1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa bảo tồn và phát huy giá trị sách cổ dân tộc dao ở tỉnh lào cai

164 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 4,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa năm 2009 điều 21 sửa đổi bổ sung đã nêu rõ: “ Nhà nước bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam…”

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc nghiêm túc, được sự giúp đỡ và hướng dẫn của các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thành luận văn của mình

Trước hết, với những tình cảm trân trọng và sâu sắc nhất, tôi xin chân

thành cảm ơn TS Trần Hữu Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và

chỉ bảo tận tình cho tôi từ khi xác định đề tài, lập đề cương cho đến khi hoàn thiện luận văn

Chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sau đại học - Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội và các thầy, cô giáo tham gia giảng dậy trong suốt quá trình học tập

Chân thành cảm ơn các đồng nghiệp ở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn

Luận văn dù được hoàn thành nhưng vẫn còn có nhiều hạn chế, rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn nữa

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 8 năm 2011

Tác giả Trần Đức Toàn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VÀ TỔNG QUAN VỀ

1.1 Những vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy di sản 10

1.1.1 Khái niệm về quản lý và quản lý Nhà nước 10 1.1.2 Khái niệm về văn hóa, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể 12

1.1.3 Khái niệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 18

1.2 Tổng quan về sách cổ người Dao ở tỉnh Lào Cai 20

1.2.3 Sách cổ người Dao và chất liệu cấu thành 25

1.2.5 Sách cổ người Dao một loại hình di sản văn hóa 33

Chương 2 GIÁ TRỊ CỦA SÁCH CỔ NGƯỜI DAO VÀ

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SÁCH CỔ NGƯỜI DAO Ở

2.1 Môi trường văn hóa và giá trị sách cổ người Dao ở Lào Cai 38

2.1.1 Môi trường văn hóa sách cổ người Dao 38

2.1.2 Nhu cầu sử dụng sách cổ của người Dao ở Lào Cai 43

2.1.3 Sách cổ người Dao với giá trị là một nguồn tư liệu sử học 47

2.1.4 Sách cổ người Dao với giá trị là một kho tàng tri thức văn hóa,

2.2 Thực trạng sách cổ người Dao tại Lào Cai hiện nay 51

2.2.1 Hiện trạng sách cổ người Dao hiện nay 51

2.2.2 Vấn đề thất thoát sách cổ và nguyên nhân của sự thất thoát

Trang 4

2.3 Thực trạng quản lý sách cổ người Dao tại Lào Cai 55

2.3.1 Các cơ chế chính sách của tỉnh Lào Cai về quản lý và bảo tồn

2.3.2 Sự phân cấp quản lý với di sản văn hóa ở Lào Cai 59

2.3.3 Vấn đề sưu tầm bảo quản sách cổ người Dao ở Lào Cai 63

2.3.4 Vấn đề tổ chức sử dụng và phát huy giá trị sách cổ người Dao 65

2.3.5 Hiệu quả thực tế của việc quản lý sách cổ người Dao ở Lào Cai

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SÁCH CỔ NGƯỜI DAO Ở

3.1 Các giải pháp bảo tồn sách cổ người Dao ở Lào Cai 74

3.1.1 Tạo dựng môi trường sinh hoạt và thực hành đáp ứng nhu cầu

3.1.2 Thiết lập, xây dựng các cơ chế, chính sách cho việc bảo tồn và

3.1.3 Đẩy mạnh công tác tập huấn cho cán bộ cơ sở, tiếp tục nghiên

cứu, sưu tầm có chọn lọc sách cổ người Dao 81

3.1.4 Tăng cường xã hội hóa việc bảo tồn sách cổ ở Lào Cai 83

3.1.5 Giải pháp bảo tồn sách cổ người Dao trong các cơ quan quản lý

3.1.6 Bảo tồn sách cổ tại cơ sở và trong dân 96

3.2 Các giải pháp phát huy giá trị sách cổ người Dao 98

3.2.2 Tổ chức dịch thuật và các hội thảo chuyên ngành 99

3.2.3 Mở rộng đối tượng truy cập cơ sở dữ liệu về sách cổ người Dao 101

3.2.4 Tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề về cơ sở 102

Trang 5

UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural

Organization VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân tộc Dao là một dân tộc ít người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Là dân tộc có nhiều phong tục tập quán đặc sắc, phong phú và đa dạng Đặc biệt, người dân tộc Dao có một truyền thống hiếu học lâu đời và cùng với truyền thống hiếu học đó người Dao đã mượn hệ thống chữ của người Hán (Trung Quốc) để làm cơ sở sáng tạo nên hệ thống chữ của riêng họ đó là chữ Nôm Dao

Người Dao đã sử dụng hệ thống chữ của mình, ghi chép lên giấy và tạo nên những cuốn sách hoàn chỉnh, từ những cuốn sách dậy cho người bắt đầu học chữ cho tới các loại sách truyện, thơ ca và các loại sách về tôn giáo tín ngưỡng Các loại sách này được người dân tộc Dao gìn giữ rất cẩn thận, vị trí đặt của các cuốn sách này luôn ở những vị trí trang trọng nhất, đặc biệt là các loại sách cúng thường được đặt trong bàn thờ hoặc treo ở ngay bên cạnh bàn thờ

Nội dung của các cuốn sách của người Dao chủ yếu là những nội dung

cổ được truyền đời, được chép đi chép lại Sách có thể được chép mới nhưng nội dung lại là những nội dung có lịch sử lâu đời nên ta có thể gọi sách của người Dao là sách cổ Sách đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng của các nhóm người Dao, có thể nói cả nền văn hóa người Dao đều ẩn trong hệ thống sách của họ Do vậy, ta muốn tìm hiểu về văn hóa dân tộc Dao thì ngoài việc trực tiếp tham gia cùng họ thì việc nghiên cứu về sách cổ là một trong những cách tiếp cận nghiên cứu

Trước đây, việc học chữ Nôm Dao được người Dao rất chú trọng, những thanh niên trai tráng khi trưởng thành việc học chữ Nôm Dao là một việc bắt

Trang 7

buộc trước khi được cử hành lễ cấp sắc công nhận trưởng thành Tuy nhiên, những năm gần đây việc học chữ Nôm Dao đã không còn phổ biến Trong cộng đồng người Dao số người thực sự thông hiểu chữ Nôm Dao còn lại rất

ít, việc truyền thụ lại chữ Nôm Dao tuy vẫn còn ở một số nơi nhưng không còn phổ biến như trước

Trong cộng đồng dân tộc Dao hiện nay số người biết đọc biết viết chữ Nôm Dao hiện còn rất ít, thường là những người đã có tuổi cao, số thanh niên biết sử dụng chữ Nôm Dao không nhiều, theo số liệu khảo sát của quỹ Ford cho thấy 86% số thanh niên người Dao và 62% trung niên tuổi từ 40 –

50 không biết đọc chữ Dao cổ, cho nên việc gìn giữ các loại sách của người Dao gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt là trong thời đại mới, trước những sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, các loại hình sách cổ của dân tộc Dao ngày một mất dần đi, chỉ còn lại một số các sách về tôn giáo tín ngưỡng của người Dao là còn khá đầy đủ Việc bảo tồn, phát huy các giá trị của sách cổ người Dao đang được đặt ra cấp thiết Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần có những biện pháp quản lý phù hợp cả về mặt vĩ mô cũng như vi

mô để đảm bảo cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị sách cổ người Dao đúng với đường lối của Đảng và Nhà nước ta

Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm đến việc gìn giữ, bảo

vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát

triển năm 2011) Đảng ta đã chỉ rõ rằng

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc[ 10 ]

Trang 8

từ đây đã cho thấy Đảng và nhà nước ta rất coi trọng các giá trị bản sắc văn hóa của các cộng đồng dân tộc Trong luật sửa đổi bổ sung một số điều của

luật di sản văn hóa năm 2009 điều 21 sửa đổi bổ sung đã nêu rõ: “ Nhà nước bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam…” [20] như

vậy sách cổ người Dao với tư cách là một sản phẩm, một loại hình di sản văn hóa độc đáo và có giá trị lớn xứng đáng có được sự quan tâm của mọi thành

phần xã hội và cần được quản lý, bảo vệ

Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị

sách cổ dân tộc Dao ở tỉnh Lào Cai” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ

chuyên ngành quản lý văn hóa của mình

2 Tổng quan về nghiên cứu

Việc nghiên cứu và bảo tồn sách cổ là vấn đề đã được các nhà nghiên

cứu văn hóa nước ta đề cập tới khá sớm và hiện đang được triển khai thực hiện ở nhiều tỉnh, nơi có người Dao sinh sống

- Những năm 60 của thế kỉ XX trên tạp chí Dân tộc Học, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng đã có những bài viết tìm hiểu về lịch sử dân tộc Dao thông qua các cuốn sách cổ như “Bình Hoàng Khoán Điệp” của người Dao đỏ, “An đàn thứ nhất bàn tập đoàn” của người Dao quần trắng cùng với các gia phả của các ngành Dao ở một số tỉnh Tây Bắc

