Bên cạnh các nội dung giáo dục khác, nhà trường rất quan tâm đến công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, đây là một vấn đề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ ÁNH HÀO
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH
GIÓT TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ ÁNH HÀO
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH
GIÓT TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
MÃ SỐ: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Quốc Bảo
HÀ NỘI – 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Dân ca dân tộc Thái có lời hát rằng “Ăn cơm nhớ đến ruộng, ăn cá nhớ đến ao” Hoàn thành luận văn, tác giả xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp
đỡ của quý Thầy Cô trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chân thành cảm ơn các thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khoá 13 (2013 – 2015) do trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia tổ chức đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Đặng Quốc Bảo đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tác giả trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên; Các đồng chí trong Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện, giúp đỡ, cộng tác cùng tác giả hoàn thành luận văn
Xin cám ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được ý kiến góp ý, chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo cùng các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Bùi Thị Ánh Hào
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 5iii
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 2.1 Thực trạng thái độ, hành vi của học sinh đối với việc
giữ gìn VHDT 40 Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và HS về hoạt
động VHDT 44 Hình 2.1 Biểu đồ so sánh nhận thức của các đối tượng về mức độ
rất quan trọng của GD VHDT cho HS 46 Bảng 2.3 Thực trạng GD VHDT cho HS ở trường THPT Phan
Đình Giót 47 Bảng 2.4 Thực trạng GDVHDT cho HS thông qua các hình thức
chủ yếu 49 Bảng 2.5 Tổng hợp đánh giá của CBQL và GV ở trường THPT
Phan Đình Giót về thực trạng quản lý các hoạt động GDVHDT
52
Bảng 2.6 Khả năng khai thác nội dung GDVHDT ở các môn học
có ưu thế 69 Bảng 3.1 Đánh giá của CBQL và GV về tính cấp thiết và tính khả
thi của các biện pháp đã đề xuất 90 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của
các biện pháp đã đề xuất 90
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt .ii
Danh mục bảng và hình iii
Mục lục ………iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TRƯỜNG THPT 7
1.1 Khái quát về vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Các khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lí giáo dục 12
1.2.3 Văn hóa, Văn hóa dân tộc 16
1.2.4 Học sinh dân tộc thiểu số 20
1.3 Những đặc điểm GDVHDT ở các trường THPT có nhiều học sinh DTTS 20
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục VHDT ở trường THPT 23
1.4.1 Kế hoạch hóa nội dung hoạt động GDVHDT ở trường THPT 23
1.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT 25
1.4.3 Chỉ đạo, điều phối các hoạt động GDVHDT ở trường THPT 26
1.4.4 Giám sát, kiểm tra các hoạt động GDVHDT ở trường THPT 27
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quá trình hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT 28
1.5.1 Yếu tố chủ quan 28
1.5.2 Yếu tố khách quan 29
Tiểu kết chương 1 ……… 31
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH GIÓT TỈNH ĐIỆN BIÊN .32
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên 32
Trang 7v
2.1.1 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội 32
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục của tỉnh Điện Biên 33
2.1.3 Đặc điểm vùng văn hóa của tỉnh Điện Biên 34
2.1.4 Đặc điểm các trường THPT trong thành phố và trường THPT Phan Đình Giót .37
2.2 Thực trạng về văn hóa dân tộc của học sinh và hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên 40
2.2.1 Thực trạng về giữ gìn văn hóa dân tộc của HS 40
2.2.2 Thực trạng về hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên 43
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên 50
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về hoạt động giáo dục VHDT trong nhà trường 50
2.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý các hoạt động GDVHDT ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên 51
2.4 Đánh giá chung về quản lý các hoạt động GDVHDT ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên 55
2.4.1.Những ưu điểm, nhược điểm của quản lý hoạt động GDVHDT 55
2.4.2 Những thuận lợi, khó khăn của quản lý hoạt động GDVHDT 57
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH GIÓT TỈNH ĐIỆN BIÊN 61
3.1 Định hướng về công tác GDVHDT trong Đổi mới GD và các nguyên tắc đề xuất biện pháp 61
3.1.1 Định hướng về công tác GDVHDT trong Đổi mới GD 61
3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 63
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên 65
Trang 83.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho các lực lượng GD trong nhà trường nhằm
quán triệt tính quan trọng trong hoạt động GDVHDT 65
3.2.2 Kế hoạch hóa nội dung quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh phù hợp với đặc điểm nhà trường 68
3.2.3 Chỉ đạo thực hiện hóa nội dung GDVHDT cho học sinh vào các môn học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khóa 71
3.2.4 Đôn đốc các lực lượng GD trong nhà trường có ý thức trách nhiệm về GDVHDT cho học sinh 81
3.2.5 Xây dựng, phát triển môi trường sư phạm lành mạnh nhằm thực hiện tốt công tác GDVHDT cho học sinh 82
3.2.6 Phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc .84
3.2.7 Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc 85
3.2.8 Giám sát, kiểm tra, khen thưởng kịp thời việc làm tốt, chấn chỉnh yếu kém các hoạt động GDVHDT 86
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
Tiểu kết chương 3 .95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Khuyến nghị 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC ……….………101
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay các dân tộc trên thế giới muốn phát triển ở vị trí tiên tiến thì ngoài việc chăm lo phát triển giáo dục, phát triển kinh tế đồng thời cũng không thể lãng quên các vấn đề văn hoá Di sản văn hóa dân tộc không chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền thống, giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ mà còn là một nguồn lực to lớn góp phần phát triển KT-XH của đất nước Bởi vậy, giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước cần thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị di sản, bản sắc văn hóa dân tộc để ứng xử bằng lòng tự hào dân tộc Trên thế giới, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều tìm mọi cách giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa của riêng mình, vì mất bản sắc sẽ không còn là một quốc gia, một dân tộc nữa Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc đã đóng góp chung cho nền văn minh nhân loại, làm cho nó đa dạng, phong phú, kết tinh những tinh hoa văn hóa của các dân tộc ở khắp các châu lục Việc giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới là rất cần thiết, nó là nguồn bổ sung, làm giàu có thêm cho nền văn hóa mỗi dân tộc Một nền văn hóa đóng cửa khép kín
