1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm: một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học yếu, kém về môn toán tiến bộ

14 1,4K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 128 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những điều kiện sống và học tập như nhau, có học sinh có thể nắm kiến thức và thực hành kĩ năng toán học rất nhanh chóng, sâu sắc mà không cần một sự cố gắng đặc biệt nào, trong khi các em khác lại không thể đạt như vậy, mặc dù cố gắng nhiều, đó chính là các em học sinh yếu kém về môn Toán. Ở đây, tôi đã tập trung tìm hiểu về những học sinh ít có năng lực học tập môn toán này, phân tích nguyên nhân yếu kém để thực hiện các giải pháp nhằm giúp các em lên trình độ trung bình. Vì vậy, giáo dục học sinh yếu kém trước hết là quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng nhân cách cho người học; hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn; động viên, khuyến khích các em có hứng thú, niềm tin trong học tập.Qua theo nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 4 ở trường Tiểu học Tân Bình tôi thấy rằng chất lượng môn toán ở một số học sinh còn hạn chế. Một số học sinh vẫn còn khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng cơ bản nên thực chất vẫn còn tồn tại học sinh yếu, kém về môn toán có nguy cơ ngồi nhầm lớp. Số học sinh yếu, kém đó chủ yếu là ở khối 4,5. Bởi vì lên lớp 4, 5 kiến thức môn toán có thêm nhiều phần mới và mức độ cao hơn. Học sinh cần phải có sự tư duy trừu tượng để học môn toán. Ở trường Tân Bình Như Xuân, khối lớp 4 là khối lớp có số học sinh học yếu, kém môn toán là nhiều nhất.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ.

Vấn đề học sinh yếu kém, chất lượng “ảo’’ đặc biệt là môn Toán không chỉ là nỗi lo của các thầy cô giáo, của ngành giáo dục, mà đó là sự băn khoăn, bức xúc của toàn xã hội Nguyên nhân dẫn đến hẳn có nhiều nhưng chủ yếu là do các em học sinh đó chưa có điều kiện tốt để học tập và một phần cũng do thầy cô giáo dạy chưa tốt chứ không phải do việc học môn toán ( với mức độ yêu cầu đạt chuẩn) đòi hỏi học sinh phải có trí thông minh hay năng khiếu đặc biệt nào Mỗi người giáo viên có trách nhiệm cần phải làm cho học sinh của mình tiếp thu được những kiến thức và kĩ năng tối thiểu mà chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng quy định Nhưng từ đó không thể suy ra rằng mọi học sinh đều học tập dễ dàng như nhau Trong những điều kiện sống và học tập như nhau, có học sinh có thể nắm kiến thức

và thực hành kĩ năng toán học rất nhanh chóng, sâu sắc mà không cần một sự cố gắng đặc biệt nào, trong khi các em khác lại không thể đạt như vậy, mặc dù cố gắng nhiều, đó chính là các em học sinh yếu kém về môn Toán Ở đây, tôi đã tập trung tìm hiểu về những học sinh ít có năng lực học tập môn toán này, phân tích nguyên nhân yếu kém để thực hiện các giải pháp nhằm giúp các em lên trình độ

trung bình Vì vậy, giáo dục học sinh yếu kém trước hết là quan tâm chăm sóc, bồi

dưỡng nhân cách cho người học; hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn; động viên, khuyến khích các em có hứng thú, niềm tin trong học tập

Qua theo nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 4 ở trường Tiểu học Tân Bình tôi thấy rằng chất lượng môn toán ở một số học sinh còn hạn chế Một số học sinh vẫn còn khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng cơ bản nên thực chất vẫn còn tồn tại học sinh yếu, kém về môn toán có nguy cơ ngồi nhầm lớp Số học sinh yếu, kém đó chủ yếu là ở khối 4,5 Bởi vì lên lớp 4, 5 kiến thức môn toán có thêm nhiều phần mới và mức độ cao hơn Học sinh cần phải có sự tư duy trừu tượng để học môn toán Ở trường Tân Bình- Như Xuân, khối lớp 4 là khối lớp có số học sinh học yếu, kém môn toán là nhiều nhất

Từ lý do trên tôi đã trăn trở, nghiên cứu vấn đề và bằng kinh nghiệm bản thân

trong quá trình giảng dạy tôi xin chọn "Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học yếu, kém về môn Toán tiến bộ" nhằm khắc phục tình trạng học sinh lớp 4 yếu, kém

về môn Toán đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học

Trang 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I Cơ sở lý luận.