- Đầu thập kỉ 70, 80 của thế kỉ XX, nhà dân tộc học Triệu Hữu Lý với lợi thế của người bản địa, đã dịch và xuất bản các sách của người Dao như “Quá Sơn Bảng văn”, “Bàn Vương Ca” sang tiếng Việt

- Năm 1981, nhà nghiên cứu Hoàng Hựu công bố bản báo cáo khoa học

“Bước đầu tìm hiểu về sách cổ, truyện cổ người Dao” Đây có thể nói là công trình nghiên cứu đầu tiên về sách cổ người Dao

Trang 9

- Năm 1992, xuất hiện nghiên cứu về “Tiếng Dao” của hai nhà nghiên cứu Mai Ngọc Chừ và Đoàn Thiện Thuật Đây là công trình có thể nói là đầu tiên nghiên cứu vể tiếng Dao và chữ Nôm của Người Dao một cách quy mô

và hệ thống

- Năm 1995, nhà dân tộc học Trần Hữu Sơn có báo cáo về thực trạng sách cổ của người Dao, nhu cầu dùng sách cổ và một số giá trị của sách cổ người Dao Năm 2001, Ông cho xuất bản cuốn sách “Lễ cưới người Dao Tuyển”, năm 2005 xuất bản cuốn “Thơ ca dân gian người Dao Tuyển”, trong đó nội dung chủ yếu được Ông khai thác trong các cuốn sách cổ về dân ca Dao

- Gần đây nhất, được sự tài trợ của quỹ Ford, nhà dân tộc học Trần Hữu Sơn đã cùng với các cán bộ nghiên cứu sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai tiến hành dự án “Sưu tầm, biên dịch và thí điểm tổ chức một số lớp truyền dạy chữ Nôm - Dao cho thanh niên dân tộc Dao ở Lào Cai” đây là một dự án lớn được tiến hành trong nhiều năm, sưu tầm

và biên dịch hàng trăm cuốn sách cổ của người Dao Năm 2009, với kết

quả bước đầu của dự án, tiến sĩ Trần Hữu Sơn đã cho xuất bản bộ sách

cổ người Dao với 3 tập Đây có thể nói là công trình nghiên cứu quy mô

và hệ thống nhất trong lịch sử nghiên cứu sách cổ người Dao ở nước ta Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này của các học giả vẫn còn

để lại những vấn đề, những khoảng trống khi nghiên cứu về sách cổ của người Dao Các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào khai thác nội dung của sách cổ, một số có đề cập đến chữ Viết cúa người Dao, nhưng khoảng trống cho vấn đề quản lý, bảo tồn và tìm hiểu thực trạng quản lý sách cổ hầu như chưa có công trình nào nhắc tới Chỉ có nghiên cứu của tiến sỹ Trần Hữu Sơn trong công trình “sách cổ người Dao” có đề cập tới một phần

Trang 10

Đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị sách cổ người Dao ở tỉnh Lào

Cai” sẽ tiếp thu, kế thừa các thành quả của những nhà nghiên cứu đi

trước, cùng với thực trạng và nhu cầu sử dụng sách cổ hiện nay tại Lào Cai để đưa ra những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị sách cổ người Dao một cách có chọn lọc, thận trọng, cố gắng đảm bảo được tính hợp

lý, phù hợp với hiện thực để có thể đạt được tính khả thi cao nhất

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục Đích

Đưa ra một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị sách cổ người Dao

một cách hợp lý và phù hợp với thực tiễn tại địa phương

3.2 Nhiệm vụ

- Đánh giá thực trạng, nhu cầu sử dụng sách cổ người Dao hiện đang có

ở địa phương

- Đánh giá việc quản lý sách cổ người Dao trên nhiều cấp độ quản lý

- Khẳng định tính cấp thiết và quan trọng trong việc gìn giữ, bảo tồn văn hóa dân tộc Dao

- Đưa ra các biện pháp quản lý, bảo tồn và phát huy một cách có hiệu quả nhất đối với sách cổ người Dao ở Lào Cai

4 Đối tượng, phạm vi và địa điểm nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sách cổ người Dao ở Lào Cai và vai trò, chức năng của sách cổ với đời sống người Dao tại Lào Cai

4.2 Phạm vi và địa điểm nghiên cứu:

Tập trung phân tích vai trò của sách cổ người Dao trong đời sống sinh hoạt của người Dao và thực trạng cơ chế quản lý hiện đang có tại địa phương

Trang 11

Cùng với đó là các số liệu, thống kê về sách cổ người Dao của Bảo tàng tỉnh Lào Cai và kho lưu trữ sách cổ của sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai Từ đó đưa ra những giải pháp quản lý phù hợp nhất

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài luận văn này vận dụng chủ yếu là phương pháp tiếp cận quan sát tham dự, trực tiếp khảo sát cùng với người dân tại địa điểm nghiên

cứu, trong quá trình cộng tác làm việc với quỹ Ford, người viết đã trải nghiệm

và ghi chép thực tế khi được tham dự với thời gian khá dài theo dự án về sách

cổ người Dao

Ngoài ra, để có thể tìm hiểu các giá trị của sách cổ người Dao, luận văn còn sử dụng một số các phương pháp liên nghành khác phụ trợ trong quá trình nghiên cứu như phương pháp khảo sát thống kê lấy số liệu về sách cổ, phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi để tìm hiểu các thông tin, phương pháp thảo luận nhóm để tìm tiếng nói chung của cộng đồng với một vấn đè còn đang gây tranh cãi và quan niệm khác nhau

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn được chia làm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bảo tồn, phát huy di sản

và tổng quan về sách cổ người Dao ở tỉnh Lào Cai

Chương 2: Giá trị của sách cổ người Dao và thực trạng quản lý sách

cổ người Dao ở Lào Cai

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả Bảo tồn và phát huy giá trị sách cổ người Dao ở Lào Cai

Trang 12

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY

DI SẢN VÀ TỔNG QUAN VỀ SÁCH CỔ NGƯỜI DAO Ở TỈNH LÀO CAI

1.1 Những vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

1.1.1 Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước

Sách cổ người Dao có thể nói là một loại hình di sản văn hóa, nó bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, ở đây ta chủ yếu xét đến giá trị văn hóa phi vật thể của sách cổ người Dao Sự phân biệt di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đối với sách cổ người Dao không phải có thể tách rời nhau mà chúng gắn liền với nhau, nếu tách hai khái niệm này ra thì việc nghiên cứu sách cổ người Dao hay văn hóa người Dao sẽ dẫn tới sự thiên lệch về một mặt và gây khó khăn cho quá trình quản lý Bởi vậy, để

có thể bảo tồn và phát triển sách cổ người Dao chúng ta phải cần có một phương thức quản lý cụ thể và chi tiết

Quản lý có rất nhiều các khái niệm, cách hiểu khác nhau, quản lý trong xã hội nói chung đó là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Với cách hiểu rộng như vậy, ta có thể thấy được rằng để

có thể có tìm được các biện pháp quản lý hiệu quả nhất, phù hợp nhất đối với di sản văn hóa thực sự rất khó khăn cho những người làm công tác bảo tồn di sản Vấn đề đưa ra khi tiến hành các công tác quản lý đó là nhân tố con người và đối tượng được quản lý, chỉ có sự kết hợp giữa các nhân tố con người vì một mục tiêu chung thì mới phát huy được hiệu quản quản lý rõ rệt nhất chính vì vậy phải có sự thống nhất chung từ các cấp các ngành trong việc quản lý

Trang 13

Ở đây, ta nói đến lĩnh vực quản lý của nhà nước, khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế

độ công tác nội bộ của mình Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước

Ta đặt ra khái niệm quản lý ở đây là muốn nhấn mạnh rằng để có thể quản lý một cách có hiệu quả và chất lượng các loại hình di sản văn hóa, trước hết cần phải có sự điều tiết quản lý của nhà nước một cách đồng bộ, từ các cơ chế chính sách, pháp luật cho tới các cơ quan có chức năng bảo tồn và cả di sản là đối tượng của quản lý (ở đây là sách cổ người Dao) Có được sự đồng bộ từ trên xuống dưới sẽ đảm bảo được sự tồn tại của di sản văn hóa, di sản văn hóa sẽ có chỗ đứng vững chắc hơn trong đời sống cộng đồng, với di sản sách cổ người Dao đó là chỗ đứng trong văn hóa cộng đồng người Dao và trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam

Quản lý là một quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có, thấy được, thấy đúng cái cần có đó rồi mới tìm các biện pháp khả thi và tối ưu để đưa nó từ cái hiện có thành cái cần có Hay nói cách khác đó là với di sản văn hóa ta phải xác định chính xác di sản và loại hình di sản cụ thể để tìm ra biện pháp tối ưu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó Khi

