1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn học dân gian dân tộc dao ở thái nguyên

132 632 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 791,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, tôi cũng được nghe một số câu chuyện kể, các tác phẩm văn học dân gian dân tộc Dao và nhận thấy rằng, dân tộc Dao có kho tàng văn học dân gian tương đối đa dạng, phong phú về

Trang 1

DƯƠNG THÙY PHƯƠNG

VĂN HỌC DÂN GIAN DÂN TỘC DAO

Ở THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN – NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

DƯƠNG THÙY PHƯƠNG

VĂN HỌC DÂN GIAN DÂN TỘC DAO

Ở THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hằng Phương

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài này là do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện dưới sự giúp đỡ của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Hằng Phương Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tư liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm2016

Tác giả luận văn

Dương Thùy Phương

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu; Khoa Văn - Xã hội; Ban Chủ nhiệm; Quý thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học Cảm ơn Ban Giám đốc

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên; lãnh đạo Phòng Quản lý Văn hóa, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu Cảm ơn Thư viện tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện: Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại

Từ, Võ Nhai, Định Hóa, cảm ơn các nghệ nhân, ông bà, cô chú, anh chị và bạn bè ở các huyện trong tỉnh Thái Nguyên, những người đã giúp tôi trong quá trình điền dã, sưu tầm tư liệu để hoàn thành luận văn

Tôi xin được bày tỏ lòng yêu thương và biết ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè - những người đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong một thời gian ngắn, mặc dù bản thân tôi đã nỗ lực, cố gắng nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học nên sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo./

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Dương Thùy Phương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn văn 9

7 Cấu trúc của luận 9

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG - CƠ SỞ TÌM HIỂU VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC DAO Ở THÁI NGUYÊN 10

1.1 Tổng quan về dân tộc Dao ở Thái Nguyên 10

1.1.1 Vài nét về dân tộc Dao ở Việt Nam 10

1.1.2 Khái quát về dân tộc Dao ở Thái Nguyên 11

1.2 Văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên - Diện mạo và hiện trạng 25

1.2.1 Khái niệm văn học dân gian 25

1.2.2 Một số thể loại văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên 27

1.3 Một số vấn đề về văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên 30

1.3.1 Thực trạng về văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên 30

1.3.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đến đời sống văn hóa tinh thần của người Dao ở Thái Nguyên 31

Trang 6

* Tiểu kết

Chương 2 THẦN THOẠI VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC

DAO Ở THÁI NGUYÊN 34

2.1 Thần thoại dân tộc Dao ở Thái Nguyên 34

2.1.1 Nội dung của thần thoại Dao ở Thái Nguyên 35

2.1.2 Nghệ thuật thần thoại dân tộc Dao ở Thái Nguyên 48

2.2 Truyện cổ tích dân tộc Dao ở Thái Nguyên 50

2.2.1 Nội dung truyện cổ tích dân tộc Dao ở Thái Nguyên 53

2.2.2 Nghệ thuật truyện cổ tích dân tộc Dao 66

* Tiểu kết Chương 3 TỤC NGỮ VÀ DÂN CA DÂN TỘC DAO Ở THÁI NGUYÊN 3.1 Tục ngữ dân tộc Dao ở Thái Nguyên 79

3.1.1 Nội dung của tục ngữ dân tộc Dao ở Thái Nguyên 80

3.1.2 Nghệ thuật của tục ngữ dân tộc Dao ở Thái Nguyên 87

3.2 Dân ca dân tộc Dao ở Thái Nguyên 87

3.2.1 Dân ca Dao Thái Nguyên và các hình thức thể hiện 88

3.2.2 Nội dung các làn điệu dân ca dân tộc Dao ở Thái Nguyên 89

3.2.3 Nghệ thuật của dân ca Dao ở Thái Nguyên 98

* Tiểu kết KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc

mang một sắc thái riêng, sự phát triển độc lập nhưng lại có sự hòa quyện bình đẳng nên văn hóa Việt Nam là một sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Ngoài văn hóa Việt - Mường mang tính tiêu biểu còn có các nhóm văn hóa khác như Tày, Nùng, Thái, Chàm, Hoa

- Ngái, H'Mông - Dao đều giữ được những nét truyền thống phong phú của một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên Xuyên suốt toàn

bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hóa chồng lên nhau là lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây Tuy nhiên đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hóa bản địa vững chắc nên đã không bị ảnh hưởng văn hóa ngoại lai đồng hóa, trái lại còn biết sử dụng và Việt hóa các ảnh hưởng đó để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc

Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề, tại Hội nghị lần thứ chín, ngày 09/6/2014, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đã ra Nghị quyết về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước So với tiêu đề Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) thì tại Nghị quyết này, xây dựng con người Việt Nam được đưa lên tiêu đề; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là nhiệm vụ đầu tiên trong 6 nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa Đây là nét đặc sắc của Nghị quyết Trung ương

9 về văn hóa, là kết quả trực tiếp của thành tựu phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về văn hóa, về vị trí, vai trò của văn hóa trong thời kỳ mới Có thể thấy rằng, đối với người Việt Nam từ xưa đến nay, văn hóa tinh thần đã đi vào nếp sống của mỗi người dân, trở thành nhu cầu tất yếu

Văn hóa xã hội mỗi dân tộc cũng có những nét khác biệt nhau, biểu hiện

ở phong tục tập quán, tín ngưỡng, chế độ hôn nhân gia đình, những nét sinh

Trang 9

hoạt trong đời sống và để lại những dấu ấn sâu đậm trong văn học dân gian Văn học dân gian các dân tộc thiểu số có những thành tựu độc đáo và có những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc và bảo tồn được một số nét cổ hơn so với văn học dân gian của người Kinh Tuy vậy, văn học dân gian Văn học dân gian dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, có sự giao lưu và chuyển hóa lẫn nhau Việc nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số là rất cần thiết, nó thể hiện đường lối dân tộc và đường lối văn hóa văn nghệ của Ðảng ta, đó là bình đẳng dân tộc, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, nhằm góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa văn nghệ Việt Nam thống nhất và mang tính chất dân tộc phong phú

Có thể nói, ở bất cứ dân tộc nào, khi chưa có văn học viết thì văn học dân gian là bộ phận chính của nền văn học và văn hoá của dân tộc đó Đến khi văn học viết xuất hiện thì văn học dân gian cũng không phải vì thế mà mất đi Hai dòng văn học này vẫn tồn tại và phát triển song hành, có sự tác động tương

hỗ lẫn nhau Đặc biệt là các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam, văn học dân gian hầu như là bộ phận chủ yếu trong toàn bộ giá trị sáng tạo văn học của

họ Từ vốn văn học dân gian, chúng ta hiểu được truyền thống sáng tạo thẩm

mỹ của các cộng đồng người trên lãnh thổ Việt Nam qua các thế hệ Điều đó nói lên rằng truyền thống sáng tạo thẩm mỹ vừa tuân theo những quy luật chung của quá trình lao động nghệ thuật toàn nhân loại nhưng lại mang bản sắc dân tộc độc đáo Và thiết thực hơn, chúng ta có thể chắt lọc từ trong di sản văn học dân gian những chất liệu quý để phục vụ cho chiến lược xây dựng con người Việt Nam mới hiện nay, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá văn nghệ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Dân tộc Dao là một trong 8 dân tộc đang sinh sống trên nhiều huyện của tỉnh Thái Nguyên, có số dân khá đông và là một trong ít dân tộc còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc cho đến ngày nay Là người con

Trang 10

của Thái Nguyên, công tác trong ngành văn hóa, tôi đã được tiếp xúc với một nền văn hóa Dao rất phong phú, mang đậm bản sắc riêng như: Lễ cấp sắc, đám cưới người Dao, dân ca dân tộc Dao Đồng thời, tôi cũng được nghe một số câu chuyện kể, các tác phẩm văn học dân gian dân tộc Dao và nhận thấy rằng, dân tộc Dao có kho tàng văn học dân gian tương đối đa dạng, phong phú về thể loại

và nội dung, bao gồm: thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, dân ca, tục ngữ, hò vè, câu đối… với nội dung ca ngợi tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, ca ngợi tinh thần đoàn kết, chiến thắng bạo ngược, lên án chế độ cũ bất công, nói lên nỗi khổ của những người làm tôi tớ, bảo vệ tình yêu đôi lứa và phản ánh những phong tục tộc nguời

Từ trước đến nay, việc nghiên cứu, so sánh về văn học dân gian của các dân tộc thiểu số đã có rất nhiều Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu văn học dân gian của người Dao ở Thái Nguyên, một trong những địa phương có nhiều người dân tộc Dao sinh sống còn hạn chế, chưa có sự quan tâm, đầu tư, nghiên cứu một cách khoa học Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn “Văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu để giúp hiểu rõ hơn về văn học dân gian người Dao tỉnh Thái Nguyên Hoàn thành công trình này, chúng tôi mong muốn được góp phần nhỏ bé để khẳng định, bảo tồn và phát huy nét đẹp truyền thống vốn có của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và dân tộc Dao ở Thái Nguyên nói riêng Đồng thời, tạo thêm một cơ sở, một nguồn tư liệu đáng tin khi tìm hiểu về văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên dải đất hình chữ S, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh cùng với lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển Cho đến nay, các vấn đề về người Dao ở nước ta đã được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu của không ít nhà khoa học, nhà nghiên cứu Ngay dưới thời

phong kiến, trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn không chỉ đề cập

Trang 11

đến nguồn gốc mà còn mô tả khái quát về cách ăn mặc và cuộc sống di cư của một số nhóm người Man (Người Dao) ở nước ta

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp chiếm đóng ở vùng nào cũng đều tổ chức viết địa chí vùng đó Trong những tài liệu về địa chí, các tác giả có đề cập vài nét về địa bàn cư trú của người Dao Sau này, Auguste

