá chung về tình hình triển khai công tác kiểm định chấtlượng hiện nay, tác giả Mai Văn Chung (2018) nhấn mạnh, công tác kiểm định chấtlượng giáo dục đã được tăng cường và chú trọng, số lượng các cơ sở giáo dục đạttiêu chuẩn kiểm định quốc tế và trong nước tăng lên đáng kể, tuy nhiên để giáo dụcViệt Nam có tên trong các bảng xếp hạng quốc tế thì cần thực hiện các nhóm giảipháp sau: (1) Xây dựng và thực hiện kế hoạch tổng thể cải tiến chất lượng nhàtrường: Định kỳ rà soát, bổ sung, điều chỉnh và triển khai thực hiện hiệu quả mụctiêu, tầm nhìn và chiến lược phát triển của nhà trường; Hoàn thiện hệ thống bảođảm chất lượng bên trong theo định hướng chuẩn khu vực, quốc tế và một số đạihọc tiên tiến trên thế giới, kiện toàn đơn vị chuyên trách, tăng cường năng lực độingũ cán bộ, viên chức; xây dựng kế hoạch đảm bảo chất lượng hàng năm và triểnkhai theo kế hoạch đề ra; Thực hiện kiểm định các chương trình đào tạo theo tiêuchuẩn khu vực và quốc tế theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; (2) Triển khai

Trang 38

hiệu quả công tác tự đánh giá, đánh giá ngoài và cải tiến sau đánh giá ngoài ở cấp

cơ sở giáo dục và/hoặc chương trình đào tạo: Đối với các cơ sở chưa đăng ký kiểmđịnh chất lượng, cần có giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tựđánh giá, khẩn trương rà soát, hoàn thiện báo cáo tự đánh giá, đăng ký với các tổchức kiểm định chất lượng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho hoạt động đánhgiá ngoài; Đối với các cơ sở giáo dục đã được đánh giá ngoài nhưng chưa đủ điềukiện để được công nhận đạt kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, cần tập trungkhắc phục hạn chế, cải tiến chất lượng ở các tiêu chí chưa đạt, phát huy những tiêuchí đã làm tốt; Đối với các cơ sở giáo dục đã được đánh giá ngoài và công nhận đạttiêu chuẩn chất lượng giáo dục, tiếp tục cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo, thựchiện báo cáo giữa kỳ theo quy định; triển khai các giải pháp cải tiến nâng cao chấtlượng giáo dục sau đánh giá ngoài [20]

Ngoài ra, trong chương trình đào tạo sau đại học đã có một số công trình nghiêncứu liên quan đến quản lý kiểm định chất lượng giáo dục của các bậc học, điển hình như:

Ở bậc trung cấp chuyên nghiệp, Bùi Văn Tưởng (2009) nghiên cứu về quản lýcác trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng theo bộ tiêuchuẩn kiểm định chất lượng, trong đó đưa ra các biện pháp: (i) Nâng cao nhận thức

về tầm quan trọng của công tác kiểm định chất lượng giáo dục cho các cán bộ quản

lý giáo dục ở cơ quan chỉ đạo và các nhà trường; (ii) Đổi mới quản lý của Sở Giáodục và Đào tạo hướng về các nhà trường, tạo động lực cho sự phát triển của nhàtrường thông qua việc quán triệt bộ tiêu chuẩn đến mỗi cán bộ giáo viên của cáctrường; ((iii) Chỉ đạo thực hiện tự đánh giá của các trường theo bộ tiêu chuẩn và chỉđạo công tác đánh giá ngoài với các trường; (iv) Chỉ đạo đổi mới toàn diện quá trìnhdạy học của các trường theo yêu cầu của bộ tiêu chuẩn; (v) Chỉ đạo các trườngtrong công tác bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ nhà giáo

Ở bậc trung học phổ thông, Phạm Thị Hồng Vân (2011) bàn về quản lý cáctrường trung học phổ thông thành phố Hải Phòng theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chấtlượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó đề xuất các giải pháp: (1) Tổ chức cáclớp tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về mục đích của công tác kiểm định chấtlượng giáo dục cho các cán bộ quản lý giáo dục ở cơ quan chỉ đạo và ở các trường;(2) Hướng dẫn và tổ chức cho đối tượng nghiên cứu chuẩn, xác định nội dung, xây

