1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên

124 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng mai một về BSVH của các dân tộc thiểu số còn biểu hiện ở kiến trúc về nhà ở; những tập tục, nghề nghiệp truyền thống, văn hóa ẩm thực, sinh hoạt văn hóa dân tộc… Xu hướng khôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM QUỐC CƯỜNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM QUỐC CƯỜNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Xuân Hải

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sẽ rất khó để hoàn thành tốt đề tài luận văn này nếu không có sự giúp đỡ tích cực của nhiều cá nhân, tập thể Trước hết, tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban lãnh đạo trường Đại học Giáo dục, Khoa quản lý giáo dục, Phòng Đào tạo và các thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khoá 13 (2013 – 2015)

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Xuân Hải đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tác giả trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên; Ủy ban nhân dân huyện Mường Ảng, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Ảng và các đồng chí trong Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Xin được cảm ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng và tâm huyết trong quá trình nghiên cứu cũng như thực hiện luận văn Tuy nhiên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được ý kiến góp ý của quý thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Phạm Quốc Cường

Trang 4

ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……… ……….… ……… i

Danh mục chữ viết tắt……… ……… ……….… ii

Mục lục iii

Danh mục bảng……… ……… ……… ……… vii

Danh mục hình… ……… ……….……… ….………viii

MỞ ĐẦU i

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở TRƯỜNG PTDTNT 6

1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Trong nước: 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 8

1.2.1 Văn hóa 8

1.2.2 Văn hóa dân tộc 9

1.2.3 Bản sắc văn hóa dân tộc (BSVH dân tộc) 9

1.2.4 Giáo dục văn hóa dân tộc 11

1.2.5 Quản lý và quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT 11

1.3 Những đặc điểm về giáo dục văn hóa dân tộc với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở trường PTDTNT 17 1.3.1 Đặc điểm học sinh trường PTDTNT 17

1.3.2 Đặc điểm hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT 18

1.4 Một số nét văn hóa vùng Tây Bắc và văn hóa dân tộc Thái-Mông 19 1.4.1 Một số nét khái quát về vùng đất Tây Bắc và văn hóa Tây Bắc 19

1.4.2 Văn hóa Thái, Mông 21

1.4.3 Hoạt động giáo dục Văn hóa Thái - Mông 23

1.5 Một số vấn đề lý luận của quản lý các hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT 24 1.5.1 Quản lý các thành tố của một hoạt động giáo dục VHDT 24

Trang 6

1.5.2 Nhiệm vụ giáo dục VHDT trong trường PTDTNT 25

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT 27

1.6.1 Yếu tố khách quan 27

1.6.2 Yếu tố chủ quan 28

1.7 Vận dụng các chức năng quản lý vào QL hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT 29

1.7.1 Kế hoạch hóa việc GD VHDT 29

1.7.2 Tổ chức các hoạt động GD VHDT 30

1.7.3 Chỉ đạo hoạt động GD VHDT 31

1.7.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHDT 31

1.7.5 Triển khai có hiệu quả các chức năng quản lí trong GD VHDT trong nhà trường 32

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở TRƯỜNG PTDTNT THPT HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN 34

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 34

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 34

2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục của huyện Mường Ảng 35

2.2 Đặc điểm tình hình trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng 35

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 35

2.2.2 Đặc điểm học sinh trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng 37

2.3 Thực trạng hoạt động GD VHDT và quản lý hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng 38

2.3.1 Một vài nét về khảo sát thực trạng 38

2.3.2 Thực trạng hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng 39

Trang 7

2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện

Mường Ảng 48

2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng 57

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở TRƯỜNG PTDTNT THPT HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN 64

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 64 3.1.1 Tính đồng bộ và hệ thống 64

3.1.2 Tính kế thừa 64

3.1.3 Tính thực tiễn 65

3.1.4 Tính hiệu quả 65

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 66 3.2.1 Nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về GD VHDT cho những người liên quan 66

3.2.2 Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động GD VHDT hướng vào mục tiêu bảo tồn những giá trị truyền thống 69

3.2.3 Thiết kế nội dung và tài liệu phục vụ cho các hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc 70

3.2.4 Chỉ đạo việc tích hợp giáo dục văn hóa dân tộc qua các môn học, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khóa 73

3.2.5 Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GD VHDT 79

3.2.6 Coi trọng công tác kiểm tra, đánh giá trong hoạt động GD VHDT để thúc đẩy hoạt động GD VHDT đạt mục tiêu 81

3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82

3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 84 3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 84

Trang 8

3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 84

3.3.3 Cách thức tiến hành khảo nghiệm 84

3.3.4 Các biện pháp được khảo nghiệm 84

3.3.5 Nội dung và quy trình khảo sát 85

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 97

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và

học sinh về hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh 40

Bảng 2.2 Thực trạng về thái độ, hành vi của học sinh đối với việc giữ gìn BSVHDT43 Bảng 2.3 Khảo sát về mức độ cần thiết của các nội dung GD VHDT ở trường PTDTNT 45

Bảng 2.4 Nhà trường đã GD VHDT cho HS thông qua các hình thức chủ yếu 47

Bảng 2.5 Mức độ sử dụng những phương pháp để GD VHDT 48

Bảng 2.6 Hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động GD VHDT của lãnh đạo (Ban giám hiệu) nhà trường 49

Bảng 2.7 Các lực lượng phối hợp tham gia tổ chức các hoạt động GD VHDT của nhà trường 50

Bảng 2.8 Sự phối hợp của ban lãnh đạo nhà trường với các lực lượng khác khi tổ chức hoạt động GD VHDT 51

Bảng 2.9 Thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động GD VHDT 52

Bảng 2.10 Kết quả đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHDT của ban lãnh đạo nhà trường 54

Bảng 2.11 Khảo sát cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động GD VHDT 55

Bảng 2.12 Khảo sát mức độ quản lý cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động GD VHDT 56

Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHDT 57

Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT 85

Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT 85

Bảng 3.3 So sánh tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT 87

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ so sánh nhận thức của các đối tượng về mức độ quan trọng đối với công tác GD VHDT cho học sinh 41 Hình 2.2 Thực trạng về thái độ, hành vi của học sinh đối với việc giữ gìn BSVHDT (mức độ thường xuyên) 44 Hình 2.3 Biểu đồ so sánh các đối tượng về mức độ rất cần thiết của các nội dung

GD VHDT cho học sinh trường PTDTNT 46 Hình 2.4 Sự phối hợp của ban lãnh đạo nhà trường với các lực lượng khác khi tổ chức hoạt động GD VHDT 51 Hình 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHDT (biểu thị mức độ ảnh hưởng nhiều) 59 Hình 3.1 Biểu đồ tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT 88

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, các dân tộc đã tạo cho mình một bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng

Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển và sự trường tồn của một dân tộc, văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Sự hưng thịnh, phát triển bền vững của một quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc vào khả năng học tập của đông đảo các tầng lớp nhân dân, khả năng hội nhập mà vẫn giữ vững bản sắc văn hoá (BSVH) dân tộc, hoà nhập mà không hoà tan

Giữ gìn, phát huy BSVH dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính

và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao" BSVH dân tộc, các giá trị truyền thống của các dân tộc là những vấn đề căn cốt

nhất, nền tảng nhất để làm nên nét riêng của mỗi dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa các dân tộc

Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế và trong nước đang có nhiều biến đổi, tác động không nhỏ đến BSVH truyền thống Việt Nam nói chung và giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số ở Điện Biên nói riêng

Điều rất dễ nhận thấy hiện nay, BSVH của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên đang có những biểu hiện phôi phai Biểu hiện thứ nhất là việc bảo tồn, phát huy tiếng nói và chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số Một bộ phận học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, kể cả một số người trưởng thành đã “quên” hoặc ít sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Biểu hiện thứ hai là về trang phục, trừ ngày Tết, lễ hội, một bộ phận đáng kể đồng bào dân tộc thiểu số ngày thường ít khi mặc trang phục

Trang 12

truyền thống Biểu hiện thứ ba là việc bảo tồn, phát huy những hình thức sinh hoạt văn hóa dân tộc thiểu số truyền thống như lễ hội, văn nghệ, trò chơi dân gian… nhiều nơi không còn duy trì được Tình trạng mai một về BSVH của các dân tộc thiểu số còn biểu hiện ở kiến trúc về nhà ở; những tập tục, nghề nghiệp truyền thống, văn hóa ẩm thực, sinh hoạt văn hóa dân tộc…

Xu hướng không thiết tha, mặn mà với các hoạt động văn hóa dân gian truyền thống, bản sắc văn hoá của mỗi tộc người, hay sự đồng hóa tự nhiên theo xu hướng

"Kinh hóa" là một thực trạng khó cưỡng nổi trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu

số ở tỉnh Điện Biên, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số; biểu hiện chuộng lối sống phương Tây, có tư tưởng “sùng ngoại”, tiếp thu không chọn lọc những giá trị văn hoá từ nước ngoài làm ảnh hưởng mai một các giá trị văn hoá truyền thống, BSVH của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên

Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc đang là nhiệm vụ cấp bách trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Đó là nền tảng, là cơ sở để đất nước ta hòa nhập sâu rộng với thế giới nhưng không hòa tan, vẫn phát huy được niềm tự hào của dân tộc, BSVH riêng của con người

và đất nước Việt Nam

Vì vậy, cần phải tiến hành giáo dục thường xuyên, liên tục, dưới nhiều hình thức, đặc biệt là giáo dục trong nhà trường, để các thế hệ học sinh nhận thức được: Giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc là sự nghiệp chung và do Đảng lãnh đạo, trong đó thế

hệ trẻ đóng vai trò rất quan trọng Thế hệ trẻ nói chung và học sinh nói riêng phải hiểu

rõ ý nghĩa BSVH dân tộc là thiêng liêng, cao quý, là tài sản vô giá, là linh hồn, cốt cách của dân tộc đã được hun đúc, tạo dựng qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch

sử mà cha ông ta đã phải trả bằng máu và nước mắt BSVH dân tộc Việt Nam là biểu trưng sự trường tồn của giống nòi, là cầu nối giữa quá khứ - hiện tại - tương lai của dân tộc, mãi mãi là một tiêu chí cơ bản để phân biệt dân tộc Việt Nam với dân tộc khác, tộc người này với tộc người khác

Mặt khác giáo dục BSVH các dân tộc thiểu số ở Điện Biên trong nhà trường còn có ý nghĩa khai thác, phát huy tri thức địa phương trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Trường Phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) trung học phổ thông (THPT) huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên có nhiệm vụ đặc biệt là giảng dạy chương trình phổ

Trang 13

thông trung học cho học sinh dân tộc trong huyện, đào tạo cán bộ nguồn cho địa phương Bên cạnh các nội dung giáo dục khác, nhà trường rất quan tâm đến công tác quản lý giáo dục giữ gìn BSVH truyền thống của các dân tộc cho học sinh, đây là một nội dung quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công trong sự nghiệp giáo dục chung của nhà trường Tuy nhiên, việc giáo dục bảo tồn BSVH dân tộc trong trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng nói riêng và trong các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung hiện nay chưa toàn diện, chưa phù hợp thực tế ở địa phương và chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng và Nhà nước

Với mong muốn góp sức mình trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên thông qua các nhà trường PTDTNT, để tạo nên bức tranh tổng thể, đa sắc màu của 54 dân tộc anh

em trong toàn quốc, tác giả luận văn đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên”

2 Mục đích nghiên cứu

Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc

và việc quản lý hoạt động hoạt động này ở trường PTDTNT để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

3 Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện

Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Giới hạn thời gian: khảo sát thực trạng trong giai đoạn 2012-2015

- Giới hạn nội dung: đi sâu vào giáo dục việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu xây dựng và phối hợp thực hiện một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên phù

Trang 14

hợp với điều kiện thực tế của địa phương thì sẽ góp phần phát triển bền vững trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, đáp ứng yêu cầu về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống một số vấn đề lí luận có liên quan đến hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc và việc quản lý hoạt động đó ở trường PTDTNT

6.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lí các hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở

trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng và một số trường PTDTNT trong tỉnh Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí phát triển các hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

6.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường

PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và nhà nước về văn hóa dân tộc và giữ gìn BSVH dân tộc;

- Sưu tầm giáo trình, đề tài khoa học, sách, báo, các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận của luận văn

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra giáo dục, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

7.3 Nhóm các phương pháp khác: Thống kê toán học, phương pháp so sánh, phương pháp dự báo

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở

trường PTDTNT

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường

PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường

Trang 15

PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

Trang 16

Thời kỳ xây dựng CNXH ở Liên Xô và một số nước XHCN Đông Âu đã có những nghiên cứu của một số tác giả liên quan đến đề tài trên quan điểm triết học như:

Tác giả A.F.Dashdamirov với tác phẩm "Dân tộc và cá nhân" (NXB "ELM" BaKu

1976 - Bản dịch Tiếng Việt) Tác phẩm đề cập tới quan hệ dân tộc và cá nhân, xem xét quan hệ cá nhân với tính cách là chủ thể các quan hệ xã hội Tác giả có trình bày khái quát về cách nhìn nhận giá trị truyền thống với đặc trưng cơ bản của dân tộc đó là:

Đoàn kết dân tộc Tác giả An-phơ-rét Cô-din-gơ với tác phẩm "Dân tộc trong lịch sử

và thời đại ngày nay" (NXB Thông tin lý luận, 1985) sử dụng quan điểm duy vật lịch

sử phân tích vấn đề dân tộc, đề cập tới ý thức dân tộc và tình cảm dân tộc, giáo dục truyền thống ở mức độ khái quát Những tác giả trên tuy không đề cập sâu đến nội dung giáo dục BSVH truyền thống trong nhà trường, nhưng góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta xung quanh vấn đề giáo dục bảo tồn văn hoá dân tộc theo quan điểm học thuyết Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tại Paris - Cộng hòa Pháp (tháng 5.2010) có Hội thảo quốc tế: “Các trường văn hóa nghệ thuật trong thế giới hội nhập 2010" với chủ đề "Nền văn hóa đa dạng cho sự

đa dạng và phát triển” Tham dự Hội thảo có hơn 70 khách mời là giáo sư, tiến sĩ, các

nhà khoa học, lãnh đạo các trường văn hóa nghệ thuật (VHNT) đến từ hơn 20 nước trên thế giới Mối quan tâm chung và lớn nhất là Hội thảo đã xác định, làm rõ và khẳng định được những vấn đề quan trọng nhất trong thời đại hiện nay, đó là vấn đề giữ gìn BSVH trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển Bảo tồn tính nguyên vẹn của không gian văn hóa các dân tộc, khôi phục, tái hiện và thống nhất các truyền thống văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc trên thế giới Vấn đề giáo

Trang 17

dục trong văn hóa và các vấn đề thiết lập chiến lược hiệu quả để bảo tồn văn hóa dân tộc và truyền thống giáo dục trong không gian thế giới

1.1.2 Trong nước:

Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến do đặc điểm của hệ thống giáo dục và nội dung giáo dục, nên chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề giáo dục bản tồn, phát huy BSVH dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, cũng như ở Điện Biên nói riêng

Thời kỳ thực dân phong kiến, mặc dù đã có hệ thống trường học do chế độ thực dân xây dựng với mục tiêu của giáo dục đào tạo là phục vụ mục đích xâm lược và chính sách cai trị của chế độ thực dân Vì thế việc giáo dục bảo tồn BSVH các dân tộc nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng trong trường học là đi ngược lại chính sách nô dịch văn hoá bản địa của chế độ thực dân phong kiến, nên chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo dục bảo tồn BSVH truyền thống trong nhà trường Chỉ có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm văn hóa của các dân tộc nhằm mục đích phục vụ cho chính sách "chia để trị’’của chế độ thực dân phong kiến

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người đã biết kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục bảo tồn, phát huy BSVH, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là một kho tàng lý luận có tính thực tiễn vô giá để lại cho Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc hội nhập và thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay

Vào thời kỳ đất nước đổi mới, nhất là những năm gần đây có nhiều công trình,

đề tài khoa học, hội thảo khoa học về lĩnh vực văn hóa đã công bố liên quan đến đề tài với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Có thể điểm tên một số nhà khoa học và công trình, đề tài nghiên cứu dưới đây:

GS Trần Văn Giàu với "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (NXB KHXH, HN, 1980) GS Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang với "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay" (Chương trình KHCN cấp Nhà nước đề tài

KX.07-02, gồm 2 tập xuất bản năm 1994 và 1996) PGS.Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, với

tác phẩm: "Tìm về BSVH Việt Nam"(NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); “Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD,1997’’ đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng

Trang 18

cho ngành văn hóa học Tác phẩm "BSVH Việt Nam" của GS Phan Ngọc (NXB Văn học, 2002) Tác giả Trần Mạnh Thường có tác phẩm "Việt Nam văn hóa và giáo dục –

NXB VH-TT, 2010 Với quan điểm dân tộc học, GS.TS Phan Hữu Dật có tác phẩm

"Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam" (NXB CTQG, HN, 2004) Tác giả Nguyễn Hồng Hà "Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ " (NXB

VHTT, HN, 2001); Tác giả Nguyễn Trung Hoà (Trung tâm nghiên cứu phát triển các

dân tộc thiểu số và miền núi) với tham luận: “Tri thức bản địa bảo tồn và phát triển chữ, tiếng Thái vùng Tây Bắc” Và mới đây nhất là đề tài nghiên cứu khoa học “Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên” của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, 2013)

Tóm lại, điểm qua lịch sử vấn đề nghiên cứu có thể khẳng định rằng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc (VHDT) đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục quan tâm, tìm hiểu và đã đề xuất được nhiều biện pháp quản

lý bảo đảm tính khoa học, hiệu quả và khả thi Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT Kế

thừa và phát triển các nội dung những người đi trước đã làm được, đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên” được tổ chức triển khai nghiên cứu với mục đích sẽ góp phần tìm ra các

biện pháp quản lý hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT THPT huyện Mường Ảng nói riêng, cũng như các cơ sở giáo dục trong hệ thống các trường PTDTNT thuộc tỉnh Điện Biên nói chung

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1 Văn hóa

Văn hóa là khái niệm phức tạp, cho đến nay vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau

về nội hàm của khái niệm “Văn hóa” Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng “Văn hóa”

là do con người tạo ra

Hồ Chí Minh đã nêu ra một định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đaọ đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt

Trang 19

hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm mục đích thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn” [11, tr.243]

