1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI DỰ THI EM YÊU LỊCH SỬ XỨ THANH NĂM 2016

21 1,8K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dòng chảy của lịch sử khoa bảng nước nhà, vùngđất này đã có 1627 các nhà khoa bảng, trong đó có 240 tiến sĩ, với nhiều têntuổi được lưu danh muôn thuở trên các lĩnh vực văn hóa, sử

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU

Em yêu lịch sử Xứ Thanh

Họ và tên: Lương Thị Hương Giang - Dân tộc : Thái

Học sinh : Lớp 8

Trường Tiểu học & THCS Tân Bình, huyện Như Xuân

Câu 1: Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu

(tức Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất.

Trả lời:

Thanh Hoá ở Bắc Trung Bộ, điểm cực Bắc của Thanh Hoá cách thủ đô HàNội 150 km Phía Tây Thanh Hóa giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào,với chiều dài đường biên giới 192 km chạy qua những vùng núi cao hiểm trở.Phía Bắc giáp tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Sơn La với chiều dài địa giới 175

km Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An với đường địa giới dài hơn 160km và phíaĐông là biển Đông với đường bờ biển dài 102km Suốt chiều dài của lịch sử Tổquốc, Thanh Hóa là một địa phương tương đối ổn định về mặt địa giới hànhchính Vùng đất này là địa bàn sinh tụ của 7 tộc người anh em: Kinh, Mường,Thái, Dao, Mông, Thổ và Khơ Mú mà mỗi tộc người mang một sắc thái riêng,tạo nên bức tranh lung linh đa sắc mầu của văn hóa xứ Thanh

Trang 2

Thanh Hoá cũng là vùng đất truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường, nơiphát tích của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam Vùng đất đã gắn liền vớiquá trình tồn vong, hưng thịnh của quốc gia, dân tộc Người xứ Thanh xưa vànay đã viết nên nhiều trang sử hào hùng của dân tộc, được lưu danh bởi cáctên tuổi như: Triệu Thị Trinh, Lê Hoàn, Lê Lợi, Dương Đình Nghệ, NgôQuyền và các vương triều trong lịch sử dân tộc như vương triều Lê (tiền Lê,hậu Lê), Hồ, Nguyễn Không những vậy vùng đất "địa linh" này còn sản sinh

ra những dòng Chúa nổi danh Chúa Trịnh với 249 năm có mặt trên chínhtrường Đại Việt đã song hành cùng vua Lê dựng đặt kỷ cương phép nước,chúa Nguyễn bắt đầu từ Nguyễn Hoàng đã có công mở cõi về phía Nam, ổnđịnh đồ bản và giữ vững chủ quyền dân tộc suốt các thế kỷ XVII, XVIII, để rồicác vua Nguyễn tiếp nối, thống nhất đất nước nói đến công lao vĩ đại của ôngxuyên suốt quá trình đấu tranh và xây dựng đất nước là đại đoàn kết dân tộc Không chỉ là quê cha đất tổ của "Tam vương nhị chúa", Xứ Thanh còn

là vùng đất hiếu học Trong dòng chảy của lịch sử khoa bảng nước nhà, vùngđất này đã có 1627 các nhà khoa bảng, trong đó có 240 tiến sĩ, với nhiều têntuổi được lưu danh muôn thuở trên các lĩnh vực văn hóa, sử học, quân sự, ngoạigiao nổi tiếng như: Khương Công Phụ, Lê Văn Hưu, Đào Duy Từ

Trong quá trình học tập, tìm hiểu về lịch sử Việt Nam, đặc biệt là lịch sửThanh Hóa; trải qua các triều đại vua, chúa, ấn tượng sâu sắc nhất là người anhhùng áo vải Lê Lợi

Lê Lợi là một trong những anh hùng lớn của dân tộc, không chỉ ở côngđánh đuổi giặc Minh xâm lược nước ta mà con mở ra một kỉ nguyên mới chonhân dân, bởi triều Lê là một trong những triều đai hưng thịnh mà đỉnh cao làvua Lê Thánh Tông một vị vua đựơc rất nhiều sách sử ca ngợi