Bônifacy xuất bản một loạt công trình về người Dao như Mán Quần cộc (1904-1905), Mán Quần trắng(1906), Mán chàm hoặc Lam Điền (1906), Mán tiểu bản hay đeo tiền (1907), … Đây có thể coi là những công trình

nghiên cứu đầu tiên của học giả phương Tây về người Dao ở Việt Nam Các nghiên cứu của Auguste Bônifacy đã miêu tả sinh động về trang phục, nhà cửa, kinh tế, tổ chức xã hội, văn học, nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng của người Dao Đặc biệt, ông tuy là người Pháp nhưng lại rất am hiểu về người Dao và tiếng Dao Mặc dù vậy, trong các tác phẩm của ông cũng chỉ dừng lại ở việc trích dẫn những bài thơ, bài dân ca được ghi chép lại trong sách cúng của người dân tộc Dao mà chưa đi sâu vào phân tích, tìm hiểu về các thể lại của văn học dân gian dân tộc Dao

Từ những năm 50 thế kỉ XX đến nay, tổng số công trình viết về người Dao ở Việt Nam khá nhiều Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 200 công trình sách, bài báo viết về người Dao đăng trên tạp chí chuyên ngành

Người Dao ở Việt Nam của tập thể tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng,

Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến là công trình nghiên cứu toàn diện về mọi mặt đời sống văn hóa, kinh tế của người Dao thời kỳ trước đổi mới Nghiên cứu về

phong tục, tập quán, nghi lễ là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của

nhiều học giả, với số lượng công trình phong phú Tín ngưỡng, phong tục thờ cúng tổ tiên của gia đình người Dao đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu dân tộc chí, văn hóa dân gian về người Dao Có một số ít công trình đi sâu

nghiên cứu chỉ riêng vấn đề này, tiêu biểu là Một số hình thức thờ cúng và tết trong gia đình người Dao Tiền ở tỉnh Bắc Kạn của Lý Hành Sơn Tác giả đã

Trang 12

giới thiệu một số hình thức thờ cúng và tết trong gia đình người Dao Tiền ở Ba

Bể, Bắc Kạn như cúng ma bếp, cúng ma thổ công, lễ cấp sắc, lễ tết trong gia đình như tết Nguyên đán, tết thanh minh, tết tháng 5 âm lịch, tết tháng 7 âm lịch, lễ cúng cơm mới, cúng hồn lúa Ngoài ra, tín ngưỡng gia đình cũng được

chọn làm chủ đề nghiên cứu của đề tài, khóa luận, ví dụ như Tín ngưỡng dân gian của người Dao ở huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu của Tẩn Lao U Tác giả

đã tìm hiểu tổng thể các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của người Dao, sự thể hiện tín ngưỡng dân gian qua các mặt nông nghiệp, thờ cúng tổ tiên, sinh hoạt

lễ hội cộng đồng…

Sau năm 1945, các nhà khoa học ở nước ta tiếp tục sưu tầm và nghiên

cứu về người Dao Đáng chú ý là tác phẩm Dân ca Dao do nhà nghiên cứu

Triệu Hữu Lý sưu tầm và biên dịch Đây là tập dân ca đầu tiên của người Dao gồm nhiều loại hình được xuất bản: hát đối đáp nam nữ, tình thư gửi (tín ca), những lời răn lưu truyền, những lời bài hát đám cưới Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập tới những nét cơ bản về đời sống văn hoá của người Dao, trong đó

có thơ ca dân gian, chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những nét đặc thù về văn hoá, đặc biệt là văn học dân gian của người Dao ở từng địa phương

Trong cuốn Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người - ngôn ngữ Mông - Dao, Th.s Đỗ Đức Lợi đã trình bày về các tập tục trong chu kỳ đời

người của dân tộc Dao nói chung Trong đó, đã đi sâu tìm hiểu một số tập tục đánh dấu sự trưởng thành, lễ cấp sắc, tục cưới xin…nhưng chưa chú ý đến văn học dân gian của người Dao Công trình “Văn hóa truyền thống người Dao ở

Hà Giang” cũng đề cập khá chuyên sâu về văn hóa cổ truyền trong đó có các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của hai nhóm Dao ở tỉnh Hà Giang là Dao Đỏ và Dao Áo Dài Ở Thái Nguyên, văn hóa, văn học dân gian Dao cũng

đã ít nhiều được đề cập đến trong một số công trình sưu tầm, nghiên cứu như

luận văn của tác giả Hoàng Thị Thu Hằng với đề tài Hát hầu vua trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên Tuy vậy,

Trang 13

luận văn mới chỉ đi sâu vào nghiên cứu nội dung và nghệ thuật của các bài hát Hầu Vua được sử dụng trong lễ cấp sắc và cách hành lễ trong lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

Có thể thấy rằng, các bài nghiên cứu, phê bình mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo và nhìn nhận, khái quát về các thể loại văn học dân gian của dân tộc Dao ở một số địa phương Hiện nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát, tìm hiểu về nội dung, nghệ thuật trong các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên Những công trình nghiên cứu trước đây giúp cho chúng tôi có cơ sở, phương pháp và một số tư liệu cần thiết để có thể hoàn thành vấn đề mà chúng tôi đề

ra Qua quá trình khảo sát, phân tích một số tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu của dân tộc Dao ở Thái Nguyên, chúng tôi sẽ nghiên cứu và đóng góp thêm ý kiến Mong muốn luận văn sẽ phần nào góp thêm một tiếng nói khẳng định ảnh hưởng của văn học dân gian đến đời sống văn hóa, tinh thần của con người

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện luận văn này với mục đích đi sâu nghiên cứu, tìm

hiểu về nội dung và nghệ thuật của một số thể loại tiêu biểu của văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên Trên cơ sở kế thừa những tài liệu khoa học

đã công bố về người Dao ở Việt Nam nói riêng, người Dao ở Thái Nguyên nói riêng, tác giả luận văn muốn đi sâu nghiên cứu về các thể loại của văn học dân gian dân tộc Dao Thái Nguyên Từ đó, thấy được đời sống văn hóa tinh thần phong phú của cộng đồng người Dao ở Thái Nguyên, đặc biệt là giá trị về truyện cổ, tục ngữ, dân ca Dao

Nghiên cứu văn học dân gian Dao là việc làm cần thiết, góp phần bổ sung những hiểu biết về văn học dân gian Dao ở Thái Nguyên trong nền văn học dân tộc Dao nói chung, khẳng định giá trị cần được lưu giữ và bảo tồn

Trang 14

Từ đó, tác giả luận văn muốn giới thiệu những giá trị của văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên nhằm giáo dục truyền thống tốt đẹp của văn hóa tộc người và giá trị của nó trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Dao

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu về địa bàn cư trú, văn hóa vật chất, tinh thần, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc Dao có liên quan đến đề tài

- Khảo sát, điền đã, sưu tầm tư liệu, thống kê, phân tích các tác phẩm văn học dân gian và giá trị, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Dao

- Trong điều kiện có thể, chúng tôi xin phép đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, lưu giữ các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái

Nguyên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên Bằng nguồn tài liệu địa phương, qua nghiên cứu, sưu tầm tại chỗ, tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian của người Dao

ở tỉnh Thái Nguyên Từ đó, nhận diện thực trạng đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đặc sắc của người Dao sinh sống trên mảnh đất này Nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Dao là việc làm cần thiết, góp phần bổ sung những hiểu biết về văn học của một dân tộc ít người nhưng có đời sống văn hóa tinh thần vô cùng phong phú và đa dạng Từ đó, khẳng định những giá trị văn hóa cần được giữ gìn, bảo tồn và phát huy

Ngoài ra, đi tìm hiểu những nét đặc sắc trong Văn học dân gian dân tộc Dao tỉnh Thái Nguyên, tác giả sẽ tìm hiểu thêm về Văn học dân gian của người Dao các địa phương khác để so sánh đối chiếu khi cần thiết

4.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu

Trang 15

Trong giới hạn của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu những nội dung cơ bản và một số yếu tố về thi pháp tiêu biểu của các thể loại có số lượng tương đối phong phú như: thần thoại, truyện cười, tục ngữ và dân ca thuộc văn học dân gian của dân tộc Dao trong tỉnh Thái Nguyên Những thể loại khác như truyền thuyết, sử thi, truyện cười do chưa được sưu tầm đầy

đủ nên chúng tôi chưa khảo cứu ở luận văn này Ngoài ra, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích một số nội dung của văn học dân gian dân tộc Dao ở địa phương khác liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu, nghiên cứu về Văn học dân gian của người Dao, chúng tôi lựa chọn một số phương pháp sau:

- Phương pháp điền dã, sưu tầm: Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng

để thu thập tư liệu về văn hóa và một số thể loại văn học dân gian của dân tộc Dao Thái Nguyên Vào những ngày nghỉ cuối tuần, chúng tôi tìm đến nhà các nghệ nhân dân gian, già làng trưởng bản và những người am hiểu về văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để tổng hợp, trình bày số liệu và cung cấp số liệu chính xác về các thể loại Văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên, tạo cơ sở thực tế tin cậy cho những nghiên cứu tiếp theo

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Dao mà chúng tôi nghiên cứu sách, báo, những công trình nghiên cứu hoặc các website có liên quan đến đề tài và do chúng tôi khảo sát, sưu tầm được, chúng tôi tiến hành phân tích và đưa ra những nhận xét đánh giá

về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của các thể loại văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên

- Phương pháp so sánh: Chúng tôi tiến hành đối chiếu so sánh để thấy rõ

sự giống và khác nhau giữa các thể loại văn học dân gian của dân tộc Dao ở

Trang 16

Thái Nguyên với các thể loại văn học dân gian của các dân tộc anh em khác, của dân tộc Dao ở Thái Nguyên với dân tộc Dao sinh sống ở các địa phương khác