Văn hóa là sự hợp nhất giá trị sáng tạo của con người trải qua nhiều thế hệ, bao gồm nhiều lĩnh vực, đa dạng về sản phẩm Sản phẩm văn hóa tồn tại theo hình thức vật chất hoặc phi vật chất Sản phẩm văn hóa không ngừng được con người sáng tạo, lưu giữ, vận dụng và phát triển

1.2.2 Văn hóa dân tộc

Mỗi dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển đều tạo dựng cho mình những giá trị văn hóa riêng Giá trị văn hóa dân tộc là kết quả ứng xử của cộng đồng dân tộc trước điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh Giá trị văn hóa dân tộc xuất hiện vừa là kết quả tất yếu của quá trình vận động tồn tại, vừa là hệ quả của những sáng tạo đáp ứng nhu cầu cuộc sống, có tác dụng chi phối các hoạt động của cộng đồng, được cộng đồng lưu giữ, trân trọng mà hình thành nên các giá trị truyền thống của chính dân tộc

đó Giá trị văn hóa dân tộc trở thành căn cứ quan trọng để nhận diện một dân tộc và cũng là cơ sở để khẳng định sự tồn tại một dân tộc [11, tr.244]

Văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hoá Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với xu thế hội nhập và phát triển, những luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là nguy cơ phai mờ, biến dạng bản sắc dân tộc Do vậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài

1.2.3 Bản sắc văn hóa dân tộc (BSVH dân tộc)

Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với văn hóa thành cụm từ “Bản sắc

văn hoá” và có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa Trong BSVH, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu

tượng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và tính biến đổi

Trang 20

“Bản sắc văn hoá dân tộc” là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác Xét về bản chất, BSVH dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất” giữa dân tộc này

với dân tộc khác Tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Venise,

F.Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một định nghĩa khái niệm văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh tính đặc thù của bản sắc văn hoá dân tộc: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [20, tr.798] Trong quan hệ quốc tế, BSVH dân tộc được xem như cái “thẻ căn cước”, là cốt cách của mỗi dân tộc thể hiện trên mọi phương diện

Trong quá trình tồn tại và phát triển, BSVH là yếu tố mang sức mạnh tinh thần

dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi vì theo tác giả Trần Văn Bính thì “bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng

cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại

và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển” và tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện sự khác nhau giữa tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác BSVH nhìn một cách tổng thể của bất kỳ dân tộc nào, đều gắn bó với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của chính dân tộc đó [33, tr.20]

Nhà thơ Tố Hữu đã khẳng định: “Trong đồng bào các dân tộc thiểu số, BSVH biểu hiện đậm đà nhiều mặt Dân tộc nào cũng có tinh thần dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu, tính chân thật thuỷ chung, lòng thương người mến khách Ở nhà sàn, ăn cơm nếp, uống rượu cần Đội mũ, khăn, áo, quần nhiều màu sắc, đàn hát, nhảy múa đông người… Những đức tính và nét sinh hoạt đó thường nổi bật trong đời sống của đồng bào ở miền núi” [24, tr.26]

Nhìn nhận về giá trị bản sắc văn hoá Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam đã

tổng kết tại Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII: “Bản sắc dân tộc bao gồm

những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý,

Trang 21

đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống BSVH dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo ”[3, tr.7].

Tiến trình lịch sử phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam cho thấy các giá trị BSVH của từng tộc người, từng dân tộc không phải ngẫu nhiên được hình thành mà

đó là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh địa lý, lịch sử và chính trị Các giá trị cốt lõi của BSVH của mỗi dân tộc đã làm nên BSVH Việt Nam Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam

Tóm lại BSVH dân tộc là một khái niệm không dễ xác định, bởi vì BSVH dân tộc có nhiều lớp khái niệm với các tầng nội hàm khác nhau Song chúng ta có thể khẳng định rằng BSVH dân tộc là hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống của dân tộc tạo thành những đặc trưng tiêu biểu, tiến bộ, riêng biệt, không thể trộn lẫn nền văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác BSVH dân tộc biểu hiện cho sức sống, sự sáng tạo và phát triển của dân tộc đó Trong khuôn khổ của luận văn, BSVH dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là những đặc trưng tiêu biểu, tiến bộ, riêng biệt của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên - mảnh đất lịch sử anh hùng của Tổ quốc

1.2.4 Giáo dục văn hóa dân tộc

Giáo dục (GD) VHDT là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất, năng lực, trí thức cần thiết về giá trị vật chất và tinh thần, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, ngôn ngữ của một dân tộc hướng tới sự phát triển toàn diện của người học trong đời sống văn hóa xã hội của chính dân tộc đó Chính vì vậy, quan tâm đến việc GD VHDT là một chủ trương đúng đắn của

Đảng, Nhà nước

1.2.5 Quản lý và quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc ở trường PTDTNT

1.2.5.1 Quản lý

a) Khái niệm "quản lý"

Trong khoa học quản lý, khái niệm “quản lý” được coi là một trong những khái niệm công cụ đặc biệt quan trọng Vì thế, từ xưa đến nay, từ phương đông đến phương tây, các nhà khoa học quản lý đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lý Có thể kể đến một

Trang 22

số khái niệm tiêu biểu sau:

Theo Fayol: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt

động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [23,tr.09]

Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006) cho rằng

“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [22, tr.12]

Theo Phạm Viết Vượng (2003), “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội

và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [35, tr.40]

Các khái niệm trên về quản lý tuy được trình bày khác nhau về ngôn từ, nhưng chúng có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

- Hoạt động quản lý phải phù hợp với quy luật khách quan

b) Chức năng quản lí

Quản lý (QL) là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý- trong một tổ chức - bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: " Kế hoạch hóa - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra" [22, tr.6-8] Có thể khái quát 4 chức năng như sau:

Kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt

nhất để thực hiện mục tiêu Thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ những hoạt

Trang 23

động vào công tác kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu

Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người,

những hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách hợp lý

Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực

hiện kế hoạch đã đề ra

Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra trạng thái của hệ thống, kiểm tra kết

quả thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đề ra, kiểm tra còn nhằm phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa trong quá trình thực hiện kế hoạch

Thông tin được coi là sợi dây liên kết cả 4 chức năng của quản lý

1.2.5.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD) là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt những mục tiêu giáo dục đề ra Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của giáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra Đối tượng quản lý giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất kỹ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác động của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra

Theo Trần Kiểm, xét về cấp độ có thể hiểu khái niệm QLGD như sau: Ở cấp vĩ

mô, “quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển GD, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [29, tr.10] Ở cấp vi mô, “quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [29, tr.12]

1.2.5.3 Quản lý trường PTDTNT

a) Trường PTDTNT

Trang 24

Tại Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT ban hành kèm theo Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 25/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chức năng, nhiệm vụ của trường PTDTNT như sau:

Trường PTDTNT là loại hình trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú; trường PTDTNT được nhà nước thành lập nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho vùng dân tộc miền núi Học sinh trường PTDTNT là thanh niên ưu

tú của các dân tộc, được nuôi dạy và đảm bảo các điều kiện để phát triển toàn diện Trong tương lai họ là cán bộ người dân tộc, là lực lượng lao động có trình độ văn hóa

và khoa học kỹ thuật trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi

Trường PTDTNT được áp dụng một số chính sách ưu tiên như: đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách, lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi và dạy học sinh Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước

Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều lệ trường trung học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường PTDTNT còn thực hiện một số nhiệm

vụ như: tuyển sinh đúng đối tượng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao hàng năm; tổ chức giáo dục cho học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, BSVH các dân tộc thiểu số và đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; giáo dục lao động và hướng nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, giáo dục học sinh ý thức phục vụ quê hương sau khi tốt nghiệp; tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho học sinh; có kế hoạch theo dõi

số học sinh đã tốt nghiệp nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục

Trường PTDTNT được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị như các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông theo quy định đối với trường chuẩn quốc gia; ngoài ra còn được đầu tư khu nhà ở nội trú, nhà ăn cho học sinh; nhà công vụ cho giáo viên; nhà sinh hoạt, giáo dục văn hoá dân tộc với các trang thiết bị kèm theo; phòng học và trang thiết bị giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông

Ngoài các tổ chức theo quy định của Điều lệ trường trung học, trường PTDTNT cấp tỉnh được thành lập thêm tổ Giáo vụ và Quản lý học sinh, tổ Quản trị và Đời sống, trường PTDTNT cấp huyện được thành lập thêm Tổ Quản lý nội trú để phục vụ cho

Trang 25

các hoạt động giáo dục của trường Mỗi lớp học của trường PTDTNT có không quá 35 học sinh

Trường PTDTNT thực hiện việc tuyển sinh theo quy định của Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; đồng thời Sở Giáo dục và Đào tạo cấp tỉnh căn cứ vào quy hoạch đào tạo cán bộ của địa phương, xây dựng kế họach tuyển sinh của trường PTDTNT cấp tỉnh và cấp huyện trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định Căn cứ quy hoạch đào tạo và sử dụng cán bộ của địa phương, trường PTDTNT có kế hoạch hướng nghiệp và phân luồng học sinh trong quá trình đào tạo