- Lê Lợi là một vị anh hùng yêu nước thương dân: theo tác phẩm "Bình ngôđại cáo" của Nguyễn Trãi thì cuộc khởi nghĩa của lê lợi bước đầu gặp rất nhiềukhó khăn nhưng bằng ca tấm lòng yêu nước của minh Lê Lợi đã vượt lên tất cả

và đã giành thắng lợi Hơn thế nữa, theo người xưa kể lại rằng trong quá trìnhđánh giặc dù khó khăn nhưng ông có truyền lệnh rằng bất cứ binh lính nàocũng không được cướp bóc của cải của nhân dân, vì vậy khi quân lính của ông

đi đến đâu đều nhận được tình cảm của nhân dân

Từ khi phất cờ khởi nghĩa, Lê Lợi đã kêu gọi và tập hợp được các tầng lớpnhân dân, từ những người nông dân, tiểu thương cho đến vương hầu, quý tộc,

từ kinh thành đến đồng bằng, miền núi, miền xuôi, miền biển, các tôn giáo,các dân tộc

Tất cả đều hướng về nghĩa quân Lam Sơn, dưới lá cờ đại nghĩa đồng lòngđứng dậy kháng chiến chống giặc Minh xâm lược Với dũng khí và uy tín cao

Trang 3

của Lê Lợi, thanh thế cuộc khởi nghĩa đã lan tỏa rộng lớn, khơi dậy lòng yêunước, thương nòi, thu hút nhân dân và anh hùng, hào kiệt có tài văn, võ cảnước, đoàn kết một lòng dũng cảm chiến đấu đánh đuổi quân Minh tàn bạonhư: Nguyễn Trãi đến từ Thăng Long, Nguyễn Xí đến từ Nghệ An, TrầnNguyên Hãn đến từ Vĩnh Phúc, Trịnh Lôi đến từ Hà Nam, Bùi Quốc Hưng đến

từ Hà Sơn Bình, Lưu Nhân Chú đến từ Thái Nguyên,

Trong những lúc thuận lợi cũng như những lúc khó khăn "nghìn cân treosợi tóc" của cuộc chiến tranh giải phóng, nhân dân ta đã tình nguyện cống hiếntiền của và tính mạng, tự nguyện hy sinh vì sự nghiệp độc lập dân tộc

Ðại Việt sử ký toàn thư ghi nhận: "Nhân dân trong cõi tranh nhau đếncửa quân xin liều chết đánh giặc" với phương châm lấy ít địch nhiều, lấy yếuthắng mạnh, Lê Lợi đã căng địch ra mà đánh, cụm địch lại khi cần thiết mà tiêudiệt và cứ như thế sức mạnh của nghĩa quân dần dần lớn mạnh, mở rộng ra cảnước với thế chẻ tre chưa từng có trong lịch sử dân tộc thời bấy giờ

( Lê Lợi 1385 – 1433)

Trong mười năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạonghĩa quân đánh thắng nhiều trận lớn, làm kẻ thù kinh hoàng bạt vía, quântướng hỗn loạn, từ đạo quân này đến đạo quân khác lần lượt đầu hàng, kết thúc

là chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang lẫy lừng, chém đầu tướng giặc LiễuThăng, buộc chủ tướng giặc là Vương Thông cùng đạo quân Minh bại trận phải

Trang 4

dự Hội thề Ðông quan ngày 29-12-1427 xin rút quân về nước và đến ngày

3-1-1428 trên toàn cõi giang sơn Ðại Việt sạch bóng quân xâm lược

Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế ngày 15-4 năm Mậu Thân 1428 tạiÐiện Kính Thiên, lấy hiệu là "Thuận Thiên thừa vận, Duệ Vân Anh Vũ ÐạiVương", đặt tên nước là Ðại Việt, đóng đô tại Ðông Ðô (Hà Nội) Ðánh dấumột thời kỳ mới kiến quốc, lập ra những chính sách cai trị về kinh tế - xã hộicho nước Ðại Việt Sự nghiệp của Lê Lợi đã được Ức Trai Nguyễn Trãi nêu bậttrong áng hùng thư Bình Ngô Ðại cáo được coi như một bản tuyên ngôn độclập của nước ta thời bấy giờ