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nhằm tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực và nhiều ngành học khác nhau để có thể nhận thức được toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề được nghiên cứu

6 Những đóng góp của luận văn

- Qua nghiên cứu, tìm hiểu về các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên, tác giả cố gắng tập hợp, sưu tầm thêm các tác phẩm và bước đầu làm rõ bản sắc riêng của văn học dân gian Dao ở Thái Nguyên Bên cạnh đó, bằng việc nghiên cứu các tài liệu và sưu tầm, khảo sát thực tế, tác giả luận văn mong muốn sẽ góp phần xây dựng diện mạo chung của văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên

- Luận văn đưa ra một số định hướng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn cấu trúc làm ba chương:

Chương 1 Một số vấn đề chung - Cơ sở tìm hiểu văn học dân gian của dân tộc

Dao ở Thái Nguyên

Chương 2 Thần thoại và truyện cổ tích của dân tộc Dao ở Thái Nguyên

Chương 3 Tục ngữ và dân ca của dân tộc Dao ở Thái Nguyên

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG - CƠ SỞ TÌM HIỂU

VĂN HỌC DÂN GIAN DÂN TỘC DAO Ở THÁI NGUYÊN

1.1 Tổng quan về dân tộc Dao ở Thái Nguyên

1.1.1 Vài nét về dân tộc Dao ở Việt Nam

Người Dao cư trú ở nhiều quốc gia khác nhau nhưng ở Việt Nam người Dao có số dân đứng thứ 2 sau Trung Quốc Người Dao cư trú ở Việt Nam từ lâu đời Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Dao ở Việt Nam có dân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Dao

cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam),Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh

và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam)

Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên Người Dao

có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng Tên gọi các nhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm truyền thống bên ngoài, như Dao Đỏ (Dao Sừng, Dao Đại Bản…); Dao Quần Chẹt (Dao Sơn đầu, Tam Đảo, Nga Hoàng…); Dao Lô Gang (Thanh Phán, Cóc Mun); Dao Tiền (Dao đeo tiền, tiểu bản); Dao Quần trắng (Dao Họ); Dao Thanh Y; Dao Làn Tẻn (ở Tuyên Quang mặc Áo Dài) Người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ Trang phục của người phụ nữ Dao thường là áo, yếm, chân quấn xà cạp, cùng các đồ trang sức

Trang 18

vàng bạc, khăn vấn đầu Trang phục của nam giới, thường là chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực

Người Dao là một trong những dân tộc cho đến bây giờ vẫn duy trì được bản sắc truyền thống đậm nét, không chỉ thể hiện qua trang phục, mà còn thể hiện qua tiếng nói Dân tộc Dao được chia nhiều nhóm người khác nhau nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất cho thấy rõ mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau Người Dao sinh sống ở nhiều vùng, miền nhưng sinh hoạt cộng đồng vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán, qua hôn nhân Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, người Dao chỉ mong là

gả trong cộng đồng Đấy là một trong những đặc điểm để người Dao giữ gìn ngôn ngữ và phong tục tập quán của mình Cùng với đó, văn hóa tâm linh là yếu tố vô cùng quan trong trong đời sống người Dao, thể hiện đặc biệt qua nghi

1.1.2 Khái quát về dân tộc Dao ở Thái Nguyên

1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, nơi tiếp giáp giữa vùng rừng núi Việt Bắc và vùng châu thổ Sông Hồng, có khí hậu nhiệt đới

Trang 19

gió mùa, mưa lắm, nắng nhiều, thuận lợi cho canh tác lúa nước và làm nương rẫy Vùng đất này từ xa xưa đã là nơi cư trú của những người Việt cổ Thái Nguyên hiện có 46 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong

đó có 8 dân tộc đông dân nhất là: Dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay (Sán Chí), Dao, Hmông, Hoa Cộng đồng dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên sinh sống tập trung chủ yếu ở miền núi, vùng cao trên một địa bàn rộng lớn chiếm 90

% diện tích toàn tỉnh, từ huyện: Định Hóa, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương, Đồng

Hỷ và một số xã, phường, thị trấn của thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên, huyện Phú Bình

Năm 1960 với tên gọi là Mán, người Dao có mặt ở 53/162 xã, phường của tỉnh, trong đó 50/53 xã phường dân số Dao chiếm từ 0,01 đến 40%, có 2 xã

có trên 60% dân số Dao là: Tân Thành (78,6%) huyện Đại Từ và Hợp Tiến (90,2%) huyện Đồng Hỷ Năm 1999 người Dao có mặt ở 148/180 xã phường của tỉnh, và dân số Dao trong mỗi xã cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (147/148 xã người Dao chỉ chiếm từ 0,01% đến 40%) Chỉ có một xã là Vũ Chấn huyện Võ Nhai chiếm trên 40% (45,3%) Theo Tổng cục thống kê năm 2009, người Dao tại Thái Nguyên là 25.360 người, chiếm 2,26% dân số toàn tỉnh và đứng hàng thứ 6 trong các dân tộc của Thái Nguyên Đồng bào Dao phân bố trong tất cả các huyện, thị xã và thành phố của Thái Nguyên đông nhất là huyện Võ Nhai (36,4%), tiếp đến là Đồng Hỷ (23,9%), Đại Từ (16,4%), Phú Lương (11,21%)

và thị xã Sông Công (0,05%) và chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo dài, Dao Quần Trắng, Mặc dù họ có nhiều nhóm người khác nhau như vậy nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất để đảm bảo mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau

Người Dao ở Thái Nguyên thường sống phân tán thành các bản nhỏ ở vùng sâu, vùng xa và họ có kinh nghiệm sản xuất những cây lúa cạn, chịu hạn,

Trang 20

trồng ngô nương, đỗ tương, vừng, các loại cây truyền thống như chuối, dứa, cam, quýt… Trên các đỉnh núi, sườn núi có nhiều mó nước, mạch nước chảy quanh năm, họ đã khai phá thành nương rẫy để trồng cây lương thực, chăn nuôi gia cầm, gia súc Địa bàn cư trú gắn với núi rừng nên dân tộc Dao trước đây hoàn toàn sống du canh, du cư, đốt rừng làm nương rẫy trồng lương thực và thu lượm lâm thổ sản làm nguồn sống chính, cuộc sống của bà con gặp rất nhiều khó khăn như thiếu ăn, thiếu mặc, không được học hành Bên cạnh đó, một số tập tục xấu như tảo hôn, cúng bái mang tính chất mê tín dị đoan, bệnh tật làm cho đời sống của phần lớn dân tộc Dao chậm phát triển Ngày nay, đời sống mọi mặt của dân tộc Dao ở Thái Nguyên đã được cải thiện, đồng bào đã được

tổ chức sống trong các thôn, bản, định canh định cư và có sự hỗ trợ của Nhà nước Nạn đói triền miên xưa kia đã không còn, các tệ nạn xã hội dần được loại trừ Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, nhiều con em dân tộc Dao tốt nghiệp đại học, học vị cao và đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong các

cơ quan quản lý nhà nước

Điều kiện tự nhiên phong phú của mảnh đất này đã tạo cho người dân biết chủ động dựa vào thiên nhiên và khai thác thiên nhiên để sinh sống Sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên qua nhiều thế hệ càng giúp cho người dân nơi đây có tình cảm yêu quý làng bản, ruộng vườn, nương rẫy, từng cánh rừng, cọn nước để từ đó phát triển thành tình yêu quê hương, đất nước

1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Qua các nghiên cứu về thực trạng đời sống, kinh tế, xã hội của người Dao

ở Thái Nguyên cho thấy, người Dao là một dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống Người Dao coi nông nghiệp trồng trọt là cơ sở kinh

tế chính Tuy vậy, đất sản xuất lúa nước rất ít, nguồn sống chính là lúa nuwng, ngô, sắn Các ngành kinh tế khác như chăn nuôi, thủ công nghiệp gia đình hay hái lượm chỉ đóng vai trò bổ trợ Hiện nay, nhờ có chính sách của Đảng, Nhà nước, nguời dân tộc Dao phần nào đã bớt khó khăn, bà con quan tâm phát triển

Trang 21

đồi rừng, cây ăn quả, trồng cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi gia súc, gia cầm để phát triển kinh tế Hệ thống đường bản đã được nâng cấp, đi lại thuận lợi, rút ngắn khoảng cách giữa đồng bào dân tộc Dao với bà con dân tộc khác cùng sinh sống trong cùng một địa phương

Dân tộc Dao ở Thái Nguyên có sự giao thoa của nhiều nét văn hóa và các phong tục tập quán truyền thống do có nhiều dân tộc cùng sinh sống Dân tộc Dao là một trong ít dân tộc còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc cho đến ngày nay Người Dao ở Thái Nguyên thuộc 3 nhóm địa phương: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt và Dao Lô Gang Dao Quần Chẹt tập trung chủ yếu ở huyện Đại Từ, Dao Đỏ cư trú phân tán ở huyện Phú Lương và Đồng

Hỷ, Dao Lô Gang tập trung ở huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ Ngoài ra, người Dao còn cư trú rải rác ở Định Hoá, Phổ Yên Về bản sắc văn hóa của các nhóm Dao giống nhau, nhưng từng nhóm có sự khác biệt, dựa vào nơi cư trú và canh tác, nhà ở, y phục và ngôn ngữ Tuy thuộc 3 nhóm khác nhau nhưng đều tự gọi

là Dao Đại Bản (Tầm Mả Miền), cùng nói phương ngữ Kiềm Miền (hoặc Miền Vả) Vì thế sự thống nhất trong văn hoá cổ truyền của họ rất lớn, các khác biệt mang tính địa phương tương đối ít

Các nhóm Dao ở Thái Nguyên về tiếng nói cơ bản là giống nhau, chỉ khác về phát âm dài hay ngắn, nặng hay nhẹ và khác nhau ở một số từ ngữ Người Dao Đỏ ăn cơm sáng thì nói là “nhặn đom”, người Dao Tiền lại nói