sẽ khô héo, thiếu sức sống và kém phát triển Vấn đề đặt ra là khi giao lưu, hội nhập quốc tế là không chỉ tiếp thụ những tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời phải giữ được nền văn hóa dân tộc, không đánh mất bản sắc của chính mình
Đảng cộng sản Việt Nam đã hết sức quan tâm đến vấn đề này, tại Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1998) đã ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 ban hành kèm theo quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: “Văn hoá các dân tộc thiểu số là tài sản quý giá góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng mà thống nhất của văn hoá Việt Nam Giữ gìn bản sắc và sự
đa dạng của văn hoá các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn ở
kỷ nguyên toàn cầu hoá” (55, tr.18)
Trang 10Ngày 14/01/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc, trong đó khẳng định: “Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc” Nghị định 05/2011/NĐ-CP, đề cập đến chính sách phát triển giáo dục và đào tạo đối với các dân tộc thiểu số đã ghi: "Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc" Về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa, Nghị định 05/2011/NĐ-CP cũng đã nhấn mạnh: "Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật"
Đối với nhân loại, giáo dục là phương thức bảo tồn và bảo vệ kho tàng tri thức văn hoá xã hội Nhân dân Việt nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời, trải qua các thời kỳ lịch sử, cộng đồng người Việt đã tiếp thu và chọn lọc, hình thành nên đạo đức, tư tưởng văn hóa Việt nam Nền tảng văn hóa ấy đã tạo nên bản sắc về nhân cách con người Việt nam
Cũng như sự tồn tại của giáo dục, văn hoá xuất hiện từ khi có loài người, có
xã hội Văn hoá tồn tại khách quan và tác động vào con người sống trong nó Nếu môi trường tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, để loài người hình thành và sinh tồn thì văn hóa là cái nôi thứ hai giúp con người trở thành
“người” theo đúng nghĩa, hoàn thiện con người, hướng con người khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ
Trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên có nhiệm vụ đặc biệt là giảng dạy chương trình phổ thông trung học cho học sinh trong tỉnh Bên cạnh các nội dung giáo dục khác, nhà trường rất quan tâm đến công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, đây là một vấn đề quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công trong
Trang 11sự nghiệp giáo dục chung của nhà trường Mặt khác giáo dục văn hoá các dân tộc ở Điện Biên trong nhà trường còn có ý nghĩa khai thác, phát huy tri thức địa phương trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Hiện nay trường THPT Phan Đình Giót có số lượng học sinh 727 nhưng
số lượng học sinh dân tộc chiếm 75,1%, nhà trường có cả hệ thống nhà nội trú cho học sinh dân tộc ở xa trường vì vậy học sinh có điều kiện tiếp xúc với nhiều luồng văn hóa từ xã hội cả tích cực và tiêu cực, nhiều loại văn hóa có sức lôi cuốn mạnh mẽ với giới trẻ nói chung và học sinh nói riêng, đặc biệt là học sinh dân tộc Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên đang có những biểu hiện phôi phai Biểu hiện thứ nhất là việc bảo tồn, phát huy tiếng nói và chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số Một bộ phận học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, kể cả một số người trưởng thành đã “quên” hoặc ít sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Biểu hiện thứ hai là về trang phục, trừ ngày Tết, lễ hội, một bộ phận đáng kể đồng bào dân tộc thiểu số ngày thường ít khi mặc trang phục truyền thống Biểu hiện thứ ba là việc bảo tồn, phát huy những hình thức sinh hoạt văn hóa dân tộc thiểu số truyền thống như lễ hội, văn nghệ, trò chơi dân gian… nhiều nơi không còn duy trì được
Cho nên ngoài việc đào tạo kiến thức văn hóa còn cần giáo dục bản sắc văn hóa, trong đó khơi gợi lòng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc là yêu tố quan trọng giúp các em phát triển tình yêu đối với quê hương, có tri thức cần thiết về giá trị vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn hướng tới sự phát triển toàn diện của người học Tuy nhiên, việc giáo dục văn hoá dân tộc trong trường THPT Phan Đình Giót của tỉnh Điện Biên hiện nay chưa toàn diện, phù hợp thực tế ở địa phương và chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng và Nhà
nước Do đó tác giả chọn đề tài "Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc
ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên" làm luận văn tốt nghiệp khóa
học
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT
Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên hiện nay như thế nào?
Trang 12- Biện pháp nào có thể sử dụng để quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc có hiệu quả tại trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên?
3 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót có tính thực tiễn và khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục cũng như thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập hiện nay
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả xác định mục đích cuối cùng là đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc
thông qua nghiên cứu thực trạng nhận thức, lối sống và hành vi của học sinh
viên các trường khu vực miền núi xung quanh chủ đề về bản sắc văn hóa dân tộc, chưa có điều kiện để nghiên cứu đặc trưng văn hóa của từng dân tộc cụ thể Trên cơ sở nghiên cứu bước đầu này, tác giả đề xuất các giải pháp giáo dục, các kiến nghị để xây dựng chương trình đào tạo theo hướng lồng ghép, tích hợp, và
chương trình ngoại khoá để giáo dục học sinh
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1.Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên
6 Phạm vi nghiên cứu
Để đảm bảo tính khả thi, đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót, Tỉnh Điện Biên từ năm học 2013-2014 đến nay
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 137.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường THPT
7.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên
7.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, văn bản của Bộ GD&ĐT, nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu trên sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến
- Phương pháp quan sát và khảo sát thực tế
8.3 Nhóm phương pháp xử lý lý thông tin
- Sử dụng công thức toán thống kê để xử lý số liệu đã thu được và rút ra
từ các số liệu nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu, xem xét các hiện tượng để tìm ra sự giống nhau, khác nhau hoặc hơn kém nhau từ đó rút ra các kết luận cần thiết
- Phương pháp dự báo: Phân tích hiện trạng, xác định các nhân tố ảnh hưởng để tìm ra trạng thái quán tính của hệ thống từ đó xác định các trạng thái tương lai cần dự báo
9 Những đóng góp của đề tài
9.1 Về mặt lý luận
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc nhằm giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường THPT
9.2 Về mặt thực tiễn
Trang 14Đề xuất những giải pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi giúp nâng cao chất lượng công tác quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên Từ đó triển khai kinh nghiệm quản lý cho các trường THPT trong tỉnh Điện Biên nói riêng và hệ thống các trường THPT nói chung có HS DTTS
