1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp

157 550 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 11,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp thực tế nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên .... Đánh giá chung về tình hình sử dụng tiếng Việt của học sinh trường PT

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ KIM NHUNG

-

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ một công trình nào

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Kim Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến TS Lê Văn Trường,

người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Luận văn là kết quả của quá trình học tập Vì vậy, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những thầy, cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ K20 (2012

- 2014) tại trường Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các cán bộ, giáo viên, nhân viên,

tổ chuyên môn Khoa học xã hội, nhóm bộ môn Ngữ văn, các em học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên đã động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi phần tư liệu để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn ủng

hộ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Kim Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu viết tắt iv

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 4

7 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ THÁI NGUYÊN 5

1.1 Sơ lược về từ tiếng Việt 5

1.1.1 Khái niệm về từ 5

1.1.2 Nghĩa của từ và hình vị 5

1.1.3 Cấu tạo từ 7

1.1.4 Phân loại từ 9

1.2 Sơ lược về ngữ pháp tiếng Việt 12

1.3 Sơ lược về đặc điểm ngữ âm tiếng Việt 14

1.4 Đặc điểm về chữ viết và chính tả tiếng Việt 16

1.4.1 Đặc điểm về chữ viết tiếng Việt 16

1.4.2 Đặc điểm và quy tắc chính tả tiếng Việt 17

1.4.3 Các quy tắc chính tả tiếng Việt hiện hành 18

1.5 20

1.5.1 Khái niệm văn bản 20

1.5.2 Phân loại văn bản 20

1.6 21

1.6.1 21

Trang 6

1.6.2 21

1.6.3 c 22

1.6.4 22

1.6.5 23

1.6.6 Vai trò của liên kết đối với tổ chức nội dung của văn bản 28

1.7 Văn nghị luận 28

1.8 Về khái niệm “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” 29

1.9 Giới thiệu khái quát về trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 30

Tiểu kết chương 1 333

Chương 2: KHẢO SÁT TIẾNG VIỆT TRONG VĂN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ THÁI NGUYÊN 344

2.1 Tình hình tư liệu 344

2.2 Kết quả khảo sát tiếng Việt trong văn nghị luận của học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 355

2.2.1 Tình hình sử dụng từ vựng 355

2.2.2 Tình hình sử dụng ngữ pháp 388

2.2.3 Tình hình sử dụng ngữ âm 466

2.2.4 Tình hình chính tả 488

2.2.5 Tình hình văn bản và liên kết văn bản 522

2.3 Kết quả khảo sát tiếng Việt trong văn nghị luận của học sinh từng khối lớp Trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 566

2.3.1 Tình hình sử dụng từ vựng 566

2.3.2 Tình hình sử dụng 56

2.3.3 Tình hình sử dụng ngữ âm 59

2.3.4 Tình hình sử dụng chính tả 600

2.3.5 Tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản 622

Tiểu kết chương 2 655

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ THÁI NGUYÊN 666

3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 666

3.1.1 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước 666

3.1.2 Hoàn cảnh sống của học sinh 69

3.1.3 Thực tế dạy và học tại trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 711

Trang 7

3.2 Một số giải pháp thực tế nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt

của học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 722

3.2.1 Yêu cầu về tiếng Việt với học sinh THPT (trong chương trình giáo

dục phổ thông) 722 3.2.2 Đánh giá chung về tình hình sử dụng tiếng Việt của học sinh trường PTDT

Nội trú Thái Nguyên 733 3.2.3 Một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của

học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 744

Tiểu kết chương 3 889

KẾT LUẬN 900

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC -1-

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1a Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 10, 11,

12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 377 Bảng 2.1b Bảng so sánh tình hình sử dụng từ vựng giữa học sinh trường PTDT

Nội trú Thái Nguyên với học sinh trường ngoài 388 Bảng 2.2a Bảng tổng hợp tinh hình sử dụng câu của học sinh khối 10, 11, 12

trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 455 Bảng 2.2b Bảng so sánh tình hình sử dụng câu giữa học sinh trường PTDT Nội

trú với học sinh trường ngoài 455 Bảng 2.3a Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT

Nội trú Thái Nguyên 477 Bảng 2.3b Bảng so sánh lỗi ngữ âm giữa học sinh trường PTDT Nội trú với học

sinh trường ngoài 488 Bảng 2.4a Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT

Nội trú Thái Nguyên 511 Bảng 2.4b Bảng so sánh lỗi chính tả giữa học sinh trường PTDT Nội trú với học

sinh trường ngoài 511 Bảng 2.5a Bảng tổng hợp tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản của học

sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 544 Bảng 2.5b Bảng so sánh tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản giữa học

sinh trường PTDT Nội trú với học sinh trường ngoài 555 Bảng 2.6a Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 10

trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 566 Bảng 2.6b Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 11

trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 566 Bảng 2.6c Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 12

trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 566 Bảng 2.7a Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 10 trường

PTDT Nội trú Thái Nguyên 588 Bảng 2.7b Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 11 trường

PTDT Nội trú Thái Nguyên 588

Trang 10

Bảng 2.7c Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 12 trường

PTDT Nội trú Thái Nguyên 59 Bảng 2.8a Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú

Thái Nguyên 59 Bảng 2.8b Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 11 trường PTDT Nội trú

Thái Nguyên 600 Bảng 2.8c Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 12 trường PTDT Nội trú

Thái Nguyên 60 Bảng 2.9a Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 10 trường PTDT Nội

trú Thái Nguyên 61 Bảng 2.9b Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 11trường PTDT Nội trú

Thái Nguyên 61 Bảng 2.9c Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 12 trường PTDT Nội

trú Thái Nguyên 62 Bảng 2.10a Bảng tổng hợp tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản của

học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 63 Bảng 2.10b Bảng tổng hợp tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản của

học sinh khối 11 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 63 Bảng 2.10c Bảng tổng hợp tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản của

học sinh khối 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên 64

Trang 11

đa dân tộc, thống nhất và bền vững

Do những nguyên nhân lịch sử để lại và cũng do những đặc thù về điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều Phần lớn các dân tộc thiểu số vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, có mức sống thấp, chậm phát triển hơn

so với dân tộc đa số

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: "Các dân tộc bình đẳng, đoàn

kết, tương trợ nhau cùng phát triển" [34] Nguyên tắc đó cũng chính là mục tiêu

chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Là giáo viên môn ngữ văn ở một trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, tôi

có điều kiện hàng ngày tiếp xúc, giảng dạy cho con em người dân tộc thiểu số trong tỉnh Trong học tập nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng, các em có rất nhiều cố gắng và có nhiều tiến bộ, nhiều ưu điểm song cũng có không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót so với học sinh trường ngoài trên địa bàn thành phố Thấy rõ điều đó và mong muốn được đóng góp một phần công sức của mình vào chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước mà một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số là "ưu tiên đặc biệt phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức dân tộc

thiểu số"[34], tôi chọn đề tài Tiếng Việt trong văn nghị luận của học sinh trường

nghiên cứu của luận văn

2 Lịch sử vấn đề

Việt Nam là một quốc gia của 54 dân tộc cùng chung sống hòa thuận, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số Các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam có ngôn ngữ