Trang 14

tiến hành các hoạt động quản lý các tổ chức, đơn vị, các cá nhân phải biết trân trọng các nét đặc thù của di sản văn hóa, chỉ có tôn trọng di sản văn hóa thì mới có thể đứng trên lập trường khách quan để bảo vệ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa một cách hiệu quả nhất tránh những hiểu biết hay nhận thức sai về di sản văn hóa gây nên những tổn thất không gì có thể cứu vãn được

Đặt ra khái niệm quản lý ở đây với sách cổ người Dao bởi trong các hoạt động giao lưu văn hóa hiện nay, có những sự tác động qua lại không nhỏ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, cũng như thể chất của các cá nhân

và cộng đồng xã hội Do vậy, cần phải có sự quản lý để có thể vừa bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của văn hóa người Dao, cũng như của sách cổ nhưng đồng thời cũng có thể kiểm soát được việc vận dụng và khai thác sách cổ theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, nhà nước và

chính phủ

1.1.2 Khái niệm về văn hóa, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Khi nói đến Sách cổ người Dao với cách nhìn như là một loại hình

di sản văn hóa có nghĩa là ta phải tiếp cận với sách cổ trên cách nhìn của văn hóa Văn hóa, di sản văn hóa có rất nhiều các quan niệm, các định nghĩa, khái niệm được đưa ra để nhận định

Văn hóa là một khái niệm, một phạm trù rất rộng, nó bao gồm nhiều các yếu tố, các thành phần khác nhau hợp thành Trong từ điển quốc tế danh mục tiêu đề về phát triển văn hóa của UNESCO đưa ra một định

nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu trưng, quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt”[47, Tr 36-37]

Trang 15

Định nghĩa văn hóa này được đưa ra để nhấn mạnh vào đặc trưng riêng có hay năng lực sáng tạo ra ngôn ngữ, ý nghĩa để thực hiện lưu thông trong đồng loại ở đây đó chính là năng lực tư duy trừu tượng chỉ có ở con người

Một định nghĩa về văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu bàn tới đó là định nghĩa của F.Mayer nguyên tổng giám đốc UNESCO

Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã được hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”

[47, Tr 42]

Như vậy, theo F.Mayer thì văn hóa đó là toàn bộ các hoạt động sáng tạo và

nó có một quá trình dài phát triển để tạo dựng nên tính đặc trưng của một dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những suy ngẫm về văn hóa theo Bác

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa

[47, Tr.41]

Như vậy, theo Bác lao động sáng tạo chính là cội nguồn của văn hóa

Với tư cách là một sản phẩm văn hóa, sách cổ người Dao chứa đựng trong nó rất nhiều các giá trị cả về mặt vật thể cũng như phi vật thể ẩn sâu

ở bên trong nội dung và hình thức của sách cổ, nó có ảnh hưởng rất lớn

Trang 16

tới mọi mặt của cộng đồng và cả tổ chức xã hội của người Dao Như vê-bơ nói rằng

Mác-Văn hóa là một cấu trúc có bề sâu Cuộc sống xã hội được phản chiếu trên bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hóa được chia theo các tầng khác nhau thường tiềm ẩn và vô thức Ở độ sâu này ta thấy

có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa, điều chỉnh cái bề mặt ở bên trên [47, Tr.63]

Để nghiên cứu về văn hóa của người Dao ngoài việc chúng ta có thể tham gia trực tiếp cùng với họ, nghiên cứu sách cổ của người Dao cũng là một cách tiếp cận khá đầy đủ về văn hóa của họ Có được sự hiểu biết về văn hóa của người Dao một cách nhất định thì mới có thể tìm ra được các đặc trưng, mới có thể bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của họ

Văn hóa như đã nói ở trên, nó là cả một quá trình sáng tạo, có sự tiếp nối kế thừa do đó văn hóa luôn có tính liên tục, kế thừa có chọn lọc để tồn tại một cách âm thầm nhưng vững chắc Những thành tựu sáng tạo văn hóa bất

kể là vật thể hay phi vật thể, vô hình hay hữu hình, qua sự sàng lọc thử thách của thời gian đọng lại trở thành di sản văn hóa Trong đó, chứa đựng những kinh nghiệm sống, tri thức sống, những truyền thống, thị hiếu hay các chuẩn mực xã hội Di sản văn hóa là sự tồn tại hiện thực của văn hóa, nói đến bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng tức là nói đến giữ gìn và phát huy vốn di sản văn hóa của dân tộc

Luật Di sản văn hoá năm 2001, luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa năm 2009, nghị định 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn luật di sản văn hóa và luật di sản văn hóa sửa đổi đã chỉ ra Di sản văn hóa bao gồm

di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua

Trang 17

thế hệ khác ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử-văn hoá, danh lam-thắng cảnh và di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia [19, điều 4 - khoản 1]

Với sách cổ người Dao, trong luận văn này chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu các giá trị văn hóa phi vật thể để xác định các giá trị cần bảo tồn và phát huy Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ (bổ sung và phát

triển năm 2011) Đảng ta đã nhấn mạnh

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sách dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt trẽ

và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nề tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hóa văn hóa của nhân loại [10]

Trang 18

sách cổ người Dao với tư cách là sản phẩm văn hóa của người Dao, chứa đựng tinh hoa văn hóa của người Dao có thể coi là một di sản không thể thiếu trong văn hóa cộng đồng người Dao Trong sách cổ chứa đựng tinh thần xã hội của người Dao, sự ảnh hưởng của sách cổ đối với người Dao là rất rõ ràng

và dễ nhận thấy

Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Di sản văn hóa tại điều

4 khoản 1 sửa đổi nói rất rõ về di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [20]

như vậy, ta có thể khẳng định rõ ràng rằng sách cổ người Dao là di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Dao

Theo công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được

thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2003, ở đây

Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các phong tục, biểu tượng, hình thức, tri thức, kĩ năng - cũng như là các dụng cụ, đồ vật, khí

cụ và các không gian văn hóa đi kèm với chúng - mà các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân thừa nhận là một phần trong di sản văn hóa của họ Di sản văn hóa này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được thường xuyên tái tạo trong các cộng đồng và các nhóm người qua quá trình ứng phó với môi trường, tương tác với tự nhiên và lịch sử, qua đó mang lại cho họ ý thức về bản sắc cộng đồng từ đó thúc đẩy sự tôn trọng về

tính đa dạng về văn hóa và tính sáng tạo của con người [46]

Trang 19

Di sản văn hóa được tiếp thu trên cơ sở kế thừa, đưa chúng vào hiện tại trong các mối liên hệ của các mối quan hệ mới nảy sinh, làm phong phú thêm cho kho tàng di sản văn hóa Nhưng trên thực tế, với các di sản văn hóa cách nhận thức và khai thác di sản văn hóa của mỗi một chủ thể đều có những sự khác biệt và mang tính hai mặt, có thể đó là một nhận thức chính xác nhưng cũng có thể đó là một nhận thức sai lầm Do nhận thức đúng hay sai mà di sản văn hóa có thể được phát triển tốt và cũng có thể ngược lại làm nó bị nghèo nàn đi và thậm chí có thể biến mất vĩnh viễn Lúc này, việc gắn liền nhận thức với khai thác, sử dụng, không còn là một cái gì đó trừu tượng nữa mà nó đã được thực thể hóa, vật chất hóa thành lối sống, phong tục tập quán, ngôn ngữ…Trong giai đoạn hiện nay, với sự gia tăng của giao lưu văn hóa về mọi mặt, sự xâm thực về văn hóa, lai tạp văn hóa đã dẫn tới việc phá vỡ nhiều truyền thống, phong tục Thực tế đó đã đưa văn hóa cùng với di sản văn hóa trở thành một trong những nhân tố hàng đầu trong việc nhận diện dân tộc Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng biệt, trong nền văn hóa ấy có di sản văn hóa làm nên đặc trưng của dân tộc, đó là dấu hiệu nhận biết của chính dân tộc đó

Như vậy theo cách hiểu của công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, cũng như cách diễn giải của luật Di sản văn hóa, sách cổ người Dao hoàn toàn có thể được coi là một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của cộng đồng dân tộc Dao nói riêng và là một phần trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam Sách cổ người Dao được truyền thụ từ đời này sang đời khác trong các gia đình người Dao, luôn có mặt trong các nghi lễ lớn trong năm cũng như trong vòng đời của người Dao, trong đó chứa đựng tinh hoa văn hóa của người Dao, chứa đựng phong tục tập quán của người Dao… bởi vậy sách cổ người Dao thực sự là một di sản văn hóa không thể tách rời trong văn hóa cộng đồng người Dao

Trang 20

1.1.3 Khái niệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa:

Theo quan niệm của UNESCO tại công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2003, trong phần giải thích thuật ngữ đã đưa ra giải thích về bảo tồn

