8 Theo nghiên cứu của tác giả, nếu chỉ xét từ giác độ đưa tin của báo giới về vấn đề này, chúng ta không khó nhận ra rằng, các bài viết trên báo in cũng như báo mạng điện tử liên quan đế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ THANH HOÀI
TRUYỀN THÔNG “KHÔNG UỐNG RƯỢU BIA
KHI THAM GIA GIAO THÔNG” TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
(Khảo sát báo: Giao thong vận tải, vov online, vietnamnet
từ tháng 6/2013-6/2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ THANH HOÀI
TRUYỀN THÔNG “KHÔNG UỐNG RƯỢU BIA
KHI THAM GIA GIAO THÔNG” TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
(Khảo sát báo: Giao thong vận tải, vov online, vietnamnet
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm do tôi nghiên cứu, chƣa đƣợc công bố ở bất cứ công trình khoa học nào Mọi luận cứ trong luận văn là xác thực
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thanh Hoài
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng
dạy trong chương trình Cao học báo chí K16, những người đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức hữu ích về viết báo, làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận
văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thành Lợi đã tận tình hướng
dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình thực
hiện luận văn có lúc không được thuận lợi nhưng những gì thày đã hướng
dẫn, chỉ bảo đã cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài Tôi
cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị đã giúp đỡ tôi điều tra khảo sát để có
dữ liệu làm luận văn này
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn
tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực
hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều
nên luận văn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến góp ý của
Thầy/Cô và các anh chị học viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 62
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1.Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 8
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu: 12
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: 14
7 Kết cấu luận văn 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG AN TOÀN GIAO THÔNG VÀ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG “KHÔNG UỐNG RƯỢU BIA KHI THAM GIA GIAO THÔNG” TRÊN BÁO CHÍ 16
1.1 Khái niệm về truyền thông 16
1.2 Truyền thông về an toàn giao thông 23
1.3 Thông điệp truyền thông về an toàn giao thông 25
1.4 Thông điệp truyền thông về an toàn giao thông trên báo mạng điện tử 27
1.4.1 Nội dung truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" 28
1.4.2 Các yêu cầu đối với thông điệp truyền thông về an toàn giao thông 28
1.4.3 Vai trò của báo mạng điện tử đối với vấn đề truyền thông về “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” 30
1.4.4 Nội dung của truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử 32
1.4.5 Hình thức truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử 33
1.4.6 Tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông của báo mạng điện tử đối với thông điệp "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" 34
Trang 73
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG "KHÔNG UỐNG RƯỢU BIA KHI THAM GIA GIAO THÔNG" QUA CÁC BÁO ĐƯỢC KHẢO SÁT 38
2.1 Giới thiệu báo mạng điện tử được chọn để khảo sát 38
2.1.1.Giaothongvantai.com 38
2.1.2 Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (Vov.vn) 38
2.1.3.Vietnamnet.vn 39
2.2 Thông điệp "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo điện tử 39
2.2.1 Bình diện nội dung 41
2.2.2 Phân tích hình thức thể hiện 52
2.3 Đánh giá hiệu quả truyền thông về vấn đề an toàn giao thông 61
2.3.1 Hiệu quả truyền thông thông qua nghiên cứu xã hội học bằng bảng hỏi 61
2.3.2 Hiệu quả thay đổi hành vi sau khi tiếp nhận thông điệp 76
2.4 Đánh giá ưu điểm và hạn chế 73
2.4.1.Ưu điểm: 74
2.4.2 Hạn chế 75
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 76
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THỐNG “KHÔNG UỐNG RƯỢC BIA KHI THAM GIA GIAO THÔNG” TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 80
3.1 Một số vấn đề đặt ra 80
3.2 Giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử 83
Trang 84
3.2.1 Ban hành các quy định pháp luật về hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về chống hành vi uống rượu bia khi tham gia
giao thông 83
3.2.2 Tăng cường đầu tư cho hoạt động truyền thông giảm thiểu hành vi tham gia giao thông khi uống rượu bia 84
3.2.3 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác truyền thông nâng cao nhận thức về "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" 85
3.2.4 Thực hiện các chiến dịch truyền thông quy mô và chuyên nghiệp 86
3.2.5 Tổ chức lại thông điệp 88
3.2.6 Nâng cao chất lượng bài viết 89
3.2.7 Phối hợp thông tin giữa các đơn vị có trách nhiệm trong hoạt động truyền thông 90
3.2.8 Tổ chức các phương thức truyền thông tích hợp để thu hút bạn đọc 92
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 95
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tỷ lệ các bài chia theo đề tài phản ánh 46
Bảng 2: Tỉ lệ sử dụng các thể loại 48
Bảng 3: Tỷ lệ sử dụng thông điệp trong hộp thông tin 56
Bảng 4: Tỷ lệ sử dụng thông điệp trong ngôn ngữ 58
Bảng 5: Mức độ hấp dẫn của các yếu tố trong bài báo 65
Bảng 6: Đánh giá hiệu quả thực hiện truyền thông 67
Bảng 7: Đánh giá thực hiện mục tiêu truyền thông 69
Biểu đồ 1: Tỉ lệ sử dụng chi tiết 51
Biểu đồ 2: Tỉ lệ thông điệp trong tit bài 54
Biểu đồ 3: Tỷ lệ sử dụng thông điệp trong sapo 55