Trường PTDTNT thực hiện kế hoạch giáo dục theo mục tiêu, chương trình của các cấp học phổ thông tương ứng, có bổ sung kiến thức về lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, văn hoá dân tộc thiểu số và địa phương Thực hiện giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông: dạy nghề ngắn hạn, nghề truyền thống phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội góp phần đào tạo cán bộ ở địa phương; tổ chức các hoạt động tự học sau giờ lên lớp, lao động cải thiện điều kiện sống; giáo dục học sinh tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, xây dựng nếp sống văn minh cho học sinh[9]

b) Quản lý trường PTDTNT

Trường PTDTNT là loại hình trường chuyên biệt nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, vì thế việc quản lý nhà trường PTDTNT được thực hiện theo sự phân cấp quản lý như sau:

- Trường PTDTNT cấp huyện do phòng GD&ĐT quản lý

- Trường PTDTNT cấp tỉnh và trường PTDTNT cấp huyện có mở cấp THPT do

Sở GD&ĐT quản lý

- Trường PTDTNT trực thuộc Bộ do Bộ chủ quản quản lý [9,tr.4]

Quản lí các trường PTDTNT nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo đúng kế hoạch và đạt được kết quả tốt nhất, cụ thể:

- Mục tiêu: Nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo

đúng kế hoạch và đạt được kết quả cao nhất, đặc biệt là các hoạt động giữ gìn BSVH dân tộc

- Nội dung: Thực hiện chương trình của trường phổ thông; Tổ chức hoạt động nội trú và nuôi dưỡng học sinh nội trú; Tổ chức hoạt động nội trú gồm: Hoạt động lao

động, văn hóa, thể thao Cụ thể: Lao động công ích, sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể

Trang 26

thao, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch, lễ hội, tết dân tộc, giao lưu văn hóa và các hoạt động xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy BSVH các dân tộc, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh; Nuôi dưỡng học sinh nội trú: hoạt động nuôi dưỡng bao gồm tổ chức bếp ăn tập thể đảm bảo dinh dưỡng theo đúng chế độ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe học sinh Hoạt động nuôi dưỡng thực hiện công khai dân chủ, tôn trọng phong tục tập quán tiến bộ của các dân tộc[9, tr.6]

1.2.5.4 Quản lý hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT

Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc BSVH dân tộc Việt Nam là tài sản vô giá, tinh hoa của các cộng đồng các dân tộc chung sống trên đất nước Việt Nam; là linh hồn, cốt cách của dân tộc, được hình thành, phát triển, tôi luyện, thử thách qua hàng ngàn năm xây dựng và bảo vệ đất nước; với bao biến cố thăng trầm của lịch sử, BSVH Việt Nam vẫn trường tồn và phát triển, tạo tiền đề, nền tảng tinh thần, sức mạnh để dân tộc ta vững bước, tự tin, chủ động hội nhập, giao lưu văn hóa trong khu vực và trên toàn thế giới

Quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc là công việc rất quan trọng trong việc giữ gìn BSVH dân tộc giúp người học nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp các dân tộc thiểu số nhằm mục đích nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc; tích cực tuyên truyền để mở rộng và đa dạng hóa loại hình dạy chữ, dạy tiếng dân tộc trong các nhà trường đặc biệt là các trường PTDTNT

GD VHDT là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người ho ̣c những phẩm chất, năng lực, tri thức cần thiết về những giá trị vật chất và tinh thần , các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn , kinh nghiệm ứng xử , lối sống, tâm thức, ngôn ngữ của mô ̣t dân tộc hướng tới sự phát triển toàn diê ̣n của người ho ̣c trong đời sống văn hoá - xã hội của chính dân tộc đó

GD VHDT là cách để bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc , truyền thống VHDT Con đường để VHDT được bảo tồn và phát triển tốt nhất là thông qua giáo dục Bằng con đường giáo dục, các giá trị về vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử , lối sống, tâm thức, ngôn ngữ của mô ̣t dân

Trang 27

tộc được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác mô ̣t cách cơ bản và hiê ̣u quả nhất

Trong các nhà trường, GD VHDT nhằm giúp người học nhâ ̣n thức các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc mình, có ý thức về dân tộc, về những giá trị tinh thần

và vật chất của dân tộc , về lịch sử , xã hội, về các kinh nghiệm trong cuộc sống ; hình thành ở người học những tình cảm tốt đẹp về VHDT, có tình yêu thương gắn bó vớ i cộng đồng, có ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển của quê hương , biết tôn trọng , yêu quý , giữ gìn và phát huy BSVH truyền thống của dân tộc ; hình thành nhân cách con người mới có tri thức và năng lực chuyên môn , đáp ứng công cuộc phát triển ki nh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi

Hoạt động GD VHDT có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp “trồng người”, nhưng cho đến nay, vấn đề này trong các cơ sở giáo dục vẫn mang tính tự phát Vì thế quản lý hoạt động GD VHDT là quản lý các hoạt động hình thành trong người học lòng tự hào dân tộc, mong muốn lưu giữ, làm đẹp thêm truyền thống, văn hoá bản, làng, quê hương, đất nước, đóng góp sức mình vào quá trình phát triển giá trị VHDT

1.3 Những đặc điểm về giáo dục văn hóa dân tộc với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở trường PTDTNT

1.3.1 Đặc điểm học sinh trường PTDTNT

Trường PTDTNT đào tạo học sinh là con em các dân tộc thiểu số định cư lâu dài ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội (KT- XH) đặc biệt khó khăn Đa số các em đều ngoan, biết nghe lời khuyên bảo, dạy dỗ của thầy cô và người lớn tuổi, chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất, ham thích các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động tập thể khác

Hầu hết học sinh là người dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, giáo dục chưa phát triển Năng lực nhận thức của học sinh không đồng đều, khả năng tư duy còn hạn chế, nhất là học sinh ở các lớp đầu cấp Một số ít chưa có ý thức học tập, chưa xác định được động cơ học tập

Các phong tục tập quán lạc hậu cũng có ảnh hưởng xấu nhất định đến nề nếp sinh hoạt của học sinh như: tác phong chậm chạp, ỷ lại, thích uống rượu, hút thuốc lá, yêu và kết hôn sớm, sống khá buông thả, tự do; học đòi theo phong cách sống nước ngoài (thần tượng trên phim ảnh), chưa ý thức được việc phải trân trọng BSVH của chính dân tộc mình…

Trang 28

Với những đặc thù của các em học sinh dân tộc thiểu số nêu trên, có thể thấy các em học sinh dân tộc khi hòa nhập với cuộc sống tập thể còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, chưa xác định rõ mục tiêu phấn đấu, đó chính là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến động lực học tập, rèn luyện của các em Vì vậy ngoài việc đáp ứng yêu cầu quản lý học sinh nội trú, cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) ở các trường PTDTNT còn phải đáp ứng được các năng lực khác như: có sự hiểu biết về tâm lí (tâm

lý lứa tuổi), ngôn ngữ, phong tục, tập quán đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi địa phương các em sinh sống, biết khơi dậy cho các em lòng tự hào dân tộc và hướng phấn đấu đúng đắn Giáo dục cho các em tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhau cùng tiến

bộ Đặc biệt việc giúp các em khắc phục, sửa chữa những phong tục tập quán, thói quen lạc hậu là việc làm hết sức khó khăn Điều đó đặt ra cho công tác quản lý hoạt động GD VHDT ở các trường PTDTNT phải phù hợp với đặc thù của trường nội trú, với công tác quản lý và giáo dục của nhà trường

1.3.2 Đặc điểm hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT

Văn hóa không chỉ đem lại sự giàu có cho con người mà văn hóa còn có tác dụng giáo dục con người “Văn hóa là cái đồng nghĩa với sự hoàn thiện con người về mặt đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ” Việc đưa các giá trị văn hóa vào dạy học sinh tạo nên

“các quà tặng đặc biệt” làm xuất hiện ở người học sinh “mạch nước sáng tạo vô tận sôi lên đằng sau ngưỡng cửa của tri thức” để giúp học sinh tiếp thu, hòa nhập và hoàn

thiện

Giáo dục văn hóa là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người học phẩm chất, năng lực, tri thức cần thiết về những giá trị vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, tâm thức, ngôn ngữ của một dân tộc hướng tới sự phát triển toàn diện của người học trong đời sống văn hóa – xã hội của chính dân tộc đó

Giáo dục văn hóa là cách để bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc, truyền thống VHDT Con đường để VHDT được bảo tồn và phát triển tốt nhất là thông qua giáo dục Bằng con đường giáo dục, các giá trị về vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, tâm thức, ngôn ngữ của một dân tộc được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách cơ bản và hiệu quả nhất

Trong trường PTDTNT, giáo dục VHDT là nhằm giúp học sinh người dân tộc (thiểu số) nhận thức đúng đắn, đầy đủ về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Trang 29

mình, có ý thức về dân tộc, về những giá trị tinh thần và vật chất của dân tộc, về lịch

sử, xã hội, về các kinh nghiệm trong cuộc sống; hình thành ở học sinh những tình cảm tốt đẹp về VHDT, có tình yêu thương gắn bó với cộng đồng, có ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển của quê hương, biết tôn trọng yêu quý, giữ gìn và phát huy BSVH truyền thống của dân tộc; hình thành nhân cách con người mới có tri thức và năng lực chuyên môn, đáp ứng công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi

Việc triển khai giáo dục VHDT trong trường PTDTNT, cùng với những nội dung giáo dục đặc thù khác làm nổi rõ tính chất dân tộc và nội trú của loại hình trường chuyên biệt này Ngoài ra nó cũng thiết thực góp phần vào việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tôn, phát huy BSVH của các dân tộc thiểu

số, về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Vì vậy giáo dục VHDT cho học sinh dân tộc cần linh hoạt, đa dạng, phong phú Kết hợp hài hòa giữa các bộ môn văn hóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp, tạo môi trường thân thiện cởi mở, không khiên cưỡng, gò bó

1.4 Một số nét văn hóa vùng Tây Bắc và văn hóa dân tộc Thái-Mông

1.4.1 Một số nét khái quát về vùng đất Tây Bắc và văn hóa Tây Bắc

Từ dưới xuôi đi lên, dọc tuyến Quốc lộ 6 và Quốc lộ 279 qua tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu Tây Bắc - nơi mà hoa Ban nở trắng rừng, xen lẫn với tiếng thông reo vi vút và những rừng tre vầu ống lớn, cây cao

Từ Sơn La phải vượt dãy Pha (nơi ngăn cách Trời - Đất) đến ngã ba Tuần Giáo,

rẽ trái vào Điện Biên, đi thẳng thì lên Lai Châu Từ đây ngược nữa lên phía phải để đến đất Sìn Hồ của dãy Hoàng Liên Sơn Nếu ngược nữa lên phía trái là đến Mường

Tè có bản Mường Nhé, nơi con gà gáy ba nước Việt - Lào - Trung đều nghe Hành trình vừa kể trên chính là trục dọc của vùng văn hoá Tây Bắc

Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy Thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn, hiện tại là địa bàn gồm bốn tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái Khi nói đến vùng văn hóa Tây Bắc thì phải kể một phần tỉnh Hoà Bình Năm 1955 đổi thành khu tự trị Tây Bắc, vì tên cũ Khu Tự trị Thái Mèo không phản ánh hết tên của hơn hai chục dân tộc sinh sống ở đây Chỉ kể những dân tộc tương đối đông dân ta đã có Thái (với các ngành Đen, Trắng, Đỏ) H'mông với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa, Dao (với các ngành Quấn chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ), Mường, Khơmú, Laha, Xinhmun, Tày

Trang 30

Ngoài ra, còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây, và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc Mỗi dân tộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng

Nét chung nữa trong văn hóa Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục, chăn màn, đồ dùng với các sắc độ của gam màu nóng; rất nhiều màu đỏ, xen vào với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam, tím và nếu có xanh thì phải là xanh da trời tươi Phải chăng giữa mênh mông xanh lá cây, những màu ánh lên như những điểm sáng, khẳng định sự có mặt của con người? Còn họa tiết, bố cục, phối màu của trang trí thì rất nhiều và phong phú, đến nỗi chỉ một chiếc khăn piêu Thái, một bộ nữ phục H'mông, Lô Lô, Dao đỏ, một mặt chăn Mường, một điểm màn Kháng cũng đủ tầm cỡ

để phải làm riêng một chuyên khảo Những nét chung của cả vùng không hề làm mất

đi tính riêng của văn hóa dân tộc Thậm chí, cùng một cốt truyện, ở mỗi dân tộc vẫn có thể tìm thấy cái riêng Lấy một chuyện bi tình sử có ở nhiều dân tộc Tây Bắc làm ví dụ : "một đôi trai gái yêu nhau nhưng vì lý do nào đó họ không lấy được nhau và cùng tự

tử chết" Truyền thuyết của các dân tộc khác nhau, đương nhiên sẽ kết thúc khác nhau Hẳn là những nét phác họa ở đây nhiều lắm cũng chỉ là gợi mở về một vùng văn hóa

đa dạng và độc đáo hi vọng rằng có thể dẫn dắt chút ít cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm về vùng văn hóa Tây Bắc

Về kiến trúc nhà ở: Nhà sàn Thái có mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, hai đỉnh đầu hồi có hai vật trang trí gọi là khau cút, đầu phía trên thường được tạo tác thành một vòng tròn hình xoáy trôn ốc Các dân tộc trong vùng Tây Bắc có nếp sống hoà thuận, chân thật, giản dị, tôn trọng người già, thương yêu con trẻ và giúp đỡ nhau rất vô tư Có lẽ vì thế nên khi đói kém, anh em Mông ở núi cao xuống, bản Thái sẵn sàng chia sẻ Ngược lại đồng bào Thái lên núi cao khi về mang theo những tặng phẩm của bà con dân tộc Mông Về tín ngưỡng, các dân tộc Tây Bắc quan niệm có đủ loại hồn và các loại thần, ví dụ như người Thái quan niệm có 80 hồn trên con người như hồn tóc, hồn lông mày, lông mi, tai, mũi, trán…

Về văn hóa nghệ thuật, mỗi dân tộc trong vùng Tây Bắc đều có một kho các sáng tác ngôn từ giàu có và đủ thể loại từ tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, lời hát giao duyên, lời khấn, bùa chú, các áng văn trong lễ tang, các bài văn vần dạy bảo dâu rể trong đám cưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười…Tính về chuyện thơ dài thì người Thái có “Tiễn dặn người yêu”, người Mông có “Tiếng hát làm dâu”

Trang 31

Người Thái còn có vòng xoè quanh đống lửa, quanh hũ rượu cần, với sự tham gia của đông đảo già trẻ, gái trai trong tiếng trống chiêng rộn ràng Người Mông nổi tiếng với điệu múa khèn, đá chân hùng dũng của nam giới và quay ô khoẻ khoắn, dịu dàng của

nữ giới…Nhạc cụ của các dân tộc Tây Bắc cũng rất phong phú, người Thái có Pí Pặp, Khèn bè; người Mông có sáo và khèn Mông…Và một điều đáng lưu ý về VH các dân tộc Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục, chăn màn, đồ dùng với các sắc độ của gam màu nóng, trông rất sặc sỡ Hoạ tiết, bố cục, phối màu của trang trí rất nhiều và phong phú, đa dạng Tất cả đã tạo nên một vùng văn hóa đặc sắc mang đậm phong cách Tây Bắc không pha trộn và nhầm lẫn với các vùng văn hóa nào khác

1.4.2 Văn hóa Thái, Mông

1.4.2.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Thái

Dân tộc Thái còn có các tên gọi Tày, Tày Ðăm, Tày Khào, Tày Mười, Tày Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thờ Ðà Bắc Dân số theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 có 1.550.423 người Ðịa bàn cư trú: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An Là cộng đồng dân tộc đông nhất ở tỉnh Điện Biên, chiếm 38,4% dân

số, gồm các nhóm Tay Đăm (Thái đen) và Tay Khao (Thái trắng) Ngôn ngữ tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Về trang phục, nam giới mặc âu phục, vải thổ cẩm; phụ nữ thường mặc áo cóm màu trắng bó sát thân mình với hàng cúc bướm rất đẹp, váy màu đen, đầu đội khăn Piêu được thêu thùa công phu với những hoa văn tinh tế Người Thái ở nhà sàn, mái nhà cong hình mai rùa có cầu thang lên ở hai đầu, mỗi bản

có từ 40 - 60 nóc nhà kề bên nhau Bản của người Thái thường ở vùng chân đồi, gần suối, gắn với sản xuất ruộng nước

Đồng bào Thái có đời sống văn hoá rất đặc sắc, có tiếng nói, chữ viết riêng Trong kho tàng văn hoá của mình, đồng bào Thái có thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao với các tác phẩm nổi tiếng như “Xống chụ xon xao” (Tiễn dặn người yêu), “Khun Lú – Nàng Ủa”, “Hiến Hom – Căm Đôi”, “Táy pú xấc” (Kể cha ông chinh chiến)…Dân tộc Thái rất thích ca hát, múa xoè, đặc biệt là lối ngâm thơ, hát theo lời thơ, có đệm đàn và múa (gọi là “khắp”)

Trong lễ hội của người Thái, đáng chú ý là lễ hội cầu mưa Người Thái canh tác nông nghiệp chủ yếu dựa vào thiên thiên, với quan niệm vạn vật hữu linh và tin rằng mọi hoạt động trong đời sống hằng ngày đều do một lực lượng siêu nhiên chi phối đó

là các vị thần linh Một trong các vị thần đó là vị thần mưa Lễ hội cầu mưa của dân

Trang 32

tộc Thái được tổ chức trong phạm vi của một bản vào khoảng từ 13 đến 15 tháng 3 âm lịch Sau 3 ngày, 3 đêm diễn ra phần lễ, lễ cầu mưa kết thúc trong niềm vui hân hoan của mọi người dân trong bản Vào đêm 30 tháng 3 âm lịch, phần hội của lễ cầu mưa mới được tổ chức Rượu cần được làm từ xôi của các nhà trong bản biếu đoàn đi cầu mưa Ngoài ra, dân bản đem góp những thứ mà họ kiếm được trong rừng, dưới suối như thịt thú rừng, cá, rau, măng… để tổ chức bữa ăn chung cho cả bản và chia cho những gia đình khó khăn trong bản Ngoài phần ẩm thực người dân còn tổ chức ca hát, nhảy múa, đồng thời nam nữ trong bản cũng tổ chức hát đối đáp, hát giao duyên