Bảo tồn ở đây được hiểu là bao gồm các biện pháp nhằm đảm bảo tính trường tồn của các di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm

cả các biện pháp nhận dạng, lưu trữ, nghiên cứu bảo tồn, bảo vệ, thúc đẩy, củng cố, chuyển hóa, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức và không chính thức, cũng như là việc làm

sống lại các giá trị khác nhau của di sản đó [46]

Với quan điểm này của UNESCO ta thấy khái niệm về bảo tồn là một khái niệm rất rộng, nó bao gồm nhiều các phương diện khác nhau, các biện pháp khác nhau để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của di sản văn hóa Bảo tồn không chỉ đơn thuần theo cách hiểu đơn giản là bảo vệ cho nó tồn tại, bởi nếu chỉ bảo vệ thôi thì với di sản văn hóa nó sẽ là một di sản chết, một di sản không có sức sống, không có giá trị ảnh hưởng thì không thể được gọi là di sản Cũng như một hiện vật bảo tàng, dù có giá trị tới đâu chăng nữa nếu không được phát huy các giá trị vốn có với giá trị lịch

sử khoa học của nó thì chỉ là một hiện vật chết Di sản văn hóa cũng như văn hóa, nó có không gian sống riêng biệt, nó có thể chuyển hóa nhưng bản chất, nội dung của nó không thay đổi, nếu có chỉ là sự tích lũy bổ xung, chọn lọc để làm tăng giá trị của di sản văn hóa Mối quan tâm lớn nhất của việc bảo tồn đó là bảo vệ các yếu tố văn hóa gốc, bảo vệ văn hóa phát hiện được chống lại sự thoái hóa hay cả sự xâm hại khác Cũng như các hiện vật bảo tàng, di sản văn hóa một khi đã biến mất hay bị phá hủy thì nó không thể tìm lại được, do đó cần phải có những phương án bảo tồn một cách cụ thể làm sao để lưu giữ được các thuộc tính gốc của nó

Trang 21

Bảo tồn di sản văn hóa trước tiên phải bảo tồn được không gian, môi trường mà nó tồn tại, có như vậy các giá trị của văn hóa mới có thể phát huy được hết các giá trị của di sản văn hóa Không bảo tồn, bảo vệ được môi trường tồn tại của di sản văn hóa đồng nghĩa với việc di sản văn hóa lúc này chỉ là cái xác không hồn, không có giá trị và sẽ dần mất

đi, thui chột đi hoặc cũng có thể trở thành một thứ khác mà ta không biết, không tưởng tượng ra Như vậy, khi tiến hành các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa cần phải xác định rõ rằng bảo tồn không phải là sự tách rời, cách ly di sản khỏi không gian và môi trường văn hóa của di sản mà là phải bảo vệ không chỉ bản thân di sản mà không gian, môi trường xung quanh phát huy giá trị di sản cũng cần phải được bảo tồn

Di sản văn hóa chỉ có thể phát huy giá trị của nó khi nó được tồn tại trong chính không gian, môi trường của nó Không thể để di sản văn hóa của không gian tồn tại này sang một không gian tồn tại khác bởi đó là một điều bất trí, không phù hợp với hiện thực khách quan, không phù hợp với hiện thực khách quan thì không thể tồn tại và phát triển được

Song song với việc bản tồn di sản, việc làm sao để cho di sản tìm lại được các giá trị vốn có của nó là một vấn đề quan trọng Không chỉ là

sự khẳng định tồn tại của di sản văn hóa mà còn phải làm cho di sản văn hóa đó phát triển tiến lên, được nhân rộng ra, phát huy được hết các giá trị thế mạnh của di sản văn hóa đó là nhiệm vụ của phát huy giá trị di sản văn hóa Khái niệm bảo tồn và phát huy luôn là hai khái niệm song song

bổ trợ cho nhau, bảo tồn di sản văn hóa là gìn giữ lại vốn di sản song nếu chỉ gìn giữ thôi thì không đủ mà phải phát huy được vốn di sản đó

Một di sản văn hóa như đã nói ở trên chỉ có thể tồn tại trong môi trường, không gian sống đặc trưng của nó Nhưng nếu nó tồn tại mà không có

Trang 22

được những biện pháp để cho nó trở nên hữu hình, có thể nắm bắt được, có thể cảm nhận được thì di sản văn hóa đó sẽ là cái gì và ai sẽ nắm bắt chúng Phát huy di sản văn hóa chính là được nêu ra để giải quyết vấn đề này, phát huy di sản văn hóa là các biện pháp đưa di sản văn hóa trở lại với bản chất vốn có của di sản, đưa di sản văn hóa tiếp cận trở lại với các đối tượng, với chủ thể trong không gian, môi trường tồn tại của nó, đưa di sản văn hóa trở về đúng với quỹ đạo lịch sử phát triển của mình

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là hai khái niệm không thể tách rời nhau, chúng luôn đi đôi với nhau do đó cần phải có nhận thức đúng đắn trong quá trình làm công tác bảo tồn và phát huy di tích để đạt được hiệu quả cao nhất mà không bị lạc ra ngoài các quy luật khách quan quy định

1.2 Tổng quan về sách cổ người Dao ở tỉnh Lào Cai

1.2.1 Sơ lược về người Dao tại Lào Cai

Người Dao là một trong 54 dân tộc, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Là nhóm cư dân chủ yếu sống tập trung trên các triền núi cao phía Bắc, Tây - Tây Bắc, Đông Bắc… Năm 2009, theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc, người Dao có 751.067 người sống tập trung đa phần tại các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bình Trong cộng đồng dân tộc Dao, theo như nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Tụng trong cuốn “Người Dao ở Việt Nam” đã chia thành các nhóm nhỏ đó là nhóm Dao Đỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng), nhóm Dao Tiền, nhóm Dao Trắng (Dao quần trắng hay Dao họ) và nhóm Dao Tuyển (Dao Làn Tiẻn) Theo như kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì người Dao có mặt tại 61 tỉnh trên 63 tỉnh thành phố ở nước ta Tuy nhiên, điều này không cho thấy rằng tất cả các nhóm ngành người Dao phân bố tại các địa phương đều sống một cách tập trung thành các cộng đồng

Trang 23

làng bản Người Dao mặc dù có phạm vi phân bố khá rộng nhưng thực sự

sống tập trung thành các cộng đồng làng bản thì chủ yếu là ở các tỉnh thuộc

vùng núi phía Bắc, nơi mà đại đa số các nhóm ngành người Dao ở Việt

Nam sinh sống Ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng thống kê 10 địa

phương có người Dao sinh sống đông nhất ở nước ta dưới đây

Bảng số liệu Người Dao ở Việt Nam

(10 tỉnh đông người Dao sinh sống tập trung nhất tính đến 1/4/2009)

Tại Lào Cai, người Dao có ba ngành cùng sinh sống đó là Dao Đỏ, Dao

Tuyển và Dao Họ Người Dao sống phân bố rải rác khắp các huyện thị trong

tỉnh Lào Cai, tuy nhiên có sự phân biệt khá rõ trong sự phân bố khu vực sống

của các ngành Dao ở Lào Cai Các ngành Dao ở Lào Cai sống tập trung thành

Trang 24

từng những khu vực riêng biệt, hầu như có rất ít sự đan xen khu vực sống giữa các ngành với nhau, nếu có chỉ là sự đan xen giữa các thôn bản (hầu hết trong các thôn bản chỉ là sự tập trung của một ngành) với nhau chứ rất ít khi

có sự đan xen các ngành trong một thôn bản

Tại Lào Cai, theo số liệu điều tra dân số năm 1999 toàn tỉnh có 74.220 người sống tập trung theo các cộng đồng làng và nhóm ngành với nhiều xã có

tỷ lệ người Dao chiếm hơn 90% dân số toàn xã Theo số liệu tổng điều tra dân

số năm 2009, tại Lào Cai có 88.379 người, chiếm 14,4 % dân số toàn tỉnh và 11,8 % tổng số người Dao tại Việt Nam và là nơi có số lượng dân cư người Dao sinh sống tập trung đứng thứ 3 toàn quốc (sau Hà Giang - 109.708 người

và Tuyên Quang - 90.618 người)

Người Dao Đỏ ở Lào Cai có địa bàn cư trú rộng nhất và hầu khắp các huyện thị tại Lào Cai đều có sự có mặt của ngành Dao này Người Dao Đỏ cư trú tập trung nhất tại các huyện Bát Xát (tại các xã Toòng Sành, Phìn Ngan,