Trang 12

riêng và có nền văn hóa truyền thống đặc sắc của mình 24 dân tộc có chữ viết riêng như: Thái, Mông, Tày, Nùng, Khmer, Gia Rai, Êđê, Hoa, Chăm…

Liên quan đến việc nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có thể kể đến những đóng góp của các tác giả như: Trần Trí Dõi với công trình

“Nghiên cứu các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, “Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở

vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Đoàn Văn Phúc với “Vấn đề giáo dục tiếng mẹ đẻ đối với cư dân sử dụng ngôn ngữ nhóm Chăm ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Lợi – Lý Toàn Thắng với bài viết “Về sự phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thế kỉ XX”, Tạ Văn Thông với “Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam”,

Trong các công trình đã nghiên cứu, các tác giả đã tập trung khảo sát, miêu tả những phương diện khác nhau của tình hình ngôn ngữ dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam

Nghiên cứu về tình hình sử dụng ngôn ngữ ở dân tộc thiểu số, có thể kể đến

Nguyễn Hữu Hoành với các bài viết Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Mông,

Tình hình giao tiếp ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Noong Lay, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Tạ Văn Thông với bài Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong trường tiểu học Chiềng Xôm; Tạ Văn Thông và Nguyễn Hữu Hoành với bài Đời sống ngôn ngữ của người Dao Ngoài ra còn khá nhiều công trình nghiên cứu về

tình hình sử dụng ngôn ngữ như: Hoàng Văn Ma với Cảnh huống tiếng Nùng (2002); Phạm Văn Hảo, Vũ Bá Hùng và Hà Quang Năng với bài nghiên cứu Cảnh huống

tiếng Thái (2002)… Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, song hầu hết các tác

giả đều đã đưa ra những số liệu cụ thể, khẳng định tình hình sử dụng ngôn ngữ ở các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là khá phức tạp, cần được tiếp tục nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp

Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên

trường phổ thông dân tộc nội trú Đây là một khó khăn không nhỏ cho tác giả nghiên cứu Song là người trực tiếp giảng dạy các em, nắm được những ưu, khuyết điểm trong bài viết của các em, lại được trang bị những tri thức ngôn ngữ học và áp dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp, và trên hết là tình thương yêu dành cho các

em, tôi tin tưởng đề tài nghiên cứu này sẽ thành công

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới mục đích tìm hiểu tình hình sử dụng tiếng Việt về:

Từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, chính tả, văn bản và liên kết văn bản… trong bài văn nghị luận của học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên

Chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình sử dụng tiếng Việt, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh, góp phần vào việc dạy và học tiếng Việt cho học sinh cấp III trường PTDT Nội trú nói riêng và học sinh dân tộc thiểu số nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

3.2.1 Xác định bộ khung lý thuyết phục vụ cho mục đích nghiên cứu bao gồm các khái niệm liên quan như: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, liên kết văn bản, chính tả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trường PTDT Nội trú Thái Nguyên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ cách sử dụng

của học sinh khối 10, 11, 12; làm rõ các ưu điểm, nhược điểm

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu và những thủ pháp đi kèm sau đây:

Trang 14

5.1 Phương pháp miêu tả (với các thủ pháp bên trong và bên ngoài) sau:

5.1.1 Thủ pháp thống kê toán học: Thủ pháp này có thể dùng để miêu tả từ

vựng, ngữ nghĩa nhằm đưa ra một số tiêu chí nhận diện lớp từ ngữ (đang xét) từ đó

có thể thống kê, lập danh sách

5.1.2 Thủ pháp phân loại và hệ thống hoá: Thủ pháp này cho phép phân loại

các yếu tố có cùng tiêu chí

5.1.3 Thủ pháp phân tích ngôn cảnh: Thủ pháp này phân tích hai ngôn cảnh là

ngôn cảnh tình huống và ngôn cảnh văn hoá

5.1.4 Thủ pháp trường nghĩa: Thủ pháp trường nghĩa được áp dụng như một

công cụ làm việc nhằm tìm hiểu những đặc điểm hình thức và đặc điểm nội dung của

từ ngữ (đang xét)

5.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Sự thành công của đề tài sẽ xác lập một số cách thức và nội dung cho việc tiến hành nghiên cứu thực trạng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong văn bản viết của học sinh (nói chung) hoặc học sinh trường dân tộc nội trú (nói riêng)

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận

văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận Giới thiệu về trường PTDT Nội trú Thái Nguyên Chương 2:

sinh trường PTDT Nội trú tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Một số biện pháp nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt cho học

sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên

Trang 15

Từ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học

Đây là đơn vị cấu trúc - ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ, được quan niệm là dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng của đời sống, mang các thuộc tính tiêu biểu về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp của một ngôn ngữ

Từ những cách nhìn khác nhau, đã có khá nhiều định nghĩa về từ Tuy nhiên,

để làm cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng sử dụng từ, trong luận văn chúng tôi theo định nghĩa về “từ” sau:

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”

Định nghĩa trên cho thấy từ có hai đặc điểm đáng chú ý:

- Là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa

- Được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói để tạo câu Có thể tách biệt ra khỏi các đơn vị khác (từ khác, cụm từ ) và được dùng theo các quy tắc nhất định để tạo nên câu

1.1.2 Nghĩa của từ và hình vị

Đặc tính quan trọng nhất của từ và hình vị là “có nghĩa”

Khi nói về nghĩa của từ (và hình vị), người ta phân biệt các thành phần như: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm Ngoài ra, người ta còn phân biệt nghĩa cấu trúc (mối liên hệ giữa các đơn vị khác nhau trong hệ thống) và nghĩa ngữ dụng (mối liên hệ giữa các đơn vị đang xét với tình cảm, thái độ của người sử dụng)

Về mặt lí thuyết, căn cứ để hiểu nghĩa là: các đơn vị đang xét (từ và hình vị) được sử dụng trong hệ quy chiếu về một sự vật hiện tượng nào đó, với yêu cầu người nói và người nghe đều phải cùng nghĩ về sự vật hiện tượng ấy, khi nhắc đến đơn vị đang xét Có như vậy sự sử dụng các đơn vị này trong cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn mới không gây sự lẫn lộn

Khi đi vào phân tích nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ (từ và hình vị), phải đặt vào ngữ cảnh để đơn vị này bộc lộ ý nghĩa Mặt khác, phải xem xét nghĩa của từ

Trang 16

trong quá trình hành chức của nó vì chỉ trong khi hành chức nghĩa mới được hiện thực hoá và xác định

Như vậy, nghĩa của từ và hình vị mang tính quy ước, được người nói và người nghe ước định với nhau: âm thanh này biểu thị loạt sự vật này, âm thanh kia biểu thị loạt sự vật kia tức là mặt vật chất và ý nghĩa có liên hệ mật thiết, quy định ràng buộc

và là điều kiện tồn tại của nhau Đồng thời, cũng như các đơn vị ngôn ngữ, nghĩa của các đơn vị này (từ và hình vị) cũng chỉ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ Tách ra khỏi

hệ thống, chúng không tồn tại nữa

Từ những phân tích trên có thể chấp nhận quan niệm chung: hiện thực được phản ánh vào trong nhận thức, tạo nên một mối liên hệ thường trực, liên tục với một hình thức âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh này được hiện thực hoá bằng ngôn ngữ Mối liên hệ này được hiểu là “nghĩa”

Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp:

Nghĩa từ vựng: là mối liên hệ giữa “hình thức và âm thanh” với các hình ảnh

của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan hoặc các thuộc tính của các sự vật hiện tượng này (nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm) Đây là kết quả của sự nhận thức của con người được phản ánh vào ngôn ngữ, có liên quan đến phạm trù “khái niệm” trong triết học, trong đó, chủ yếu là cách con người mô hình hoá thế giới khách quan qua phương tiện ngôn ngữ

Nghĩa ngữ pháp: là ý nghĩa chung của nhiều dạng thức thuộc đơn vị đang xét

(từ, hình vị) có tính chất đồng loạt và tính khái quát trong một hệ thống ngôn ngữ

Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ: Ý nghĩa ngữ pháp luôn luôn phải được diễn đạt bằng những hình thức chung có tính đồng loạt Những hình thức này có thể thuộc về những các phương thức khác nhau (các phương thức ngữ pháp, các hình thức ngữ pháp) nhưng là các hình thức cảm tính (lĩnh hội được bằng giác quan) và là chung cho mọi trường hợp có tồn tại và cần biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp đó Trong khi đó, hình thức biểu hiện của ý nghĩa từ vựng không có tính chất chung, hay nói cách khác, ý nghĩa từ vựng không được biểu đạt bằng những hình thức chung [10, tr 74]

Vậy ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của từ và hình vị có điểm gì khác nhau Tác giả Đỗ Hữu Châu nhận xét: Ý nghĩa của hình vị “chưa được tổ chức thành cấu trúc biểu niệm” như ý nghĩa của từ [10, tr 18] Theo nhận xét này, có thể hiểu rằng hình vị chỉ có thể có ý nghĩa biểu vật (không phải là biểu niệm)

Như vậy, khi tạo từ trong văn bản, phải có mối quan hệ của các thành tố bên

Trang 17

trong từ và đặc biệt chú ý đến ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa khái quát được diễn đạt bằng những hình thức đồng loạt Nếu sử dụng từ không đảm bảo các ý nghĩa đó, có thể coi

Căn cứ vào ý nghĩa, người ta chia các từ tố thành hai loại: chính tố và phụ tố, ngoài ra còn có những hiện tượng được gọi là bán phụ tố Bán phụ tố là những yếu tố không hoàn toàn mất đi yếu tố sự vật của mình, nhưng lại được lặp lại trong nhiều từ,

có tính chất của những phụ tố cấu tạo từ

Cấu tạo từ

Nói tới cấu tạo từ là nói tới các quy luật, các quy tắc dùng để tạo nên các từ của ngôn ngữ, được gọi chung là “phương thức cấu tạo từ” Các phương thức cấu tạo từ này được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của một ngôn ngữ Quy tắc cấu tạo nên từ bao gồm cách thức sử dụng các đơn vị cấu tạo từ để tạo nên từ

- Các phương tức cấu tạo từ trong ngôn ngữ:

Từ tố (hình vị) được sử dụng trong cấu tạo từ, nhưng đó mới chỉ được xem là nguyên liệu để cấu tạo nên từ Từ các từ tố (hình vị) đó phải có phương thức cấu tạo mới có thể cấu tạo nên các từ Có ba phương thức cấu tạo từ, đó là: phương thức phụ

gia, phương thức ghép, phương thức láy

Căn cứ vào phương thức cấu tạo từ, có thể chia ra các kiểu từ sau:

- Từ đơn: là từ chỉ có một hình vị chính tố Ví dụ: mưa, gió, ăn

- Từ ghép: là những từ cấu tạo bằng cách ghép hai hoặc hơn hai từ độc lập

Ví dụ: xe máy, bàn ghế, đường sá

Căn cứ vào quan hệ giữa các thành tố, có thể chia ra từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Từ ghép đẳng lập: là từ ghép mà giữa các tiếng có quan hệ bình đẳng, độc lập

ngang hàng nhau, không có tiếng chính, tiếng phụ Nói cách khác, từ ghép đẳng lập là

từ được ghép từ những tiếng bình đẳng nhau cả về ngữ pháp lần ngữ nghĩa Ví dụ: sách vở, tàu xe, ông bà

Từ ghép chính phụ: là từ ghép mà giữa các tiếng có quan hệ tiếng chính, tiếng

Trang 18

phụ Nói cách khác, từ ghép chính phụ là từ ghép mà giữa các tiếng được ghép lại

không bình đẳng nhau về ngữ pháp hoặc ngữ nghĩa Ví dụ: bà nội, bàn tròn, nhà xây

- Từ láy: Trong thực tiễn, đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cách lí

giải khác nhau về từ láy, hiện tượng láy, đặc điểm cấu tạo, đặc trưng ý nghĩa, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm của các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Đái Xuân Ninh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành là những người

đã rất quan tâm tới các vấn đề nói trên khi nghiên cứu thực tế láy trong tiếng Việt

Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Từ láy âm là loại từ ghép, trong đó theo con

mắt nhìn của người Việt Nam hiện nay các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải tương ững với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa, vần và

âm cuối vần)” [6, tr.109]

Với quan niệm này, Nguyễn Tài Cẩn đã coi từ láy trước hết là một loại từ ghép Nhưng các thành tố của loại từ ghép này bao giờ cũng được kết hợp với nhau tuân theo những nguyên tắc nhất định về mặt ngữ âm Như vậy, tác giả đã cho chúng

ta biết những nét khác nhau về mặt cấu tạo của từ láy âm so với từ ghép láy nghĩa và

từ ghép phụ nghĩa, ở chỗ nó có các thành tố kết hợp chủ yếu theo quan hệ ngữ âm

Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức

láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [10 tr.41]

Có thể thấy, Đỗ Hữu Châu đã chú ý nhiều đến mặt ngữ âm trong cấu tạo của từ láy Nhưng trong quan niệm này tác giả chưa đề cập tới mặt ngữ nghĩa (giá trị) của từ láy

Các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, trong các nghiên cứu của mình đã trình bày quan niệm về từ láy với đầy đủ các đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của

nó Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do

sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có sự kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã

có, chúng vừa có sự hài hoà ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả” [26, tr 86]

Hoàng Văn Hành khẳng định với cách nhìn nhận: “Láy là sự hoà phối ngữ âm có

tác dụng biểu trưng hoá” [32, tr.16] Với cách nhìn nhận như vậy, ông đã coi “láy là một

cơ chế” và xem quá trình cấu tạo từ láy là một cơ trình phức tạp

Trang 19

Từ một số cách nhìn nhận về từ láy đã nêu ở trên, chúng tôi thống nhất quan niệm coi “từ láy âm”, “ngữ láy âm” cũng chính là từ láy, là những cách gọi khác nhau của loại từ phức này Và từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm của từ đã

có theo những quy tắc nhất định

Căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành

tố trong từ láy do hoà phối ngữ âm tạo nên (quy tắc điệp và đối), các từ láy được phân loại thành từ láy hoàn toàn và từ láy không hoàn toàn

+ Từ láy hoàn toàn: là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa

các thành phần cấu tạo đoạn tính (và có thể gồm cả siêu đoạn tính) của hai thành tố

Với cách nhìn nhận như vậy, các thành tố trong từ láy hoàn toàn nằm ở ba mức

Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có thêm sự khác biệt ở phụ âm cuối