“nhặn ngài”, ăn cơm trưa người Dao Đỏ nói “nhặn ản”, người Dao Tiền nói là

“nhặn lèng” Người Dao ở Thái Nguyên và người Dao ở Việt Nam nói chung

là chưa có chữ viết riêng Trước cách mạng tháng Tám người Dao chủ yếu dùng “chữ nho”, tức chữ Trung Quốc để ghi chép lại gia phả trong gia đình và dòng họ, mua bán của cải, ghi lại các bài thơ ca đã hát lượn (pả dung) hoặc tiến hành các tục lệ, nghi lễ Trước đây, do người Dao sống du canh, du cư nên các thư tịch cổ thất lạc nhiều Các nhóm Dao trong tỉnh đều nói tiếng Dao, tuy

có khác ở một số từ, thanh điệu, phát âm dài hay ngắn, nặng hay nhẹ Mặc dù

Trang 22

hiện nay tại các địa phương, lớp thanh thiếu niên đã có ý thức giữ gìn chữ viết của ông cha, tuy nhiên, rất ít trong số họ am hiểu về chữ Nôm Dao mà chủ yếu

là con cháu của những người làm nghề thầy cúng Đại bộ phận người Dao hiện nay đều biết nghe và nói tiếng Việt, tuy nhiên nói và phát âm tiếng Việt không được chuẩn

Cũng giống như các dân tộc khác, dân tộc Dao ở Thái Nguyên đã gìn giữ

và tạo nên một kho tàng văn nghệ dân gian đa dạng, hấp dẫn thể hiện trong một

số truyện cổ, các bài hát, truyện thơ, ca dao, tục ngữ…phản ánh nguồn gốc người Dao và các hiện tượng tự nhiên, đời sống lao động sản xuất Trong một

số nghi lễ thường có các loại hình múa: múa cấp sắc, múa Tết nhảy hay hát trong đám cưới, ngày hội, phiên chợ Đến nay, người Dao Thái Nguyên vẫn còn duy trì nhiều bài múa cổ truyền do múa gắn chặt với các nghi lễ tôn giáo, nên chỉ có đàn ông múa, nhất là các thầy cúng So với múa thì hát phổ biến rộng rãi hơn Hát là hình thức sinh hoạt văn nghệ phổ biến ở vùng người Dao Thái Nguyên Họ có thể hát vào bất kỳ thời gian nào, nhưng thường hay hát trong thời kỳ nông nhàn, trong đám cưới, vào nhà mới, cúng Bàn Vương, khi

có khách lạ đồng tộc tới thăm bản Thông qua lời ca tiếng hát, họ gửi gắm tình yêu cuộc sống, thiên nhiên, yêu bản làng, tình yêu đôi lứa Nhạc cụ của người Dao bao gồm thanh la, chũm chọe, trống, nhị, khèn, chuông những nhạc cụ tạo nên bản nhạc hòa tấu đệm theo những câu hát ngân nga trong các nghi lễ tôn giáo hay tại các lễ hội Từ lâu đời người Dao ở Thái Nguyên đã dựa vào các hiện tượng thiên nhiên để đoán thời tiết Họ hay xem dấu vết hình tròn màu

sẫm trên đá ở ven sông, gọi là dấu rồng (cung diễn) Nếu từ tháng Giêng đến

tháng Ba, dấu rồng ở đá cao so với mặt nước, năm đó sẽ mưa to, có lụt; ngược lại ở thấp thì trời hạn Nếu từ tháng Hai đến tháng Tư vào rừng thấy ong làm tổ

ở các lùm cây gần mặt đất, năm đó sẽ có gió bão hoặc mưa to Đặc biệt, nếu

gặp sóc (tào tchiến) kéo lá làm tổ thì chắc chắn là trời mưa Vào tháng Dần hoặc tháng Mão thấy nhiều bướm trắng (xiệp pàng pẹ) bay quanh bờ suối, chắc

Trang 23

chắn năm đó sẽ có hạn hán từ 1 đến 2 tháng Vào mùa xuân, mùa hè nếu thấy

chim nò công quét kêu vào buổi sáng, hay buổi tối, nhất là vừa kêu vừa bay

ngược lên núi thì chắc chắn là trời sắp nắng Trời đang nắng, thấy chim đó vừa

kêu vừa bay xuống núi là trời sẽ mưa Kiến (mon dsiếu) ở quanh nhà dọn tổ là

dấu hiệu sắp mưa dài ngày, đặc biệt thấy kiến ở bờ suối dọn tổ là sẽ có nước lũ

to Nếu gặp cua lên bờ bò vào rừng, trời sắp mưa lũ Người Dao Thái Nguyên

còn có kho tàng tri thức về mùa vụ gieo trồng, nông lịch Nghe thấy chim nọ din chía kêu là bắt đầu tra lúa; cuối tháng giêng chim rừng (kéng ca lắc) kêu là lúc trồng ngô và hoa màu; thấy cây ruột gà (chang cang pén) nở hoa đợt một

thì cấy lúa sớm, nở hoa đợt hai cấy lúa muộn Ngoài ra, người Dao còn có chữa bệnh theo kinh nghiệm, thường chữa trị từ bài thuốc ít vị đến nhiều vị Chữa được một thời gian nếu không khỏi lại chuyển sang bài thuốc khác, khi thấy bệnh chuyển biến thì áp dụng bài đó cho đến lúc bệnh khỏi hoặc đỡ hẳn Hiện nay, họ kết hợp giữa Đông y, Tây y và đến chữa ở bệnh viện

Trang phục truyền thống của dân tộc Dao rất đa dạng, mỗi nhóm Dao có một kiểu trang phục đặc trưng riêng mang nét độc đáo từ kiểu dáng đến cách kết hợp màu sắc Qua khảo sát cho thấy, trang phục cổ truyền của đàn ông Dao

ở Thái Nguyên ít có sự khác biệt với những người đồng nhóm ở nơi khác Đáng tiếc là hiện nay chỉ còn một vài cụ già ăn mặc theo tập quán trước kia Riêng bộ lễ phục thì nhiều nơi còn giữ được theo kiểu truyền thống Đàn ông Dao ở Thái Nguyên xưa kia thường đội khăn màu chàm hoặc đen Khăn dài hơn 100cm, rộng 35 - 40 cm, thêu trang trí hoa văn ở một đầu Hiện nay, đàn ông Dao không đội khăn mà để đầu trần hoặc đội mũ Các bé trai hay đội loại

mũ vải tự khâu được thêu hoa văn và đính các núm len nhiều màu Thường ngày đàn ông Dao ở Thái Nguyên mặc áo ngắn giống như áo của người Hmông, màu chàm hay màu đen, cổ đứng và thấp, xẻ ngực, có khuy bằng vải

Áo có xẻ tà, ống tay dài và hẹp, thường có từ 2 đến 4 túi không nắp Áo cổ truyền của họ hầu như không thêu trang trí hoa văn, nếu có cũng chỉ trang trí

Trang 24

mặt ngoài túi áo và một bên nẹp ngực May khâu những chiếc áo như vậy khá đơn giản, nhưng hiện nay họ đã không còn ưa thích Quần của nam giới trước đây thường là màu chàm hoặc màu đen, ống rộng vừa phải, dài đến mắt cá chân, cắt theo kiểu chân què, cạp lá toạ hay luồn dây, có thể có hoặc không có túi Cùng loại vải đen, nhất là vải chéo đen nhưng có người lại thích may thành chiếc quần âu, ống hẹp, có hai túi để mặc với chiếc áo ngắn cổ truyền Hiện nay, đàn ông Dao Thái Nguyên ở mọi lứa tuổi đều mặc quần áo theo như phổ thông

Nữ phục Dao có sự khác nhau, nhìn vào trang phục có thể nhận biết được học thuộc nhóm Dao nào Phụ nữ Dao Quần Chẹt thường ngày có: áo dài, yếm, quần, dây lưng, xà cạp Áo dài thuộc dạng tứ thân, màu chàm, không cài khuy,

cổ liền nẹp, ống tay dài được đáp vải đỏ và trắng hình vuông ở cửa tay Trang phục nữ Dao Đỏ ở Thái Nguyên gồm khăn, áo dài, yếm, dây lưng và quần Khăn có 2 loại: loại quấn để tạo vành xung quanh đầu và loại phủ bên ngoài Hiện nay, thường ngày phụ nữ Dao Đỏ mặc loại áo dài vải láng đen, cắt và trang trí theo dạng áo của phụ nữ Nùng: xẻ ngực, đắp vải xanh ở cổ, ở chỗ cài cúc và gấu ống tay Thắt lưng khá đa dạng, có loại chỉ một tấm vải màu đen hoặc chàm, nhưng cũng có loại gồm nhiều chiếc, khổ hẹp được trang trí nhiều loại hoa văn khác nhau Còn nữ phục Dao Lô Gang thường ngày có khăn, áo dài, yếm, quần, dây lưng và xà cạp Khăn của nhánh Dao Lô Gang ở Võ Nhai

có dạng hình vuông màu chàm, rộng chừng 50 đến 60cm, có thêu viền xung quanh, khi đội thì chiều ngang gấp làm 3, chiều dọc một đầu gấp lên 10cm rồi đặt lên đầu, sau đó quấn quanh đầu từ 3 đến 4 vòng chuỗi hạt cườm đen trắng

để giữ cho khăn không tuột ra khỏi đầu Áo của Dao Lô Gang nói chung cũng gần giống với áo của phụ nữ Dao Quần Chẹt, chỉ khác là nẹp cổ thêu nhiều hơn

và có nhiều mô típ hoa văn Yếm được thêu nhiều ở cổ và trước ngực, có trang trí từ 2 đến 4 ngôi sao bằng bạc cỡ to và nhiều ngôi sao bạc nhỏ