Tả Ngảo, Bản Xèo, Mường hum, Nậm Chạc, Trịnh Tường), Sa Pa (tại các xã Bản Khoang, Tả Phìn, Trung Chải, Tả Van, Thanh Kim, Thanh Phú, Bản Phùng, Bản Hồ, Nậm Cang, Suối Thầu, Sử Pán), Bảo Thắng (tại các xã Xuân Giao, Gia Phú, Phú Nhuận, thị trấn Tằng Loỏng), Văn Bàn (tại các xã Làng Giàng, Thẩm Dương, Dương Quỳ, Nậm Tha, Nậm Dạng, Nậm Xây, Tân Thượng, Minh Lương, Dền Thàng, Tân An, Sơn Thủy ), Bảo Yên (tại xã Kim Sơn, thôn Làng Bông - xã Bảo Hà, thôn Cốc Nghề - xã Thượng Hà, làng Múi

- xã Yên Sơn) Ở huyện Mường Khương và thành phố Lào Cai người Dao Đỏ chỉ sống tại Nậm Chảy (Mường Khương) và xã Tả Phời (Thành phố Lào Cai)

Người Dao Tuyển cư trú tập trung tại các huyện Bảo Yên ( xã Long Phúc, Long Khánh, Xuân Thượng, Xuân Hòa, Tân Dương, Nghĩa Đô, Thượng Hà, Tân Tiến, Minh Tân, Yên Sơn, Bảo Hà, Cam Cọn, Điện Quan,

Trang 25

Kim Sơn), huyện Bảo Thắng (tại các xã Bản Phiệt, Bản Cầm, Trì Quang, Xuân Quang, Phong Niên, Thị Trấn Phong Hải), huyện Bát Xát (tại các xã Quang Kim, Cốc Mì, Bản Qua), huyện Bắc Hà (tại các xã Cốc Lầu, Cốc Ly, Nậm Khánh, Nậm Lúc, Bản Cái, Bảo Nhai, Tả Củ Tỷ), huyện Mường Khương (tại các xã Bản Lầu, Bản Sen, Nậm Chảy, Tung Trung Phố, Lùng Khấu Nhin)

Người Dao Họ (Dao quần trắng) chủ yếu tập trung tại huyện Bảo Thắng (tại các xã Sơn Hà, Sơn Hải, Phố Lu, Thái Niên) và xã Cam Cọn (huyện Bảo Yên), xã Tân An (huyện Văn Bàn)

Với sự phân bố này của người Dao tại Lào Cai, sự phân bố tập trung của các nhóm ngành trong cùng một khu vực, không pha tạp điều này giúp cho sự nguyên vẹn của văn hóa người Dao với mỗi cộng đồng ngành Dao ở Lào Cai không bị pha trộn lai tạp, từ đó bảo tồn được tính nguyên gốc và bản sắc của từng nhóm ngành Dao ở Lào Cai Đối với việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, việc đảm bảo tính nguyên gốc của văn hóa thực sự là một điều may mắn cho các nhà nghiên cứu bởi người nghiên cứu sẽ bớt được rất nhiều thời gian cho việc bóc tách văn hóa lai tạp để lựa chọn ra yếu tố văn hóa cơ sở, văn hóa gốc của đối tượng nghiên cứu

1.2.2 Khái niệm về sách cổ người Dao:

Sách có rất nhiều các khái niệm, định nghĩa nhưng chúng ta thường quen với cách hiểu đơn giản sách là một tập hợp các thông tin dạng chữ viết, hình ảnh được lưu trong các tờ giấy, giấy da hoặc những vật liệu khác Mỗi mặt giấy đựợc gọi là một trang sách Một quyển sách tập hợp nhiều trang là một tác phẩm hoặc là một phần của một tác phẩm Trong thư viện sách có nhiều sách: sách thông tin khoa học, sách dùng trong trường học, sách nghiên cứu hay sách tham khảo theo các chuyên đề Với sách chúng ta luôn được tiếp

Trang 26

xúc hàng ngày sách đem lại cho chúng ta nhiều điều bổ ích, những tri thức, những câu chuyện hay nhưng trên hết sách đem lại cho chúng ta một kho tàng văn hóa vô cùng to lớn, bao hàm tri thức của toàn nhân loại

Sách cổ người Dao theo khái niệm được đưa ra trong cuốn “Sách cổ

người Dao - Tập 1: Truyện thơ ” của tiến sĩ Trần Hữu Sơn đưa ra đó là: “Sách

cổ người Dao là một khái niệm tương đối dùng để chỉ toàn bộ số sách được người Dao viết đầu thế kỉ XX về trước”[27,Tr.6] Tuy nhiên, như đã nói khái

niệm sách cổ này chỉ mang tính chất tương đối, bởi bất cứ một loại hình di sản văn hóa nào cũng đều có sự kế thừa và phát triển, sách cổ người Dao cũng không ngoại lệ

Sách cổ người Dao được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong các gia đình, cộng đồng người Dao, nó luôn được kế thừa và phát triển thêm, phát triển ở đây đó là sự bổ sung các yếu tố về nội dung trong quá trình lịch sử tồn tại, nó không chỉ là một nội dung cố định như các loại sách khác, các yếu tố nội dung được thêm vào theo lịch sử phát triển của người Dao Do đó, khái niệm sách cổ người Dao chỉ mang tính tương đối, sách cổ người Dao mang nội dung lịch sử truyền đời, mỗi đời đều có ghi chép do đó nội dung sách có thể đi theo chiều dài lịch sử thiên di của người Dao, sách được lưu giữ bằng cách chép đi chép lại cho nên với sách cổ người Dao nhiều khi về hình thức rất mới nhưng nội dung của nó lại là những nội dung lịch sử hay văn hóa dân gian cực kì quý báu, là kho tàng văn hóa của người Dao

Thông qua nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, ta có thể thấy được rất nhiều các nghiên cứu về nhiều mặt của văn hóa người Dao và trong

đó có không ít những nghiên cứu liên quan tới sách cổ của người Dao Tuy nhiên, trong những công trình nghiên cứu đó chủ yếu tập trung khai thác vào nội dung giá trị của sách cổ người Dao và mang nặng tính chất giới thiệu cùng

Trang 27

cách nhìn quá sâu vào chi tiết bởi vậy hầu như không đưa ra được khái niệm cũng như định nghĩa về sách cổ người Dao Chính vì không có khái niệm cũng như định nghĩa thế nào là sách cổ mà dẫn đến những khó khăn trong việc xác định các tiêu chí của sách cổ người Dao Chỉ đến công trình nghiên cứu của tiến sĩ Trần Hữu Sơn, khái niệm về sách cổ người Dao mới được đưa

ra một cách rõ nét cùng với các tiêu chí xác định khá đầy đủ về thời gian cũng như niên đại của sách cổ người Dao

Như vậy, qua nhiều cách nhìn, cách hiểu về sách cổ người Dao của những nhà nghiên cứu, những nhà dân tộc học hàng đầu ta có thể thấy được vai trò và giá trị của sách cổ người Dao với tư cách là một di sản văn hóa của người Dao trong cộng đồng người Dao cũng như trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam Khái niệm sách cổ người Dao vẫn còn là một khái niệm mang tính tương đối và đang còn được nghiên cứu, là một khái niệm

mở dành cho những nghiên cứu về sau, khi nghiên cứu về sách cổ và văn hóa người Dao

1.2.3 Sách cổ người Dao và chất liệu cấu thành

Sách cổ người Dao, cũng như các loại sách khác cũng được cấu tạo thành từ những trang giấy, chỉ có điều khác đó là loại giấy này theo người Dao gọi đó là giấy bản được làm một cách thủ công ở hầu hết các công đoạn sản xuất Đây là loại giấy được người Dao tự mình sản xuất,

tự cung tự cấp và hiếm khi xuất hiện ở bên ngoài cộng đồng người Dao

Là một dân tộc có nền văn hóa phong phú, có một hệ thống chữ viết riêng nên việc người Dao có thể tự sản xuất giấy phục vụ cho nhu cầu của mình không khó để giải thích Tuy nhiên, người Dao chỉ làm giấy khi có nhu cầu làm sách hoặc các nhu cầu khác trong gia đình, dòng họ

Trang 28

và cộng đồng (trong chu kì vòng đời của người Dao) mà không phải bất

cứ lúc nào cũng sản xuất Do chỉ sản xuất theo nhu cầu, sản lượng nhỏ, không trao đổi buôn bán cho nên nghề làm giấy của người Dao với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu họ cho rằng đây không phải là một nghề truyền thống của người Dao

Giấy của người Dao được làm từ các loại vật liệu sẵn có trong thiên nhiên, các loại nguyên liệu này sau khi được người Dao trải qua một quá trình chọn lọc mới được khai thác về để sử dụng trong việc làm giấy Bìa sách của người Dao xưa kia thường làm bằng các loại da thú, da trâu bò nhưng hiện nay chủ yếu làm bằng loại giấy thô cứng Giấy của người Dao không chỉ dùng

để làm sách mà còn có nhiều ứng dụng khác như sử dụng trong các nghi lễ, tang ma, cưới hỏi, làm tranh thờ…