Biểu đồ 4: Tỷ lệ ảnh truyền tải thông điệp 59
Biểu đồ 5: Số lượng người đọc các báo điện tử 62
Biểu đồ 6: Đánh giá độ hấp dẫn của các báo 63
Biểu đồ 7: Các thông điệp được nhận biết 70
Biểu đồ 8: Tỉ lệ thay đổi hành vi 72
Biểu đồ 9: Tỉ lệ gửi ý kiến phản hồi 73
Trang 10
6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất kỳ quốc gia nào, người lái xe uống rượu bia đều bị coi là một yếu
tố mang tính chất như là nguy cơ chính đối với an toàn giao thông (ATGT) đường bộ Do vậy, phòng chống uống rượu, bia khi lái xe đang là một vấn đề tương đối cấp bách đối với an toàn giao thông đường bộ trên thế giới, nhất là
ở Việt Nam Thực tế cho thấy, những kiến thức của người dân về ảnh hưởng của rượu, bia đến khả năng lái xe cũng như về các hoạt động tuân thủ luật lệ giao thông còn khá kém, có thể họ chưa được tiếp cận thông tin một cách đầy
đủ, hoặc có thể nhận thức còn hạn chế Chính vì vậy, trong những năm qua, mặc dù Chính phủ đã tăng cường các hoạt động kiểm soát những yếu tố gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ, song hiệu quả chưa được như mong muốn Thời gian gần đây, vi phạm luật giao thông có biểu hiện diễn biến phức tạp, trong đó nguyên nhân liên quan rượu, bia được các chuyên gia đánh giá khá nghiêm trọng
Thực tế, số người không tự kiểm soát được hành động của mình sau khi uống bia rất lớn bởi nó được chứng minh số người bị tai nạn, thậm chí bị chấn thương sọ não do điều khiển phương tiện sau khi sử dụng rượu, bia luôn ở mức đáng báo động Luật giao thông đường bộ quy định: cấm hoàn toàn việc
sử dụng rượu bia đối với lái xe ôtô khi tham gia giao thông và hạn chế đến mức rất thấp nồng độ cồn trong máu đối với người đi xe gắn máy Đồng thời, Nghị định 34 cũng quy định rõ mức xử phạt tăng nặng đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông có nồng độ cồn Những ảnh hưởng không tốt của rượu, bia đối với sức khỏe của con người ai cũng biết, song có một thực tế là rất ít người có thể dũng cảm từ bỏ được nó Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với những người điều khiển phương tiện giao thông bởi, họ sẽ không đủ tỉnh táo làm chủ hành vi của mình Hàng loạt những vụ tai nạn giao
Trang 117
thông đường bộ xảy ra trong thời gian qua nguyên nhân bắt nguồn đều từ lái
xe đã uống rượu, bia trước khi ngồi điều khiển xe, đó là những minh chứng đau lòng về vấn nạn này
Và thực tế hiện nay, khi nói đến tác hại của việc sử dụng rượu, bia quá
đà khi tham gia giao thông, phần lớn người dân đều nhận thức được điều này Song để mỗi người tự ý thức để kiểm soát được hành vi của mình lại không đơn giản Không ít người, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên thừa nhận, họ đã có những cuộc rượu,bia quá đà rồi lái xe trong tình trạng say mềm đến nỗi khi tỉnh rượu họ không biết mình về nhà bằng cách nào…Hậu quả của những hành vi liều lĩnh đó là các vụ tai nạn gây chấn thương, thậm chí những cái chết thương tâm
Nhiều người uống rượu, bia trong khi điều khiển phương tiện giao thông không chỉ mang lại tai họa cho chính mình mà còn gây tai họa cho những người khác Luật ATGT đã quy định giới hạn nồng độ cồn cho phép đối với người điều khiển phương tiện giao thông Các lực lượng chức năng cũng đã có nhiều biện pháp kiểm tra nhằm hạn chế tình trạng người tham gia giao thông sử dụng rượu bia Thế nhưng mọi biện pháp sẽ chỉ là “muối bỏ bể” nếu như thiếu đi ý thức của mỗi người dân và sự tuyên truyền của các cơ quan thông tin đại chúng
Theo thống kê, mỗi năm nước ta có khoảng 12.000 người chết và khoảng 37 ngàn người bị thương do tai nạn giao thông và số vụ tai nạn giao thông liên quan đến bia rượu chiếm hơn 40%, thiệt hại về kinh tế gần 33 tỷ đồng Nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn này là do người điều khiển phương tiện đã uống rượu bia trước khi tham ra giao thông Để giảm thiểu thiệt hại về người và của do tai nạn gây ra, một trong những biện pháp hữu hiệu là nói “không với bia rượu khi tham gia giao thông”
Trang 128
Theo nghiên cứu của tác giả, nếu chỉ xét từ giác độ đưa tin của báo giới
về vấn đề này, chúng ta không khó nhận ra rằng, các bài viết trên báo in cũng như báo mạng điện tử liên quan đến an toàn giao thông như uống rượu bia, đội mũ bảo hiểm khi lái xe còn nhiều hạn chế, thiếu chiều sâu và cụ thể, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tăng cường nhận thức của người dân về hạn chế uống rượu, bia khi lái xe và khi tham gia giao thông
Chính vì lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: Truyền thông “ không
uống rượu bia khi tham gia giao thông” trên báo mạng điện tử (Khảo sát
báo điện tử Giao thông vận tải, báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam và báo điện tử Vietnamnet từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2014) để thực hiện nghiên
cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên ngành báo chí học Với hy vọng, những đề xuất, kiến nghị nâng cao chất lượng tin, bài cho báo mạng điện tử
và tính chuyên nghiệp cho nhà báo viết về vấn đề này sẽ góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân, từ đó giúp họ hiểu và tuân thủ luật giao thông, hạn chế uống rượu, bia khi lái xe, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển bền vững
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn nạn giao thông ở nước ta, các tác giả cũng chỉ tập trung nghiên cứu ở góc độ an toàn giao thông chung chung
mà chưa đề cập đến vấn đề uống rượu bia khia tham gia giao thông
Như tác giả Mai Phương học viên trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp cho vấn đề giao thông”, năm