Ở huyện Mường Ảng, người Thái là dân tộc có dân số đông nhất, địa bàn cư trú của người Thái là những vùng đồi, phiêng bãi, thung lũng ven suối Người Thái trồng lúa nước và hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên; đồng bào chú trọng các nghề thủ công truyền thống như thêu thùa (làm khăn Piêu), dệt vải thổ cẩm, làm chăn đệm, đan lát (sọt, gùi, ếp, ghế, mâm tròn), rèn đúc (dao, chóp, rìu, thuổng) Người Thái Mường Ảng mang đặc trưng cơ bản của con người vùng Tây Bắc, đồng thời cũng có nét văn hoá riêng độc đáo thể hiện ở trang phục phụ nữ (váy,

áo cóm), tục tằng cẩu, đội khăn Piêu, thổi khèn bè, múa xoè vòng và tục uống rượu cần Với tiếng nói và chữ viết riêng, dân tộc Thái ở Mường Ảng bảo tồn được một kho tàng văn hoá dân gian phong phú

1.4.2.2 Bản sắc văn hoá dân tộc Mông

Là dân tộc có dân số đứng thứ 2 sau dân tộc Thái, người Mông huyện Mường Ảng có các tên gọi khác là Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông

Si (Mông Đỏ), Mông Đu (Mông Đen) Theo số liệu thống kê năm 2009 dân tộc Mông

ở Việt Nam có 1.068.189 người, địa bàn cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc

các tỉnh Điện Biên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An Ở Điện Biên dân tộc Mông sinh sống hầu khắp các huyện, thường ở trên các triền núi cao Đồng bào Mông ở Điện Biên có nhiều nhóm, gồm Mông trắng, Mông hoa, Mông đen, tiếng Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy, trồng ngô, lúa Ở một số nơi đồng bào Mông biết làm ruộng bậc thang Người Mông có nghề thủ công mang tính chất truyền thống như đan lát, làm đồ gia dụng, làm nghề rèn Ngoài ra, đồng bào trồng lanh để lấy sợi, dệt vải và trồng cây dược liệu Quần áo của đồng bào Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt Trang phục phụ nữ Mông thường có váy, áo xẻ ngực,

Trang 33

tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân Váy may và trang trí nhiều hoa văn rất công phu, là váy mở xếp, nếp xoè rộng Đồng bào dân tộc Mông cho rằng những người cùng dòng họ là anh em cùng tổ tiên, có thể ở trong nhà nhau và chết trong nhà nhau, phải luôn giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cưu mang nhau lúc nguy nan và tính tự trọng, gắn kết cộng đồng rất cao Hôn nhân của người Mông theo tập quán kén chọn bạn đời, những người cùng dòng họ không được lấy nhau, đặc biệt người Mông đã lấy nhau thì rất ít bỏ nhau mà sống yêu thương hoà thuận cho đến cuối đời Nhạc cụ của dân tộc Mông có nhiều loại, nhưng phổ biến là khèn và đàn môi Vào ngày 2/9 hằng năm, dân tộc Mông ăn tết độc lập rất to, thường tập trung ở trung tâm huyện, hình thành một tập tục đẹp và là một ngày hội lớn của dân tộc Mông

Một trong những lễ hội đặc sắc của người Mông là lễ hội Gầu Tào Cứ mỗi độ xuân về, khi hoa Lê, hoa Mận, hoa Đào nở trắng các bản làng vùng cao cũng là lúc dân tộc Mông gác lại công việc ruộng nương để bước vào mùa lễ hội Gầu Tào với mục đích cúng tạ trời đất đã ban cho dân bản sức khoẻ Trước đây Lễ hội Gầu Tào thường được tổ chức trong 3 năm liền, mỗi năm từ 3 đến 5 ngày Nếu chỉ làm 1 năm lễ hội sẽ kéo dài 10 đến 12 ngày Ngày nay, năm nào người dân tộc Mông cũng tổ chức Lễ hội Gầu tào vào dịp tết âm lịch Khoảng ngày 25 tết, các chàng trai khoẻ mạnh đi chặt che

để dựng cây nêu Cây nêu được dựng ở một bãi đất bằng phẳng, rộng rãi nơi được chọn làm trung tâm lễ hội Chủ lễ treo lên cây nêu 1 cây nỏ, thể hiện sức mạnh dân tộc Mông và xua đuổi tà ma Khi cây nêu dựng xong, một mâm lễ gồm thủ lợn, xôi, rượu…được đặt dưới để cúng tổ tiên và đất trời Sau phần lễ, mọi người náo nức tham gia các cuộc thi, trò chơi bổ ích và lý thú của ngày hội Không gian đầy ắp âm thanh rộn rã của các loại nhạc cụ như khèn, sáo trúc, đàn môi, khèn lá, tâu…và tiếng hát giao duyên Trong ngày hội còn có các trò chơi dân gian như đua ngựa, ném Pao, bắn nỏ,

Tù lu…

1.4.3 Hoạt động giáo dục Văn hóa Thái - Mông

Giáo dục VHDT Thái – Mông nhằm phát huy những giá trị VH tốt đẹp các dân tộc thiểu số với mục đích nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển VHDT; tích cực tuyên truyền để mở rộng và đa dạng hóa loại hình dạy chữ dân tộc trong trường học đặc biệt

là các trường PTDTNT là mục tiêu mà Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên hướng tới

Trang 34

Để bảo tồn, giữ gìn và phát huy được BSVH, phải coi trọng những nội dung về văn hóa các dân tộc được lựa chọn để đưa vào các cơ sở giáo dục gồm:

Tổ chức dạy tiếng nói, chữ viết, các loại hình văn học nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống của dân tộc phù hợp với loại hình của trường PTDTNT

Tổ chức cho người học tham gia các lễ hội văn hóa truyền thống, phong tục tập quán lành mạnh, các nghề thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực các dân tộc, các trò chơi dân gian, nhạc cụ dân tộc

Tổ chức giáo dục tìm hiểu các di tích lịch sử, di tích cách mạng, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc nghĩa trang liệt sỹ, thăm hỏi, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng

Lựa chọn một số địa chỉ tại địa phương (bản) nơi đó tập trung phong phú đặc sắc phong tục tập quán lành mạnh, phát triển nghề thổ công truyền thống, văn hóa ẩm thực…để tổ chức cho học sinh tham quan, tìm hiểu

1.5 Một số vấn đề lý luận của quản lý các hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT

1.5.1 Quản lý các thành tố của một hoạt động giáo dục VHDT

1.5.1.1 Mục đích giáo dục VHDT: Mục đích giáo dục VH các dân tộc nhằm nâng cao

chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục giá trị VH các dân tộc cho học sinh tộc thiểu số Tạo sự chuyển biến quan trọng về nhận thức, trách nhiệm của toàn dân, sự đồng thuận của xã hội về công tác giáo dục giá trị VH các dân tộc Giáo dục cho đồng bào các dân tộc hiểu được tầm quan trọng của các giá trị VH dân tộc, đặc biệt là với học sinh các dân tộc thiểu số

1.5.1.2 Nội dung giáo dục VHDT: Khi mục đích giáo dục đã được xác định thì tiếp

theo, nội dung giáo dục là một trong những thành tố quan trọng vì nó trả lời cho câu hỏi giáo dục VHDT là giáo dục cái gì Nội dung giáo dục VH các dân tộc tập trung

mở rộng và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, mở rộng tầm nhìn đối với xã hội và cộng đồng; biết trân trọng và giữ gìn, phát huy cái tốt, cái đẹp và biết loại trừ những hành vi thói quen xấu, phong tục tập quán lạc hậu Từ

đó, có định hướng nhận thức hiểu biết, giữ gìn giá trị VHDT

1.5.1.3 Phương pháp giáo dục VHDT: Khi mục đích và nội dung đã được đề ra một

cách cụ thể thì phương pháp giáo dục chính là con đường, là cách thức mà ta thực hiện những nội dung đã đề ra theo như mục đích ban đầu Các biện pháp cơ bản cần thực hiện ngay trong nhà trường PTDTNT là: xây dựng chương trình giáo dục VHDT theo

Trang 35

hướng lồng ghép, tích hợp với việc tổ chức các chuyên đề ngoại khoá nhằm hình thành

và phát triển nhân cách VH cho học sinh; phát triển các kỹ năng tìm hiểu các giá trị

VH của dân tộc mình, thẩm thấu các giá trị VH tốt đẹp của dân tộc khác

1.5.1.4 Đối tượng giáo dục VHDT: Đối tượng giáo dục VHDT là một lực lượng đông

đảo trong cộng đồng xã hội có liên quan đến việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc

1.5.1.5 Môi trường giáo dục VHDT: Chính là nơi sinh sống và hoạt động của các đối

tượng giáo dục Vì đối tượng giáo dục được sinh ra và lớn lên ở nhiều môi trường khác nhau, không ai giống ai Do đó, người GV cần có sự linh hoạt và khả năng “đạo diễn” sao cho các em có thể hòa nhập cùng nhau trong môi trường mới Muốn vậy, giáo dục VHDT ở trường PTDTNT cần có một môi trường phù hợp với mục đích và nội dung

GD VHDT, cần khai thác những yếu tố tích cực của môi trường xã hội để tạo ra một môi trường giáo dục thuận lợi cho mọi đối tượng tham gia Đối với các nhà quản lý giáo dục, phải tạo ra các điều kiện để có được một môi trường có đủ các điều kiện tối thiểu, đồng thời tổ chức chỉ đạo các hoạt động làm tăng vai trò chủ thể của học sinh trong việc xây dựng môi trường văn hóa - giáo dục mang tính BSVH dân tộc