Ðại Việt sử ký toàn thư đã chép về ông: "Lê Thái Tổ từ khi lên ngôi đếnkhi mất, thi hành chính sự thực rất khả quan, như ấn định luật lệnh, chế tác lễnhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện thuthập sách vở, mở mang trường học " vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩaquân đánh thắng nhiều trận lớn, làm kẻ thù kinh hoàng bạt vía, quân tướng hỗnloạn, từ đạo quân này đến đạo quân khác lần lượt đầu hàng, kết thúc là chiếndịch Chi Lăng - Xương Giang lẫy lừng, chém đầu tướng giặc Liễu Thăng, buộcchủ tướng giặc là Vương Thông cùng đạo quân Minh bại trận phải dự Hội thềÐông quan ngày 29-12-1427 xin rút quân về nước và đến ngày 3-1-1428 trêntoàn cõi giang sơn Ðại Việt sạch bóng quân xâm lược

Lê Lợi mất ngày 22-8 năm Quý Sửu 1433, hưởng thọ 49 tuổi

630 năm đã qua, nhưng bài học của cuộc kháng chiến thần thánh giảiphóng dân tộc do người Anh hùng Lê Lợi phát động và lãnh đạo đã chứngminh một thiên tài kiệt xuất về quân sự, chính trị, ngoại giao đã đạt tới đỉnhcao, được kết tinh bởi sức mạnh tổng lực của toàn dân tộc cho thắng lợi cuốicùng Lê Lợi đã đề ra kế sách chiến lược trường kỳ kháng chiến, biết vận dụngđúng thời cơ xuất phát từ thế và lực của ta và địch để định hướng tổ chức chiếnđấu lâu dài, cho thấy trí tuệ và khả năng tổ chức thiên tài của ông trong việcquy tụ và dùng người, tạo nên được sự đồng lòng, xả thân vì nước Khôngnhững là một nhà chính trị, nhà chỉ huy quân sự thiên tài, ông còn là nhà ngoạigiao lỗi lạc Ðể lấy ít thắng nhiều, ngoài việc sử dụng sách lược chiến thuật tiêuhao lực lượng địch trong mọi tình huống, ông còn dùng kế sách thuyết phụcđịch đầu hàng và khi giặc thua trận thì cấp thuyền, lương thực cho địch vềnước, tránh tổn hao xương máu quân, dân, đồng thời cũng giữ được hòa bìnhbền vững, thể hiện được tinh thần nhân đạo truyền thống của dân tộc Những disản về tư tưởng và khí phách của ông vẫn còn sống động mãi trong lịch sử vàtrong lòng nhân dân Ðồng hành tư tưởng cùng ông trong cuộc trường kỳ khángchiến ấy có những nhân tài kiệt xuất của Ðại Việt, trong đó nổi bật là Nguyễn

Trang 5

Trãi với tư tưởng: sức mạnh cả dân tộc, dân là gốc, lấy ít thắng nhiều, lấy yếuthắng mạnh, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn,

Cũng từ tư tưởng ấy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi làm chủ soái

đã viết nên bản anh hùng ca vĩ đại âm vang trong những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước và cả trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc hôm nay, mãi mãi là những bài học quý giá cho mọi thế hệ mai sau

Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “ Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” ( Phan Đại

Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông- NXB giáo dục 1988) Ngày 27/6/2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là di sản văn hóa thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên

du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này.