Đề tài còn là nguồn thông tin cần thiết để các nhà giáo dục tham khảo khi cần đưa ra các chính sách, chương trình giáo dục đối với vấn đề người dân tộc thiểu số, giúp chương trình đó phù hợp và đi vào lòng dân mà không làm mất đi
những giá trị văn hóa vốn có của cộng đồng; thực hiện đúng phương châm “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Đảng và Nhà
nước ta vẫn khẳng định
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc
cho học sinh trường THPT
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường
THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở
trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Vai trò nhà trường đối với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, chính là thực hiện chức năng giáo dục học sinh bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, song vấn đề đặt ra là thực hiện chức năng này như thế nào? Nội dung giáo dục cái gì? Phương pháp giáo dục thế nào? để mỗi học sinh hiểu được bản sắc văn hoá của dân tộc mình ngay chính trên mảnh đất mình sinh ra và lớn lên phù hợp với những cái riêng của mỗi vùng văn hoá, mỗi tộc người trong đa dạng văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào đề cập đầy đủ, hệ thống và toàn diện Thực hiện chức năng giáo dục này, nhà trường đóng vai trò quan trọng, song hiểu biết về: Cơ sở văn hoá, bản sắc văn hoá, các giá trị văn hoá truyền thống… của đội ngũ giáo viên chưa đủ để nhà trường hoàn thành tốt chức năng này
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng”[19,tr.173] Chủ trương trên đây thể hiện rõ ràng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị văn hoá dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là một kho tàng lý luận có tính thực tiễn vô giá để lại cho
Trang 16Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc hội nhập và thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
Vào thời kỳ đất nước đổi mới, nhất là những năm gần đây có nhiều công trình,
đề tài khoa học, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề
tài với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Tác giả Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (NXB KHXH, HN, 1980) Tác giả Trần
Ngọc Thêm, với tác phẩm: "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam"(NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 2001); „’Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD,1997‟‟ đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học Tác phẩm "Bản sắc văn hóa Việt Nam" của tác giả Phan Ngọc (NXB Văn học, 2002) Tác giả Trần Mạnh Thường có tác phẩm "Việt Nam văn hóa và giáo dục – NXB VH-TT, 2010.;
Tác giả Mùa A Sùng (Phó Ban Dân vận tỉnh Điện Biên) với báo cáo chuyên đề
“Nghiên cứu tập tục tín ngưỡng của dân tộc Mông trên địa bàn tỉnh Lai Châu”;
Tác giả Nguyễn Trung Hoà (Trung tâm nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số
và miền núi) với tham luận: “Tri thức bản địa bảo tồn và phát triển chữ, tiếng Thái vùng Tây Bắc” Bên cạnh đó cũng có đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Lệ Thanh "Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường
Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Điện Biên" (2014) Đề tài "Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên"
của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên (2012)
Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Lệ Thanh cũng đã đề cập đến vấn đề quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn BSVH dân tộc song đối tượng ở các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú còn đối với các trường THPT có nhiều học sinh là DTTS và cả dân tộc Kinh thì chưa có đề tài nào đề cập Vì vậy đề tài này, tác giả hướng tới các trường THPT có nhiều học sinh DTTS đan xen với đó là dân tộc Kinh
sẽ giúp các em hiểu rõ về văn hóa của các dân tộc với nhau trên địa bàn tỉnh
Trang 171.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lí
Quản lý là từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý” Quản là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định Lý là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy, quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa sang
làm cho nó ổn định và phát triển
Trong khoa học quản lí, khái niệm “quản lí” được coi là một trong những khái niệm công cụ đặc biệt quan trọng Vì thế, từ xưa đến nay, từ phương đông đến phương tây, các nhà khoa học quản lí đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lí
Có thể kể đến một số khái niệm tiêu biểu sau:
Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô (1977), “Quản lí là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kĩ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” (29, tr.7)
W.Taylor thì cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí viết: "Quản lý là hoạt
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức"[4Lý luận QLGD và QL nhà trường - Trường
CBQL GD&ĐT TW1 Hà Nội 1998 ]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: "Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [5
Những khái niệm cơ bản về QLGD ]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý là quá trình tác động gây ảnh
hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu
chung" [6 Những vấn đề cơ bản về QLGD]
Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức; với các tác
Trang 18động có tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức
Như vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu đề ra
Như vậy, khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh:
Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng quản lý và ngược lại
- Trả lời được câu hỏi: ai quản lý? Thì đó là chủ thể quản lý Do đó, chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do người cụ thể lập nên Cá nhân làm chủ thể quản lý được gọi chung là CBQL Ví dụ ở bình diện vĩ
mô toàn cầu là Tổng thư ký Liên hợp quốc; ở trong một nước là Tổng thống hoặc Thủ tướng; ở trong một ngành là Bộ trưởng ở bình diện vi mô một doanh
nghiệp là giám đốc; ở một nhà trường là hiệu trưởng
- Trả lời được câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý sự việc gì? thì
đó là đối tượng quản lý Do đó, đối tượng quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể (cỗ máy, kho tàng ) hoặc có thể là sự việc (luật lệ, quy chế ) Khi đối tượng quản lý là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức được con người đại diện có thể trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc Ví dụ: Chủ tịch quận là đối tượng quản
lý của chủ tịch thành phố nhưng chủ tịch quận lại là chủ thể quản lý của chủ tịch phường Điều đó có nghĩa là khi nói chủ thể hay đối tượng quản lý là người hoặc tổ chức được con người đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lý nẩy sinh các động lực quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nẩy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý
Trang 19Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Phương pháp quản lý rất phong phú và đa dạng: Phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính-tổ chức, phương pháp tâm lý-giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau
Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành, tập hợp con người, công cụ, phương tiện, tài chính , để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng của
quản lý thì phải tạo ra được “Quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ Với ý nghĩa