1.5.1.6 Kết quả giáo dục VHDT: Đây là sản phẩm của những tác động giáo dục theo

từng giai đoạn và của cả quá trình giáo dục Là mức độ đạt được mục tiêu GD VHDT

đã xác định, là ý thức, thái độ đúng đắn đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc tốt đẹp của VHDT; là khả năng vận dụng các tri thức VHDT trong cuộc sống hội nhập và phát triển hiện nay

1.5.2 Nhiệm vụ giáo dục VHDT trong trường PTDTNT

1.5.2.1 Giáo dục VHDT là nhiệm vụ của trường PTDTNT

Điều 4, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT ban hành kèm theo Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 25/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định các nhiệm vụ đối với trường PTDTNT:

1 Tuyển sinh đúng đối tượng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao hằng năm

2 Giáo dục học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, BSVH của các dân tộc thiểu số và đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

3 Giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp học sinh định hướng nghề phù hợp với khả năng của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, giáo dục học sinh ý thức phục vụ quê hương sau khi tốt nghiệp

Trang 36

4 Tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho học sinh PTDTNT

5 Có kế hoạch theo dõi số học sinh đã tốt nghiệp nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục

“Trường PTDTNT thực hiện kế hoạch giáo dục theo mục tiêu, chương trình của

các cấp học phổ thông tương ứng, có bổ sung kiến thức về lịch sử, địa lí, ngôn ngữ, VHDT thiểu số và địa phương” (Điều 17) [9, tr.6]

“Hoạt động lao động, văn hóa, thể thao bao gồm: lao động công ích; sinh hoạt

văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch, lễ hội, tết dân tộc, giao lưu văn hóa và các hoạt động xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy BSVH của dân tộc, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và

hoàn thiện nhân cách học sinh” (Điều 19) [9, tr.6]

Như vậy, trong chức năng quy định, trường PTDTNT có nhiệm vụ giáo dục học sinh về VHDT Giáo dục VHDT nằm trong mục tiêu giáo dục toàn diện của trường PTDTNT, nhằm giáo dục học sinh vừa có phẩm chất văn minh, hiện đại, vừa có phẩm chất dân tộc truyền thống, trở thành người cán bộ đáp ứng nhu cầu xây dựng cuộc sống mới cho quê hương, cho cộng đồng vùng dân tộc Thực hiện chức năng đó, trường PTDTNT triển khai nhiệm vụ giáo dục VHDT là một nhiệm vụ chính thức và bắt buộc

1.5.2.2 Giáo dục VHDT góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh hòa hợp và thân thiện

Trường PTDTNT có nhiệm vụ: “Giáo dục học sinh tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, xây dựng nếp sống văn minh” (Điều 19, Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 25/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào) Trong điều kiện trường PTDTNT tuyển sinh học sinh của nhiều dân tộc, thuộc nhiều vùng khác nhau với những khác biệt về nhận thức, nếp sống, ứng xử,…thì yêu cầu đặt ra trước hết là giáo dục hòa hợp

và thân thiện Giáo dục học sinh hòa hợp và thân thiện vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của trường PTDTNT

Mỗi học sinh, mỗi nhóm học sinh trường PTDTNT là đại biểu văn hóa của một vùng quê, một dân tộc Trường PTDTNT tạo điều kiện để học sinh được tiếp xúc và thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình để mạch chảy văn hóa được nuôi dưỡng và lớn mạnh Trường PTDTNT tổ chức các hoạt động tìm hiểu, thể

Trang 37

hiện, giao lưu văn hóa để học sinh được trao đổi học tập và cùng tham gia vào việc bảo tồn, phát triển các giá trị VHDT Nhờ được tiếp xúc thường xuyên với các hoạt động văn hóa và thông qua hoạt động văn hóa mà học sinh trường PTDTNT vẫn là con người của dân tộc, đồng thời còn là người hiểu biết và tôn trọng BSVH của các dân tộc anh em

1.5.2.3 Giáo dục VHDT để thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hóa

Những giá trị sáng tạo của con người trải qua nhiều thế hệ hình thành văn hóa Con người luôn luôn có ý thức giữ gìn văn hóa như giữ gìn chính sự sống của mình Bởi vậy, bảo tồn và phát triển văn hóa trở thành nhu cầu chính đáng, là quyền sống của con người

Để bảo tồn văn hóa, con người xác định bằng con đường giáo dục các giá trị về vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, tâm thức, ngôn ngữ của một dân tộc được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác

Ở Việt Nam, vận dụng các giá trị văn hóa để giáo dục học sinh là mục tiêu lớn của ngành giáo dục Nhiệm vụ này được khẳng định trong Luật Giáo dục: “Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc VHDT, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (Điều 5, chương 1, Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009) [1, tr.2-3] Trên cơ sở quy định của Luật, hoạt động giáo dục văn hóa cho học sinh đã được thực hiện nghiêm túc qua nhiều chính sách và cách tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục

Như vậy, trường PTDTNT có chức năng giáo dục VHDT cho học sinh dân tộc Giáo dục VHDT tức là nhà trường PTDTNT đã thực hiện quyền của học sinh trong giáo dục Nhờ có giáo dục VHDT, học sinh của trường PTDTNT được phát triển toàn diện, trở thành những công dân có tri thức, có văn hóa Giáo dục VHDT trong trường PTDTNT còn góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển VHDT

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT

1.6.1 Yếu tố khách quan

1.6.1.1 Mối quan hệ của học sinh với gia đình và môi trường xã hội

Học sinh nội trú trong những ngày nghỉ, ngày lễ về với gia đình, bạn bè và những mối quan hệ xã hội ở địa phương Những học sinh chưa có ý thức học tập, nề nếp chưa tốt khi quay lại trường thường có biểu hiện không đúng mực trong hành vi

Trang 38

như: uống rượu, về trường muộn, trốn ra ngoài, chơi game… Đây là một nguyên trong những nhân dẫn đến việc vi phạm nội qui nhà trường của học sinh

Đa phần gia đình của học sinh khi đã gửi con em vào nhà trường họ có suy nghĩ đơn giản là giao trách nhiệm giáo dục hoàn toàn cho nhà trường, phó mặc cho nhà trường Vì thế nhiều gia đình học sinh rất ít liên lạc với nhà trường, thậm chí không chủ động liên lạc với nhà trường; không có sự kiểm tra việc học tập, sinh hoạt của con

em mình Chỉ có nhà trường, giáo viên chủ nhiệm (GVCN) chủ động liên lạc với cha

mẹ học sinh Cho nên công tác phối kết hợp trong giáo dục toàn diện của nhà trường gặp nhiều khó khăn

1.6.1.2 Tác động của thầy cô giáo, đoàn thanh niên, bạn bè đối với việc giáo dục VHDT

Với đặc điểm các em học tập, sinh hoạt tại trường, nên thầy cô giáo, bạn bè là những người gần gũi thân thiết với các em nhất khi xa gia đình, người thân Việc tạo môi trường học tập, sinh hoạt tốt sẽ có tác động tích cực đến việc xây dựng những nếp sống tốt, uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch, thiếu văn hóa trong nếp sống Vì vậy vai trò, sự thống nhất của cán bộ quản lý, thầy cô giáo, bạn bè và các tổ chức đoàn

thể là rất hữu ích trong giáo dục VHDT cho học sinh nội trú

1.6.1.3 Điều kiện hỗ trợ cho việc thực hiện giáo dục VHDT ở trường PTDTNT

Với học sinh nội trú, ngoài việc giáo dục nhận thức, cần quan tâm đến đời sống tâm lý của các em để giúp các em khắc phục sự tự ti, mặc cảm vì học tập chưa tốt hoặc phải rời xa môi trường tự nhiên ở địa phương Tạo môi trường sống cho các em thật sự thân thiện, gần gũi cũng chính là giúp các em biết lưu giữ những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đồng thời biết loại bỏ những phong tục, tập quán, thói quen lạc hậu không còn phù hợp với thời đại

1.6.2 Yếu tố chủ quan

Việc tuyên truyền cho các thế hệ học sinh dân tộc biết tôn trọng, giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc luôn luôn được chính gia đình, dòng họ thực hiện Bên cạnh đó khi các em đến trường cũng được các thầy cô giáo tiếp tục dạy dỗ, đây chính là điều kiện thuận lợi để các em học sinh trường PTDTNT tự ý thức cũng như được giáo dục về VHDT một cách tốt nhất

Bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận học sinh chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa,

mục đích của việc giữ gìn BSVH dân tộc mình Có em cho rằng mọi phong tục tập

Trang 39

quán của dân tộc mình từ xưa cho đến nay luôn đúng nên không có sự chắt lọc để phù hợp với thời đại ngày nay Nhưng cũng có em thì lại mang tâm lý tự ty dân tộc, không muốn nhận mình là người dân tộc, ngại mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình Một bộ phận học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, kể cả một số người trưởng thành đã “quên” hoặc ít sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Xu hướng không thiết tha, mặn mà với các hoạt động văn hóa dân gian truyền thống, BSVH của mỗi tộc người, hay sự đồng hóa tự nhiên theo xu hướng "Kinh hóa" là một thực trạng khó cưỡng nổi trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số