2011 Nội dung tiểu luận cuả của tác giả chỉ nêu khái quát về thực trạng tai nạn giao thông ở nước ta và nghiên cứu tìm ra các giải pháp nhằm kiềm chế tai nạn giao thông
Trang 139
Tác giả Phạm Quang Ngọc giáo viên trường THPT Đống Đa – Hà Nội nghiên cứu đề tài “ý thức của người tham gia giao thông và trách nhiệm của các cơ quan chức năng” năm 2010: Trong bài viết này tác giả đã nêu bật được
ý thức của người dân khi tham gia giao thông là quá kém vì không biết nhường nhịn nhau Phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn và trách nhiệm của các nhà chức trách khi xử lý các vi phạm này Tác giả nêu một số giải pháp cần thực hiện để giúp người tham gia giao thông hiểu luật và chấp hành nghiêm luật giao thông
Tác giả Lê Thị Thùy Hương Đại học Cần Thơ nghiên cứu đề tài “Quản
lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ Thành phố Cần Thơ”- Luận văn tốt nghiệp năm 2009 Nội dung bài viết của tác giả đã tập trung phân tích tình hình thực tế quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông và đưa ra những phương hướng và giải pháp nâng cao quản lý nhà nước về trật
tự an toàn giao thông
Bài viết của tác giả: Nguyễn Văn Đức – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội có nhan đề “học sinh sinh viên vi phạm luật ngày càng báo động” bài viết trên trang báo mạng điện tử Vnexpress năm 2012 Trong nội dung bài viết tác giả chỉ ra những con số về vi phạm luật giao thông đường bộ của học sinh sinh viên và giải pháp đưa ra cho các nhà quản lý để hạn chế tình trạng này
Ngoài ra còn rất nhiều các đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả khác về vấn đề giao thông nhưng trong phạm vi có hạn, tác giả chỉ nêu một số điển hình tác giả nghiên cứu sâu về vấn đề “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” trên báo mạng điện tử
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nghiên cứu đề tài “ Chống ách tắc ở các nước trên thế giới” năm 2011 bài được đăng trên báo Vietnamnet.vn Nội dung nghiên cứu phản ánh tình hình tai nạn giao thông của các nước trên thế
Trang 14Tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi cũng đã có bài nghiên cứu gửi cho WHO, nghiên cứu của tác giả có nội dung “ Tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến lạm dụng rượu bia và người điều khiển phương tiện” Trong bài nghiên cứu này tác giả đã có con số cụ thể về số người chết và bị thương liên quan đến uống rượu bia, cùng với đó tác giả cũng nêu các con số cụ thể về thiệt hại kinh tế khi tai nạn giao thông do rượu bia gây ra Ngoài ra tác giả còn một số giải pháp nhằm làm giảm tai nạn giao thông do uống rượu bia gây ra
Qua tìm hiểu có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài đã có những đề tài nghiên cứu cho WHO về tình hình tai nạn giao thông và trật tự an toàn giao thông nhưng chưa có tác giả nào đề cập đến truyền thông “ Không uống rượu bia khi tham gia giao thông” Hy vọng, đề tài này sẽ là tài liệu hữu ích
để cho mọi người tham khảo khi nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là trong quá trình thực tiễn hoạt động báo chí về giao thông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa khung lý thuyết về truyền thông, tác giả phân tích và đánh giá thực trạng đưa tin về truyền thông “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” 3 tờ báo mạng điện tử như thế nào, bao gồm nội dung
và hình thức truyền thông về vấn đề trên, đồng thời chỉ ra những ưu điểm, hạn
Trang 1511
chế và nguyên nhân của những hạn chế, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng tin, bài viết về truyền thông “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” cho báo mạng điện tử và tính chuyên nghiệp cho nhà báo viết về vấn đề này, từ đó giúp công chúng dễ tiếp nhận thông tin về truyền thông
“không uống rượu bia khi tham gia giao thông” một cách toàn diện và hữu ích
để thay đổi hành vi và nâng cao nhận thức khi tham gia giao thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Hệ thống các tài liệu nghiên cứu có liên quan, thống nhất khung lý thuyết sử dụng để phân tích;
Phân tích thực trạng truyền thông “ Không uống rượu bia khi tham gia giao thông” ở ba tờ báo mạng điện tử có nội dung liên quan đến vấn đề này trong thời gian 12 tháng;
Phân tích những cách thức đưa tin về vấn đề an toàn giao thông, uống rượu, bia khi lái xe trên các tờ báo được khảo sát;
Khảo sát thái độ tiếp nhận của người đọc đối với các tin bài mang thông điệp truyền thông "khuông uống rượu bia khi tham gia giao thông" để bước đầu rút ra một số kết luận về hiệu quả và các mặt còn tồn tại của truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử Việt Nam
Dựa trên kết quả phân tích nội dung, tác giả đề xuất chiến lược truyền nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông và tăng cường ý thức chấp hành luật lệ giao thông cho người dân, đồng thời giúp các cơ quan báo mạng điện tử xây dựng kế hoạch truyền thông phù hợp với tình hình cụ thể của cơ quan mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 1612
Truyền thông “Không uống rượu bia khi tham gia giao thông” trên các trang báo mạng điện tử được lựa chọn để nghiên cứu Trong đó các bài viết mang thông điệp truyền thông kể trên được chọn lọc và khảo sát để đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động truyền thông này trên các báo mạng điện tử
đã được lựa chọn để khảo sát
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu bao gồm: báo điện tử Giao thông vận tải (giaothongvantai.com.vn), báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam ( vov.vn) và
báo điện tử Vietnamnet(vietnamnet.vn) trong thời gian từ tháng 6 năm 2013