Trả lời: Từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 45 ngược lên phía

bắc, qua các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, đến huyện lỵ Vĩnh Lộc, ngược con đường Thiên Lý xưa kia độ 2 km là chúng ta đã đến Thành Tây Đô hay còn gọi

là Thành An Tôn, Thành Tây Giai Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa Đây là

kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407

Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly - lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhàTrần - cho xây dựng vào năm 1397 Thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) về Thanh Hóa Tháng 2năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay nhà Trần và đặt tên nước

là Đại Ngu (1400-1407), thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô Thành

Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây Đô, Tây

Kinh, Tây Nhai, Tây Giai

Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á

và là một trong rất ít còn lại trên thế giới Ngày 27/6/2011, tại Paris (Pháp),

trong kỳ họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản thế giới, UNESCO đã công nhận

thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới

Thành Nhà Hồ đã đáp ứng hai tiêu chí được quy định trong Công ước Di sản Thế giới năm 2008 Đó là tiêu chí 2 “bày tỏ sự trao đổi quan trọng của các giá trị nhân văn, qua một thời kỳ hay bên trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, quy hoạch thành phố hay thiết kế phong cảnh” và tiêu chí 4 “là ví dụ nổi bật về một

Trang 6

loại hình công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”.

Trong hồ sơ di sản thế giới, thành Nhà Hồ được mô tả là một công trình kỳ

vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thốngxây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và ĐôngNam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 Nhờ kỹ thuật xây dựng độcđáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, thành Nhà Hồđược bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn Đây

là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình

đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn gần như nguyênvẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á

Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiệntrạng thì phức hợp di sản thành Nhà Hồ ngoài Thành nội, Hào thành, La thànhcòn có Đàn tế Nam Giao

Năm 1397, Hồ Quý Ly chọn đất An Tôn xây thành thủ hiểm Thànhđược xây dựng ở khoảng giữa sông Mã và sông Bưởi, phía Bắc có núi ThổTượng, phía Tây có núi Ngưu Ngoạ, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam

là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới Sử cũ chobiết thành xây 3 tháng thì xong Thành Tây Đô được xây dựng trên bình đồkiến trúc gần vuông Hiện nay, thành có độ cao trung bình 7m đến 8m, cáccổng thành còn khá nguyên vẹn, riêng cửa nam cao tới 10m Thành Tây Đô làbằng chứng về sức lao động và tài năng của nhân dân ta và là công trình mangnhiều giá trị lịch sử văn hoá to lớn

Nét đặc sắc của tường thành này là ở phần xây đá bên ngoài, còn bêntrong đắp đất Mặt ngoài thành được gia cố bằng những tảng đá xanh đẽovuông vức, công phu ít nhất có từ 4 đến 5 mặt phẳng Nhiều phiến rất to ở cửaTây (dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao1,30m), được xếp chồng lên nhau thành hìnhchữ công Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kếtdính vẫn đảm bảo độ bền vững

Qua hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đấtnước và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn chođến ngày nay Tường thành không những được xây bằng đá tảng mà năm Tân

Tỵ (1401), Hồ Hán Thương hạ lệnh cho nhân dân nung gạch để xây thêm phầntường thành phía trên Phần tường gạch ngày nay gần như không còn nữanhưng những viên gạch vẫn thấy nằm rải rác trong các gia đình gần thành

Trang 7

Cho đến nay, nơi khai thác và cung cấp đá cho việc xây dựng thành Tây Đô và

cả việc chuyên chở vật liệu đang là đề tài bàn bạc Nhân dân địa phương chobiết, người xưa có thể lấy đá ở nhiều nơi quanh vùng Tây Đô, gần nhất là núi

đá xanh Yên Tôn, hiện còn những tảng đá xanh mang tên “An Tôn xã”

Hang Tượng dùng để nhốt voi chuyên chở đá xây thành Con đường phíaTây được lát đá xanh bằng phẳng từ bờ sông Mã đến cửa Tây còn có tên gọi