đó, chúng ta có thể khẳng định thêm rằng quản lý không chỉ là khoa học, nghệ
thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội mà còn đòi hỏi sự khôn khéo, linh hoạt, mềm
dẻo, sáng tạo, nhạy cảm và tinh tế rất cao; phải biết “Cương” và “Nhu”; phải có
“Tài”, “Tầm” và “Tâm”[16] Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được
trong việc duy trì và phát triển một tổ chức
* Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là khái niệm mô tả về phương thức, nội dung và qui trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong quá trình quản lý Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: "Kế hoạch hóa - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra" [2, tr6-8] Có thể khái quát 4 chức năng như sau:
Chức năng thứ nhất: Kế hoạch hóa là khởi điểm của một quá trình quản lý
Kế hoạch hóa là quá trình vạch ra các mục tiêu và quy định phương thức đạt được mục tiêu
Trang 20Chức năng thứ hai: Tổ chức là một quá trình phân công và phối hợp các
nhiệm vụ, sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã được vạch ra
Để thực hiện vấn đề phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực, chức năng tổ chức thực hiện những nội dung sau:
- Xác định cấu trúc của tổ chức
- Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực
- Xác định cơ chế hoạt động, các mối quan hệ của tổ chức
- Tổ chức lao động một cách khoa học của người quản lý
Lê Nin- người thầy của cách mạng vô sản đã từng nói: Hãy cho chúng tôi
một tổ chức những người cách mạng, chúng tôi sẽ đảo lộn cả nước Nga Câu nói
bất hủ đó của Người chúng ta đã hiểu rõ tổ chức và vai trò tổ chức trong bất kỳ một hệ thống chính trị nào
Chức năng thứ ba: Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch để
đạt được mục đích, mục tiêu đề ra
Chức năng thứ tư: Hoạt động kiểm tra bao gồm việc kiểm tra, giám sát,
theo dõi, phát hiện, xử lý tình huống Kết quả hoạt động kiểm tra cũng là một quá trình tự điều khiển Nhờ có kiểm tra đánh giá mà người quản lí có được thông tin chính xác về những thành tựu công việc, uốn nắn điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
Các chức năng này liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản lý
1.2.2 Quản lí giáo dục
Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt những mục tiêu giáo dục đề ra Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của giáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra Đối tượng quản lý giáo dục bao gồm
Trang 21nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất kĩ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác động của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra
Theo tác giả Trần Kiểm, xét về cấp độ có thể hiểu khái niệm quản lí giáo
dục như sau: Ở cấp vĩ mô, “quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” (30, tr.10)
Ở cấp vi mô, “quản lí giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự
hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” (30, tr.12)
Quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn
bộ hoạt động của giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu
mà Đảng và Nhà nước đã xác định
Quản lý giáo dục được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng giáo dục - đào tạo…
1.2.2.1 Quản lí nhà trường
- Khái niệm: Nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt trong một hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội loài người {10}
- Quản lí nhà trường
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” (30, tr.11)
Trang 22Theo các tác giả P.V.Zimin, M.I.Kônđakôp, N.I.Xaxerđôtôp: “Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và
tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên" (30, tr.12)
Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường Do đó quản lý nhà trường là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo Bản chất quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tới mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội
Quản lý nhà trường là quản lí toàn diện với mục đích là để hình thành nhân cách học sinh Do đó, thực chất quản lý giáo dục, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu Trường học là một thành tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục
Tuy nhiên quản lý nhà trường không phải là trách nhiệm riêng của hiệu trưởng mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường, đảm bảo sự hoàn thành công việc, qua sự nỗ lực của mỗi người
1.2.2.2 Quản lí nhà trường THPT
Trang 23Trung học phổ thông là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, cao hơn tiểu học, trung học cơ sở và thấp hơn cao đẳng hoặc đại học Trung học phổ thông kéo dài 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12) Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh phải vượt qua kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào cuối năm học
lớp 12
Trường phổ thông trung học hay còn được gọi là trường trung học phổ thông, là một loại hình đào tạo chính quy ở Việt Nam, dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18 không kể một số trường hợp đặc biệt Nó gồm các khối học: lớp 10, lớp
11, lớp 12 Sau khi tốt nghiệp hệ giáo dục này, học sinh được nhận bằng Tốt nghiệp Phổ thông trung học, có một tên gọi khác cho loại bằng này là "Bằng Tú Tài"
Trường phổ thông được lập tại các địa phương trên cả nước Người đứng đầu một ngôi trường được gọi là "Hiệu Trưởng" Trường được sự quản lý trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), tức là Trường Trung học phổ thông ngang với Phòng Giáo dục quận huyện Quy chế hoạt động do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [19]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường THPT thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội‟ [25,259]
Như vậy: QL nhà trường học nói chung và QL nhà trường THPT nói riêng là tổ chức chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học của trò; đồng thời, QL những điều kiện CSVC, công việc phục vụ cho dạy
và học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo Xét về bản chất, QL con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của GV và HS, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của
Trang 24việc đào tạo con người, nhằm chuẩn bị cho HS về mọi mặt để bước vào cuộc sống tự lập của người lao động năng động, sáng tạo hoặc tiếp tục học lên bằng nhiều con đường khác nhau
1.2.3 Văn hóa,Văn hóa dân tộc
1.2.3.1.Văn hóa
Văn hoá là khái niệm công cụ đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn Chính vì thế, đến nay đã có rất nhiều học giả từ cổ đến kim, từ phương đông đến phương tây xác định nội hàm khái niệm này Sau đây là một số khái niệm tương đối tiêu biểu:
Nhà dân tộc học Anh nổi tiếng E Tylor (1871) quan niệm: “Văn hoá là cả một tổ hợp bao hàm những tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lí, luật pháp, phong tục, và tất cả những quy định khác và những thói quen được con người thu lượm với tư cách là thành viên của xã hội” (37, tr.3,4)
Tác giả Đào Duy Anh (1938) quan niệm: “Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của lòng người, cho nên ta có thể nói rằng: văn hoá tức là sinh hoạt” (49, tr.6)
Tổng thư kí UNESCO Fedérico Mayor khẳng định: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (6, tr.32)
Văn hóa theo nghĩa chung nhất là tất cả những gì không phải từ thiên nhiên mà từ con người” Theo UNESCO “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định ứng xử của con người và làm cho một số đông người