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh

của đất nước Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học

và cuộc sống Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh, đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng để các em học tiếp các bậc học cao hơn

Môn Toán ở tiểu học giữ một vị trí hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh Nó trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết nhằm phục vụ đời sống và phát triển của xã hội Môn Toán ở tiểu học là cơ sở ban đầu có tính quyết định cho việc dạy học Toán sau này của học sinh Vì vậy, mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm dạy học sao cho học sinh của mình tiếp thu được những kiến thức và kĩ năng mà chương trình giáo dục tiểu học quy định Tuy nhiên, không phải mọi học sinh đều học tập dễ dàng như nhau, có thể có những học sinh nắm kiến thức toán học rất nhanh chóng và sâu sắc mà không cần có sự cố gắng đặc biệt, trong khi đó một số em khác lại không thể đạt được kết quả như vậy mặc dù đã cố gắng rất nhiều, đó chính là các em học sinh yếu, kém về môn Toán

II Thực trang học sinh yếu, kém về môn Toán ở trường tiểu học Tân Bình.

Sự yếu kém về môn Toán của học sinh có biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau nhưng nhìn chung thường có các đặc điểm sau đây:

- Có nhiều lỗ hổng kiến thức, kĩ năng: Nhiều em chưa thuộc bảng nhân chia, thậm chí có em không thực hiện được phép tính cộng trừ có nhớ

- Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng chậm: cùng một khoảng thời gian hình thành kiến thức mới, trong khi các học sinh khác đã hiểu bài, biết vận dụng kiến thức thì học sinh kém vẫn chưa biết vận dụngđể thực hành kĩ năng Trong khi luyện tập thực hành, các học sinh khác đã hoàn thành hết các bài tập theo chuẩn, có em còn làm hết các bài tập trong sách giáo khoa thì học sinh kém mới chỉ giải được một bài hoặc một hai phần trong bài học

Trang 3

- Phương pháp học tập chưa tốt: Một số em không thuộc công thức, quy tắc tính chu vi, diện tích các hình đã học; chưa đọc kĩ đề toán để phân biệt cái đã cho và cái phải tìm đã vội bắt tay vào giải; không chịu thử lại sau khi làm tính, luôn tẩy xoá trong bài làm Nhiều em không chịu làm ra nháp hoặc làm bài nháp cẩu thả gây ra

sự lộn xộn nhầm lẫn khi làm bài vào vở

- Năng lực tư duy yếu: Tư duy thiếu linh hoạt : Nghe giáo viên phân tích giảng giải, học sinh yếu không biết khái quát, không biết tư duy nên không nhớ trình tự tính toán, giải toán Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ toán học lúng túng, nhiều chỗ lẫn lộn

- Biểu hiện bề ngoài là thái độ thờ ơ đối với học tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin, ngay cả khi làm đúng bài tập, giáo viên hỏi cũng lại ngập ngừng không tin mình làm đúng bài tập Thái độ trong lớp thụ động Có thể thấy rõ đặc điểm này khi các

em làm toán hoặc trả lời Các em thường đưa mắt theo dõi thầy cô Hễ thấy cô cau mày là sợ cho rằng mình sai không dám làm tiếp Vì vậy kết quả học toán thường xuyên dưới trung bình

Mặt khác, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm và gia đình học sinh nên chưa có biện pháp phù hợp trong quá trình phụ đạo, giúp đỡ học sinh học tập Chính vì vậy vẫn tồn tại một số học sinh yếu, kém về môn Toán

Qua khảo sát chất lượng môn Toán lớp 4B của trường Tiểu học Tân Bình vào cuối tháng 9 năm 2012, bằng đề của tổ khối chuyên môn tôi thu được kết quả sau:

Từ những thực trạng nói trên, để tập trung nâng chất lượng học tập của học

sinh, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém về môn Toán, tránh để

tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp tôi đã suy nghĩ nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp dạy học sau:

III Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu, kém môn Toán lớp 4.