“Bến Đá” Gần đây, những hộ dân xung quanh đường còn giữ được những viên

bi đá Đá lấy từ nhiều nơi khác, chuyên chở bằng đường sông, đường bộ, chởbằng cộ (loại xe lớn có một bánh gỗ), chở bbằng voi kéo, hoặc người ta dùng

những viên bi đá cho khối đá khổng lồ trượt trượt lên trên

Thành nhà Hồ

Thành Tây Đô có 4 cửa : Đông, Tây, Nam,Bắc Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa Các mặt thành kỹ thuật ghép đá đạtđến trình độ cao Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình múicam,Thành nhà Hồ được đặt móng xây dựng vào năm 1397 Đây là công trìnhkiến trúc đồ sộ được xây dựng bằng đá độc nhất vô nhị ở Việt Nam Trong lòngđất của Khu di tích còn lưu giữ các dấu tích Cung điện, đền đài, đường xá vànghệ thuật trang trí, các làng cổ cùng toàn bộ cảnh quan đồi núi, sông hồ mangđậm chất phong thủy điển hình Di sản thành nhà Hồ thể hiện sự giao thoa vănhóa giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á

Trang 8

Thành Nhà Hồ đã đáp ứng hai tiêu chí được quy định trong Công ước Disản Thế giới năm 2008 Đó là tiêu chí 2 “bày tỏ sự trao đổi quan trọng của cácgiá trị nhân văn, qua một thời kỳ hay bên trong một khu vực văn hóa của thếgiới, về những phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, quyhoạch thành phố hay thiết kế phong cảnh” và tiêu chí 4 “là ví dụ nổi bật về mộtloại hình công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc cảnhquan minh họa một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”.

Trong hồ sơ di sản thế giới, thành Nhà Hồ được mô tả là một công trình kỳ

vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thốngxây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và ĐôngNam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 Nhờ kỹ thuật xây dựng độcđáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, thành Nhà Hồđược bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn

Đây là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác độngcủa quá trình đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn gầnnhư nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất ở khu vực Đông Á và ĐôngNam Á

Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiệntrạng thì phức hợp di sản thành Nhà Hồ ngoài Thành nội, Hào thành, La thànhcòn có Đàn tế Nam Giao

Câu 3: Triệu thị Trinh có một câu nói nổi tiếng : “ Tôi muốn cưỡi cơn gió

mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chị khom lưng làm tỳ thiếp người ta” Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh.

Trả lời: Tổ quốc chúng ta có biết bao vị nữ anh hùng đã hy sinh cho quê

hương và dân tộc, đã đánh đuổi giặc ngoại xâm mang lại độc lập, tự do cho dântộc Việt Nam, và Bà Triệu là một trong những vị anh hùng đó Bà đã nêu caotấm gương hy sinh anh dũng cho toàn dân ta nói chung và cho phụ nữ ViệtNam nói riêng Bà là nữ anh hùng dân tộc đã hy sinh trọn đời mình để chốnggiặc ngoại xâm, bà đã có công điều binh, khiển tướng, đánh đuổi quân xâmlược Lịch sử Việt Nam đã ghi công một gương sáng cho các nhi nữ anh hào là

“giặc đến nhà đàn bà phải đánh.”

Trang 9

Nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Bà Triệu đã đủ mạnh để tấn công thành

Tư Phố – trụ sở đầu não của chính quyền đô hộ ở Cửu Chân Lúc này cũng làthời kỳ mà phong trào đấu tranh của nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân đã diễn rahết sức sôi nổi Tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của anh em họ Lý ở Bồ Điền(Triệu Lộc – Hậu Lộc) Đó là thời cơ thuận lợi để Bà Triệu có thể giải phónghoàn toàn Châu Giao Đầu năm 248 từ núi rừng Ngàn Nưa, nghĩa quân Bà Triệutấn công thành Tư Phố và đã mau chóng giành thắng lợi trọn vẹn Bà Triệucùng nghĩa quân vượt sông Mã xuống vùng Bồ Điền để xây dựng căn cứ địa

Về mặt quân sự, địa hình tự nhiên vùng Bồ Điền có đủ yếu tố để xây dựng mộtcăn cứ thuận lợi cho cả “công” lẫn “thủ” Từ đây có thể ngược sông Lèn, sông