có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” Văn hóa còn được hiểu là tất cả những sinh hoạt của một cộng đồng, một dân tộc bao gồm văn học, nghệ thuật, lễ hội, tôn giáo, phong tục, tập quán, cách cư xử, giao tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì là sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
Trang 25đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những phát minh đó là văn hóa”.Trong khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nét đặc trưng
cơ bản nhất của văn hóa chính là sự sáng tạo và phát minh, tức là “tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần và tìm ra cái có ý nghĩa, có giá trị lớn cho khoa học và cho loài người Những giá trị đó tạo nên cốt lõi, bản sắc văn hóa dân tộc Nói một cách khác, văn hoá bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
mà con người sáng tạo ra nhằm mục tiêu phục vụ con người Bản sắc dân tộc của văn hoá là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh của mỗi nền văn hoá Đối với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tập trung ở lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, đạo lý trọng nghĩa tình, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản
dị trong lối sống…"
Các quan niệm trên về văn hoá tuy được diễn đạt khác nhau nhưng có các đặc điểm chung là:
- Văn hoá là tất cả những gì do con người làm ra trong môi trường tự nhiên
- Văn hoá là một hiện tượng xã hội không thể quy về việc làm có ý nghĩa cá thể
- Văn hoá là khái niệm trừu tượng chuyển tải vô số các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm cụ thể
- Văn hoá là một hiện tượng phổ biến
Văn hóa là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn Với cách tiếp cận cơ bản như vậy, tác giả xin được đưa ra khái niệm văn hóa Nhà trường như sau: Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong Nhà trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của Nhà trường đó Căn cứ theo hình thức biểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phần nổi
có thể nhìn thấy như: không gian cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giao tiếp và phần chìm không quan sát được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ
Trang 26Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác
xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo
ra
1.2.3.2 Văn hóa dân tộc
Văn hóa dân tộc là tinh hoa văn học là giá trị nhân cách là niềm tự hào của mỗi dân tộc về thời kỳ lao động sản xuất xây dựng đất nước chiến đấu vệ tổ quốc là truyền thống bao đời của mỗi dân tộc là kết tinh văn hóa của các dân tộc anh em mà thành
Văn hóa dân tộc là hạt nhân sáng tạo của tinh thần dân tộc, truyền từ đời này sang đời khác, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc cũng lộ ra ở tư tưởng, tình cảm, thể hiện qua toàn bộ sinh hoạt của dân tộc (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…) Nhắc đến một dân tộc là nhắc đến nền văn hóa của dân tộc ấy Bản sắc văn hóa dân tộc trong mối quan hệ với xã hội là dân tộc tự khẳng định mình trước cộng đồng nhân loại Trong mối quan hệ với thiên nhiên là sống hài hòa, hợp tác với thiên nhiên để xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho con người Vì vậy, văn hóa của dân tộc phải được bảo tồn, tôn vinh mà mục đích của nó không chỉ vì dân tộc mình mà vì sự đa dạng, phong phú và lợi ích của nhân loại "Một thế giới đa dạng về văn hóa mới thực sự là môi trường sống lý tưởng, tốt đẹp của nhân loại" Đúng như tác giả Mahatma Gandhi khẳng định:
Không văn hóa nào có thể tồn tại nếu nó tìm cách trở nên độc tôn
Văn hóa dân tộc là một hiện tượng phức tạp, biểu hiện phong phú, đa dạng Để có nhận thức đầy đủ hơn thì ngoài việc định nghĩa, còn có thể sử dụng phương pháp phân tích kết cấu của bản sắc văn hóa dân tộc qua mô hình hóa cấu trúc phương thức biểu hiện của nó (theo chiều dọc và chiều ngang)
Trang 27Hình 1 Cấu trúc phương thức biểu hiện của văn hoá dân tộc (theo chiều dọc)
Có thể diễn đạt rõ hơn sự biến đối của bản sắc văn hóa dân tộc qua mô hình cấu trúc phương thức biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc theo chiều ngang (hình 2)
Hình 2 Cấu trúc phương thức biểu hiện của văn hóa dân tộc (chiều ngang)
Việc mô hình hóa kết cấu bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện qua 3 tầng diện biểu hiện theo chiều dọc và chiều ngang nhằm làm rõ hơn bản chất, xu hướng biến đổi của nó trong lịch sử; từ đó, có nhận thức đúng đắn trong quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tuy nhiên, đó mới chỉ là làm
Trang 28sáng tỏ hơn về mặt khái niệm và kết cấu của bản sắc văn hóa dân tộc còn để có
cơ sở nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hơn về nó cần tiếp tục phân tích trên một số vấn đề lý luận khái quát từ thực tiễn lịch sử xã hội để định hướng cho quá trình quản lý giảng dạy văn hóa dân tộc
1.2.4 Học sinh dân tộc thiểu số
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (1992) do Hoàng Phê chủ biên thì “Học sinh là người theo học ở nhà trường” (29, 454)
Dân tộc thiểu số (DTTS) là cụm từ dùng để chỉ chung 53 dân tộc có số lượng ít hơn nhiều so với dân tộc Kinh, cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam
Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu khái niệm HS DTTS là những người DTTS đang học tập tại cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung cấp và trường dự bị đại học
1.3 Những đặc điểm về GD VHDT ở các trường THPT có nhiều học sinh là
dân tộc thiểu số
Lứa tuổi học sinh phổ thông là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc đời của mỗi con người Giáo dục phổ thông là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu cho việc đào tạo trẻ em trở thành những con người
có nhân cách phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của xã hội và của đất nước Chất lượng giáo dục phổ thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực hiểu học sinh (một thành tố của năng lực sư phạm của nhà giáo dục) có ý nghĩa quan trọng Bởi lẽ, trên cơ sở hiểu được đặc điểm tâm lý của học sinh, nhà giáo dục sẽ lựa chọn được những biện pháp giáo dục và dạy học phù hợp, có hiệu quả
Các kết quả nghiên cứu về vấn đề phát triển giáo dục nhà trường, trong đó có vùng DTTS ở trong nước và ngoài nước; vấn đề chất lượng giáo dục phổ thông với những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập đã thôi thúc việc mở rộng phạm vi nghiên cứu về tâm lý
Trang 29dân tộc nói chung, về đặc trưng tâm lý của học sinh DTTS nói riêng trên toàn quốc như một nhiệm vụ có tính chất lý luận và thực tiễn.
Học sinh dân tộc thiểu số luôn có tính thẳng thắn, thật thà và tự trọng Các
em học sinh miền núi có gì không vừa ý thường tỏ thái độ ngay Đặc điểm thẳng thắn và thật thà cộng với khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông còn hạn chế, nên thiếu mềm mỏng, bộc lộ cảm xúc rõ rệt nhưng thiếu kỹ năng định vị, ăn nói trống không có những lúc làm cho GV “nóng mặt”; nếu như GV thiếu am hiểu tường tận và thông cảm sâu sắc thì dễ kết luận đó là những hành vi “thiếu lễ độ” Các em học sinh dân tộc thiểu số thường có lòng tự trọng cao, nếu các em gặp phải những lời phê bình nặng nề, gay gắt hoặc khi kết quả học tập kém, quá thua kém bạn bè một vấn đề nào đó trong sinh hoạt, bị dư luận bạn bè chê cười, các