Trang 4

1 Giáo viên theo dõi thường xuyên, nắm bắt cụ thể tình hình học sinh yếu.

Ngay từ đầu năm học, Tôi tiến hành khảo sát chất lượng học sinh về môn Toán

Lập danh sách và phân loại học sinh yếu, kém về môn Toán, phân tích nguyên nhân

Tôi đã theo dõi kết quả làm bài tập trên lớp và làm bài tập về nhà hàng ngày, theo dõi kết quả kiểm tra định kỳ, sớm phát hiện ra các trường hợp học sinh có khó khăn trong học tập và đi sâu tìm hiểu từng trường hợp cụ thể, phân tích đúng nguyên nhân dẫn đến tình hình đó đối với các em

Tôi phân loại học sinh học yếu theo những nguyên nhân chủ yếu như: Do hổng kiến thức, kỹ năng từ lớp dưới, do điều kiện hoàn cảnh gia đình, do trí tuệ chậm phát triển

Thực hiện theo kế hoạch và phân loại học sinh yếu môn toán theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:

+ Nhóm khả năng tiếp thu bài chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức lớp dưới như chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, chưa biết tìm thành phần chưa biết của phép tính, giải toán có lời văn còn yếu: Nhóm này có 4 em

+ Nhóm do hoàn cảnh gia đình và các nguyên nhân khác: Nhóm này có 2 em Trong nhóm này các em có khả năng tiếp thu bài tốt Nhưng vì điều kiện gia đình khó khăn không có người chăm lo, đôn đốc học tập nên các em chưa tích cực học tập, không hoàn thành nhiệm vụ học tập, dẫn đến kết quả học tập sa sút và liên tục

bị điểm yếu

2 Lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạo học sinh yếu, kém về môn toán phù hợp với đối tượng học sinh.

Khi nắm được nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu, kém về môn Toán của từng em, tôi đã lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạo học sinh yếu, kém với yêu cầu:

+ Lập kế hoạch bài học phải phù hợp với từng đối tượng học sinh kể cả tiết chính khóa cũng như tiết phụ đạo Nội dung kế hoạch phải xuyên suốt cả năm học

và cụ thể cho từng tuần, từng tháng

+ Nội dung các tiết phụ đạo tập trung rèn luyện kĩ năng và ôn tập các kiến thức

Trang 5

đã học cho học sinh.

+ Đặc biệt giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản theo yêu cầu chuẩn kĩ năng kiến thức của lớp dưới mà các em còn bị hổng Như nhớ được bảng nhân, bảng chia, giải được một số dạng toán cơ bản đã học ở lớp dưới Mục đích là lấp

lỗ hổng về kiến thức cho học sinh

* Nội dung phụ đạo học sinh học yếu môn toán lớp 4:

Tuần 1+ 2: Khảo sát, tìm hiểu nguyên nhân, phân loại học sinh

Tuần 3+ 4: Củng cố về bảng nhân, bảng chia 2,3,4,5

Tuần 5+ 6: Củng cố về bảng nhân, bảng chia 6,7,8,9

Tuần 7+ 8: Củng cố về bảng nhân, bảng chia kết hợp với củng cố về tìm thành phần chưa biết của phép tính

Tuần 9+ 10: Củng cố về bốn phép tính với số tự nhiên kết hợp với củng cố về giải toán có lời văn

Tuần 11+ 12: Tiếp tục củng cố về bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số

tự nhiên kết hợp với củng cố về giải toán có lời văn

Tuần 13+ 14: Tiếp tục củng cố về bốn phép tính với số tự nhiên, củng cố mối quan hệ các đơn vị đo lường và vận dụng làm toán có lời văn

Cứ tiếp tục như vậy, nội dung các buổi phụ đạo sau phải có sự củng cố lại những kiến thức đã học ở các buổi học trước và tập trung chủ yếu vào củng cố cho học sinh kĩ năng thực hiện thành thạo bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự nhiên ở học kì I Nội dung củng cố kĩ năng thực hành làm tính với số tự nhiên, giáo viên linh hoạt bằng nhiều bài toán khác nhau Có thể là các dạng bài như: đặt tính rồi tính; tính giá trị biểu thức; tìm x; toán có lời văn… Phải cho học sinh làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập để các em thành thạo Việc củng cố kiến thức đã học thực hiện đồng thời với việc dạy kiến thức mới của lớp 4 Căn cứ vào yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của từng bài, giáo viên giúp học sinh yếu tiếp thu những kiến thức và làm bài tập vừa sức với các em

+ Cuối tuần kiểm tra 1 lần, cuối mỗi tháng, mỗi kỳ có bài kiểm tra theo dõi kết quả học tập của các em Lập sổ theo dõi quá trình phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu (suốt cả năm học)

+ Kết hợp chặt chẽ với gia đình và nhà trường Có sổ liên lạc giữa giáo viên

Trang 6

chủ nhiệm và phụ huynh học sinh, thường xuyên đến thăm và động viên gia đình học sinh