tới tháng 6 năm 2014 Tuy nhiên, các bài được lựa chọn nghiên cứu được chọn lọc dựa trên hệ thống từ khóa được đưa ra (tham khảo Phụ lục 1)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí và lý thuyết truyền thông
- Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giữ gìn trật
tự ATGT, truyền thông nâng cao nhận thức về ATGT trên các phương tiện
truyền thông đại chúng
- Tham khảo và kế thừa hệ thống các quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước thuộc về lĩnh vực báo chí, xã hội học và nghiên cứu dư luận xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tác giả luận văn cứu tập
trung đọc và nghiên cứu các văn bản liên quan tới truyền thông và ATGT, các sách viết về truyền thông, các văn bản quy phạm pháp luật về ATGT, các văn bản chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về công tác đảm bảo trật tự
Trang 1713
ATGT, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hành vi uống rượu bia khi tham gia giao thông và một số nghiên cứu khoa học có liên quan của các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để nhằm có cái nhìn khái quát, toàn diện
về vấn đề nghiên cứu mà đề tài đặt ra
Phương pháp phân tích văn bản: Nghiên cứu sử dụng phương pháp
phân tích tài liệu (phân tích nội dung) các bài viết về không uống rượu bia khi tham gia giao thông được đăng tải trên các báo mạng điện tử gồm:
giaothongvantai.com.vn, vov.vn, vietnamnet.vn Các bài báo được thu thập
trong thời gian từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2014 Với thời gian chọn mẫu trong vòng 12 tháng, tác giả hi vọng đánh giá được thực trạng truyền thông về vấn đề không uống rượu, bia khi tham gia giao thông trên báo mạng hiện nay
ở Việt Nam
Phương pháp thống kê: Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê,
qua đó tổng hợp và so sánh các bài viết về không uống rượu bia khi tham gia
giao thông được đăng tải trên các báo mạng gồm: giaothongvantai.com.vn ,
vietnamnet.vn,vov.vn Qua các bài báo được thu thập trong thời gian từ tháng
6/2013 đến tháng 6/2014 người viết mong muốn tổng hợp những số liệu đưa tin về hoạt động truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" của từng báo, từ đó đưa đến cái nhìn toàn cảnh về tình hình truyền thông
"không uống rượu, bia khi tham gia giao thông" trên các trang báo và đưa ra được những nguyên nhân và giải pháp cho thực trạng truyền thông về vấn đề
"không uống rượu, bia khia tham gia giao thông" trên báo mạng hiện nay ở Việt Nam và hiệu quả của hoạt động truyền thông đó
Phương pháp nghiên cứu xã hội học bằng bảng hỏi: Đề tài thiết kế
bảng hỏi và phát 200 phiếu đến hai đối tượng chính là nam giới đang học tập
và sinh sống tại Hà Nội để khảo sát và thu thập câu trả lời Nam giới là đối chính của thông điệp "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" Đề tài
Trang 1814
cũng hi vọng có thể mở rộng đối tượng khảo sát ở một nghiên cứu khác, có quy mô và mức độ rộng hơn
Phương pháp phỏng vấn sâu: Lựa chọn 10 nhà báo trực tiếp viết về
đề tài này và một số nhà quản lý báo chí để phỏng vấn sâu tại ba cơ quan báo chí có ấn phẩm báo mạng điện tử được lựa chọn (kết quả trả lời trong phần phụ lục) Ưu tiên lựa chọn người được phỏng vấn từ các báo được chọn mẫu phân tích nội dung và những tờ báo có tính đại diện
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Về mặt lý luận, đề tài bước đầu hệ thống hóa cơ sở lý luận truyền thông ATGT và thông điệp truyền thông về "không uống rượu, bia khi tham gia giao thông";
Bổ sung một số quan niệm mới về truyền thông và sử dụng thông điệp
" không uống rượu, bia khi tham gia giao thông" và vấn đề ATGT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu về an toàn giao thông, về thông tin an toàn giao
thông trên báo chí mà cụ thể là trên các báo: giaothongvantai.com.vn, vov.vn
và vietnamnet.vn Từ đó giúp các nhà báo viết về vấn đề này có thể nâng cao
chất lượng thông tin về không uống rượu, bia khi tham gia giao thông nói riêng và an toàn giao thông nói chung và góp phần xây dựng và phát triển an toàn giao thông Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có nội dung gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông an toàn giao thông và thông điệp truyền thông “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” trên báo chí
Trang 1915
Chương 2: Thực trạng sử dụng thông điệp truyền thông “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” qua các báo được khảo sát
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông
“không uống rượu bia khi tham gia giao thông” trên báo mạng điện tử
Trang 2016
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG AN TOÀN GIAO THÔNG VÀ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG “KHÔNG UỐNG RƯỢU BIA KHI THAM GIA GIAO THÔNG” TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Khái niệm về truyền thông
Trong cuốn sách “ Cơ sở lý luận báo chí” của tác giả Nguyễn văn Dững
có nêu định nghĩa về truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm …, chia sẻ kỹ nămg và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững
Dưới góc độ tiếp cận của xã hội học, truyền thông là một trong những dạng căn bản nhất của hành vi con người Theo Cooley “ đó là cơ chế để các liên hệ của con người tồn tại và phát triển” Người ta cho rằng “ truyền thông
là một phạm trù cơ bản, qua đó các hệ thống xã hội được hình thành, phát triển Thông qua truyền thông các thành tố xã hội, hệ thống con người, các hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống nhỏ, hệ thống lớn liên tiếp được cải biến và phân hóa Thông qua truyền thông các giá trị và chuẩn mực được chuyển giao