Cách làm giấy của người Dao, theo dân gian truyền lại, người Dao đỏ ở Văn Bàn làm giấy bản từ những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên Loại cây được sử dụng nhiều nhất là măng vầu hoặc rơm rạ sau mùa thu hoạch Khi cây măng cao chừng 3 - 4 mét (hai đến ba tầm người), người ta chặt về, loại

bỏ lá, cành rồi cắt chẻ ra thành từng đoạn ngắn đem luộc trong một thời gian sao cho măng thật mềm nhưng không được nát quá sẽ mất đi chất bột Măng

đã luộc ngâm với vôi và tro bếp khoảng mười ngày cho nhuyễn hẳn, rồi dùng cối để giã thành bột Sau đó họ lại từ rễ, thân, lá của hai loại cây rừng đặc biệt tiếng Dao gọi là cây S’kêu và cây Pùi Luồng đập giập, ngâm vào nước 20 - 30 phút nhựa của cây sẽ chảy ra hòa vào với nươc ngâm tạo thành một loại dung dịch màu vàng xanh, sánh như dầu nhớt nguyên chất Hòa bột măng vầu cùng dung dịch này, sau đó tráng thật mỏng trên khuôn vải giống như tráng bánh cuốn, phơi khô rồi bóc nhẹ ra là được tấm giấy bản thô đầu tiên

Trang 29

Tuy cách làm đơn giản như vậy nhưng đó lại là sự tích lũy kinh nghiệm nhiều đời của người Dao, cách làm giấy của người Dao cũng chính là một phần trong kho di sản văn hóa của người Dao Nói như vậy bởi vì trong quá trình thu thập nguyên liệu làm giấy của người Dao bao gồm nhiều các nghi thức, nghi lễ cũng như kiêng kị khi thu thập nguyên liệu làm giấy, nó cộng tồn với phong tục tập quán của người Dao Khi tiến hành khai thác nguyên liệu người Dao cũng phải chú ý một số các kiêng kị khi vào rừng khai thác nguyên liệu, như khi vào rừng mà gặp rắn đỏ hay cây gãy đổ ngang đường thì phải quay về ngay bởi người Dao cho rằng đó là linh hồn của tổ tiên hiện về báo cho họ không được vào rừng nếu cứ tiếp tục đi vào rừng sẽ gặp nguy hiểm Khi khai thác nguyên liệu, nhất là với các loại tre, vầu theo kinh nghiệm truyền đời của người Dao thì khai thác cây phải lựa chọn cây thật kĩ càng bởi chỉ có lựa cây thật kĩ thì khi sử dụng sẽ có được độ an toàn cao nhất Cây được chọn, với nguyên liệu làm giấy phải là loại tre, vầu cao khoảng hai đến ba tầm người, đây là loại thích hợp nhất để làm giấy bởi nó không quá non cũng không quá già, thân nhiều bột thích hợp nhất để làm nguyên liệu giấy

Họ không lấy những cây quá thấp bé và không lấy quá nhu cầu sử dụng làm giấy của mình Khi khai thác, không được lấy những cây mất ngọn hay sâu gốc bởi những cây này nếu lấy về làm nguyên liệu thì giấy làm

ra dễ bị mủn và hay bị mối mọt trong quá trình sử dụng Đến khi đã tạo

ra được bột giấy và khi trải ra trên khuôn hay trên sàng lọc làm giấy, người Dao cũng cực kì cẩn thận, bột giấy ướt được trải mỏng, đều không

bị thiếu hụt hay bị gợn sần quá ở bất cứ góc nào, sau khi phơi khô và lấy giấy thành phẩm từ sàng lọc ra thì cũng phải cẩn thận không được để giấy bị rách hay mất góc bởi theo quan niệm của người dao thì tấm giấy

Trang 30

như vậy sẽ không đủ độ dai, dẻo cho việc sử dụng về sau, tấm giấy đó sẽ

bị loại bỏ và có khi cả mẻ giấy đó cũng bị loại đi không sử dụng

Nghề làm giấy của người Dao là kết tinh kinh nghiệm nhiều đời,

nó là một tri thức dân gian với nhiều tri thức quan trọng nhất là với việc khai thác và bảo vệ rừng cùng với nguồn nguyên liệu Nghề làm giấy của người Dao tồn tại một cách âm thầm trong đời sống người Dao, tuy không thực sự rõ nét thành một nghề truyền thống nhưng đó lại là một minh chứng cho nền văn hóa đa dạng và phong phú của người Dao Tất

cả các quá trình từ khai thác, chế biến, tạo thành phẩm đều được người Dao làm thành một quy trình khép kín và hoàn hảo Quy trình làm giấy của người Dao có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau, thông qua sơ đồ này chúng ta có thể thấy được một cách vắn tắt nhất các công đoạn được tiến hành trong quá trình làm giấy của người Dao

Sơ đồ quy trình làm giấy của người Dao

Hòa trộn bột giấy với dung dịch kết dính

Phơi khô

và thu nhận thành phẩm giấy thô

Trang 31

Sau khi đã hoàn thành các bước sản xuất giấy và thu được giấy thô, người Dao lúc này tiến hành gập giấy và pha giấy thành những mảnh nhỏ hơn để chuẩn bị cho việc làm sách Tùy thuộc vào người làm sách muốn làm sách khổ to hay nhỏ mà họ pha giấy thành từng mảnh cho phù hợp với nhu cầu Giấy được xếp lại với nhau, lấy thanh nứa mảnh hoặc dao sắc rọc theo nếp gấp để tạo nên những tờ giấy nhỏ làm thành những trang sách của cuốn sách Sau khi đã có được các trang giấy, lúc này họ đặt các trang sách đó xếp lên nhau sao cho cân xứng từ trên xuống dưới, độ dầy

và số lượng trang sách do người làm tự quyết định, thường thì người Dao xếp khoảng 5 - 10 tờ giấy với nhau sau đó gấp lại ở giữa tạo gáy, một cuốn sách có thể được tạo nên từ 5 - 7 tập giấy gấp tạo gáy như vậy Sau khi đã gấp tạo gáy, người Dao lại xếp các phần gáy đó với nhau sao cho cân bằng rồi dùng chỉ khâu các giữ phần gáy đó với nhau tạo thành lõi sách Công đoạn cuối cùng để làm một cuốn sách đó là làm bìa sách Như

đã nói ở trên, bìa sách của người Dao trước kia hay được làm bằng da thú hoặc da trâu bò (chủ yếu là da trâu bò) đã được thuộc và sử lý Cách làm rất đơn giản đó là đo chiều dài và rộng của da thú hay da trâu bò cho vừa với chiều dài và rộng của cuốn sách khi mở ra sau khi đã cắt xong đặt lõi sách cho cân chuẩn vào giữa tấm da rồi gập lại sao cho tấm da phủ đều và kín lõi sách ở bên ngoài sau đó khâu cố định phần gáy sách nhưng hiện nay người Dao ít khi sử dụng da động vật để làm bìa sách mà chuyển sang dùng giấy thô cứng làm bìa sách Hoàn thành công đoạn này người Dao

đã có một cuốn sách hoàn chỉnh sẵn sàng cho việc ghi chép, việc ghi chép này có thể gia chủ, người làm sách tự chép, tự ghi nhưng cũng có thể phải nhờ người ghi chép họ nếu không biết chữ, lúc này chủ cuốn sách đó lại phải có những phần lễ nhỏ đưa đến cho người chép hộ với lòng thành kính nhất Người chép hộ ở đây thường là những người có uy tín, có danh vọng

Trang 32

và biết chữ trong làng, thường là các thầy cúng Cuốn sách hoàn thành sẽ

đi cùng với người Dao từ đời nọ sang đời kia và được bổ xung nội dung trong từng đời, từng sự kiện xảy ra trong gia đình, họ tộc hay cộng đồng người Dao

Như vậy, chất liệu và cách thức chế tạo, sản xuất ra một cuốn sách của người Dao đơn giản và khá dễ dàng Nhưng ẩn chứa trong cách làm sách đó là cả một hệ thống các tri thức dân gian của người Dao, được họ đúc kết qua nhiều thế hệ, giấy được làm ra có tính chất dai mỏng và ít thấm nước phù hợp với việc tạo thành một cuốn sách hoàn chỉnh, do ít thấm nước nên sách trong qua trình sử dụng ít khi bị ẩm do vậy thời gian lưu giữ cũng được nâng cao Đây chính là một trong những đặc điểm khiến ngày nay dù có rất nhiều các loại giấy khác nhưng người Dao vẫn kiên trì sử dụng giấy do chính mình là ra để phục vụ cho nhu cầu làm và chép sách của mình

1.2.4 Phân loại sách cổ người Dao

Theo như cuốn “Sách cổ người Dao” của tiến sĩ dân tộc học Trần Hữu Sơn đã đưa ra các cách phân loại rất cụ thể từ các cách phân loại của các học giả Trung Quốc cho đến các học giả người Việt Nam Các cách phân loại này cơ bản đã khái quát được hầu hết các thể loại của sách cổ người Dao, trong luận văn này chỉ tóm tắt, tổng kết lại các cách phân loại