Từ nhận thức chưa đầy đủ dẫn đến thái độ, hành động của các em học sinh không đáp ứng các yêu cầu thiết yếu của nhà trường trong việc duy trì những nét tích cực học tập và sinh hoạt mang đậm nét tiêu biểu của dân tộc

Vì vậy, việc củng cố nhận thức và hành động của học sinh dân tộc trong việc giữ gìn BSVH dân tộc ở các trường PTDTNT nói riêng và trong các nhà trường nói

chung cần được quan tâm

Tóm lại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT như nội dung học tập, các hoạt động tập thể, giáo dục ngoài giờ lên lớp, đội ngũ cán bộ giáo viên, gia đình Chính vì vậy công tác giáo dục VHDT ở trường PTDTNT là một nhiệm vụ quan trọng, chính thức và bắt buộc Việc phát triển giáo dục VHDT trong trường PTDTNT, cùng với các nội dung giáo dục đặc thù khác góp phần vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy BSVH các dân tộc thiểu số, về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.7 Vận dụng các chức năng quản lý vào QL hoạt động giáo dục VHDT ở trường PTDTNT

1.7.1 Kế hoạch hóa việc GD VHDT

Với đặc trưng là trường PTDTNT, công tác quản lý kế hoạch thực hiện GD

VHDT ở trường PTDTNT là hết sức cần thiết Để xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động GD VHDT ở trường PTDTNT có tính khả thi cần thực hiện tốt các nội dung sau:

- Đảm bảo xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục hàng năm, từng học kỳ của nhà trường;

Trang 40

- Trên cơ sở kế hoạch tổng thể của nhà trường, tiến hành xây dựng kế hoạch

GD VHDT thông qua các môn học, các buổi sinh hoạt trên lớp, các hoạt động văn hóa

- văn nghệ - thể dục thể thao - vui chơi - giải trí; các cuộc thi tìm hiểu về BSVH, phong tục, tập quán của các dân tộc

Trên cơ sở các quy định cụ thể với từng đối tượng, từng nhiệm vụ cụ thể trong

GD VHDT, nhà trường cần chỉ rõ mục tiêu các hoạt động, lực lượng tham gia, thời gian tiến hành và cách thức nhận diện kết quả đạt được Bên cạnh đó mỗi nhà trường cần xây dựng kế hoạch và ban hành các qui chế, qui định có tính pháp quy để thúc đẩy hoạt động GD VHDT đạt hiệu quả Làm tốt việc xây dựng kế hoạch giúp cho cán bộ, giáo viên, học sinh căn cứ vào đó mà thực hiện nhiệm vụ và là căn cứ để người quản lý kiểm tra việc thực hiện Từ đó có sự điều chỉnh, khen - chê kịp thời

1.7.2 Tổ chức các hoạt động GD VHDT

Trong công tác quản lý, muốn đạt hiệu quả tốt thì cũng cần có phương pháp tổ chức tốt Vì đặc điểm việc GD VHDT diễn ra trong nhà trường cho nên cần lựa chọn cách thức truyền tải cho phù hợp Đó là: Giáo dục lồng ghép qua các môn học: vận dụng một phần sản phẩm văn hóa của các dân tộc đã có sự lựa chọn, điều chỉnh đưa vào trong giờ dạy hoặc trong hoạt động ngoài giờ lên lớp để thực hiện một nội dung giáo dục phù hợp với mục tiêu giáo dục học sinh Thực hiện thông qua tổ chức các cuộc thi, tìm hiểu theo chủ đề Tổ chức giao lưu giữa học sinh các dân tộc với nhau, tìm hiểu BSVH, phong tục, tập quán của các dân tộc ở địa phương Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc GD VHDT Đây là một nội dung cần thiết bởi vì môi trường để giữ gìn và phát triển BSVHDT không thể chỉ có trong nhà trường Mà để nuôi dưỡng nó cần có

cả môi trường bên ngoài nhà trường với các lực lượng khác tham gia như: gia đình, họ tộc, bản làng, cộng đồng, …

Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về GD VHDT cho đội ngũ giáo viên Hoạt động GD VHDT trong trường PTDTNT đòi hỏi người tổ chức, người giảng dạy phải có chuyên môn sâu Một thực trạng đang tồn tại là đội ngũ giáo viên các trường PTDTNT là người dân tộc thiểu số chưa nhiều; việc am hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc chưa sâu sắc Đồng thời hoạt động GD VHDT cần số người tham gia đông, thuộc các lĩnh vực khác nhau Muốn thực hiện tốt hoạt động này, cần có kế hoạch xây dựng, tuyển chọn đội ngũ cán bộ, giáo viên có đủ năng lực, có tâm huyết và lòng nhiệt

Ngày đăng: 10/06/2016, 12:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nộ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Tỉnh uỷ Điện Biên (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XII (nhiệm kì 2010-2015), Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XII (nhiệm kì 2010-2015)
Tác giả: Tỉnh uỷ Điện Biên
Năm: 2010
7. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1270/2011/QĐ-TTg, ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1270/2011/QĐ-TTg, ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020
8. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020
10. Bộ GD&ĐT (2014), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên trung học phổ thông về giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên trung học phổ thông về giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2014
11. Bộ GD&ĐT (2013), Một số vấn đề lí luận và thực tiến về quản lý trường phổ thông dân tộc nội trú, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận và thực tiến về quản lý trường phổ thông dân tộc nội trú
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2013
12. Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Sổ tay công tác văn hoá - thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công tác văn hoá - thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi
13. Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên (2013), Nghị quyết thông qua Đề án bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc tỉnh Điện Biên gắn với phát triển KTXH đến năm 2015, định hướng đến 2020, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết thông qua Đề án bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc tỉnh Điện Biên gắn với phát triển KTXH đến năm 2015, định hướng đến 2020
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên
Năm: 2013
14. Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên, Quy định tiêu chí đánh giá, xếp loại các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục (Điện Biên, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định tiêu chí đánh giá, xếp loại các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục
15. Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên, Báo cáo tổng kết năm học 2014-2015 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2015-2016 (Điện Biên, 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2014-2015 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2015-2016
18. Trường Đại học Tây Bắc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc” (Sơn La, 2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc”
22. Đặng Quốc Bảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sáng cho tư duy và chiến lược hành động xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, Tạp chí Giáo dục, số 114 tháng 5 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sáng cho tư duy và chiến lược hành động xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
23. Đặng Quốc Bảo- Nguyễn Thị Thu Huyền, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý trường phổ thông dân tộc nội trú .Dự án PTGV THPT& TCCN- Vụ Giáo dục dân tộc- Cục NG&CBQLCSGD, NXB Văn hóa - Thông tin, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý trường phổ thông dân tộc nội trú
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
24. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2011), Đại cương khoa học quản lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
25. Nông Quốc Chấn, Hoàng Tuấn Cƣ, Lò Giàng Páo - Chủ biên (1996): Văn hoá và sự phát triển các dân tộc ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và sự phát triển các dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn, Hoàng Tuấn Cƣ, Lò Giàng Páo - Chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1996
26. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà Nội, năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
27. Nguyễn Hồng Hà, Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ, NXB VH-TT, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ
Nhà XB: NXB VH-TT
29. Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học (Trang 50)
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh nhận thức của các đối tượng về mức độ  quan trọng đối với - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh nhận thức của các đối tượng về mức độ quan trọng đối với (Trang 51)
Hình 2.2. Thực trạng về thái độ, hành vi của học sinh đối với việc giữ gìn BSVHDT - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Hình 2.2. Thực trạng về thái độ, hành vi của học sinh đối với việc giữ gìn BSVHDT (Trang 54)
Bảng 2.3. Khảo sát về mức độ cần thiết của các nội dung GD VHDT ở trường - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.3. Khảo sát về mức độ cần thiết của các nội dung GD VHDT ở trường (Trang 55)
Hình 2.3. Biểu đồ so sánh các đối tượng về mức độ rất cần thiết của các nội dung GD - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Hình 2.3. Biểu đồ so sánh các đối tượng về mức độ rất cần thiết của các nội dung GD (Trang 56)
Bảng 2.5. Mức độ sử dụng những phương pháp để GD VHDT - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.5. Mức độ sử dụng những phương pháp để GD VHDT (Trang 58)
Bảng 2.6. Hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động GD VHDT của lãnh đạo - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.6. Hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động GD VHDT của lãnh đạo (Trang 59)
Bảng 2.7. Các lực lượng phối hợp tham gia tổ chức các hoạt động GD VHDT của nhà - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.7. Các lực lượng phối hợp tham gia tổ chức các hoạt động GD VHDT của nhà (Trang 60)
Bảng 2.8. Sự phối hợp của ban lãnh đạo nhà trường với các lực lượng khác khi  tổ - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.8. Sự phối hợp của ban lãnh đạo nhà trường với các lực lượng khác khi tổ (Trang 61)
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHDT của - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHDT của (Trang 64)
Hình  thức, - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
nh thức, (Trang 68)
Hình 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHDT (biểu thị mức độ - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Hình 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHDT (biểu thị mức độ (Trang 69)
Bảng 3.2. Tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 3.2. Tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD VHDT (Trang 95)
Bảng 3.3. So sánh tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Bảng 3.3. So sánh tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp (Trang 97)
Hình 3.1. Biểu đồ tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp - Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông huyện mường ảng, tỉnh điện biên
Hình 3.1. Biểu đồ tương quan thứ bậc giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp (Trang 98)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w