+ Từ láy không hoàn toàn

Đặc trưng của kiểu láy này là: trong cấu tạo của từ láy các thành tố có sự khác biệt về hình thức: một thành tố có dạng như gốc, thành tố kia có sự khác biệt Căn cứ vào

bộ phận khác biệt giữa các thành tố, ta có các kiểu nhỏ hơn, đó là:

Từ láy phụ âm đầu (khác nhau ở âm chính): là kiểu từ láy được cấu tạo

bằng cách nhân đôi thành tố gốc, vừa bảo tồn phụ âm đầu, vừa kết hợp với một khuôn vần mới từ ngoài vào một thành tố để tạo thế vừa điệp vừa đối

Từ láy vần (khác nhau ở âm đầu): Ở kiểu này, thành tố có dạng gốc thường

đứng sau thành tố có sự khác biệt Cả hai thành tố phải giống nhau hoàn toàn về các phần còn lại ngoài âm đầu, còn âm đầu thì phối hợp với nhau thành từng cặp theo quy luật: hai

âm đầu đó trong mỗi cặp phải khác nhau về phương thức cấu âm và bộ vị cấu âm

1.1.4 Phân loại từ

Theo Diệp Quang Ban (2008), trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo

dục: Các từ loại của ngôn ngữ là những lớp từ nhất định của ngôn ngữ ấy xét ở đặc trưng ngữ pháp Cho đến nay, tồn tại một cách phổ biến hai cách phân định từ loại: Phân chia vốn từ của một ngôn ngữ thành hai lớp khái quát là thực từ và hư từ, và phân chia vốn từ của một ngôn ngữ ra thành nhiều lớp cụ thể hơn với những đặc

Trang 20

trưng xác định hơn

Từ nào chủ yếu diễn đạt ý nghĩa từ vựng, tức là gọi tên sự vật, việc, hiện tượng

là thực từ; từ nào được dùng để diễn đạt các mối quan hệ kèm theo, không gọi tên chúng, là hư từ Cơ sở để phân biệt thực từ với hư từ là cách phản ánh trong tư duy Nhờ đó, thực từ có khả năng làm yếu tố chính trong cụm từ chính phụ Hư từ nêu các mối quan hệ (về số lượng, về thời gian, không gian, về mục đích, về sự đánh giá, về các kiểu quan hệ logic v.v ) theo lối đi kèm với thực từ để thiết lập các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng do thực từ diễn đạt Vì vậy hư từ chỉ có thể hoặc làm yếu

tố phụ trong cụm từ chính phụ, hoặc làm những yếu tố ngữ pháp đi kèm cụm từ, hay chỉ xuất hiện ở bậc câu

Trong việc phân định từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu có xu hướng khá thống nhất khi căn cứ vào ba tiêu chuẩn sau đây:

- Ý nghĩa khái quát (còn gọi là ý nghĩa phạm trù chung)

- Khả năng kết hợp

- Khả năng giữ một hay một số chức vụ cú pháp chủ yếu

Ba tiêu chuẩn này sẽ được vận dụng thích hợp trong quá trình định loại các lớp

từ tiếng Việt

Khái quát về các lớp từ tiếng Việt

Theo truyền thống nghiên cứu vốn từ tiếng Việt, kết quả của sự phân chia một cách khái quát thành thực từ, hư từ kết hợp với sự phân chia thành những lớp cụ thể hơn được trình bày như sau:

Trang 21

Bảng trên là tên gọi các lớp từ Hai lớp lớn thực từ và hư từ bao gồm 11 từ loại Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xét đến ba từ loại là: danh từ, động từ, tính từ

* Danh từ: “Là thực từ có ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ “vật” hiểu rộng), được

dùng làm tên gọi các “vật”, kết hợp được về phía trước với loại từ, với mạo từ chỉ

lượng như những, các, về phía sau với các chỉ định từ (này , nọ ) và thường làm chủ

ngữ hoặc bổ ngữ trong câu Đáng chú ý là danh từ tiếng Việt cũng có thể làm vị tố trong câu, không cần trợ động từ ” [3, tr.474]

Từ loại danh từ là một lớp lớn và đa dạng về ý nghĩa, về khả năng kết hợp, về công dụng thực tiễn, nên thường được phân ra thành những lớp nhỏ theo những tiêu chuẩn khác nhau, thích hợp ở từng bước phân loại Sau đây là những diện phân chia thường gặp:

- Danh từ riêng và danh từ chung;

- Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp;

- Danh từ vật thể, danh từ chất thể, danh từ trừu tượng, danh từ tập thể, danh từ chỉ hiện tượng thời tiết;

- Danh từ đơn vị;

- Danh từ đếm được/ danh từ không đếm được

Cuối cùng, khi bàn về danh từ không thể bỏ qua lớp từ hữu quan quan trọng là lớp loại từ

* Động từ: Theo các tiêu chuẩn định loại, động từ có ý nghĩa quá trình hiểu

rộng (bao gồm quá trình động, quá trình tĩnh, quá trình quan hệ), được dùng làm tên gọi của các “quá trình” đó Động từ tiếng Việt không biến hình, nên khả năng kết hợp của chúng rất phức tạp Động từ có thể kết hợp về phía trước với các phó từ (tình thái

từ) chỉ tính thời gian như đã, đang, sẽ, vừa, tính phân cực như không, tính liên nhân như hãy, đừng, chớ; kết hợp về phía sau với phó từ chỉ tính thời gian rồi, với phó từ chỉ những tính tình thái khác nhau như được, mất, phải Hơn nữa, các tình thái từ vừa

nêu không phải bao giờ cũng mang một kiểu nghĩa Chính bản thân động từ hoặc động từ cùng với các tình thái từ này làm thành tổ chức nội bộ của cụm động từ Và động từ hoặc cụm động từ trong cách hiểu này thường giữ chức năng vị tố trong câu [3, tr 491 – 492]

Động từ là một lớp từ lớn và đa dạng về nghĩa, cho nên có thể phân chia theo những phương diện khác nhau Đối với tiếng Việt, về mặt ngữ pháp, những lớp động

Trang 22

từ sau đây cần được chú ý nhiều hơn:

- Trợ động từ;

- Động từ tình thái;

- Động từ - thực từ (động từ từ vựng tính – lexical verb, gọi gọn là “động từ thực”) với những lớp con sau đây:

+ Động từ chuyển tác / động từ không chuyển tác;

+ Động từ chi phối hai thực thể;

* Tính từ: là từ loại thuộc vào số thực từ có ý nghĩa về tính chất, đặc trưng về

màu sắc, mùi vị, âm thanh của vật, phần lớn kết hợp được về phía trước với các từ

rất, cực kì, hơi, khí, quá hoặc về phía sau với các từ lắm, quá, cực kì, và dễ dàng làm

vị tố [3, tr 506]

Đối với lớp tính từ, các vấn đề thường được nhắc đến là phân biệt các lớp con dưới đây:

- Tính từ chỉ tính chất và tính từ chỉ quan hệ;

- Tính từ thang độ và tính từ không thang độ;

Ngoài ra cũng cần bàn thêm một vài hiện tượng hữu quan như từ tượng thanh gợi hình, hoạt động cú pháp của tính từ