Trang 39

dựng quy trình và xác định minh chứng cho từng bước trong quy trình thực hiệntừng công việc; (3) Hướng dẫn cho cán bộ quản lý xây dựng kế hoạch khắc phụcđiểm yếu; (4) Tập huấn cho cán bộ, giáo viên cách viết một báo cáo tự đánh giá; (5)Hướng dẫn cho đơn vị các bước chuẩn bị và cách đón tiếp một đoàn đánh giá ngoài;(6) Chỉ đạo thực hiện việc tự đánh giá của các trường theo bộ tiêu chuẩn và chỉ đạocông tác đánh giá ngoài với các trường; (7) Tăng cường phối hợp trong công tác chỉđạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng; (8) Chỉ đạo công tác tổng kết, rútkinh nghiệm kiểm định chất lượng giáo dục của nhà trường Đặng Thị Thùy Linh(2014), nghiên cứu quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổthông tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý kiểm địnhchất lượng giáo dục trường trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh với cácnhóm giải pháp: (1) Xây dựng chuyên đề bồi dưỡng và tổ chức bồi dưỡng kiểmđịnh viên cho hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài; (2) Quản lý hoạt động tựđánh giá, (3) Quản lý hoạt động đánh giá ngoài; (4) Ứng dụng công nghệ thông tin

và xây dựng các chính sách hỗ trợ kiểm định chất lượng giáo dục trường trung họcphổ thông tại thành phố Hồ chí Minh [41]

Ở bậc trung học cơ sở, Ngô Văn Nhậm (2013), xem xét hoạt động kiểm địnhchất lượng giáo dục trường trung học cơ sở tại thành phố Hải Phòng theo tiêu chuẩnđánh giá chất lượng giáo dục trường trung học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đó

đề xuất một số biện pháp chỉ đạo kiểm định chất lượng trường trung học cơ sở nhưsau: (1) Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở cơ quan chỉ đạo

và ở các trường trung học cơ sở về mục đích của kiểm định chất lượng giáo dục; (2)Tập huấn tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục cho cán bộ quản lý, giáoviên, nhân viên các trường; (3) Hướng dẫn cho các trường trung học cơ sở các bướcchuẩn bị và cách đón tiếp đoàn đánh giá ngoài; (4) Định kỳ tổ chức bồi dưỡngchuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ kiểm định viên; (5) Tăng cường công tác chỉđạo tự đánh giá và đánh giá ngoài chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở; (6)Chỉ đạo đổi mới việc công bố kết quả kiểm định chất lượng giáo dục và cải tiến chấtlượng giáo dục đối với các trường; (7) Tăng cường phối hợp trong công tác chỉ đạo

Trang 40

thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục; (8) Chỉ đạo công tác tổng kết, rút kinhnghiệm kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở theo tiêu chuẩn đánhgiá chất lượng giáo dục.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn quản lý công tác tự đánhgiá đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác tự đánh giá trongkiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở, bao gồm: Nâng caonhận thức cho cán bộ, giáo viên và nhân viên về công tác tự đánh giá trong kiểmđịnh chất lượng giáo dục; Xây dựng kế hoạch tự đánh giá trong kiểm định chấtlượng giáo dục của nhà trường; Hoàn thiện cơ cấu tổ chức thực hiện công tác tựđánh giá; Chỉ đạo thực hiện tốt công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượnggiáo dục; Nâng cao hiệu quả việc kiểm tra, đánh giá của hiệu trưởng đối với côngtác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục; Tăng cường các điều kiện hỗtrợ cho công tác tự đánh giá Theo tác giả, để hiệu trưởng có thể thực hiện thànhcông các biện pháp đó thì đòi hỏi sự quan tâm, hỗ trợ từ các cấp chính quyền địaphương, sở và phòng giáo dục [22]

1.3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố

và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố

Từ tổng quan các hướng nghiên cứu về kiểm định chất lượng giáo dục và quản

lý kiểm định chất lượng giáo dục, có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, trên thế giới, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đã được

hình thành từ Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ XIX, xuất phát từ kiểm định chất lượng giáodục đại học và ngày càng trở thành một xu hướng toàn cầu, có sức lan tỏa mạnh

mẽ ra khắp thế giới như một công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục toàn bộ các bậchọc Hầu hết các quốc gia bắt đầu triển khai kiểm định chất lượng từ giữa thậpniên 1990 Theo đó, các tổ chức và các các nhà nghiên cứu đã đưa ra các địnhnghĩa khác nhau về kiểm định chất lượng giáo dục, đồng thời xác định các nguyênnhân, vai trò, mục tiêu cũng như các bước trong quy trình kiểm định Mặc dù ở

Ngày đăng: 13/11/2019, 18:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w