+ Thời gian phụ đạo chủ yếu vào các buổi chiều trong tuần( thứ 3 và thứ 5), lồng ghép vào chương trình chính khoá và với một số tiết hoạt động tập thể hay giờ giải lao( trong đó tổ chức các trò chơi có nội dung toán học)

+ Kế hoạch bồi dưỡng phải có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể là: cuối học kì I không còn tình trạng học sinh bị hổng kiến thức đã học Học kì II, các em học đến đâu phải đạt yêu cầu đến đó (theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình toán lớp 4) Đến cuối năm học, không còn học sinh nào học yếu môn toán

3 Xây dựng kế hoạch dạy học với những kiến thức học sinh còn vướng mắc.

Phụ đạo học sinh học yếu nói chung và học sinh học yếu môn toán nói riêng

là việc làm khó, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng nhiệt tình và kiên trì, yêu thương học sinh Vì vậy giáo viên không được nóng vội, phải thực hiện kế hoạch theo từng bước hợp lí Đồng thời không cứng nhắc rập khuôn theo kế hoạch mà cần phải linh hoạt điều chỉnh nội dung và cách thức thực hiện

Căn cứ vào kết quả tìm hiểu nguyên nhân của học sinh học yếu môn toán ở lớp 4A, Tôi thực hiện kế hoạch phụ đạo với những nội chủ yếu như sau:

3.1 Củng cố 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia.

Bởi vì số học sinh học kém môn Toán lớp 4A, đa số do khả năng tiếp thu bài chậm, còn hổng kiến thức từ lớp dưới, vì thế đã học lên lớp 4 nhưng các em này vẫn chưa thuộc lòng bảng nhân, bảng chia ở lớp 2, 3 còn yếu trong việc vận dụng bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia để giải toán có lời văn Điều đó rất bất lợi cho các em trong quá trình học toán ở lớp 4 và lên lớp 5 Để các em làm thành thạo 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia, tôi xác định việc làm đầu tiên dạy lại những kiến thức cơ bản giúp học sinh lấp được lỗ hổng kiến thức

Vì vậy, tôi đã giao cho học sinh yếu cứ mỗi tuần phải học thuộc 2 bảng nhân, bảng chia, mỗi buổi học giáo viên dành 5 phút với buổi chính khoá, 15 phút với buổi phụ đạo để kiểm tra việc học của học sinh Cuối Tôi lại tổ chức cho các em thi đọc bảng cửu chương (15-20 phút)

Sau hai tuần đầu tôi kiểm tra đã nhận thấy rằng: Các em đều học thuộc bảng nhân, bảng chia nhưng khi vận dụng làm một phép tính cụ thể (VD: 124 : 2) thì có

Trang 7

em làm được nhưng rất chậm, có em không làm được Tôi trăn trở tìm nguyên nhân, thì ra các em chỉ thuộc "vẹt" bảng nhân, bảng chia

Tiếp theo tôi điều chỉnh cách kiểm tra, phải chỉ định học sinh đọc bảng nhân, chỉ rõ bản chất của phép nhân là kết quả của phép cộng của các số bằng nhau, hướng dẫn các em học thuộc nhừ bảng nhân 5, thuộc nhừ cách tính một số nhân với mười để các em dựa vào đó tìm kết quả phép tính nhân, chia trong bảng khi chưa thuộc lòng: Ví dụ bảng nhân 3, hỏi phép nhân, phép chia bất bất kì 36 = ? (học sinh vận dụng kết quả phép nhân 35 = 15 suy ra kết quả 36 = 15 + 3 = 18); 3

9 = ? (suy từ 310=30 ra 39 = 30- 3 =27) Từ đó giúp các em học thuộc lòng Đồng thời củng cố vận dụng bảng nhân chia, bảng chia bằng cách giao cho các em thực hiện những phép tính đơn giản không có nhớ như: 24  2; 123  3;

84 : 2; 124: 4

Đến tuần sau, vào các buổi chiều phụ đạo HS yếu, kém tôi thay đổi hình thức kiểm tra, khác với các tuần trước