Trang 25

Phụ nữ ở cả 3 nhóm Dao ở Thái Nguyên đều sử dụng nhiều loại trang sức bằng bạc như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, nhẫn và nhiều loại dây truyền, cánh hoa bạc, chuỗi hạt cườm màu Chẳng hạn, trước đây phụ nữ Dao Đỏ ở xã Động Đạt có tới 6 chiếc cúc áo bạc to bằng bao diêm, 8 chiếc vòng cổ, từ 1 đến 8 chiếc vòng cổ tay, 1 đôi hoa tai, rất nhiều nhẫn tròn và vuông, nhiều dây xà tích

và chùm lục lạc, chưa kể các cánh hoa bạc, các chuỗi hạt cườm màu và những núm hay tua len màu đỏ, vàng Ở đây, còn phải kể đến việc trang trí chiếc túi

đeo loại nhỏ (bùa piàng) của người Dao Đỏ, địu và mũ của trẻ em

Tập quán ăn uống của người Dao có những đặc sắc riêng Các món ăn

thường ngày và trong tết lễ của người Dao Thái Nguyên khá phong phú, trong

đó có món được kế thừa từ cha ông họ, nhưng cũng có món tiếp thu từ việc giao lưu với các tộc người anh em Thường ngày, người Dao ở đây cũng như ở các nơi khác hay ăn cơm tẻ, cơm nếp chỉ thổi hoặc đồ khi muốn ăn nhất là những lúc có việc Khi có cơm nếp họ thường ăn với vừng hay lạc rang giòn trộn với muối giã nhỏ Trong những ngày tết lễ như khi làm nhà mới, tổ chức lễ cưới, người Dao thường đồ xôi để ăn hoặc trong những ngày gia đình nhờ anh

em giúp cấy ruộng, gieo trồng và thu hoạch ngô lúa Trong dịp tết Thanh minh họ còn đồ xôi nhiều màu Cách đồ xôi nhiều màu cũng tương tự như đồ xôi bình thường, nhưng trước khi đồ, gạo nếp phải được chia ra từng phần theo từng loại màu sắc

Người Dao còn có nghề cổ truyền như làm giấy bản để ghi chép sách cúng, viết sớ, làm tiền mã hay dùng cao chàm nhuộm vải, rèn nông cụ, làm đồ trang sức bằng bạc, nghề mộc, đan lát tuy nhiên những nghề đó hiện nay không còn phổ biến

Người Dao thường họp chợ theo phiên Họ đến chợ để mua bán, trao đổi hàng hóa và gặp gỡ bạn bè, giao lưu tình cảm Trong những dịp lễ hội, ngày tết

và những lúc rảnh rỗi, người Dao tổ chức nhiều trò chơi như đánh còn, đu dây… Tuy nhiên, hiện nay một số nét văn hóa qua thời gian cũng đã mai một

Trang 26

dần và có nguy cơ bị thất truyền do chưa có ý thức gìn giữ và không hiểu biết hết về giá trị của những nét văn hóa đó

* Tín ngưỡng dân gian

Tôn giáo tín ngưỡng có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Dao Điểm nổi trội trong tôn giáo tín ngưỡng của họ là chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tam giáo Trong đó ảnh hưởng sâu đậm nhất là Đạo giáo Đạo giáo ra đời ở Trung Quốc và đã trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Dao, họ quan niệm, thế giới có 3 tầng: tầng trên là của các vị thần, tầng giữa là của người sống, tầng dưới là của những người lùn (người đã mất) Thế giới và sự sống của 3 tầng thế giới được tạo ra bởi ông Bàn Cổ (Cap Pò hay Piền Cố) Bàn Cổ còn tạo ra các thần linh để cai quản mọi sự sống ở các tầng Trên trời có Ngọc Hoàng, Phật, Thái Thượng Lão Quân, thần sấm sét Dưới nước có Hà Bá, Long Vương Ở trần thế có thần linh, thổ địa, thần lúa gạo, thần chăn nuôi Ngoài các vị thần linh, còn có nhiều loại ma khác, trong

đó có ma tổ tiên Họ chia các loại thần linh và ma thành hai loại: lành và ác

Ma lành bao gồm: thần linh giáng phúc lành, bảo vệ cuộc sống của con người, gia súc và vật nuôi, đó là Bàn Vương, tổ tiên, thần nông, thổ công, thổ địa, Ngọc Hoàng thượng đế, Tam bảo, Tam nguyên, cho đến các loại âm binh;

ma ác gồm: ma sông, ma suối, ma của những người chết bất đắc kỳ tử Thực tế cho thấy: Hầu hết các vị thần linh của Đạo giáo đều trở thành hệ thống các vị thần linh của người Dao như hệ thống miếu vạn thần là hệ thống miếu thờ thần của Đạo giáo Bên cạnh đó, Phật giáo cũng có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống của người Dao Tuyển Những phép thuật của Phật như uống nước thiêng,

tư tưởng hoá kiếp luân hồi của Phật giáo đều thâm nhập vào đời sống của con người Bên cạnh đó, các hình thức xem tử vi tướng số, xem ngày tháng tốt, thực hiện các nghi lễ cưới xin, làm nhà mới đều được sử dụng rộng rãi Sau Đạo giáo, Phật giáo, đời sống của người Dao còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo Biểu hiện rõ nhất là ở việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái thầy cấp sắc Từ

Trang 27

quan niệm hồn đến nguyên nhân ốm đau, bệnh tật là do bị hồn ma bắt, đến việc cúng bái chữa bệnh Các tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp tồn tại với nhiều hình thức như việc cầu cúng miếu làng, làm phép thuật trừ sâu bệnh,

tổ chức lễ cúng cơm mới Tất cả cho thấy rằng, Tam giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng của đồng bào Dao ở Thái Nguyên Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là sự biển hiện của từng tôn giáo trong tín ngưỡng của người Dao là không rõ nét Tất cả các tôn giáo trên đều quyện chặt với nhau, tạo nên

hệ thống tín ngưỡng - tôn giáo hỗn hợp và đa dạng trong đời sống văn hoá của con người Tôn giáo tín ngưỡng của người Dao ở gồm nhiều hình thức, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số hiện tượng tiêu biểu

* Thờ cúng tổ tiên

Theo quan niệm của người Dao ở Thái Nguyên, tổ tiên là ma của những người thân trong gia đình đã qua đời, họ thờ tổ tiên từ đời thứ chín trở xuống, nhưng chỉ cúng bái đến đời thứ ba Gia tiên được cúng trong Tết Nguyên đán, Thanh minh, ngày 14 tháng 7 âm lịch Khi trong nhà có cưới xin, dựng nhà, vào nhà mới, cấp sắc, tang ma, ăn cơm mới, khai mùa gieo trồng, có người ốm đau, mơ thấy điềm xấu họ cúng gia tiên, cầu mong phù hộ Lễ vật dùng trong cúng gia tiên khá đa dạng Những ngày tết, nhà khá giả cúng bằng thịt lợn, thịt

gà, nhà nghèo cúng cá, cơm rau Vào các ngày mồng Một và ngày Rằm hàng tháng âm lịch, thường thắp nhang trên bàn thờ gia tiên Ngoài ra, người Dao Thái Nguyên còn cúng ma bếp (síp dố hùng miên) cùng với các dịp cúng gia tiên Họ cho rằng, ngoài thần lửa, ma bếp còn là ma của một ông vua Ma bếp được cúng vào Tết Nguyên Đán và Mười Bốn tháng Bẩy âm lịch, hoặc khi trong nhà có người ốm đau bói thấy ma bếp đòi ăn Lễ vật cúng ma bếp là cơm rang hoặc ngô rang tẩm với đường mật, bánh chưng, bánh tải

* Thờ cúng thổ thần

Ở người Dao Thái Nguyên, thổ thần được thờ cúng phổ biến Họ cho rằng thổ thần thường phù hộ cho mọi người khoẻ mạnh, làm ăn khấm khá, chăn nuôi

Trang 28

phát triển Theo đồng bào dân tộc Dao, thổ thần là ma thổ địa (đao thấu miến),

ma của những người đầu tiên lập bản (tẩy chiêu miến) Thổ địa, thần linh gồm

cả ma sông và ma suối, Cúng thổ thần được tiến hành ở ngoài hiên nhà, lễ vật cúng được bày ở trước cửa chính, thường là gà hoặc thịt lợn, hương, tiền

âm phủ và rượu Người khấn là chủ gia đình hay người đại diện của xóm Xưa kia, Tết năm mới, chỉ sau khi cúng thổ thần mọi người mới ra khỏi bản

* Tết và các nghi lễ cộng đồng

Tết Nguyên Đán (tầm hiẳng) của người Dao ở Thái Nguyên là lễ lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với từng gia đình Họ chuẩn bị đón Tết năm mới rất chu đáo Ngoài chuẩn bị lợn, gà, rượu để ăn uống họ còn sắm sửa quần áo mới giầy dép cho trẻ em, sửa sang nhà cửa, lấy củi, giấy màu, hương, bánh kẹo, gia vị, lá dong và lá chuối để làm bánh Hai mươi lăm Tết nhiều gia đình đã mổ lợn, nhưng phổ biến nhất là ngày 27 và 28 Tết Những gia đình nghèo hoặc gặp rủi

ro được anh em trong họ giúp đỡ ủng hộ Thịt lợn dùng trong dịp Tết không hết

có thể muối để ăn dần cho đến tháng Hai, tháng Ba, thậm chí đến tháng Năm, tháng Sáu âm lịch

Trước Tết các gia đình gói bánh chưng và bánh tải Các công việc chuẩn

bị phải kết thúc vào chiều Ba Mươi Tết, kể cả dự trữ cỏ cho ngựa, trâu, bò; trả hết số nợ đã vay người khác Theo tập quán, dịp Tết, họ dán giấy màu xanh,