1.2 Sơ lược về ngữ pháp tiếng Việt

Hệ thống đơn vị ngữ pháp tiếng Việt gồm nhiều yếu tố như: hình vị, từ, cụm

từ, câu

Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc cảm xúc [30, tr 266]

Trang 23

Như vậy, định nghĩa trên nêu lên hai đặc điểm của câu: về mặt chức năng, câu

là đơn vị có khả năng thông báo; về mặt cấu tạo, trong số các đơn vị có chức năng thông báo, câu là đơn vị nhỏ nhất

Trong các kiến giải về cấu trúc câu, lối phân tích câu theo thành phần là lí thuyết lâu đời và phổ biến hơn cả Theo lí thuyết thành phần câu cổ điển thì mỗi thực

từ trong câu là một thành phần câu Căn cứ để quy chúng vào những thành phần câu nhất định là hình thái của chúng Như vậy, xác định thành phần câu thực chất là phân loại các thực từ trong câu dựa theo hình thái của chúng

Thành phần câu có hai loại là thành phần chính và thành phần phụ Thành phần chính gồm chủ ngữ và vị ngữ Thành phần phụ bao gồm: bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh trường PTDT Nội trú Thái Nguyên trong bài viết văn bản nghị luận trên cơ sở tìm hiểu câu, câu phân loại theo cấu trúc cú pháp và câu phân loại theo mục đích nói

* Phân loại câu theo cấu trúc cú pháp

Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc câu, người ta thường phân biệt câu đơn với câu phức và câu ghép

Câu đơn là câu chỉ gồm một cụm chủ vị Câu đơn gồm câu đơn phần (câu đặc

biệt) và câu song phần Câu gồm hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ) được gọi

là câu song phần, ví dụ: Tôi đọc sách; câu chỉ có một thành phần chính là câu đơn phần, ví dụ: mưa

Câu phức: là một cấu tạo gồm một câu nằm ngoài cùng mang tính chất tự lập

và một (hoặc hơn một) dạng câu bị bao không mang tính tự lập mà hoạt động với tư cách một (hay những) bộ phận của câu nằm ngoài cùng

Ví dụ: Chiếc ghế này bố đóng

Trong tiếng Việt, các kiểu câu phức thường gặp là:

- Câu phức có chủ ngữ là câu bị bao,

- Câu phức có vị tố là câu bị bao,

- Câu phức có bổ ngữ là câu bị bao,

- Câu phức có gia ngữ bậc câu là câu bị bao,

- Câu phức là câu bị động,

- Câu phức có yếu tố phụ của danh từ là câu bị bao

Trang 24

Câu ghép (hay hợp thể câu): là một cấu tạo gồm từ hai dạng câu trở lên, mối

dạng câu trong đó có tính tự lập tương đối, giữa chúng có những kiểu quan hệ nhất định và được diến đạt bằng những cách nhất định Mỗi câu trong câu ghép là một vế câu hay một dạng câu không bị bao

Ví dụ: Trời mưa, đường trơn

Các kiểu câu ghép tiếng Việt:

- Câu ghép chính phụ

- Câu ghép bình đẳng

Trong câu ghép bình đẳng có thể phân biệt ba kiểu nhỏ căn cứ vào cách nối kết giữa các vế câu, đó là: câu ghép liên hợp, câu ghép tương liên, câu ghép tiếp liên

* Phân loại câu theo mục đích giao tiếp

Trong giao tiếp, người ta có thể dùng lời nói để hỏi, kể, nêu yêu cầu hoặc bộc lộ tình cảm, cảm xúc về một sự vật hay sự việc Ứng với mỗi mục đích giao tiếp như thế, thường có một kiểu câu riêng với đặc điểm riêng về cấu trúc, cụ thể là:

- Ứng với mục đích kể, ta có kiểu câu tường thuật (câu kể) Ví dụ: Sông Đà như

một áng tóc mun dài ngàn ngàn vạn vạn sải (Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân)

- Ứng với mục đích hỏi có kiểu câu nghi vấn (câu hỏi) Đó có thể là câu nghi vấn

tổng quát, nhằm hỏi về sự tồn tại của cả một sự việc Ví dụ: Anh đọc sách hay báo?

- Ứng với mục đích nêu yêu cầu, nguyện vọng của người nói có kiểu câu mệnh

lệnh (cầu khiến) Ví dụ: Anh đọc sách đi!

- Ứng với mục đích bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói có kiểu câu cảm

thán (câu cảm) Ví dụ: Đẹp thay lúc xuân sang!

Từ những điều đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng phân loại câu thành câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán không phải là một sự phân loại chỉ đơn thuần dựa vào mục đích giao tiếp, mà là sự phân loại kết hợp cả hai mặt mục đích giao tiếp và đặc điểm cấu trúc

1.3 Sơ lược về đặc điểm ngữ âm tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính: các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Vì thế, khi viết các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau Ví

dụ: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” (8 âm tiết)

Trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt, âm tiết có vị trí hết sức quan trọng Âm tiết là

sự biểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất những đặc điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm

Trang 25

Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định (trong số 6 thanh: huyền (\), sắc (|), hỏi (?), ngã (~), nặng (.) và thanh ngang (-) không có kí hiệu dấu ghi thanh trên chữ viết) Khi viết chữ, phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính hoặc bộ phận chính (đối với âm chính là nguyên âm đôi)

Cấu tạo âm tiết tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định Ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo với 4 đơn vị đoạn tính: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và một đơn vị siêu đoạn tính (thanh điệu) được chia thành hai bậc như sau:

Bậc 1: âm đầu, bậc 2: vần (bao gồm âm đệm, âm chính, âm cuối) như mô hình dưới đây:

Thanh điệu

Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu trong bất kì một âm tiết nào

Trên chữ viết, cách xác định kí hiệu ghi âm tiết như sau:

Âm tiết -

chữ viết Âm đầu

điệu

Khi xác định được kí hiệu ghi âm chính trong âm tiết, dấu thanh điệu được ghi

lên trên hoặc dưới con chữ ghi nguyên âm đó, ví dụ: bàn, bạn

Trường hợp âm chính là nguyên âm đôi, ghi dấu thanh điệu lên trên hoặc dưới

con chữ có dấu phụ, ví dụ: hiền, hiến, hiện

Trang 26

Trường hợp âm chính là nguyên âm đôi không có dấu phụ, ghi dấu thanh điệu

lên trên con chữ nguyên âm đầu tiên, ví dụ: mua, múa, mùa

Trường hợp cả hai con chữ của nguyên âm đôi đều có dấu phụ, ghi dấu thanh

điệu lên trên hoặc dưới nguyên âm thứ hai, ví dụ: mười, bưởi

Từ mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt trên, tiếng Việt có các quy tắc ghi thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết

1.4 Đặc điểm về chữ viết và chính tả tiếng Việt

1.4.1 Đặc điểm về chữ viết tiếng Việt

Chữ viết tiếng Việt (chữ quốc ngữ) được xây dựng trên cơ sở hệ thống chữ cái La tinh, là chữ viết ghi âm, xây dựng theo nguyên tắc ngữ âm học, tức là nói sao viết vậy Bộ chữ này được du nhập vào nước ta từ đầu thế kỉ XVII, bao gồm