em dễ xa lánh thầy cô giáo và bạn bè hoặc bỏ học
Học sinh dân tộc thiểu số luôn có niềm tin sâu sắc vào GV và thực tiễn Các em thường dễ dàng nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là GV Khi các em đã tin GV, các em thường quyết tâm thực hiện cho được những công việc GV giao, nhiều khi các em còn bắt chước tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ, của
GV Thực tiễn có tác dụng thuyết phục rất lớn đối với các em Các em sống rất thực tế, những điển hình gần gũi đều có tác dụng thuyết phục rất lớn Trong các tiết lên lớp, những vấn đề kiến thức có liên hệ thực tế đến bản thân học sinh thì
sẽ sôi nổi và hiệu quả
Bạn bè và dư luận tập thể có tác dụng chi phối việc học tập của học sinh dân tộc thiểu số, nhất là việc đi học chuyên cần Có những em hay nghĩ học đến
bỏ học mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu bạn học đến nhà rủ đi học Có em chỉ nghe bạn nên đã nghĩ học đi đánh cá, khai thác rừng, Nhìn chung những ý kiến tán đồng hoặc chê cười của bạn bè và tập thể đều có ảnh hưởng đến quá trình suy nghĩ và hành động của từng em
Trong học sinh miền núi, học sinh gái thường ít nói, e dè và dễ xấu hổ, những em gái lớn trong một lớp thường thiếu những hoài bão ước mơ cần thiết; cho nên những tác động ngoại cảnh dễ làm cho các em này bỏ học Khi một em
có ý định bỏ học thường rủ thêm một số em khác bỏ theo
Trang 30Học sinh con em đồng bào các dân tộc miền núi đến trường với lòng ham học hỏi, niềm tin sâu sắc về tương lai phía trước Đa số các em đều là con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện kinh tế vô vùng thiếu thốn Ngoài việc học, các em còn phải đi rừng, đi rẫy để phụ giúp việc với gia đình Điều này
đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục và việc duy trì số lượng học
Tuy nhiên hệ thống các trường chuyên biệt dành cho HS DTTS vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu theo học của HS DTTS, tỉ lệ HS DTTS được vào các trường chuyên biệt còn ít nhất là khu vực thành phố Điện Biên Phủ cho nên các trường THPT sẽ đáp ứng số lượng những HS đó và THPT Phan Đình Giót là một trong
số các trường như vậy
Đối với các trường THPT có nhiều HS dân tộc thiểu số, trong đó có cả HS dân tộc Kinh đây là điều kiện thuận lợi để các em học tập và tìm hiểu về những nét bản sắc của các dân tộc khác trên cùng địa bàn Điều này tạo nên sắc mầu đa dạng cho cuộc sống các dân tộc trên địa bàn Đối với HS dân tộc thiểu số cũng
là dịp biết thêm về cách sống, suy nghĩ, học tập của các em dân tộc Kinh để từ
đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân Còn học sinh dân tộc Kinh thì đây cũng là dịp giao lưu, tìm hiểu, học hỏi về văn hóa, vốn sống của những dân tộc chiếm tỷ
lệ lớn trên địa bàn dân cư
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT
Hiệu trưởng trường THPT tổ chức và điều khiển các hoạt động giáo dục
VH dân tộc của trường nhằm đạt được kết quả tốt nhất trong chi phí về thời
Trang 31gian, kinh phí và nhân lực ít nhất, muốn đạt được điều đó Hiệu trưởng trường THPT cần có năng lực quản lí Năng lực quản lí thể hiện ở khả năng hoàn thành các chức năng quản lí, vì vậy trong phạm vi luận văn này, việc quản lí phát triển các hoạt động giáo dục VH dân tộc ở trường THPT của Hiệu trưởng trường THPT được nghiên cứu về khả năng thực hiện các chức năng quản lí là xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện Cụ thể như sau:
1.4.1 Kế hoạch hóa nội dung hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT
Kế hoạch là phương án hành động trong tương lai hướng vào việc thực hiện một mục tiêu nào đó Xây dựng kế hoạch là lựa chọn một trong những phương
án hành động trong tương lai cho toàn bộ hoặc từng bộ phận trong bộ máy quản
lý Để xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục VH dân tộc ở Trường THPT hiện tốt các nội dung sau:
- Lượng hoá tất cả các chỉ tiêu về mục tiêu, các bước đi và các chi phí cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu Ví dụ tổ chức một buổi ngoại khóa về Lễ hội hoa Ban thì trong mục mục tiêu phải xây dựng cụ thể chỉ tiêu như: 100% học sinh tham gia và hiểu biết đầy đủ về lễ hội cũng như có kiến thức cơ bản về các nghi lễ truyền thống của dân tộc Thái
- Chi tiết hóa các nội dung của kế hoạch về các cách thức, các bước tiến hành công việc trong đó có đòi hỏi các phương tiện điều kiện để thực hiện nó Tuỳ theo chuyên đề tổ chức hoạt động giáo dục VH dân tộc, tuỳ theo mục tiêu cần đạt tới mà kéo theo cần phương tiện điều kiện vật chất gì, chẳng hạn như:
+ Tiền để chi phí mua sắm trang thiết bị như tổ chức các hoạt động văn nghệ cho dân tộc Thái không thể thiếu bộ chiêng, trống để múa xoè, nếu trường THPT chưa có thì cần kinh phí để thuê hoặc mua; tổ chức học tập về sử dụng các loại nhạc cụ như khèn Thái, khèn Mông, sáo cũng cần kinh phí để mua hoặc thuê các nhạc cụ này
+ Phương tiện kỹ thuật cần có như máy móc, trang thiết bị, ví dụ như khi giảng dạy mang tính lí thuyết về các luật tục của dân tộc Thái, quy ước của dân tộc Mông và quy định của pháp luật về giữ gìn VH dân tộc (Công ước về bảo vệ
Trang 32các di sản văn hoá và thiên nhiên của thế giới của UNESCO, Luật di sản văn hoá, Pháp lệnh về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh ) thì cần có phương tiện kĩ thuật hiện đại để hỗ trợ như máy vi tính, máy chiếu đa năng (Multiprojector), màn chiếu, tăng âm, loa đài để tăng hiệu quả của việc học tập
+ Các điều kiện vật chất khác như: nhà lớp học, nhà văn hoá để tổ chức các sinh hoạt cộng đồng, trang bị làm việc: văn phòng phẩm (giấy, bút, sổ, sách ), thiết bị cho công việc, cho con người như tổ chức lễ hội thì cần có rượu cần, cây nêu, quả còn
- Chuẩn bị nhân lực cho kế hoạch tổ chức các hoạt động GDVH dân tộc ở trường THPT:
+ Mỗi kế hoạch đều cần người thực hiện, phải xác định rõ cần bao nhiêu người, người như thế nào, mỗi bộ phận cần bao nhiêu người, những ai có thể tham gia Ví dụ tổ chức lớp học tìm hiểu về luật tục của dân tộc Thái thì cần có giảng viên là già làng am hiểu về luật tục người Thái, ngoài ra cần có chuyên viên của phòng Văn hoá và Thông tin để cùng xây dựng nội dung và tham gia tổ chức học tập nhằm đảm bảo chỉ tìm hiểu những mặt tích cực của luật tục có ích cho đời sống hiện tại của cộng đồng
+ Chuẩn bị số người cho từng bộ phận, và cụ thể những bộ phận đó cần những người như thế nào đảm bảo về phẩm chất chính trị, đạo đức, khả năng chuyên môn (phân công người cho từng bộ phận) Chuẩn bị hoạt động nhân dịp
lễ hội thì phải xác định thành phần tham gia vào các tiểu ban như tiểu ban tổ chức, tiểu ban nội dung, tiểu ban hậu cần, tiểu ban phục vụ Trong đó phải có sự phân công rõ người, rõ việc để xác định rõ trách nhiệm cũng như thời gian phải hoàn thành Nếu kế hoạch chung chung, không rõ người, rõ việc thì sẽ gặp khó khăn trong triển khai thực hiện, có thể là trùng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ phận
+ Chuẩn bị đào tạo, bồi dưỡng nếu cần thiết, muốn vậy trong kế hoạch phải có những yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ cần đạt được, có yêu cầu đối với con người, đào tạo, bồi dưỡng con người Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng
Trang 33về giáo dục VH dân tộc cho đội ngũ giáo viên Hoạt động giáo dục VHDT trong trường THPT đòi hỏi người tổ chức, người giảng dạy phải có chuyên môn sâu Hiện tại các trường THPT đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số còn ít, việc am hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc đã, đang và sẽ theo học tại trường không sâu sắc Đồng thời hoạt động giáo dục VH cần số người tham gia đông, thuộc các lĩnh vực khác nhau Muốn thực hiện tốt hoạt động này, cần có
kế hoạch xây dựng, tuyển chọn đội ngũ cán bộ, giáo viên có đủ năng lực, có tâm huyết và lòng nhiệt tình để triển khai nhiệm vụ Bên cạnh đó cũng cần hợp tác với đội ngũ chuyên gia về các lĩnh vực liên quan để hỗ trợ cho hoạt động giáo dục VHDT của nhà trường
1.4.2 Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT
Giáo dục VHDT diễn ra trong nhà trường cho nên cần lựa chọn cách thức truyền tải cho phù hợp Đó là:
Giáo dục lồng ghép, tích hợp qua các môn học: vận dụng một sản phẩm văn hóa hay một phần sản phẩm văn hóa của các dân tộc đã có sự lựa chọn, điều chỉnh đưa vào trong giờ dạy thuộc các môn học: Ngữ văn, Lịch Sử, Địa lý, Giáo dục công dân hoặc trong hoạt động ngoài giờ lên lớp để thực hiện một nội dung giáo dục phù hợp với mục tiêu giáo dục học sinh
Thực hiện thông qua tổ chức các cuộc thi, tìm hiểu theo chủ đề Tổ chức giao lưu giữa học sinh các dân tộc với nhau, tìm hiểu bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc ở địa phương; vận dụng các trò chơi dân gian của các dân tộc để đưa vào hoạt động ngoại khóa hoặc các phần hội của ngày khai giảng, 26/3, 20/11, 22/12
Tổ chức cho học sinh sưu tầm các sản phẩm văn hóa dân gian (văn học dân gian, âm nhạc dân gian, vật dụng sinh hoạt ) Đặt yêu cầu và giao nhiệm vụ
để học sinh thực hiện sưu tầm như một nhiệm vụ học tập Đây là một hoạt động giúp HS có ý thức tìm hiểu VHDT đồng thời góp phần vào việc xây dựng học liệu VHDT
Trang 34Tổ chức cho HS tham quan các bản văn hóa gần khu vực địa bàn của trường, các di tích Đưa HS tham dự vào các lễ hội, sinh hoạt văn hóa của các dân tộc
Tổ chức cho HS từng dân tộc lựa chọn những sản phẩm văn hóa đặc trưng của dân tộc mình để trình diễn, thuyết trình (trang phục, sản phẩm thủ công, vật dụng sinh hoạt, dụng cụ lao động, nhà ở ) để các HS khác hiểu rõ hơn về dân tộc của mình
1.4.3 Chỉ đạo, điều phối các hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT
Hiệu trưởng trường THPT là cấp quản lý tác nghiệp vì vậy việc thực hiện chức năng chỉ đạo chiếm phần lớn trong công việc thực hiện chức năng quản lý
Đó là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến các thành viên trong nhà trường để mỗi thành viên thực hiện đều hướng tới mục tiêu kế hoạch chung đã vạch ra
Để chỉ đạo việc thực hiện các hoạt động GD VHDT ở trường THPT đạt kết quả cao, Hiệu trưởng cần thực hiện tốt các nội dung sau:
- Nắm quyền chỉ huy và điều hành công việc có quy củ, nề nếp, các mối quan hệ trong nhà trường được xử lí tốt góp phần giúp nhà trường phát triển
- Biết tập trung sức lực để giải quyết khâu cơ bản và những vấn đề còn tồn tại, yếu kém của nhà trường
- Hướng dẫn cán bộ, GV, làm tốt nhiệm vụ chuyên môn đã được phân công, khi cần thiết có thể có có tác động mang tính hỗ trợ, giúp đỡ
- Nhạy bén trong việc giải quyết các tình huống quản lý Kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, can thiệp khi cần thiết
- Theo dõi, giám sát chặt chẽ tiến trình công việc và việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động GD VHDT để kịp thời đưa ra các ý kiến chỉ đạo bổ sung
- Tổ chức thực hiện công tác phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để huy động tối đa các nguồn lực
- Biết kích thích, động viên, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, chủ động của cán bộ, GV, trong hoạt động GD VHDT
Trang 35- Biết đúc kết kinh nghiệm để cải tiến công tác quản lý, chỉ đạo của bản thân ngày càng sát thực, hiệu quả hơn
- Biết thúc đẩy công việc tiến triển bằng các quyết định khen thưởng, kỉ luật phù hợp nhằm khuyến khích các nhân tố tích cực và răn đe, phòng ngừa các nhân
làm tốt, ngăn chặn những sai sót có thể xảy ra
Để kiểm tra việc thực hiện các hoạt động GD VHDT hiệu quả, người quản lý cần tiến hành theo các nội dung sau:
- Lựa chọn vấn đề, nội dung kiểm tra và hình thức, thời điểm kiểm tra: Nội dung kiểm tra có thể bao gồm từ khâu lập kế hoạch đến việc triển khai kế hoạch
và hoạt động cụ thể của các lực lượng giáo dục, học sinh và các điều kiện phục
vụ cho hoạt động GD VHDT nói riêng và các hoạt động giáo dục nói chung
- Kiểm tra, đánh giá sẽ giúp hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên có trách nhiệm GD VHDT cho học sinh phát hiện các sai sót, kịp thời điều chỉnh các tác động quản lý để đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn Đồng thời kiểm tra cũng giúp Hiệu trưởng phát hiện những cách làm hay, các giá trị văn hóa dân tộc tiêu biểu có ảnh hưởng tốt trong cộng đồng để nhân rộng Đồng thời qua kiểm tra cũng loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu vẫn tồn tại trong cuộc sống của học sinh, của cộng đồng
- Tiến hành kiểm tra hoạt động GD VHDT tại trường THPT:
+ Nghe báo cáo của các bộ phận, các thành viên của Ban chỉ đạo xây dựng nội dung GD VHDT
Trang 36+ Quan sát thực tế, lượng giá các sản phẩm đã thực hiện được, ví dụ như việc sưu tầm, giữ gìn, nghiên cứu, giới thiệu các kiểu kiến trúc, trang phục, nhạc
cụ của các dân tộc thiểu số
- So sánh kết quả đạt được với yêu cầu, tiêu chuẩn để kết luận về hiện trạng của đối tượng được kiểm tra Chỉ ra các sai lệch và phân tích các nguyên nhân sai lệch Đi đến đánh giá chính thức về đối tượng được kiểm tra
- Lập kế hoạch, chương trình khắc phục sai lệch nếu có, ví dụ như tổ chức các hoạt động duy trì phong tục tập quán lành mạnh của các dân tộc thiểu số không cẩn thận sẽ duy trì cả những tập quán lạc hậu, những hủ tục cần loại bỏ trong cuộc sống hiện tại
- Tiến hành khắc phục các sai lệch nhằm đưa bộ máy hoạt động tốt hơn Đây là hoạt động cần thiết để công tác kiểm tra việc GD VHDT phát huy tác dụng
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quá trình hoạt động giáo dục
văn hóa dân tộc ở trường THPT
1.5.1 Yếu tố chủ quan
Việc tuyên truyền cho các thế hệ học sinh dân tộc biết tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc VHDT luôn luôn được chính gia đình, dòng họ giáo dục Bên cạnh đó khi các em đến trường cũng được các thầy cô giáo dục nên cơ bản các
em cũng có ý thức trong việc giữ gìn bản sắc VHDT mình
Song bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận học sinh chưa nhận thức đầy đủ về
ý nghĩa, mục đích của việc giữ gìn bản sắc VHDT mình Một số bộ phận học sinh coi VHDT của mình là điều xấu hổ nên tìm cách chối bỏ, cố gắng học đòi theo một hướng khác nhằm thể hiện bản thân
Sự phát triển nhanh chóng của các mặt kinh tế, xã hội ở các vùng đồng
bào dân tộc thiểu số do sự tập trung đầu tư các chương trình dự án của nhà nước
đã tạo nên các giá trị văn hoá mới Tuy vậy quá trình này cũng làm cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt là lớp trẻ du nhập lối sống không lành mạnh, xa lạ với văn hoá truyền thống của dân tộc như tư tưởng hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa vào các tệ nạn xã hội Và dẫn đến xu hướng không thiết tha,
Trang 37mặn mà với các hoạt động văn hóa dân gian truyền thống, bản sắc văn hoá của mỗi tộc người, hay sự đồng hóa tự nhiên theo xu hướng "Kinh hóa" là một thực trạng khó cưỡng nổi trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số.