và xã hộ hóa Mẫu truyền thông ảnh hưởng tới các diễn biến hành động hình thành và củng cố các hệ thống xã hội Với ý nghĩa đó truyền thông được xem
là một thao tác xã hội [ 11, tr 15]
Truyền thông là hiện tượng xã hội ra đời và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển xã hội loài người Nó là sản phẩm của xã hội, là yếu tố kết nối và là động lực kích thích sự phát triển của xã hội loài người; đồng thời là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển; chỉ báo thể hiện diện mạo văn hóa mỗi con người, nhóm người, cộng đồng người và mỗi quốc gia Quá
Trang 2117
trình phát triển của xã hội loài người cũng là quá trình tìm kiếm, sáng tạo ra những công cụ, hình thức, phương thức, nhất là phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông
Cùng với phát triển văn minh nhân loại,sự phát triển của ngôn ngữ, lời nói đạt đến trình độ cao qua khoa hùng biện (Khoa tu từ học) của người La
Mã, Hy Lạp cổ đại Do trình độ văn hóa dân cư thấp, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nên nghề viết đơn thuê, nghề cãi thuê phát triển Nhà tu từ học đầu tiên của thế giới là Corax, sau đó đến Socrat, Platon, Aristote Đến thế kỷ hai sau công nguyên, khoa hùng biện được đưa vào giảng dạyvà trở thành công cụ chủ yếu để truyền bá văn hóa trong xã hội
Giai đoạn thứ hai của truyền thông có thể nói là việc sáng tạo ra chữ viết Chữ viết được ra đời từ khoảng thiên niên kỷ thứ IV trước công nguyên
ở vùng Lưỡng Hà do người Sumerien sáng tạo ra [ 11, tr47]
Ở Việt Nam, sau chữ Hán và chữ Nôm, chữ quốc ngữ ra đời cuối thế
kỷ XIX, cùng với kỹ thuật in chữ rời, in hoạt bản – báo in với tư cách là loại hình truyền thông đại chúng mới ra đời Sau hơn bốn thế kỷ ra đời và phát triển chậm chạp của báo in và với những phát minh khoa học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX báo phát thanh đã ra đời và phát triển nhanh chóng vào
những năm 20 Có thể nói rằng, giai đoạn thứ ba, phát thanh ra đời đã tạo ra cuộc bùng nổ truyền thông lần thứ hai
Năm 1957 Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo, điều này đã tạo
tiền đề cho cuộc bùng nổ truyền thông lần thứ ba thông qua việc tạo lập và
kết nối các phương tiện truyền thông đại chúng thành một hệ thống hay mạng lưới giữa các trạm liên lạc mặt đất và vũ trụ đến các máy thu thanh, thu hình, máy tính trên phạm vi toàn cầu
Năm 1967, trong bộ quốc phòng Mỹ, người ta đã nối thử nghiệm thành công 10 máy vi tính, hơn 10 năm sau hệ thống máy vi tính toàn cầu được
Trang 2218
khai sinh Hiện nay, mạng thông tin toàn cầu internet – xa lộ thông tin siêu tốc, kênh truyền thông đa phương tiện đã kết nối toàn thế giới lai với nhau,
làm xuất hiện những khái niệm làng toàn cầu, ngôi nhà toàn cầu Các phương
tiện truyền thông, các phương thức truyền thông được kết nối thành một hệ thống liên hoàn, có thể tạo ra những sự bùng nổ trong tương lai gần mà không
ai có thể trù tính hết Và nhờ sự phát triển như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ truyền thông, mạng máy tính toàn cầu (internet), máy tính xách tay cùng với các công cụ hỗ trợ, môi trường và thế giới truyền thông đã thay đổi từng ngày; cùng với quá trình ấy, vai trò và
vị thế công chúng truyền thông đã và đang có sự thay đổi căn bản Có thể coi
đó là sự bùng nổ truyền thông lần thứ tư
Trong quá trình phát triển truyền thông hiện nay, hai xu hướng đại chúng và phi đại chúng hóa đang đan xen và cùng phát triển Các phương tiện truyền thông phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt, trong sự hợp lực chặt chẽ nhằm tạo ra hiệu ứng xã hội mạnh mẽ hơn Truyền thông đại chúng phát triển nhanh, nhưng truyền thông trực tiếp cũng đang phát huy thế mạnh đặc biệt của nó, nếu biết chú trọng khai thác, sử dụng sẽ mang lại những kết quả to lớn Những biểu hiện lệch lạc, thiếu cơ sở khoa học – thực tiễn trong đầu tư
và định hướng phát triển các kênh truyền thông sẽ tạo nên những hiệu ứng xã hội ngoài ý muốn, thậm chí tạo tiền đề cho những bùng nổ xã hội nằm ngoài mong đợi của các nhà cầm quyền [ 11, tr 49]
Ngày nay truyền thông trực tiếp, truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng với sự hỗ trợ cuả
kỹ thuật và công nghệ truyền thông, đã làm cho truyền thông nói chung trở thành lực lượng xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển
xã hội
Xã hội càng phát triển thì truyền thông có vai trò càng quan trọng
Trang 2319
Truyền thông tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng nhu cầu, quy mô, tăng cường tính đa dạng và hiệu quả của hoạt động truyền thông Có thể nói, truyền thông đại chúng chỉ là một phương thức biểu hiện mới của hoạt động truyền thông trong xã hội Ở đây, truyền thông đại chúng được đề cập đến là đối tượng tham gia là các nhóm, cộng đồng xã hội rộng rãi; truyền thông đại chúng đáp ứng và thoả mãn nhu cầu giao tiếp mang tính phổ biến và tạo hiệu quả, quy mô xã hội rộng lớn
Trong cuốn Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, TS Nguyễn Thành Lợi có trích dẫn lý thuyết “sử dụng và hài lòng”
của tác giả Herta Herzog trong lý thuyết này tác giả có nêu: “Xét trên góc
độ vĩ mô, công chúng là một tập thể khổng lồ, xét trên góc độ vi mô, công chúng lại được thể hiện là một cá nhân có tính đa dạng và phong phú Trong xã hội hiện đại, việc tiếp xúc với truyền thông đại chúng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người Vậy tại sao cá nhân công chúng phải tiếp xúc với truyền thông đại chúng Kết quả hoạt động nghiên cứu lý thuyết “sử dụng và hài lòng” coi công chúng là cá nhân có “nhu cầu” đặc biệt, coi hoạt động tiếp xúc với truyền thông của họ là quá trình dựa trên động cơ nhu cầu đặc biệt để “sử dụng” phương tiện truyền thông,