Về cơ bản, chữ viết tiếng Việt bao gồm các chữ cái sau:

Trong đó, chia ra 11 con chữ nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư

Có 23 con chữ ghi phụ âm: b, c (k, q), ch, d, đ, g (gh), gi, h, kh, m, n, nh, ng

(ngh) p, ph, q, r, s, t, th, tr, v, x

Để viết đúng chính tả, cần viết đủ các nét cơ bản (nét khu biệt) cùng những nét liên kết trong mỗi chữ cái và giữa các chữ cái với nhau Việc viết đúng chính tả cũng phải

Trang 27

tuân thủ cách ghi dấu thanh và dấu câu, viết đúng quy cách hệ thống chữ số quy định

Nhìn chung, chữ Quốc ngữ có các ưu điểm và nhược điểm:

kí hiệu biểu thị; hai là, mỗi kí hiệu chỉ luôn luôn có một giá trị, tức biểu thị chỉ một

âm duy nhất ở mọi vị trí trong từ

Ngoài ra, theo nhiều nguyên nhân khác nhau, chữ Quốc ngữ đã không tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu của nguyên tắc âm vị học trong chữ viết nên tạo ra những bất hợp lí về chính tả Cụ thể là: dùng nhiều kí hiệu để biểu thị một âm, ví dụ: âm /k/ biểu thị bằng 3 kí hiệu c, q, k; ghép nhiều con chữ để biểu thị một âm như: ch, gh, kh, ngh, ph,

th, tr; hoặc dùng một kí hiệu để biểu thị nhiều âm khác nhau tuỳ vào vị trí của nó trong quan hệ với những âm trước và sau nó, ví dụ: chữ a chủ yếu dùng để biểu thị âm /a/, nhưng khi đứng trước u và y ở cuối âm tiết lại biểu thị âm /ă/ (cau, say) Trong tổ hợp ua (mua) thì a biểu thị yếu tố thứ hai của nguyên âm đôi /uo/ v.v Chữ Quốc ngữ dùng nhiều dấu phụ như trong các con chữ: ă, â, ô, ơ, ư và các dấu ghi thanh điệu huyền (\), sắc (|), hỏi (?), ngã (~), nặng (.) ghi trên các chữ âm tiết để biểu thị các thanh tương ứng

Như vậy, có thể thấy, nói (phát âm) như thế nào, viết như thế ấy cũng là một vấn đề khá phức tạp của chính tả tiếng Việt Do đó, một nguyên tắc quan trọng trong dạy chính tả tiếng Việt cho học sinh là: cần chú ý đến những đặc điểm trên để viết đúng quy tắc chính tả

1.4.2 Đặc điểm và quy tắc chính tả tiếng Việt

Chính tả là cách viết đúng, hợp với chuẩn và những quy tắc về cách viết

chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng thức ngôn ngữ viết Theo Từ điển

Trang 28

tiếng Việt (1994, tr.175) “Chính tả là cách viết chữ được coi là chuẩn” Như vậy

có thể hiểu: những cách viết chữ không đúng so với chuẩn mực được coi là sai chính tả Chính tả là những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và tuân thủ Những quy định đó thường là thói quen trong sự vận dụng thực tiễn, nhưng cũng có thể do các tổ chức, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và được xã hội chấp nhận, được coi là chuẩn mực nói chung, chuẩn chính tả nói riêng

Như vậy, chuẩn chính tả là chuẩn hoá hình thức chữ viết của ngôn ngữ, là những quy định buộc những người sử dụng tiếng Việt phải tuân theo Quy định ấy thường bao gồm các nội dung sau:

- Quy định chuẩn về việc viết các chữ cái ghi âm vị trong âm tiết

- Quy định chuẩn về viết hoa, viết tắt, phiên âm

- Quy định chuẩn về viết các dấu câu

Chuẩn chính tả là sự biểu hiện của tính khuôn mẫu, tính chuẩn mực Trong thực tế, chuẩn chính tả thường mang một số đặc điểm sau:

a Chuẩn chính tả có một đặc điểm cơ bản là mang tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối Viết đúng chính tả là yêu cầu phổ biến với mọi người

b Chuẩn chính tả thường ổn định, ít thay đổi

c Chuẩn chính tả thường mang tính truyền thống và số đông Chuẩn chính tả thực chất là kết quả của một sự lựa chọn của nhiều hình thức chính tả đang tồn tại

1.4.3 Các quy tắc chính tả tiếng Việt hiện hành

Các quy tắc chính tả hiện hành của tiếng Việt là các quy định chuẩn về việc viết các chữ cái ghi âm vị trong âm tiết và các quy định chuẩn về viết hoa, viết tắt, phiên âm

a Quy tắc viết tên riêng tiếng Việt

Trong tiếng Việt, chữ viết “Hoa” có các chức năng:

- Đánh dấu bắt đầu một câu;

- Ghi tên riêng của người, địa danh, cơ quan, tổ chức ;

- Biểu thị sự tôn kính, ví dụ: Bác Hồ, Người

Cách viết chữ hoa tên riêng của Việt Nam, nhìn chung đã hình thành chuẩn mực Hiện có những quy định sau:

- Tên người và tên địa lý: viết hoa tất cả các âm tiết và không dùng gạch nối,

Trang 29

ví dụ: Võ Nguyên Giáp, Hà Nội, Thái Nguyên v.v

- Tên tổ chức, cơ quan: chỉ viết hoa âm tiết đầu trong tổ hợp dùng làm tên, ví dụ:

Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, Trường đại học sư phạm Thái Nguyên v.v

b Quy tắc viết tên riêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài

Cách viết các từ tiếng nước ngoài hiện chưa có những chuẩn mực chung được quy định chính thức, mới chỉ có những quy định tạm thời Điều này liên quan đến hai vấn đề chính của chính tả tiếng Việt:

- Phiên âm tên riêng

- Phiên âm thuật ngữ khoa học - kĩ thuật

Cả hai vấn đề này trong chính tả tiếng Việt đều chưa được xử lí nhất quán

Về tên riêng, trên các sách báo tiếng Việt tồn tại nhiều cách viết khác nhau:

viết theo nguyên ngữ, viết theo cách chuyển tự, viết theo phiên âm trực tiếp Tuy nhiên, cũng đã có một số quy định đối với tên riêng không phải tiếng Việt:

- Nếu nguyên ngữ dùng hệ thống chữ cái La tinh thì giữ đúng như trong

nguyên ngữ (kể cả các chữ cái f, j, w, z; dấu phụ ở một số chữ cái có thể lược bỏ (chỉ

viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu))

- Nếu nguyên ngữ dùng hệ thống chữ cái khác chữ cái La Tinh thì dùng cách

chuyển tự chính thức sang chữ cái La tinh, ví dụ: Moskva, Lomonosov (chỉ viết hoa

chữ cái đầu của âm tiết đầu)

- Nếu nguyên ngữ không phải là chữ ghi âm bằng chữ cái thì dùng cách

phiên âm chính thức theo chữ cái La tinh, ví dụ: Tokyo (chỉ viết hoa chữ cái đầu

của âm tiết đầu)