đỏ, vàng, tím ở nơi thờ gia tiên, phía trên cửa ra vào, chuồng trại, cây ăn quả, nông cụ, cối xay, cối giã gạo, tủ, hòm đựng áo quần, chum vại, bồ đựng thóc ngô Nhà nào cũng làm bún và thịt gà để cúng tổ tiên Ngày Tết, người cúng phải khấn báo gia tiên, ma bếp, ma cửa, ma buồng đến ăn uống cầu mong phù hộ Khi cúng xong, bàn cúng ở trên nền nhà được dọn, các lễ vật ở trên bàn thờ gia tiên và bàn thờ ma bếp vẫn để nguyên Trong những ngày Tết, họ thắp hương trên bàn thờ tổ tiên, nơi thờ ma bếp, ma cửa, chuồng gia súc vào các bữa ăn chính

Trang 29

Rằm tháng bẩy âm lịch (nhẳn chiất há tchiểm, hoặc chiất há mù lìn tải chít) đối với người Dao ở Thái Nguyên là tết lớn chỉ sau tết Nguyên đán Trong dịp tết này họ cúng tổ tiên, thần nông, ma đói Việc cúng tổ tiên và các thần linh trong nhà được tiến hành vào buổi sáng hay buổi chiều ngày 14

Cúng cơm mới là nghi lễ gia đình, được tổ chức vào cuối tháng Tám hoặc đầu tháng Chín âm lịch, khi lúa bắt đầu chín Lễ được tổ chức nhằm mời tổ tiên

và thần nông ăn cơm mới, cầu mong phù hộ cho ngô lúa chín sớm, không bị chim thú phá hoại Sau lễ cúng cơm mới, họ chuẩn bị các dụng cụ gặt hái như liềm, nhíp, dậu, đòn gánh, lạt buộc, bồ đựng thóc vào mùa thu hoạch

Hàng năm người Dao ở Thái Nguyên còn có tập quán cúng hồn lúa Ngày cúng được chọn kỹ, kiêng ngày Hợi, ngày Dậu, ngày trùng với ngày sinh của chủ nhà và các ngày mất của tổ tiên hoặc ngày có tiếng sấm đầu năm Theo người Dao ở đây, ngày tốt nhất để cúng hồn lúa là ngày Thìn hoặc ngày Sửu

Lễ vật để cúng hồn lúa gồm thịt gà, cơm nếp hoặc bánh giầy, rượu, hương Họ cúng hồn lúa ngay trước bàn thờ gia tiên; khấn tạ ơn tổ tiên, thần nông, thần mưa, thần nước đã phù hộ cho mùa màng tươi tốt, giúp mẹ lúa đẻ ra nhiều thóc, cầu mong tổ tiên và các thần linh gọi tất cả hồn lúa của những bông lúa và những hạt thóc đã rơi vãi ở trên nương, ngoài đồng về đoàn tụ với mẹ lúa Bài cúng còn có đoạn ca ngợi mẹ lúa đã đẻ ra nhiều thóc cho gia đình Khi cúng xong lễ vật được đem đặt vào bồ thóc Sau lễ cúng này, mọi việc liên quan đến thu hoạch lúa trong năm coi như đã hoàn thành, tức là kết thúc một năm sản xuất

Trang 30

Đầu), Dao Quần Chẹt, Dao Đỏ… mỗi nghi lễ đều để lại những ấn tượng đẹp khó phai

Lễ cấp sắc gọi là quá tang, có nghĩa là trải qua lễ soi đèn, có xuất xứ từ tình tiết thắp đèn hay nến soi sáng người thụ lễ trong tiến trình cấp sắc Ngoài

ra còn có nhiều cách gọi: tạt phat búa, chấu đàng, tẩu sai Đối với người Dao

ở đây, dạy học, cúng bái và chữa bệnh được đặc biệt coi trọng, và đều liên quan mật thiết với lễ cấp sắc Thực tế cho thấy, chỉ khi nào người đàn ông Dao đã được làm lễ cấp sắc thì mới có một vị thế nhất định trong gia đình, dòng họ và cộng đồng Người được thụ sắc có thể đi làm lễ cấp sắc cho người khác, làm thầy khi chôn cất người chết Họ còn tin rằng chỉ những người được cấp sắc mới có tâm đức để phân biệt phải trái, mới thấu hiểu phong tục tập quán của cộng đồng Dao Nếu dựa vào số lượng đèn thì lễ này ở người Dao Thái Nguyên

có 3 cấp bậc: 3 đèn, gọi là quá tăng; 7 đèn là tẩu sai thiết phing tăng; 12 đèn là tẩu sai chập nhảy phing tăng Người được cấp sắc có thể từ 10 tuổi cho đến già Theo phong tục, người được làm Lễ cấp sắc, trong năm đó gia đình không

có tang hoặc gặp điều xui xẻo Mọi người trong nhà phải kiêng ăn những vật cúng trong Lễ cấp sắc, như: Cơm nếp, thịt lợn, thịt gà… cho tới khi làm lễ xong Vì nếu ăn các thức ăn này, thần thánh và gia tiên sẽ chê trách là phải ăn của dở, việc thực hành nghi lễ sẽ không còn linh thiêng Và trước khi làm Lễ, gia đình phải cúng, xin phép gia tiên, thần thánh Sau lễ, người thụ lễ nhận người làm Lễ cấp sắc cho mình là cha Từ nhiều năm nay, nghi lễ cấp sắc trong đồng bào người Dao đã có sự cải biến phù hợp Bản sắc gốc được gìn giữ, lưu truyền, song cách làm được thực hiện phù hợp hơn với tâm lý, tình cảm của mọi người trong cộng đồng Trước đây, việc hành lễ được kéo dài 3 ngày 2 đêm; đến nay, việc hành lễ được thực hiện liên tục, chỉ trong 2 ngày, 1 đêm Trong suốt thời gian diễn ra nghi lễ, từng “hoạt cảnh” linh thiêng, huyền bí được các thày và người được thụ lễ diễn xướng trong tiếng chuông, trống, tiếng kèn đồng, có lúc còn có thêm các đạo cụ như gậy, kiếm, đao… Các thày cúng

Trang 31

thay nhau đọc về lịch sử, cội nguồn, quá trình thiên di của người Dao, những khó khăn khi vượt sông, biển tìm về miền đất mới

Lễ cấp sắc của đồng bào dân tộc Dao Thái Nguyên còn giữ được bản sắc gốc, gồm nhiều nghi thức liên quan đến lĩnh vực văn hóa, tinh thần, đó là các lĩnh vực tâm linh, văn học nghệ thuật, tập quán sinh hoạt và giáo dục, tập quán liên kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cộng động, kể cả múa, nhạc, hội họa và kiến trúc Vì thế, năm 2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định công nhận Lễ cấp sắc của người Dao tỉnh Thái Nguyên là một di sản văn hóa phi vật thể

Có thể nói rằng, lễ cấp sắc của người Dao ở đây nếu làm đúng theo tập quán thì rất phong phú, gồm nhiều nghi thức liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hoá Đó là các lĩnh vực như thế giới tâm linh, văn học nghệ thuật, tập quán sinh hoạt và giáo dục; tập quán liên kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng, kể cả

ca, múa, nhạc, mỹ thuật, hội hoạ, kiến trúc Do vậy, nếu xét về tổng thể, lễ cấp sắc là một nghi lễ có tính kế thừa các di sản văn hoá của người Dao giữa thế

hệ trước và thế hệ sau, chứa đựng nhiều thành tố văn hoá tộc người, có vai trò kết nối văn hoá giữa các thế hệ người Dao Nếu tiếp tục duy trì lễ cấp sắc theo tập quán cổ truyền sẽ góp phần không nhỏ vào việc gìn giữ và phát huy các đặc trưng văn hoá truyền thống của tộc người Dao ở địa phương

1.2 Văn học dân gian của dân tộc Dao ở Thái Nguyên - Diện mạo và hiện trạng

1.2.1 Khái niệm văn học dân gian

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ (folkore văn học) Một số khái niệm xuất hiện trước những năm năm mươi như văn học (văn chương) bình dân, văn học (văn chương)

Trang 32

truyền khẩu (truyền miệng), văn học (văn chương) đại chúng Những khái niệm này hiện nay không dùng nữa

Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông William Thoms dùng trong bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22/8/1846, với ý nghĩa là những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục , đạo đức, tín ngưỡng , những baì dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng Sau khi xuất hiện, thuật ngữ nầy được hiểu với ngiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học

Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian theo nghĩa rộng thì Văn hóa dân gian bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture) Theo cách hiểu này, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố: Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian , nghệ thuật diễn xướng dân gian và theo nghĩa chuyên biệt: folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore

là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch .do tập thể dân chúng sáng tác Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá dân gian

Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian Do tính chất truyền miệng nên các tác phẩm Văn học dân gian thường có kết cấu đơn giản, nội dung dễ hiểu và nhiều dị bản tùy theo mỗi vùng miền khác nhau Xét về góc độ văn hóa, tác phẩm dân gian mang dấu tích văn hóa của một thời đã qua và dấu tích ấy được ẩn giấu đằng sau những chi tiết, cốt truyện, những sự kiện xảy ra trong quá trình diễn biến câu chuyện Nó

Trang 33

liên quan đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán sinh hoạt của cộng đồng người Việt thời xa xưa mà ngày nay chỉ còn trong tâm thức Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng Bài hát ru gắn với việc ru con ngủ - một hình thức sinh hoạt gia đình; Ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội Từ đó có thể thấy, văn học dân gian dân tộc Dao Thái Nguyên gồm có truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ và dân ca Văn học dân gian với ý nghĩa như trên sẽ là cơ sở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu, nêu được những nét đặc sắc của văn học dân gian dân tộc Dao Thái Nguyên