Giáo viên ghi sẵn nội dung kiểm tra lên 2 tấm bìa và gắn lên bảng

5  6 = 35 : 7= 4  5 = … 25 : 5 = …

7  8 = 48 : 6 = … 3  9 = … 36 : 6 = …

4  9 = 64 : 8 = … 9  6 = … 42 : 7 = …

6  9 = 72 : 9 = … 7  7 = … 45 : 5 = …

Cứ mỗi lần, gọi 2 HS lên bảng làm bài (HS ghi kết quả vào chỗ chấm) Lần này không ghi theo thứ tự phép tính của bảng nhân hay bảng chia mà ghi bất kì phép nhân hay phép chia trong bảng, mục đích là để học sinh thuộc lòng bảng nhân, bảng chia mà các em đã học Đồng thời tiếp tục củng cố kĩ năng vận dụng thực hành các phép tính nhân, chia bằng các bài như đặt tính rồi tính, tính giá trị

biểu thức đơn giản, tìm x …

Không những yêu cầu các em học thuộc bảng nhân, bảng chia mà tôi còn giao cho các em về nhà viết lại nhiều lần thay cho bài kiểm tra và được giáo viên chấm điểm chặt chẽ các bài này

3.2 Củng cố kỹ năng giải toán.

Kết hợp củng kĩ năng tính toán với củng cố rèn luyện kĩ năng giải toán có lời

văn sẽ giúp các em giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán Bởi vì có những

Trang 8

em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai hoặc biết tính toán nhưng cách giải sai dẫn đến bài toán giải sai Vì vậy sau khi các em làm thành thạo 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia thì chú ý đến việc giải toán có lời văn Bởi chúng ta biết rằng

đa số các em yếu, kém về môn Toán thường gặp khó khăn trong việc giải Toán có lời văn Tôi lựa chọn cách dạy phù hợp để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nội dung bài học, nhớ kĩ được từng dạng bài toán

Tôi củng cố cho học sinh cách giải các dạng toán điển hình của lớp 3 kết hợp

với củng cố kỹ năng tính toán với bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia Vì học sinh yếu có đặc điểm là rất ngại, thậm chí sợ làm toán có lời văn vì khả năng tư duy

“phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế” nên chưa có khả năng phán đoán suy luận Do đó, khi làm toán có lời văn các em giải chưa đúng, tính toán còn sai Có em giải “bừa” cho xong Vì vậy Tôi củng cố kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh yếu thì chỉ cần ra với dạng cơ bản nhất, đơn giản nhất mang tính chất vận dụng củng cố lý thuyết mà thôi Không nên ra những bài lắt léo hay những bài phải qua bước trung gian mới về dạng cơ bản Đến khi học sinh lấp được những chỗ hổng kiến thức đã học thì mới nâng dần mức độ lên

* Một số dạng toán điển hình lớp 3 cần phải ôn tập củng cố là:

- Dạng bài gấp một số lên nhiều lần

Ví dụ: Lan có 35 que tính Hà có số que tính gấp 3 lần Thủy Hỏi hai bạn có bao nhiêu que tính?

- Dạng bài giảm một số đi nhiều lần

Ví dụ: Lan có 105 que tính Lan có số que tính gấp ba lần số que tính của Hà Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu que tính?

- Dạng bài tìm một phần mấy của một số:

Ví dụ: Đàn gia cầm của nhà Nam có 128 con vịt và gà Trong đó số gà bằng 1/2 cả đàn Hỏi đàn gia cầm đó có mấy con gà?

- Dạng bài có liên quan đến rút về đơn vị:

Ví dụ: Có 70 xếp giấy gói đều thành 7 bọc Hỏi có 100 xếp giấy sẽ gói được bao nhiêu bọc như thế?

- Dạng bài tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật;

Ví dụ:

Trang 9

+ Tính chu vi, diện tích thửa ruộng hình vuông có cạnh 24 m.

+ Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều rộng 9m, chiều dài gấp 3 lần chiều rộng Tính chu vi và diện tích của thửa ruộng đó

Để kết hợp tốt giữa lấp lỗ hổng kiến thức và dạy kiến thức mới, Tôi thực hiện nội dung củng cố kĩ năng giải các bài toán điển hình lớp 3 trong những tuần đầu của năm học (khoảng 8 đến 10 tuần đầu) Song song với việc bổ sung chỗ hổng kiến thức lớp 3 thì trong các tiết học chính khóa, giáo viên giúp học sinh yếu biết giải các bài toán giải dạng toán điển hình lớp 4 đồng thời cần phải ôn tập củng cố ngay ở các tiết học phụ đạo Nhất định không để học sinh hổng kiến thức đã học nữa

Khi hướng dẫn cho học sinh cách giải và trình bày bài giải, Tôi hướng dẫn gợi mở từng bước cụ thể, giúp học sinh đọc, tìm hiểu kĩ đề bài toán, Tóm tắt đề bài toán, nhìn vào tóm tắt đọc lại đề bài toán Đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh từng bước tìm cách giải và chọn cách giải hợp lý nhất, ngắn gọn nhất, lời giải

rõ ràng chính xác, đúng nội dung bài toán yêu cầu tìm gì Đồng thời chú ý hướng dẫn các em khi thực hiện tìm kết quả của phép tính cần làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả rồi mới viết vào bài làm Từ đó tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy

4 Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực.