- Những tên riêng có hình thức phiên âm Hán Việt quen dùng trong tiếng Việt

nói chung không thay đổi, trừ một số trường hợp, ví dụ: Pháp, Anh, Lỗ Tấn (Ý-

Italia; Úc – Australia; Nam Triều Tiên- Hàn Quốc ) (viết hoa tất cả chữ cái đầu âm

tiết của tên riêng phiên âm Hán Việt)

Về các thuật ngữ khoa học kĩ thuật gốc nước ngoài, hiện có một số quy

định như:

- Được sử dụng các phụ âm đầu và tổ hợp phụ âm đầu âm tiết (p, z, w bl, cr,

str ) và những phụ âm cuối (b, d, f, g, j, l, r, s, v, w, z ) vốn không đặc trưng cho âm

tiết tiếng Việt: acid, sulfur, parabol

- Tôn trọng mối quan hệ có tính chất hệ thống giữa các thuật ngữ: fluor, fluorur

Trang 30

- Chấp nhận rút gọn như: met, gram

1.5.1 Khái niệm văn bản

chung” , Nxb GD, 1989] Ngoài quan niệm trên, có quan niệm khác đề cập đến hình thức của văn bản:

]

1.5.2 Phân loại văn bản

Văn bản hết sức đa dạng, mỗi loại có những đặc điểm riêng Có nhiều cách phân loại văn bản, theo những tiêu chí khác nhau:

- Theo phương thức biểu đạt

- Theo thể thức cấu tạo

- Theo độ phức tạp về hình thức và nội dung

- Theo phong cách chức năng ngôn ngữ

Theo phong cách chức năng ngôn ngữ, văn bản được chia thành các loại sau:

- Văn bản theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (văn bản sinh hoạt)

- Văn bản theo phong cách ngôn ngữ hành chính (văn bản hành chính)

- Văn bản theo phong cách ngôn ngữ khoa học (văn bản khoa học)

- Văn bản theo phong cách ngôn ngữ báo chí (văn bản báo chí)

- Văn bản theo phong cách ngôn ngữ chính luận (văn bản chính luận)

- Văn bản theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (văn bản nghệ thuật)

Trong đó, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (còn được gọi là phong cách hội thoại, phong cách khẩu ngữ) là phong cách ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hàng

ngày, mang tính chất tự nhiên, thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít trau chuốt

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt có những đặc điểm chung như sau:

- Tính cá thể: thể hiện tính khí, thói quen, nét riêng của mỗi cá nhân trong

cách trao đổi, chuyện trò, tâm sự với người khác

- Tính sinh động, cụ thể: không dùng những lối nói trừu tượng chung chung

Trang 31

mà ưa chuộng những lối nói sinh động, cụ thể, mang dấu ấn rõ rệt của những tình huống giao tiếp hàng ngày, dễ gây ấn tượng

- Tính cảm xúc: bộc lộ một cách tự nhiên cảm xúc của người nói hay người

viết, gắn với những tình huống giao tiếp cụ thể, muôn hình muôn vẻ

[3, tr 352]

(coherence))

:

Trang 32

,

Trang 33

:

Có rất nhiều phương thức liên kết mà các phát ngôn hay trong câu thường sử dụng như: phép nối, phép lặp, phép thế, phép đối, phép tỉnh lược, phép liên tưởng, phép tuyến tính Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xét các phép liên kết: phép nối, phép lặp, phép thế, phép tỉnh lược, phép tuyến tính làm cơ sở nghiên cứu bài viết của học sinh

Trang 34

)

Trang 35

,

-

Trang 36

-

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

(Tương tư, Nguyễn Bính)

Lặp ngữ âm được sử dụng trong mọi loại văn bản, nhưng thể hiện rõ nhất

trong các loại văn vần (thơ, phú, hò, vè ) Những văn bản đó có sức sống lâu bền

qua thời gian chủ yếu nhờ phương thức liên kết lặp ngữ âm và lặp ngữ pháp chặt chẽ

của nó

Phép thế là phương pháp thay thế từ ngữ ở các câu đi trước bằng các từ ngữ

tương đương ở các câu đi sau Nhờ đó mà các câu này liên kết với nhau Phép thế

được chia thành hai loại:

Phép thế đồng nghĩa là phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong chủ

ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn (từ hoặc cụm từ) khác nhau có cùng một nghĩa (chỉ

cùng một đối tượng) Căn cứ vào đặc điểm của các phương tiện dùng làm chủ tố và

thế tố, có thể phân phép thế đồng nghĩa làm bốn kiểu:

- Thế đồng nghĩa từ điển

- Thế đồng nghĩa lâm thời

Trang 37

Phép thế đại từ là phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong kết ngôn

mà đại từ (hoặc đại từ hoá) thay thế cho một ngữ đoạn nào đó ở chủ ngôn

Phép thế đại từ được chia thành hai loại:

- Thế đại từ khiếm diện dự báo

- Thế đại từ khiếm diện hồi quy

Phép tỉnh lược trong văn bản là một dạng tỉnh lược xảy ra giữa các phát ngôn,

là sự lược bỏ lâm thời các yếu tố mà người đọc có thể hiểu được nhờ mối liên hệ giữa các phát ngôn trong phạm vi một ngữ cảnh nhất định

Xét trong mối quan hệ và giá trị liên kết ta có chủ ngôn và kết ngôn Kết ngôn chính là các phát ngôn bị tỉnh lược (còn gọi là lược ngôn), câu làm cơ sở cho việc khôi phục yếu tố tỉnh lược là chủ ngôn Tuỳ theo chức năng của lược ngôn mà trong phép tỉnh lược liên kết có thể tách ra hai trường hợp:

- Phép tỉnh lược yếu: là phương thức liên kết thể hiện ở sự lược bỏ trong kết ngôn những yếu tố có mặt ở chủ ngôn, và sự vắng mặt này phá vỡ sự hoàn chỉnh nội dung của kết ngôn mà không ảnh hưởng gì đến cấu trúc nòng cốt của nó Phép tỉnh lược yếu có thể chia thành các loại như sau:

+ Tỉnh lược bổ ngữ trực tiếp ở câu liên kết

+ Tỉnh lược bổ ngữ (trong cả bổ ngữ trực tiếp) ở câu kết

+ Tỉnh lược động từ đi sau trong chuỗi thoại ở câu kết

+ Tỉnh lược chủ ngữ ở câu kết

+ Tỉnh lược định ngữ của danh từ

- Phép tỉnh lược mạnh: là phương thức liên kết của ngữ trực thuộc thể hiện ở

sự lược bỏ trong kết ngôn những yếu tố làm thành phần nòng cốt, dựa vào sự có mặt của chúng trong chủ ngôn

Trang 38

Căn cứ vào chức vụ cú pháp của yếu tố bị tỉnh lược, có thể phân biệt tỉnh lược mạnh thành các kiểu như sau:

Phép tuyến tính có thể được quy về hai kiểu:

- Liên kết tuyến tính của những câu có quan hệ thời gian

- Liên kết tuyến tính của những câu không có quan hệ thời gian

Sự liên kết của phép tuyến tính thường bộc lộ rõ nhất khi các phát ngôn liên kết đứng cạnh nhau

1.6.6 Vai trò của liên kết đối với tổ chức nội dung của văn bản

Trong những câu cụ thể có liên kết với nhau, các phép liên kết như trên đã trình bày có thể được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp Giá trị của mỗi phép liên kết

là ở khả năng giải thích chúng theo những cách riêng về sự có mặt của các yếu tố ngôn ngữ có quan hệ liên kết với nhau