1.2.2 Một số thể loại văn học dân gian dân tộc Dao ở Thái Nguyên

Văn học dân gian từ cội nguồn bao giờ cũng phát sinh từ một làng, bản

cụ thể Quá trình giao thoa văn hóa trong phạm vi một vùng hay một bộ tộc hoặc giữa các dân tộc đan xen quần tụ đã tạo dựng và tích hợp, hòa nhập vào nhau trở nên phong phú về nội dung, bền vững về phong cách, đa dạng về sắc thái Đó chính là giá trị có ý nghĩa nền tảng tinh thần thống nhất trong đa dạng Văn học dân gian trên vùng văn hoá Thái Nguyên nói chung, văn học dân gian dân tộc Dao nói riêng không nằm ngoài quy luật trên Nó vừa chứa đựng nguồn sống chảy trong nguồn mạch văn hoá cộng đồng, vừa không ngừng tích tụ những nét bản sắc của tộc người trong lịch sử Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài chống lại thiên nhiên khắc nghiệt và xã hội phong kiến bất công để tồn tại và phát triển, dân tộc Dao ở Thái Nguyên đã tạo ra những giá trị truyền thống giàu bản sắc, đặc biệt là văn học dân gian Văn học dân gian của người Dao có đầy đủ các thể lại như: thần thoại, truyện cổ tích, dân

ca, tục ngữ với những nội dung phong phú phản ánh muôn mặt của cuộc sống, thể hiện khả năng nhận thức của con người

*Thần thoại

Khác với các dân tộc anh em cho rằng, nhiều người sáng tạo ra thế giới, người Dao quan niệm chỉ một mình Bàn cổ sinh thế giới vũ trụ Về nguồn gốc

Trang 34

của người Dao nói chung, cho đến nay trong dân gian vẫn còn lưu truyền rộng rãi câu chuyện Bàn Hồ Bàn Hồ hình người, lông quỉ, mồm như cái kim, đầu ngài là trời, chân ngài là đất, mắt trái của ngài là mặt trời, mắt phải của ngài là mặt trăng Bàn Hồ từ trên trời giáng xuống trần gian được Bình Hoàng yêu quý nuôi trong cung Một hôm Bình Hoàng nhận được chiếu thư của Cao Vương Bình Hoàng liền họp bá quan văn võ để bàn mưu tính kế diệt họ Cao nhưng không ai tìm được kế gì Trong khi đó thì con long khuyển Bàn Hồ từ trong kim điện nhảy ra sân rồng quỳ lạy xin đi giết Cao Vương Trước khi Bàn Hồ ra

đi nhà vua có hứa, nếu thành công sẽ gả công chúa cho Bàn Hồ bơi qua biển bảy ngày, bảy đêm mới tới nơi Cao Vương ở Cao Vương thấy con chó đẹp tới phủ phục trước sân rồng thì cho đó là điềm lành, nên đem vào cung nuôi Nhân một hôm Cao Vương say rượu Bàn Hồ cắn chết Cao Vương và ngoạm lấy đầu đem về báo công với Bình Hoàng Bàn Hồ lấy được cung nữ đem vào núi Cối

Kê (Chiết Giang) ở Vợ chồng Bàn Hồ không bao lâu sinh được 6 con trai và 6 con gái Bình Hoàng ban sắc cho con cháu Bàn Vương thành 12 họ, gồm các họ: Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu Con cháu Bàn Vương sinh sôi nảy nở mỗi ngày một nhiều và phân tán khắp nơi

để sinh sống Như vậy, Bàn Hồ là một nhân vật thần thoại, được người Dao thừa nhận là “ông tổ” của mình và được thờ cúng rất tôn nghiêm Ngoài ra, sử sách lưu truyền cũng có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Dao, nhưng tất cả đều thống nhất một quan điểm: người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, di cư sang Việt Nam qua nhiều con đường khác nhau, trong một quá trình lâu dài

*Truyện cổ tích

Đồng bào Dao thường kể chuyện cổ tích cho nhau nghe vào những đêm trăng, những lúc đi đường, trong khi lao động sản xuất… ở đâu có người tụ họp thì đồng bào lại kể cho nhau nghe Truyện cổ tích của người Dao khá phong phú, bao gồm cả truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích

Trang 35

sinh hoạt Đặc biệt, trong kho tàng cổ tích của người Dao có hệ thống truyện kể

về các sự tích … Mỗi sự tích là một truyện cổ tích, vừa lí giải các nghi lễ, phong tục vừa có giá trị giáo dục mọi người sống thiện trừ ác

* Dân ca

Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời đến khi nhắm mắt xuôi tay, người Dao đều tắm mình trong dòng suối dân ca Dân ca của người Dao phong phú,

đa dạng, phản ánh mọi lĩnh vực của cuộc sống, gồm ba loại hình cơ bản: Dân

ca giao duyên, dân ca than thân, dân ca nghi lễ và phong tục Nội dung chủ yếu của những bài dân ca thường xoay quanh chủ đề đời sống lao động sản xuất, phép ứng xử, tình yêu đôi lứa, chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc

*Tục ngữ

Tục ngữ của người Dao khá phong phú, với nội dung đúc kết kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm về cuộc sống, răn dạy cách ứng xử trong xã hội Trong ứng xử, tục ngữ đề cao lối ứng xử hoà đồng, đề cao lối sống tình nghĩa đoàn kết Ngoài các loại hình văn nghệ dân gian trên, người Dao còn có một loại hình văn nghệ dân gian khác khá độc đáo Đó là nghệ thuật tạo hình dân gian Nghệ thuật tạo hình dân gian của người Dao được thể hiện ở trang phục,

ở nghệ thuật vẽ tranh thờ, ở nghệ thuật trang trí bàn thờ trong lễ cấp sắc… Người Dao ở Thái Nguyên tuy có dân số không đông, lại cư trú rải rác ở hầu khắp các huyện nhưng có một nền văn nghệ dân gian khá độc đáo, góp phần không nhỏ làm phong phú thêm nền văn hoá truyền thống giàu bản sắc của dân tộc Dao nói riêng và cả nền văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung

Tóm lại, Văn học dân gian Thái Nguyên nói chung, văn học dân gian Dao nói riêng là kho báu trí tuệ, tâm hồn, tình cảm thẩm mỹ cao đẹp và phong phú của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Trước hết, nó biểu hiện sự tích tụ văn minh Thái Nguyên ngàn năm trên các vùng đất cổ, trong khu vực lan tỏa của nền văn hóa Thần Sa Đó còn là những giá trị hợp lưu văn hóa được lắng kết muộn màng, cùng với quá trình du canh của đồng bào các dân

Trang 36

tộc ít người theo sự chuyển dịch dần các vùng rừng rậm rạp lên phía Bắc, kéo theo sự đan xen ngày một gia tăng của tộc người Kinh, sự thay đổi môi trường sinh thái do những tác động quy luật xã hội đã tác động mạnh mẽ vào đời sống văn học dân gian

1.3.1 Thực trạng về văn học dân gian dân tộc Dao Thái Nguyên

Văn học dân gian dân tộc Dao tuy không được nhắc đến nhiều như văn học dân gian các dân tộc khác là Tày, Mông, tuy nhiên, với dân số đứng thứ 6 cùng các dân tộc khác trong tỉnh và văn học dân gian chủ yếu là truyền miệng, không được phổ biến dưới dạng văn bản thì có thể coi những tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Dao Thái Nguyên là vô cùng quý báu Dân tộc Dao có một nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc, phản ánh nhiều lĩnh vực của đời sống Ca hát và sáng tác thơ là nhu cầu sinh hoạt văn nghệ phổ biến của người Dao Người Dao hát, sáng tác hoặc ứng tác lời hát vào các dịp trai gái đến chơi làng, trong đám cưới, dịp vào nhà mới, những ngày hội và chợ phiên Có hai hình thức thể hiện là hát đơn và hát đối đáp, nhưng hát đối đáp

là thông dụng hơn Hát đối đáp thường áp dụng khi làm quen, tìm hiểu nhau Hát đối đáp (còn gọi là pả dung): Diễn ra trong các bàn tiệc như lễ cưới, vào nhà mới Người tham gia phải biết hát đối đáp Nội dung hát khá phong phú,

có thể về giao duyên, về kinh nghiệm sản xuất, răn dạy Bên thua không trả lời được hoặc trả lời sai sẽ bị phạt uống rượu

Theo đó, người ta chia làm hai bên, một bên nam, một bên nữ, tối thiểu mỗi bên có một người Tục ngữ, ca dao phải ánh nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các kinh nghiệm sản xuất và sinh hoạt xã hội Câu đối cũng đa dạng và phản ánh nhiều khía cạnh của cuộc sống lao động và thiên nhiên xung quanh con người Nhạc cụ dân tộc của người Dao chủ yếu được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, gồm có trống, chiêng, não bạt, kèn, chuông nhạc,

tù và Ngoài ra, người Dao còn có các loại nhạc cụ khác như nhị, sáo, đàn

Trang 37

môi… Hình thức sinh hoạt văn nghệ phổ biến ở vùng người Dao Thái Nguyên

là ca hát Họ có thể hát vào bất kỳ thời gian nào, nhưng thường hay hát trong thời kỳ nông nhàn, trong đám cưới, vào nhà mới, cúng Bàn Vương, khi có khách lạ đồng tộc tới thăm bản Hát đối đáp là sinh hoạt phổ biến khi có khách lạ tới thăm bản Số lượng người hát với nhau không hạn chế Nội dung các bài hát rất đa dạng, tuỳ thuộc chủ đề Đáng chú ý là lời hát đối đáp thường không theo một bài nguyên mẫu, mà do mỗi bên tham gia hát tự sáng tác để đối đáp với nhau