Âu ra sông Mã rút lên mạn Quân An (quê hương Bà Triệu), hoặc tới căn cứ núiNưa lúc cần; lại có thể chủ động tấn công ra phía Bắc theo lối Thần Phù đểkhống chế địch ở mặt này Dựa vào địa hình hiểm yếu ở Bồ Điền, BàTriệu đã cùng anh em họ Lý chỉ huy nghĩa quân xây dựng một hệ thống đồnlũy vững chắc Thanh thế nghĩa quân ngày càng lớn, khắp hai quận Cửu Chân,Giao Chỉ nhân dân một lòng hưởng ứng công cuộc cứu nước của Bà Triệu Cácthành ấp của giặc Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị hạ Bọn quan lại nhà Ngô từThái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng kế tiếp nhau kẻ bị giết, kẻ chạy trốn TừCửu Chân, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan ra Giao Chỉ và vào tận CửuĐức, Nhật Nam Thứ sử Châu Giao bị giết, bọn quan lại đô hộ ở Châu Giao hếtsức hoảng sợ trước thanh thế và sức mạnh của nghĩa quân Bà Triệu Sử nhà

Trang 10

Ngô thú nhận: Năm 248 “toàn thể Châu Giao đều chấn động” Nhà Ngô lo sợ,phải phái viên danh tướng Lục Dận (cháu họ viên tướng Lục Tốn) làm thứ sửChâu Giao, đem thêm tám nghìn quân sang nước ta đàn áp phong trào khởinghĩa Lục Dận một mặt ra sức trấn áp nhân dân, mặt khác dùng thủ đoạn xảoquyệt đem của cải, tiền bạc lung lạc một số thủ lĩnh địa phương nhằm ổn địnhGiao Chỉ, tập trung lực lượng tấn công Cửu Chân Ổn địnhđược Giao Chỉ, Lục Dận đã đem toàn bộ lực lượng tấn công Cửu Chân theo haiđường thủy: một mũi từ Tạc Khẩu qua hành lang Hoàng Cương – Chính Đại –Bạch Ác ngược sông Lèn vây bức phía bắc, mũi theo đường biển vòng quasông Sung và Vích (cửa Lạch Trường) đánh vào phía Nam Nắm đượcmưu đồ của giặc, Bà Triệu cùng bộ chỉ huy nghĩa quân đã chủ động tung mộtlực lượng quan trọng xuôi sông Lèn rồi theo sông Đào tiến ra chặn đánh địch ởmạn Yên Mô - Ninh Bình Suốt hai tháng ròng bị giặc Ngô vây hãm, nhưng căn

cứ địa Bồ Điền vẫn đứng vững Tại đây, nghĩa quân đã chiến đấu hơn ba mươitrận lớn nhỏ và đều thu được thắng lợi Quân giặc đã phải gọi Bà Triệu là NhụyKiều tướng quân (vị nữ tướng yêu kiều) và Lệ Hải Bà Vương (Vua Bà ở vùng

biển mỹ lệ), mỗi khi gặp Bà giặc Ngô đã phải khiếp sợ thốt lên: “Hoành qua đường hổ dị Đối diện Bà Vương nan!” Múa ngang ngọn dáo chống hùm dễ Đối

hãm không thành, lại bị tiêu hao một lực lượng quan trọng và có nguy cơ thấtbại, Lục Dận đã phải điều thêm binh, cử thêm tướng quyết tiêu diệt căn cứnghĩa quân Trong một trận chiến đấu ác liệt tại căn cứ Bồ Điền, Bà Triệu đãanh dũng hy sinh ở núi Tùng, đó là ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn – 248.Tưởng nhớ ân đức lớn lao của Bà Triệu, nhân dân đã lập đền thờ Bà ở núi Gai,

xây lăng mộ Bà trên núi Tùng

Đền Bà Triệu - Thanh Hóa

Ngày đăng: 06/12/2016, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w