từ đó khiến các nhu cầu này được thỏa mãn “hài lòng” [ 25, tr 62]
Từ khi sinh ra cho đến khi kết thúc cuộc đời, con người không thể tồn tại như những cá thể riêng biệt mà luôn là một thành phần của gia đình, tổ chức, xã hội… “Để xây dựng và duy trì, phát triển các mối quan hệ đó con người cần có giao tiếp, mà cụ thể hơn là việc trao đổi thông tin Thông qua trao đổi thông tin giúp con người chia sẻ với nhau những kinh nghiệm, hiểu biết của mình đền đồng loại, để từ hỗ trợ nhau cùng phát triển Hoạt động trao đổi thông tin có vai trò quan trọng trong đời sống con người, xã hội càng phát triển thì nhu cầu trao đổi thông tin càng trở nên quan trọng hơn báo giờ hết
Trang 2420
Do đó, hoạt động giao tiếp trao đổi thông tin có vai trò quan trọng, như là một điều kiện hàng đầu cho sự tồn tại của loài người với với tính chất là một xã hội Khi mà hoạt giao tiếp không chỉ còn là bản năng mà còn được nâng lên một nấc thang mới được gọi là truyền thông”, trong đó hành vi đó không đơn thuần là giao tiếp mà còn chứa đựng nhiều mục tiêu chính trị- kinh tế- xã hội trong đó
Con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc) Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi Chính vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng, xã hội Nói cách khác, truyền thông là một trong những hoạt động căn bản của bất cứ 1 tổ chức xã hội nào
Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2008, thì truyền thông là một động từ: Truyền thông là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định như mở rộng mạng lưới truyền thông đến từng cơ sở
Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “Communicare", nghĩa là biến
nó thành thông thường, chia sẻ truyền tải Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu
Theo Bess Sodel, truyền thông là một quá trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết kế
có chủ đích
Trang 2521
Theo John R Hober, truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời
Martin P Adelsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua
đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta
Đó là một qúa trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống(1)
Frank Dace (1970), truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người(1)
Gerald Miler (1996), về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ [20 tr 14]
Còn theo cách hiểu của tác giả, truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác thông qua các ký, tín hiệu có ý nghĩa Truyền thông không chỉ là quá trình chia sẻ thông tin, những tương tác bằng dấu hiệu được trung gian hoà giải
Theo một số học giả trong nước:
Theo GS TS Tạ Ngọc Tấn: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau”[11, tr.26]
Ở đây, tác giả đề cập đến việc trao đổi thông tin là trao đổi thông điệp, nâng mức khai quát hoá thông tin lên thành thông điệp Thông tin ở đây không còn là thông tin thuần tuý mà đã trở thành thông điệp Mục đích căn bản là đạt được sự biết lẫn nhau giữa người phát đi thông điệp và người nhận thông điệp
Qua nghiên cứu và tìm hiểu của tác giả có thể liệt kê ra đây vài chục các định nghĩa, khái niệm, quan niệm khác nhau về truyền thông Mỗi tác giả lại đưa ra các khái niệm dưới các góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau về truyền
Trang 2622
thông Song, các khái niệm đó vẫn hội tụ được những điểm chung cơ bản nhất, truyền thông là trao đổi thông tin, thông tin được mã hóa ở các dạng khác nhau
Ở đây, chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin giữa con người nhằm hiểu biết lẫn nhau, từ đó để hình thành ý thức cộng đồng hoặc thay đổi nhận thức của mỗi người
Đặc trưng của truyền thông
Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác
là qua nét mặt và tông giọng 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia
Bởi truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ Bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông
và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia
sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng
Trang 2723
truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng
Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin, là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ
Truyền thông thường gồm ba phần chính: Nội dung, hình thức, và mục tiêu: Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin [20 tr 14]
1.2 Truyền thông về an toàn giao thông
Nói đến vấn đề ATGT, đã có nhiều con số, những hình ảnh tang thương, những bài viết, phóng sự thực tế trên các phương tiện truyền thông làm chúng ta cảm thấy kinh hoàng và sửng sốt về việc không thực hiện an toàn giao thông, bất chấp luật lệ để rồi phải gánh những hậu quả đáng tiếc Theo thống kê thì số vụ tai nạn giao thông liên quan đến xe máy chiếm hơn
70%, mà trong đó các chấn thương do tai nạn thì chấn thương sọ não chiếm khoảng 2/3 gây ra tử vong cao hoặc nếu thoát chết thì cũng để lại di chứng
nặng nề hoặc trở thành phế nhân mà nguyên nhân chính dẫn đến các vụ tai nạn đó chủ yếu là do uống rượu bia khi tham gia giao thông Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO) mỗi năm ở nước ta tốn khoảng 900 triệu USD cho chi phí cứu chữa nạn nhân bị tai nạn giao thông Để giảm thiểu thiệt hại về người và của do tai nạn gây ra, một trong những biện pháp hữu
Trang 28Mặc cho hàng loạt chiến dịch an toàn giao thông được các ngành, các cấp đặt ra, tai nạn giao thông vẫn cứ diễn ra với nhiều cái chết thương tâm, nhức nhối Theo thống kê của các cơ quan chức năng, số người tử vong do tai