4.1 Linh hoạt sử dụng phương pháp dạy học khi tổ chức các hoạt động học tập.

Để thực hiện việc lấp "lỗ hổng" kiến thức cho học sinh yếu, kém toán có hiệu quả và dạy kiến thức mới tôi tìm ra những phương pháp giảng dạy thích hợp, tập trung các yêu cầu quan trọng nhất, đó là giúp các em làm thành thạo 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia với mức độ yêu cầu vừa sức để các em nâng dần trình độ; không nôn nóng sốt ruột, khắc phục tình trạng ngại khó của học sinh

- Trong các tiết học Tôi tạo cơ hội cho tất cả các em được hoạt động cho dù là đối tượng học sinh giỏi hay học sinh yểu Bằng mọi cách phải lôi cuốn các em tham vào các hoạt động học tập, tránh tình trạng để học sinh ngoài lề Trong một tiết học, đến phần bài tập giáo viên phân bài cho từng đối tượng học sinh:

Ví dụ: Bài tập 1,2 cho nhóm yếu làm; Bài tập 1,2,3 cho nhóm trung bình

làm; Bài tập 2,3,4 cho nhóm khá giỏi làm

Trang 10

- Cần thực hiện linh hoạt khi tổ chức các hoạt động học tập Như trong quá trình dạy bài mới, nếu có học sinh không nắm được kiến thức mới do hổng kiến thức lớp dưới hoặc kiến thức bài học trước thì thực hiện như sau: Trong phần bài mới vẫn cho học sinh theo dõi bình thường, đến phần bài tập, hay là tiết luyện tập, Tôi cho những học sinh yếu làm các bài mà kiến thức liên quan đến lớp dưới, cho học sinh nhắc lại kiến thức cũ rồi hướng dẫn phần kiến thức mới của bài học

Ví dụ: Khi học sinh làm bài tập 135  6 = ? với bài này học sinh làm không được chứng tỏ học sinh không thuộc bảng nhân 6 Vậy Tôi yêu cầu học sinh đọc lại bảng nhân 6 cho thuộc Tức là phát hiện học sinh hổng kiến thức ở đâu thì giáo vên phải linh hoạt điều chỉnh nội dung dạy để ôn tập, bổ sung ở đó

- Trong các buổi dạy phụ đạo, nội dung chủ yếu là kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức giảng dạy trên lớp hoặc ôn tập, củng cố kiến thức để các em nắm chắc hơn Tôi xác định rõ mục tiêu của từng bài, từng hoạt động của học sinh dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên

- Khi hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, Tôi giao việc phù hợp với từng đối tượng học sinh Cụ thể là: Bài tập dành cho học sinh cả lớp; Bài tập cho học sinh khá giỏi; Riêng đối với học sinh yếu, kém về môn Toán giáo viên không nên giao nhiều bài tập về nhà, chỉ cần 1 đến 2 bài thôi Em nào yếu quá giáo viên phải ghi bài tập vào phiếu và kèm theo một vài câu hỏi để học sinh có thể tự kiểm tra hay chỉ rõ ý chính cần đi sâu, nhớ kỹ để hiểu rõ “cái đã cho, cái phải đi tìm” Bài tập về nhà do các em làm Đến lớp, giáo viên kiểm tra cụ thể các sai lầm mắc phải của học sinh để phân tích và sửa chữa

4.2 Gây hứng thú học tập cho học sinh

Bởi vì học sinh yếu vốn ngại học, ngại bày tỏ ý kiến nên để cuốn hút các em tích cực tham gia các hoạt động học tập thì giáo viên phải có những hình thức tổ chức các hoạt động học tập gây được hứng thú cho tất cả học sinh tham gia, kể cả học sinh yếu

Để gây hứng thú cho các em học tập, trong dạy học toán giáo viên có thể thực hiện như sau: Trong các tiết học vận dung các hình thức dạy tích cực như: Tổ chức hoạt động nhóm (hoặc tổ chức làm bài theo hình thức tiếp sức) có thi đua giữa các nhóm, tất cả các thành viên trong nhóm đều được giao phần việc làm vừa sức phù

Ngày đăng: 20/10/2016, 08:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w