Từ nhận thức đơn giản như vậy đưa đến nề nếp học tập, sinh hoạt mang đậm dấu ấn của dân tộc mình chưa được coi trọng Nhận thức chưa đầy đủ thì thái độ thực hiện cũng không thể đáp ứng các yêu cầu thiết yếu của nhà trường trong việc duy trì những nét tích cực học tập và sinh hoạt mang đậm nét tiêu biểu của dân tộc
Chính vì thế việc củng cố nhận thức và hành động của học sinh dân tộc trong việc giữ gìn VHDT ở các trường THPT có nhiều HS DTTS nói riêng và trong các nhà trường THPT nói chung cần được quan tâm
Bên cạnh đó các kiến thức khoa học kiến thức khoa học kĩ thuật được truyền bá để phục vụ đời sống và sản xuất, phương tiện truyền thông hiện đại có ngày càng nhiều kể cả vùng sâu vùng xa làm thay đổi cuộc sống của đồng bào Tuy vậy, chính những biến đổi đó đã làm cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng bị lệ thuộc vào cuộc sống hiện đại, thụ động hơn so với truyền thống Họ chờ đợi vốn từ nhà nước để sản xuất, mua quần áo may sẵn thay cho cách ăn mặc truyền thống, chữa bệnh bằng thuốc tây kể cả các bệnh thông thường, tri thức bản địa bị xem nhẹ Đặc điểm này của người dân trong cộng đồng làm ảnh hưởng đến các hoạt động giữ gìn bản sắc VHDT
1.5.2 Yếu tố khách quan
Biến đổi về cơ cấu dân cư: Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống giao thông và các quan hệ kinh tế kéo theo sự thu hút dân cư từ miền xuôi đến làm ăn sinh sống và buôn bán tại các bản làm cơ cấu nhân khẩu trong các vùng tăng lên rất nhiều, cơ cấu dân cư tộc người đa dạng hơn, mức độ xen kẽ giữa các dân tộc gia tăng kéo theo những biến đổi về văn hoá vùng Sự biến đổi về cơ cấu dân cư tạo điều kiện để các dân tộc tăng cường hiểu biết, mở rộng giao lưu văn hoá với nhau nhưng cũng tạo ra xu hướng đồng hoá tự nhiên về văn hoá
Trang 38Đa phần gia đình của học sinh khi đã vào nhà trường họ có suy nghĩ đơn giản là giao trách nhiệm giáo dục hoàn toàn cho nhà trường Vì thế nhiều gia đình học sinh hầu như không liên lạc với nhà trường, không có sự kiểm tra việc học tập, sinh hoạt của con em mình Cho nên công tác phối kết hợp trong giáo dục toàn diện của nhà trường gặp khó khăn
Đội ngũ giáo viên yếu về chuyên môn, chính sách đãi ngộ, sử dụng đối với đội ngũ giáo viên dạy ở các vùng dân tộc thiểu số còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo ra được động lực về vật chất và tinh thần để khuyến khích, thu hút giáo viên
có tâm huyết với nghề, với sự phát triển sự nghiệp giáo dục ở các vùng dân tộc
Một vấn đề luôn là câu hỏi đối với đồng bào các dân tộc thiểu số là “học
để làm gì”? Điều này có liên quan trực tiếp đến việc các gia đình có quyết định cho con đi học hay không Chính vì đa số đồng bào các dân tộc thiểu số còn chưa nhận thức thấy lợi ích của việc học tập, nên họ chưa quan tâm cho con em
đi học
Bên cạnh đó cha mẹ HS DTTS còn mang tâm lý chiều theo ý thích của con nên chưa có sự giáo dục trong chính gia đình về bản sắc VHDT của mình
mà để con tự do lựa chọn dẫn đến việc các em học tập chưa có sự lựa chọn
Lối sống công nghiệp với các đặc trưng như nhanh hơn, có tổ chức hơn
đã làm thay đổi lối sống yên ả, chậm rãi vốn có ở các bản, mường truyền thống
và làm cho các cá nhân năng động hơn, sáng tạo hơn nhưng cũng bon chen, tính toán, lo làm ăn kinh tế nhiều hơn nên ít có thời gian tham gia hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiếu số
Trang 39Tiểu kết chương 1
Luận văn đã đề cập đến các khái niệm cơ bản như quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, quản lí trường THPT; văn hóa; văn hóa dân tộc, quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường THPT Quản lí hoạt động giáo dục
VH dân tộc ở trường THPT được luận văn nghiên cứu thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí của hiệu trưởng trường THPT là: Quản lý mục tiêu giáo dục VHDT, xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục VH dân tộc, quản lý nội dung, hình thức giáo dục VH dân tộc, tổ chức hoạt động giáo dục VHDT và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt động giáo dục VHDT
Đây là một vấn đề rộng lớn và khó Vì vậy, phạm vi tập trung chủ yếu vào nghiên cứu thực trạng nhận thức, lối sống và hành vi của HS các trường khu vực miền núi xung quanh chủ đề về GD văn hóa dân tộc Trên cơ sở nghiên cứu bước đầu này, tác giả đề xuất các giải pháp giáo dục, các kiến nghị để xây dựng chương trình đào tạo theo hướng lồng ghép, tích hợp, và chương trình ngoại khoá để giáo dục HS Trước hết, cần hình thành cho HS kĩ năng phát hiện, biết khai thác những nội dung chứa đựng bản sắc văn hoá dân tộc trong nội dung giáo dục nhà trường để học tập, để sau khi ra trường học sinh có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong cuộc sống
Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung và giáo dục VHDT cho học sinh các trường THPT trong thời kỳ hội nhập thì vấn đề giáo dục VHDT cho các em là một việc làm cần thiết Các em tự tin trong cuộc sống song vẫn giữ được nét đẹp trong truyền thống của dân tộc mình thì mỗi người cán bộ quản lý nhà trường cần phải có các biện pháp quản lý giáo dục VHDT cho học sinh hiệu quả, khả thi hơn Việc nghiên cứu lý luận có tính
hệ thống và tính thực tiễn là tiền đề khoa học để nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục VHDT và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh dân tộc trường THPT Phan Đình Giót tỉnh Điện Biên Bên cạnh đó Các quan điểm về dân tộc, chính sách dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước ta để vận dụng và có ý nghĩa soi chiếu, lý giải các hiện tượng văn hóa.Vấn đề này sẽ tiếp tục được làm rõ ở chương 2 và chương 3
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC
Ở TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH GIÓT TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên
2.1.1 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên
Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, miền Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây giáp với các tỉnh Lai Châu và Sơn La của Việt Nam, Vân Nam của Trung Quốc ở phía Bắc, Phongsali của Lào ở phía Tây
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh hiện nay là 9.554.097 km2 Tỉnh Điện Biên có 21 dân tộc sinh sống, chủ yếu là người Thái (~38%), tiếp đó
là H'Mông (~35%) và Kinh (~20%) [7 tr,1]
Do diện tích tự nhiên rộng, địa hình lại bị chia cắt nên giao thông không thuận tiện, mặt khác, dân cư phân bố rải rác, điều kiện kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các vùng, thu nhập bình quân đầu người chỉ vào khoảng 450USD/năm Vì vậy, Điện Biên hiện là tỉnh còn rất khó khăn Bên cạnh đó mảnh đất này thường xuyên phải hứng chịu thiên tai: Lũ quét, động đất, đây cũng là yếu
tố khiến đời sống của đồng bào DTTS nơi đây điều kiện kinh tế vốn đã nghèo lại còn nghèo hơn
Tuy nhiên Điện Biên có di tích lịch sử Điện Biên Phủ, khu chỉ huy chiến dịch Mường Phăng, là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá - lịch sử Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ gồm:
Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ - Mường Phăng; các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập; Các đồi A1, C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờcát)
Quần thể di tích này là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du lịch không những của tỉnh Điện Biên, của Tây Bắc mà còn của cả nước Điện Biên còn có tiềm năng văn hóa phi vật thể, với 21 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng rất đa dạng, điển hình là dân tộc Thái, dân