để giới thiệu và tham khảo thêm

Các nhà nghiên cứu dân tộc học người Trung Quốc có hai cách phân loại đối với sách cổ người Dao:

- Cách thứ nhất tập trung vào chủ yếu là Kinh thư và Ca thư đây là hai loại hình sách có số lượng chiếm đông nhất trong các thể loại sách cổ người Dao, cách chia này mang tính bao quát tập trung về hai phương diện

là kinh thư liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng (người Dao chịu ảnh hưởng

Trang 33

nhiều của Đạo giáo nên có rất nhiều các loại kinh thư) và ca thư bao gồm các loại sách kể truyện, thơ ca dân gian

- Cách chia thứ hai của các nhà nghiên cứu Trung Quốc đi sâu vào các thể loại sách cổ của người Dao hơn, với cách chia này sách cổ người Dao có 6 loại đó là: Văn thư về Quá Sơn (các văn thư thể hiện quá trình di cư, chuyển

cư của người Dao), gia tộc phả và văn thư khắc trên đá, kinh thư tôn giáo, sách hát, sách về y học, sách về khế ước

Cách phân loại đầu tiên của các học giả người Trung Quốc mang tính khái quát cao, phạm vi bao phủ rộng nên rất khó xác định được các thành phần phân loại của sách cổ người Dao, với cách phân loại thứ hai lại quá đi sâu vào chi tiết dẫn đến tình trạng nhiều khi có thể có sự trùng lặp về các tiêu chí dùng để phân loại Tuy nhiên, các cách phân loại trên của các học giả Trung Quốc đưa ra dù mang tính bao quát hay chi tiết đều đã bao gồm hầu hết tất cả các thể loại sách của người Dao và được rất nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc tán thành ủng hộ

Ở nước ta, việc nghiên cứu và khai thác các giá trị tư liệu của sách cổ người Dao đã được nhiều nhà nghiên cứu khai thác từ lâu Tuy nhiên, họ chỉ dừng lại ở mức độ khai thác tư liệu nhưng chưa tập chung và phân loại sách

cổ một cách có hệ thống Việc phân loại sách cổ người Dao là một vấn đề được đặt ra nhưng khó để giải quyết triệt để bởi các loại sách cổ của người Dao có sự liên quan đặc biệt mật thiết với nhau, có thể trong cách phân loại này, một cuốn sách được chia trong một phân loại nào đó nhưng với cách phân loại khác thì nó lại không nằm trong phân loại đó nữa mà có khi nằm ở trong phân loại hoàn toàn khác biệt Do đó, việc phân loại sách cổ người Dao chỉ mang tính chất tương đối, tùy thuộc vào các cách phân loại của từng nhà nghiên cứu mà có những loại hình phân loại khác nhau

Trang 34

Cuốn “Sách cổ người Dao” do tiến sĩ dân tộc học Trần Hữu Sơn chủ biên đã khắc phục được tình trạng này của các nhà nghiên cứu đi trước Trong cuốn sách nghiên cứu này ông đã đưa ra cách phân loại sách cổ người Dao một cách rõ ràng hệ thống theo chức năng và nhu cầu của từng loại sách, theo ông sách cổ người Dao được chia làm ba loại đó là:

- Sách tôn giáo tín ngưỡng: trong phân loại này gồm có các loại sách Kinh thư, sách xem ngày giờ tốt xấu (sách xem bói), sách về thờ cúng tổ tiên

và cuối cùng là sách về cầu cúng chữa bệnh

- Sách Văn học bao gồm các sách về thơ ca dân gian, truyện thơ, hát câu đố, truyện cổ thần thoại…

- Sách răn dạy làm người và học chữ bao gồm các loại sách răn dạy trẻ con là việc tốt, và các loại sách có thể coi là sách giáo khoa dùng để dạy chữ cho người Dao

Trong cuốn “sách cổ người Dao” này, tiến sĩ Trần Hữu Sơn đã chỉ rất

rõ từng thể loại, cấu trúc các thể loại và phân tích về các thể loại sách cổ người Dao, lý do tại sao lại phân chia như vậy đều được tác giả phân tích cực

kì rõ ràng rành mạch Ngoài ba phân loại trên tác giả còn nêu thêm một phần nhỏ các loại sách về gia phả của các gia đình người Dao và sách về nguồn gốc của các dòng họ người Dao Như vậy, với cách phân loại của mình tiến sĩ Trần Hữu Sơn đã có cách nhìn nhận và phân loại sách cổ một cách thực tế theo nhu cầu và chức năng của các loại sách cổ, nhờ đó cách phân loại của ông có thể nói là đầy đủ hơn chính xác hơn và bao hàm toàn diện hơn về các loại sách cổ của người Dao Cách phân loại của ông khác với các cách phân loại của các học giả người Trung Quốc ở chỗ ông dựa vào chức năng và nhu cầu sử dụng sách cổ của người Dao để làm cơ sở cho phương pháp phân loại của mình, từ nhu cầu và cách sử dụng sách cổ theo chức năng mà ông có được

Trang 35

cách phân loại hợp lý, không quá thiên về bao quát nhưng cũng không quá chi tiết để rồi trùng lặp về các tiêu chí phân loại Có thể nói rằng cách phân loại sách cổ của tiến sĩ Trần Hữu Sơn là một trong những cách phân loại hợp lý nhất và chính xác nhất trong các cách phân loại sách cố người Dao hiện nay

Việc phân loại sách cổ người Dao được đặt ra không chỉ có ý nghĩa lớn đối với các nhà nghiên cứu, mà nó còn mang đến cho những người ham muốn tìm hiểu và học hỏi các loại hình văn hóa các dân tộc, có được cách tiếp cận

dễ hiểu nhất và hiện thực nhất Phân loại sách cổ giúp việc tiếp cận đối với sách cổ người Dao trở nên dễ dàng hơn, người muốn tìm hiểu tiếp cận không

bị mất phương hướng bởi kho tàng sách quá phong phú và đa dạng, tiếp cận theo nhu cầu tìm hiểu là cách tiếp cận hiệu quả nhất và đó là ý nghĩa to lớn nhất mà các cách phân loại sách cổ đem lại Đối với bản thân người viết luận văn này, là người từng trực tiếp cộng tác trong dự án của tiến sĩ Trần Hữu Sơn đi khảo sát sách cổ người Dao tại các thôn xã có người Dao sinh sống, tiếp cận với kho tàng sách cổ của người Dao, thật sự bị choáng ngợp bởi sự phong phú và đa dạng của kho sách này, nếu không có sự tổng hợp phân loại của tiến sĩ Trần Hữu Sơn, việc tiếp cận tìm hiểu kho tàng sách cổ của người Dao là một khó khăn không nhỏ đối với người mới chập chững bước vào nghiên cứu văn hóa dân gian, đặc biệt là về sách cổ người Dao

1.2.5 Sách cổ người Dao một loại hình di sản văn hóa

Sách cổ người Dao là một kho tàng tri thức dân gian vô cùng phong phú và đa dạng, trong nó chứa đựng các tinh hoa văn hóa của người Dao được truyền từ đời này sang đời khác Qua mỗi đời người, sự phát triển của nền văn hóa cộng đồng người Dao đều được ghi chép lại, bổ xung thêm vào vốn văn hóa sẵn có của họ, làm giàu thêm nền văn hóa thuần chất của họ

Có thể nói rằng, nhờ có sự ghi chép, có sự tồn tại của sách cổ, nền văn hóa

Trang 36

của người Dao mới được lưu truyền qua các thế hệ mà không bị phai nhạt

đi bản sắc vốn có của nó Tri thức được lưu truyền, văn hóa được lưu truyền nên người Dao luôn giữ được bản sắc thuần chất của mình, không bị pha tạp với các dân tộc khác

Trong đời sống cộng đồng và xã hội, vốn văn hóa được tích lũy trong mỗi con người, mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, không những thế nó còn thấm sâu và các hoạt động khác của con người do đó có thể có văn hóa cộng đồng văn hóa cá nhân, văn hóa lao động, văn hóa lối sống… Sách cổ người Dao với tư cách là một sản phẩm của nền văn hóa người Dao, trong nó chứa đựng toàn bộ vốn văn hóa nêu trên, các vốn văn hóa này của người Dao được chuyển sang lưu giữ bằng hình thức chữ viết và bản thân chữ viết, sách viết, cách làm sách đó cũng đều là các sản phẩm văn hóa tinh hoa của người Dao vận dụng và sáng tạo ra Xét trên khía cạnh văn hóa phi vật thể (văn hóa tinh thần) theo như định nghĩa của UNESCO về văn hóa Phi vật thể ta có thể thấy được một xã hội, một cộng đồng người Dao có tổ chức chặt chẽ, với một trình độ phát triển văn hóa nhất định, với những đặc trưng riêng biệt, một cộng đồng đoàn kết, gắn bó với nhau bằng sức mạnh, niềm tự hào về văn hóa của họ, văn hóa người Dao