Trong một văn bản có thể có những yếu tố thuộc các loại khác nhau làm thành những tuyến phối hợp với nhau, tạo nên tính hoàn chỉnh về nội dung cho văn bản

Trong giáo dục phổ thông hiện nay, việc dạy và học văn nghị luận được đưa vào chương trình từ cấp THCS, ở cấp độ đọc - hiểu và viết những bài viết có sử dụng yếu tố nghị luận trong văn bản Đến THPT, văn nghị luận được yêu cầu ở mức độ cao hơn: học sinh biết cách xây dựng văn bản nghị luận ở hai dạng là nghị luận xã hội và

Trang 39

nghị luận văn học Khái niệm về văn nghị luận trong giáo dục phổ thông được hiểu

là: “Văn nghị luận là bài văn trình bày tư tưởng, quan điểm của người viết về một vấn

đề [Sgk Ngữ văn 10 nâng cao, tập hai, Nxb Giáo dục, 2013]

Theo quan điểm này, văn nghị luận thực chất nhằm phát biểu những suy nghĩ (về tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm ) của người viết một cách trực tiếp về một vấn đề trong cuộc sống hoặc trong văn học bằng một ngôn ngữ trong sáng, với lập luận chặt chẽ, mạch lạc, nhằm thuyết phục người đọc, người nghe Qua đó bộc lộ kĩ năng viết, cách suy nghĩ, lập luận, và cách trình bày một vấn đề

Bài viết văn nghị luận của học sinh phải đảm bảo 3 phần:

- Nêu vấn đề

- Giải quyết vấn đề

- Kết thúc vấn đề

1.8 Về khái niệm “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”

Trong sáng là một phẩm chất của tiếng Việt, là khi ngôn ngữ đạt đến chuẩn mực, có thể đem đến cho người đọc (người nghe) một nội dung rõ ràng, cụ thể bằng một hình thức diễn đạt mạch lạc, dễ hiểu nhất

“Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, tiếng Việt đã trở thành một

công cụ giao tiếp có khả năng diễn đạt một cách chính xác và tinh tế mọi tư tưởng, tình cảm, mọi lĩnh vực kiến thức trong hoạt động và đời sống con người, sáng tạo những tác phẩm khoa học, tư tưởng và văn học bất hủ” [Sgk Ngữ văn 12 nâng cao,

Sự trong sáng của tiếng nói không chỉ thể hiện ở các quy tắc bền vững và những chuẩn mực xác định của ngôn ngữ dân tộc mà còn được thể hiện sinh động qua

thực tiễn sử dụng, đó là “tiếng nói của quần chúng nhân dân, đầy tình cảm, hình ảnh

màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa, đồng thời nó là ngôn ngữ của văn học, văn nghệ ” [Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,

Nxb Giáo dục, 1977]

Trang 40

Như vậy, phẩm chất trong sáng của tiếng Việt không tách rời với tính chất

giàu đẹp của nó Sự trong sáng không mâu thuẫn với việc tiếp thu một số từ vựng cách nói của tiếng nước ngoài, không mâu thuẫn với việc không ngừng tạo ra những cách nói mới để làm giàu cho tiếng nói dân tộc Nhưng sự trong sáng không chấp nhận sự pha tạp, lai căng, như việc lạm dụng từ ngữ tiếng nước ngoài Những từ tiếng Việt có mà không dùng, lại vay mượn tuỳ tiện tiếng nước ngoài thì đó là sự lạm dụng

Sự trong sáng của tiếng Việt cũng không chấp nhận những cách nói thiếu văn hoá, thiếu lịch sự trong giao tiếp

1.9 Giới thiệu khái quát về trường PTDT Nội trú Thái Nguyên

Trường Phổ thông Dân tộc (PTDT) Nội trú Thái Nguyên là một trong số ít các trường chuyên biệt của tỉnh Thái Nguyên, được thành lập theo Quyết định số 2216/QĐ-UB, ngày 06 tháng 9 năm 1997 của UBND tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở nâng cấp và chuyển trường PTDT Nội trú huyện Võ Nhai thành trường PTDT Nội trú Thái Nguyên Từ năm 1997 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên có địa điểm đặt tại huyện Võ Nhai Năm 2005, theo Quyết định 932/QĐ-UB ngày 24 tháng 5 năm 2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên, trường chuyển địa điểm về thành phố Thái Nguyên được giao nhiệm vụ đào tạo bậc THPT

Trường PTDT Nội trú Thái Nguyên nằm trên địa bàn phường Tân Lập, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 7 km dọc theo Quốc lộ 3 về phía Nam Trường có nhiệm vụ đào tạo, chăm sóc, nuôi dưỡng cho con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh Thái Nguyên, nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Nhà trường có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số của tỉnh

Năm học 2008 – 2009, trường tuyển sinh khoá I với tổng số 120 học sinh Cùng với nhiệm vụ đào tạo, nuôi dưỡng, chăm sóc con em các dân tộc vùng cao của tỉnh, trường còn được Sở GD & ĐT giao nhiệm vụ giáo dục 305 học sinh lớp 11 và

12 của trường THPT Bán Công Việt Bắc Trong những năm đầu thành lập trường, cơ

sở vật chất còn thiếu thốn, nhưng với sự đoàn kết, quyết tâm, thống nhất trong mọi hoạt động của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường, trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1a. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 10, 11, 12  trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1a. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 47)
Bảng 2.2a. Bảng tổng hợp tinh hình sử dụng câu của học sinh khối 10, 11, 12   trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2a. Bảng tổng hợp tinh hình sử dụng câu của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 55)
Bảng 2.3a. Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT  Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3a. Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 57)
Bảng 2.3b. Bảng so sánh lỗi ngữ âm giữa học sinh trường PTDT Nội trú với học  sinh trường ngoài - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3b. Bảng so sánh lỗi ngữ âm giữa học sinh trường PTDT Nội trú với học sinh trường ngoài (Trang 58)
Bảng 2.4a. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 10, 11, 12                         trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4a. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 10, 11, 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 61)
Bảng 2.6c. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 12  trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.6c. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng từ vựng của học sinh khối 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 66)
Bảng 2.7b. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 11 trường  PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7b. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 11 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 68)
Bảng 2.7a.  Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 10 trường  PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7a. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 68)
Bảng 2.7c. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 12 trường  PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7c. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng câu của học sinh khối 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 69)
Bảng 2.8a. Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 10                                       trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8a. Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 69)
Bảng 2.8b. Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 11                                       trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8b. Bảng tổng hợp lỗi ngữ âm của học sinh khối 11 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 70)
Bảng 2.9a. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 10                                          trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9a. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 71)
Bảng 2.9b. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 11   trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9b. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 11 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 71)
Bảng 2.9c. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 12                                     trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9c. Bảng tổng hợp lỗi chính tả của học sinh khối 12 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 72)
Bảng 2.10a. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản của   học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên - tiếng việt trong văn nghị luận của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú thái nguyên - thực trạng và giải pháp
Bảng 2.10a. Bảng tổng hợp tình hình sử dụng văn bản và liên kết văn bản của học sinh khối 10 trường PTDT Nội trú Thái Nguyên (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w