nạn giao thông ở nước ta trong 10 năm qua đã lên tới con số 120.000 người
Tức là, mỗi ngày trung bình có gần 30 người phải vĩnh viễn từ bỏ cuộc sống Chưa kể, bình quân mỗi năm Việt Nam mất đi khoảng 45 - 50 nghìn tỷ đồng
để khắc phục tai nạn giao thông Có người so sánh tai nạn giao thông với những mất mát của chiến tranh Tai nạn giao thông không đủ sức gây những
cú sốc lớn nhưng hậu quả cũng không kém phần khủng khiếp Bởi thẳm sâu sau những mất mát là những nỗi đau không gì có thể bù đắp: Mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, những số phận thiệt thòi, những mảnh đời nghiệt ngã Không gì quý hơn sinh mạng con người, thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra là một thảm họa và có thể coi là quốc nạn
Trang 2925
1.3 Thông điệp truyền thông về an toàn giao thông
Truyền thông về an toàn giao thông là một dạng hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và cũng có thể là hình ảnh Một trong các thành tố quan trọng của truyền thông về an toàn giao thông là thông điệp, trong đó quan trọng nhất là thông điệp bằng ngôn bản Khó khăn lớn nhất của người làm công tác truyền thông về an toàn giao thông là khi giải quyết những vấn đề liên quan đến cách hiểu, cách “giải mã”, cách sử dụng thông điệp truyền thông trong quá trình giao tiếp với các đối tượng giao tiếp khác nhau, đặc biệt khi gặp những trường hợp có thể tạo ra “phản lập luận” (khi thông điệp có những “lẽ thường” trái ngược nhau, gây lúng túng cho người làm công tác truyền thông
Ví dụ thông điệp “An toàn giao thông là không vi phạm”
Để hiểu rõ nội dung, hình thức của các thông, ở đây có thể đưa ra mô hình cấu tạo và mục đích của thông điệp an toàn giao thông
Mỗi thông điệp truyền thông an toàn giao thông thường gồm 2 mệnh đề: Mệnh lệnh hành động và lợi ích hành động Có thể mệnh lệnh hành động đứng trước lợi ích hành động hoặc ngược lại
Mệnh lệnh hành động là tác động làm thay đổi một hành vi cụ thể, một hành động cụ thể nhưng cũng có thể là lời kêu gọi nhằm tác động về mặt nhận thức đối với công chúng hoặc một nhóm đối tượng nào đó Lợi ích hành động
là kết quả cụ thể của mệnh lệnh hành động nhưng có thể là những thông tin nhằm tác động về mặt nhận thức đối với công chúng hoặc một nhóm đối tượng nào đó
Giao tiếp nói chung và giao tiếp trong truyền thông an toàn giao thông nói riêng là nhằm làm thay đổi nhận thức, tình cảm, hành động của con người Tuy nhiên, đối với các thông điệp với mục đích là thay đổi hành vi để tham gia thông thông một cách an toàn, có văn hóa; mục đích cuối cùng của thông điệp chính là làm thay đổi hành vi con người, hướng con người đến các hoạt
Trang 3026
động thực hiện chiến dịch ATGT cho mọi người và mọi nhà Bởi vậy, trong thông điệp, mệnh lệnh hành động chính là đích của thông điệp
Quan hệ lập luận giữa các bộ phận trong thông điệp truyền thông ATGT
Ví dụ: Thông điệp “An toàn giao thông là không tai nạn; Đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông” có các thành phần:
- An toàn giao thông là không tai nạn là mệnh đề lợi ích: Luận cứ
- Hay đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông là mệnh đề hành động
Để nhận biết các mệnh đề có thể dựa vào những từ ngữ đánh dấu quan
hệ lập luận của các mệnh đề như: “cần”, “để”, “nên”, “nhằm”, “vì”
Trong 10 thông điệp truyền thông thay đổi hành vi về ATGT (tài liệu
của Tổ chức Y tế thế giới) có đến 8 thông điệp có từ “cần” Dựa vào từ “cần”,
có thể xác định được mệnh đề hành động, cũng như dựa vào từ “để”, có thể xác định mệnh đề lợi ích của thông điệp
Tuy nhiên, bên cạnh những thông điệp đầy đủ hai mệnh đề, có những thông điệp chỉ có một mệnh đề, cụ thể: Có mệnh lệnh hành động nhưng không có lợi ích hành động, hoặc có lợi ích hành động nhưng không có mệnh lệnh hành động
Trong các thông điệp không đầy đủ 2 mệnh đề, kết luận (mệnh lệnh hành động) hay luận cứ (mệnh đề lợi ích) có thể hàm ẩn Một trong những nhiệm vụ cơ bản của người nghiên cứu là vận dụng lý thuyết lập luận để phát hiện ra các kết luận hay luận cứ hàm ẩn này, góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị của các thông điệp truyền thông an toàn giao thông
Truyền thông an toàn giao thông là mũi nhọn trong các hoạt động đảm bảo an toàn giao thông Lập luận trong các thông điệp về an toàn giao thông bằng lý thuyết ngữ dụng học là một vấn đề mới góp phần làm sáng tỏ các nội dung cơ bản của các thông điệp nhằm tạo ra hiệu lực lập luận và hiệu quả của thông điệp trong quá trình tuyên truyền, vận động Đặc điểm cấu tạo các
Trang 3127
thông điệp cho thấy vai trò của việc tường minh hoá các luận cứ, kết luận hàm
ẩn trong công tác truyền thông an toàn giao thông nhằm thuyết phục được người nghe và các nhóm đối tượng thay đổi hành vi tham gia giao thông
Truyền thông là quá trình đa chiều, lý thuyết truyền thông về an toàn giao thông sẽ giúp cho đội ngũ những người làm công tác truyền thông về an toàn giao thông có cái nhìn toàn cục Vận dụng một cách linh hoạt các lý lẽ viện dẫn trong quá trình truyền thông
Lập luận trong các thông điệp truyền thông về an toàn giao thông còn
là cơ sở khoa học để nghiên cứu sâu hơn các thông điệp ATGT, giúp các nhà truyền thông chú ý đến đặc điểm, cấu tạo lập luận khi xây dựng thông điệp
Lập luận trong thông điệp truyền thông về an toàn giao thông mở ra một hướng tuyên truyền mới cho những người làm truyền thông Trong quá trình đào tạo chương trình truyền thông thay đổi hành vi, việc phân loại thống
kê và lý giải từng thông điệp truyền thông bằng lý thuyết lập luận vẫn đang còn bỏ ngỏ Tính phức tạp của cấu trúc lập luận trong các thông điệp về an toàn giao thông cần được tiếp tục nghiên cứu chỉnh sửa, nếu không sẽ khó giải thích được đâu là “đích” của nội dung thông điệp