Trong luật di sản văn hóa cũng đưa ra định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể, sử dụng định nghĩa này phân tích áp dụng vào với văn hóa của người Dao ta không chỉ được thấy các giá trị vật thể nhìn thấy được, nắm bắt được, mà còn thấy được văn hóa của họ nằm ẩn sâu trong cộng đồng, trong mỗi cá nhân Sách cổ được tạo ra thể hiện một ý thức rất rõ ràng trong việc gìn giữ văn hóa của người Dao, mặc dù có thể chính bản thân họ cũng không nhận thức được vấn đề đó Văn hóa được người Dao lưu giữ và truyền lại trong các thế hệ thông qua sách cổ, ta có thể thấy được điều này trong các

Trang 37

nghi lễ trưởng thành của người Dao, các bài văn cúng, văn khấn, những bài

ca dùng để giáo dục ghi chép trong các cuốn sách cổ được người thầy cúng xướng lên trong khi làm lễ đã cho thấy ý thức về điều này Sự lưu truyền văn hóa của người Dao ở đây không chỉ dựa trên các yếu tố truyền miệng, mà với sự xuất hiện của sách cổ sự lưu truyền này còn là sự lưu truyền thông qua chữ viết và qua đó chúng ta thấy được nền văn hóa của người Dao một cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn không bị cảm giác mông lung khó nắm bắt trong quá trình nghiên cứu

Văn hóa của người Dao được lưu giữ trong sách cổ, theo như cách phân loại của tiến sĩ Trần Hữu Sơn ta có thể thấy được văn hóa của người Dao phát triển đều khắp các phương diện, từ các tri thức dân gian về khai thác rừng, tri thức về các cây thuốc (y học cổ truyền), cho đến các kiến thức về lịch sử, các

sự kiện lịch sử, các câu truyện cổ, các nghi lễ tín ngưỡng dân gian hay về kết cấu xã hội… đều được ghi chép đầy đủ trong các cuốn sách cổ của người Dao Như vậy có thể thấy rằng sách cổ chính là một bản sao chuẩn mực của văn hóa cộng đồng người Dao, được lưu giữ bằng hình thức chữ viết, ta có thể tiếp cận văn hóa người Dao thông qua các loại hình sách cổ của họ mà không sai biệt nhiều lắm so với trong thực tế

Như đã nói ở trên, văn hóa của người Dao cũng như các nền văn hóa khác đều không phải là sự bất biến, mà trong quá trình lịch sử tồn tại văn hóa còn có sự kế thừa phát triển, chính sự kế thừa và phát triển này giúp cho văn hóa luôn được bảo tồn, gìn giữ thông qua sử dụng Nói nền văn hóa người Dao được bảo tồn, gìn giữ thông qua sử dụng là vì với người Dao và cộng đồng người Dao, xuyên suốt quá trình lịch sử của tộc người (ở đây nói tới người Dao ở Việt Nam không đề cập tới ở các nước và khu vực khác) sách cổ luôn luôn hiện diện bên cạnh họ, nó đồng hành với người Dao từ khi sinh ra

Trang 38

lớn lên cho đến khi về với tổ tiên Quá trình sử dụng sách cũng chính là quá trình sử dụng văn hóa một cách mặc nhiên, không ý thức của người Dao

Từ các phân tích ở trên ta lúc này có thể khẳng định hoàn toàn rằng sách cổ người Dao là một di sản văn hóa không thể tách rời của cộng đồng người Dao ở nước ta cũng như của Lào Cai nói riêng Là một di sản văn hóa bởi sách cổ người Dao hoàn toàn đáp ứng được các tiêu chuẩn cử một di sản văn hóa theo định nghĩa của UNESCO cũng như của Luật di sản văn hóa nước ta Là một di sản văn hóa, sách cổ người Dao có thể được coi là một loại hình đặc biệt bởi nó bao hàm cả tính vật thể và phi vật thể, phi vật thể như trên ta đã phân tích rõ ràng, với tính vật thể, bản thân những cuốn sách cổ với tuổi đời có khi lên tới hàng trăm năm, trao truyền từ đời này sang đời khác bản thân nó cũng đã là một cổ vật, một cổ vật văn hóa đặc biệt nếu không muốn nói là bảo vật văn hóa của người Dao Tuy nhiên, thực tế những cuốn sách cổ có tuổi đời cao hầu như không còn bởi các đặc trưng về chất liệu chế tạo không cho phép chúng tồn tại lâu dài, chính vì vậy ở luận văn này chỉ chú ý tập trung phân tích các giá trị mang tính phi vật thể của sách cổ người Dao để tìm các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của nó một cách tốt nhất

Tiểu kết chương 1

Sách cổ người Dao là một di sản văn hóa vô cùng quý giá, gắn liền với nền văn hóa đa dạng và đặc sắc của dân tộc Dao Thông qua sách cổ người Dao ta có thể tiếp cận được với văn hóa người Dao một cách dễ dàng, bởi nền văn hóa của người Dao đã được lưu giữ bằng ghi chép thông qua các cuốn sách cổ Các cuốn sách này gắn liền với lịch sử tồn tại của người Dao, nó là bằng chứng cho thấy những giá trị văn hóa của người Dao được lưu truyền qua nhiều thế hệ với những thăng trầm của lịch sử

Trang 39

Thông qua các khái niệm về văn hóa, di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể cùng với các quan niệm về bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản văn hóa của các tổ chức nghiên cứu quốc tế ta có thể tiếp cận với sách

cổ người Dao trên cách nhìn của văn hóa và di sản văn hóa Cách tiếp cận mang tính nhân văn và khách quan đối với sách cổ cùng với văn hóa của người Dao

Thông qua các nghiên cứu về sách cổ và các cách phân loại sách cổ người Dao của các học giả, các nhà nghiên cứu ta có thể thấy được vai trò, nhu cầu sử dụng sách cổ người Dao trong cộng đồng làng bản người Dao cũng như trong gia đình và các cá nhân trong cộng đồng đó Dù vậy, sách

cổ cũng như các khái niệm về sách cổ vẫn còn là một khái niệm mở, còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn nữa Để có thể đưa ra một khái niệm chính xác nhất về sách cổ người Dao cả về nội dung và hình thức thì cần phải có sự nghiên cứu thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, các học giả nghiên cứu về sách cổ người Dao, văn hóa người Dao

Trong chương này, luận văn chủ yếu đưa ra các khái niệm, các quan niệm chung đã được các học giả trong và ngoài nước thống nhất để làm cơ

sở lý luận tiếp cận với sách cổ người Dao trên phương diện văn hóa và di sản văn hóa Từ cách tiếp cận sách cổ trên phương diện văn hóa, các quan niệm bảo tồn phát huy di sản của UNESCO cùng với các cách phân loại sách cổ người Dao của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước làm cơ lý luận cho chương tiếp theo của luận văn nghiên cứu thực trạng của sách cổ, các quy trình quản lý sách cổ người Dao tại Lào Cai, nhu cầu sử dụng và giá trị của sách cổ đối với cộng đồng người Dao ở Lào Cai

Trang 40

Chương 2 GIÁ TRỊ CỦA SÁCH CỔ NGƯỜI DAO

VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SÁCH CỔ NGƯỜI DAO Ở LÀO CAI

2.1 Môi trường văn hóa và giá trị sách cổ người Dao ở Lào Cai

2.1.1 Môi trường văn hóa sách cổ người Dao

Trong chương đầu của luận văn ta đã nói nhiều đến việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cần thiết phải bảo tồn môi trường văn hóa mà di sản đó tồn tại, có như vậy di sản mới tồn tại lâu dài và vững chắc Ở đây, ta

phải đặt ra vấn đề môi trường văn hóa (environment cultural) bởi ta có thể

dựa vào đó nắm bắt và đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị sách cổ người Dao phù hợp, trước tiên trong chính môi trường tồn tại của sách cổ người Dao

Khái niệm môi trường văn hóa không phải là khái niệm mới được đề cập đến, nhưng để có thể hiểu và phân tích được một cách rõ ràng là cả một công việc đầy khó khăn Môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới đời sống của con người, nó luôn gắn liền với các yếu tố văn hóa, bởi văn hóa là sự thể hiện trình độ phát triển của con người

Môi trường tự nhiên là tất cả những gì tạo nên môi trường sống quanh

ta như đất đai, sông núi, không khí, động thực vật…tất cả các sản vật, cơm ăn, thuốc uống, quần áo mặc đều là sản phẩm của tự nhiên thông qua quá trình lao động sáng tạo của con người Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, thể thao, lịch sử, giáo dục xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình Con người tồn tại

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w