Trong lễ cúng Bàn Vương, người Dao ở đây cũng tổ chức hát giữa một bên là thanh thiếu niên nam (kẻ đàng ton hay biàu ton), một bên là thanh thiếu niên nữ (kẻ đàng xía hoặc biàu xía) Ngoài ra, còn một người đàn ông có tuổi hướng dẫn nhóm kẻ đàng ton hát, gọi là biàu tía, và một người đàn bà hướng dẫn nhóm kẻ đàng xía hát gọi là biàu mả Chẳng hạn, trong lễ cúng này của nhóm Dao Quần Chẹt ở huyện Đại Từ, họ hát đến 36 bài ca (pả phàm chiệp lụa tói dung) nên có người gọi đó là lễ hội 36 ca khúc Thời gian lễ hội 36 bài ca được kéo dài từ nửa đêm hôm trước đến buổi trưa hôm sau mới kết thúc Trong khoảng thời gian đó, họ thường hát các bài có thể tạm dịch ra tiếng Việt như: Mặt trời mọc, Giã hoàng hôn, Trăng lên, Cuộc đời của người con gái, Khúc hát

về tình yêu, Những chàng trai cô gái Dao, Trong vườn đào kết bạn, Mơ ước trong lao động sản xuất, Công việc đan lát, Khúc hát cầu kinh, Ông Bành Tồ kể chuyện, Hoa mai Rõ ràng là nội dung của 36 ca khúc rất phong phú và nhiều thể loại khác nhau

1.3.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đến đời sống văn hóa tinh thần của người Dao ở Thái Nguyên

Có thể nói rằng, văn học dân gian có ảnh hưởng to lớn đối với đời sống của con người, bởi: “Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Việt Nam" Và không ít những nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,

Trang 38

Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh,… đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú Chúng ta nhận ra rằng dân gian trong mối liên quan chặt chẽ với văn nghệ, văn hoá dân gian và đời sống thực tiễn đã giúp đưa các yếu tố văn hoá khác như: âm nhạc, nhảy múa, diễn xướng, tâm linh… làm cho đời sống con người thêm phong phú và đậm đà bản sắc hơn

Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, văn hoc dân gian đã đi vào đời sống của nhân dân một cách rất tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh Qua những tác phẩm văn học dân gian, chúng ta hiểu hơn về bản sắc văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng và vẻ đẹp tâm hồn của con người Văn học dân gian có trong lễ hội dân gian, đời sống sinh hoạt, trong hoạt động sản xuất, vui chơi, giải trí Văn học dân gian thể hiện các hình thức sinh hoạt văn hóa, đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Dao Thái Nguyên Truyền thuyết dân tộc Dao sẽ giúp chúng ta hiểu về quá trình thiên di của người Dao, lịch sử, nguồn gốc của người Dao nói chung, người dân tộc Dao Thái Nguyên nói riêng Kho tàng truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ dân tộc Dao sẽ giúp chúng ta hiểu về đời sống xã hội, giải thích những phong tục, tập quán, hiểu biết về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh nghiệm trong lao động, sản xuất của người Dân tộc Dao Vì lí do đó nên nhà đại thi hào Macxingocki đã nhận định: "con người không thể sống mà không vui sướng được Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhẩy múa" Bởi vậy, các tác phẩm văn học dân gian là sản phẩm văn hoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người…là thần dược quí giá để con người biết sống, biết trở về cội nguồn của chính mình Đó chính là tài sản vô giá mà văn học dân gian đã đem đến cho con người

* Tiểu kết

Thái Nguyên là một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, thuận lợi cho việc định cư và phát triển đời sống kinh tế cho đồng bào các dân tộc, trong

Trang 39

đó có dân tộc Dao Hiện nay, người Dao sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi Trước đây người Dao ở Thái Nguyên còn đan lát, rèn, làm giấy, làm đồ trang sức, ép dầu, trồng bông, trồng chàm để đệt và nhuộm vải Mặc dù cư trú ở vùng sâu, nhưng người Dao ở Thái Nguyên vẫn tham gia trao đổi hàng hoá tại các chợ ở huyện, xã Người Dao đi chợ, nhất là các phiên chợ Tết không chỉ đơn thuần để mua bán, họ còn đi chơi, đi gửi thiếp mời ăn cưới, nhắn tin cho người thân ở làng khác qua những người đi chợ Ngoài ra, đi chợ còn là dịp để tham gia nhiều sinh hoạt văn hoá khác

Nhìn chung, người Dao ở Thái Nguyên cư trú trong các bản được bố trí khá phân tán Mỗi bản có một địa lãnh thổ riêng, ranh giới thường là dòng suối, đỉnh núi, mỏm đá Hiện nay, trên cơ sở giao đất giao rừng nên ranh giới bản được xác định tương đối rõ ràng Ruộng thuộc sở hữu của từng gia đình, nương chỉ chiếm hữu khi còn canh tác Dân cư trong mỗi bản thường là một vài dòng

họ, trong đó có một dòng họ lớn giữ vai trò chủ đạo Các bản người Dao ở Thái Nguyên không có phường hội, họ giúp đỡ nhau theo tuỳ tâm (pang mua tỏi), đổi công (liê công hoặc pụi công), cùng làm chung (tồm dòi chuổng chấu), làm giúp không công (phây tchảng kha), cho vay không lấy lãi Hầu hết các công việc đều có sự giúp đỡ lẫn nhau với nhiều hình thức

Người dân tộc Dao có đời sống văn hóa phong phú, mang đậm bản sắc tộc người Thơ ca cũng như các sáng tác dân gian khác là món ăn tinh thần không thể thiếu được với nhân dân lao động Dao, phản ánh được tâm hồn và cuộc sống của người Dao

Chương 2 THẦN THOẠI VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC

DAO Ở THÁI NGUYÊN 2.1 Thần thoại dân tộc Dao ở Thái Nguyên

Trang 40

Sự phát triển của bất kì nền văn học nào, dù văn minh hay lạc hậu, phát triển hay kém phát triển đều lấy văn học dân gian làm nền tảng Từ thời khởi thủy của xã hội loài người, con người đã biết dùng lời văn tiếng nhạc để làm phong phú thêm vẻ đẹp tâm hồn Điều này được thể hiện bằng những câu hát, truyện kể lưu truyền trong dân gian của các dân tộc trên thế giới Trong các câu hát, truyện kể trong dân gian thì Thần thoại xuất hiện từ khá sớm, gắn liền với

sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Thần thoại là loại truyện ra đời và phát triển sớm nhất trong lịch sử truyện cổ dân gian, là những truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa nhằm phản ánh và lý giải các hiện tượng tự nhiên và xã theo quan niệm vạn vật

có linh hồn của người cổ đại

Thần thoại là một hình thức văn hóa tinh thần ra đời trong xã hội nguyên thủy, khi trình độ của con người còn rất hạn chế Sự phát triển của thể loại này gắn với hành trình đấu tranh trường kỳ gian khổ của con người để tồn tại trong thế giới tự nhiên Thiên nhiên đã đặt ra cho con người nhiều câu hỏi cần giải đáp mà trí thức nông cạn của con người thời đó chưa giải thích được Những gì vượt quá tầm hiểu biết họ đều dùng trí tưởng tượng để thỏa mãn nhu cầu nhận thức về thế giới Người xưa cho rằng, vạn vật hữu linh Người nguyên thủy thường lý giải các hiện tượng diễn ra xung quanh bằng suy nghĩ cảm tính do họ chưa phát triển năng lực phân biệt giữa cái chủ quan và khách quan nên lý giải mọi sự việc theo các hiểu của riêng mình, không cần đến lý giải khoa học Tư duy trong các câu chuyện thần thoại thường gắn với việc phán ánh, lý giải về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên, về nguồn gốc loài người (Gồm cả thực vật và động vật) và nguồn gốc các dân tộc Việt Nam; phản ánh hiện thực đời sống con người thời nguyên thủy trong lao động, sáng tạo và đấu tranh chinh phục thiên nhiên qua trí tưởng tượng, ca ngợi những nhân vật anh hùng, những nhân vật sáng tạo ra văn hóa (những tập tục) Trong các câu chuyện, dù các vị thần hay các yếu tố trong truyện có hoang đường, vô lý đến đâu thì chứa

Ngày đăng: 10/12/2016, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2006), “Vẻ đẹp của nhân vật chính diện trong cổ tích”, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, (9), Hà Nội, tr.18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẻ đẹp của nhân vật chính diện trong cổ tích”, "Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ
Tác giả: Tạ Duy Anh
Năm: 2006
3. Diệp Trung Bình (2002), Lễ hội cổ truyền các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Diệp Trung Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2002
4. Bộ Văn hoá và Bảo tàng Việt Bắc (1991), Một số vấn đề lịch sử Văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc, Bảo tàng Việt Bắc, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử Văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc
Tác giả: Bộ Văn hoá và Bảo tàng Việt Bắc
Năm: 1991
5. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hoá dân gian Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1999
6. Nguyễn Quốc Chấn (2003), Tinh tuyển văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
7. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
8. Phan Hữu Dật (1995), "Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian", Tạp chí dân tộc học, số 02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1995
9. Phan Hữu Dật - Hoàng Hoa Toàn, Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
10. Nguyễn Đăng Duy (2004), Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
11. Chu Xuân Diên (2000), “Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”, Tạp chí văn học, (5), Hà nội, Tr. 19 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 2000
12. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
13. Cao Huy Đỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1976
14. Nịnh Văn Độ (2003), Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày - Dao - Sán Dìu ở Tuyên Quang, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày - Dao - Sán Dìu ở Tuyên Quang
Tác giả: Nịnh Văn Độ
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2003
15. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
16. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
17. Diệp Đình Hoa (2002), Người Dao ở Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Trung Quốc
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
19. Nguyễn Thị Huế (2006),“Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian những năm gần đây”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian những năm gần đây
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Huế (1991), “Môtíp tiếng hát trong truyện kể dân gian Việt Nam”, Tạp chí văn học, (5), Hà Nội, tr.32- 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môtíp tiếng hát trong truyện kể dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
Năm: 1991
22. Nguyễn Văn Huy (1997), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
23. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu Văn hoá dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu Văn hoá dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w