Một số thông điệp tiêu biểu về an toàn giao thông: Uống rượu, bia
không lái xe; Hãy lái xe bằng cả trái tim; Nói không với rượu bia khi tham gia giao thông; Phía trước tay lái bạn là gia đình bạn; Nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường bộ; Tích cực hưởng ứng thập kỷ hành động vì ATGT đường bộ 2011 – 2020; An toàn giao thông – trách nhiệm của mỗi người; Đội
mũ bảo hiểm đúng quy đinh khi đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện; Trẻ em trên 6 tuổi phải đội mũ bảo hiểm đúng quy định khi tham gia giao thông bằng
mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện; An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người; Vì bình yên sông nước là trách nhiệm của chúng ta
1.4 Thông điệp truyền thông về an toàn giao thông trên báo mạng
Trang 32Với những tác hại khôn lường của việc hạn chế khả năng kiểm soát hành vi một cách chủ động khi điều khiển các phương tiện cơ giới của đồ uống có cồn, đặc biệt là rượu bia, truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" chủ yếu tập trung vào nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi ở việc: nếu đã uống rượu bia và có nồng độ cồn trong máu và khí thở
ở trên mức giới hạn quy định, thì người uống không tham gia điều khiển phương tiện giao thông, đặc biệt là phương tiện giao thông cơ giới như ô tô hoặc xe gắn máy Các quy định xử phạt hành chính đối với người tham gia giao thông mà có nồng độ cồn trong máu và khí thở quá mức cho phép hiện
nay vẫn tập trung ở hai yếu tố cấu thành đồng thời: nồng độ cồn trong máu hoặc khí thở cao quá mức cho phép và đang tham gia điều khiển phương tiện giao thông Như vậy, các thông điệp truyền thông sẽ tập trung vào nội
dung khuyến cáo người dân không điều khiển phương tiện giao thông nếu đã uống rượu bia và nêu ra những hậu quả của hành động này, những hoạt động ngăn chặn và xử lý của cơ quan chức năng, những vấn đề có liên quan tới thực hiện và chấp hành các quy định pháp luật về việc này
1.4.2 Các yêu cầu đối với thông điệp truyền thông về an toàn giao thông
Năm 2012 trong một bài phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đã nhắc đến những tiêu chí
Trang 3329
về an toàn giao thông Phó thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần chỉ đạo quyết liệt, thực hiện có hiệu quả các tiêu chí về an toàn giao thông, trong đó có các yêu cầu về xây dựng tiêu chí "Văn hóa giao thông", việc quy định "không uống rượu, bia trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa",
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ nghành cần tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm cán bộ uống rượu, bia trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa, không phân biệt là cán bộ hay nhân viên
Bộ Y tế sớm ban hành quy định về việc xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ ( Báo GTVT)
Như vậy có thể thấy các tiêu chí về an toàn giao thông thì tiêu chí “ không được uống rượu bia khi tham gia giao thông” được Phó Thủ tướng đặc biệt chú trọng và coi đó là tiêu chí cần phải tìm mọi giải pháp thực hiện triệt
để để giảm tối đa các vụ tai nạn do uống rượu bia gây ra Ngoài ra còn rất nhiều những cuộc họp của Ban chỉ đạo về an toàn giao thông đề cập đến các thông điệp về giao thông để phát động quần chúng nhân dân tham gia thực hiện Các thông điệp ít nhiều đã có những ảnh hưởng nhất định đến từng đối tượng qua truyền thông dần dần tạo được thói quen tốt, có ích cho những ai tham gia giao thông
Uy tín của nguồn phát thông điệp
Một cuốn sách về lĩnh vực chính trị được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia chắn chắn sẽ có uy tín hơn các nhà xuất bản khác Đây chính là cách thức lấy một thương hiệu có uy tín khác để hỗ trợ cho thương hiệu của mình Đối với thông điệp về ATGT cũng thế, một thông điệp nào đó
do Bộ GTGT hoặc UBATGTQG đưa ra chắc chắn sẽ có uy tín hơn nhiều so với thông điệp của các đơn vị khác đưa ra
Phạm vi phân phối thông điệp cần phù hợp với mục đích đặt ra
Các sản phẩm thời trang thường được quảng cáo trên báo Phụ nữ thay
Trang 3430
vì quảng cáo trên báo Nông thôn ngày nay Điều này thể hiện việc lựa chọn phương tiện truyền thông thích hợp trong đó bao gồm cả việc xác định phạm
vi mà phương tiện được truyền tải
Thông điệp đưa ra càng ngắn gọn, dễ hiểu bao nhiêu thì công chúng
càng dễ tiếp nhận Ví du “Phía trước tay lái bạn là gia đình bạn”; “Nhanh một phút chậm cả đời”… tạo được hiều ứng cao, công chúng đón nhận
nhanh chóng
Thông điệp rõ ràng nhằm tránh những hiểu nhầm không đáng có Điều đặc biệt là thông điệp trong hoạt động truyền thông mang tính chân thực cao hơn trong các quảng cáo, do đó nó dễ lôi cuốn các đối tượng và dễ gây dựng các giá trị và niềm tin về thương hiệu
Kênh truyền thông được lựa chọn
Chủ thể của hoạt động truyền thông phải biết đối tượng tiếp nhận thông điệp nào sẽ sử dụng kênh truyền thông nào? Sự phù hợp giữa đối tượng và kênh truyền thông là một yếu tố quan trọng thúc đẩy thông điệp được truyền tải tốt hơn Như quảng cáo sữa cho trẻ em bạn nên hướng vào các chương trình truyền hình dành cho trẻ em, phân bón trên báo Nông nghiệp
Để tránh công chúng hiểu lầm, hoặc hiểu không đầy đủ về thông điệp
mà mình đưa ra, tùy theo đối tượng công chúng mà đưa các thông điệp cho phù hợp
Đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát các tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử với hai bình diện chính là nội dung và hình thức Đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát xã hội học để thu thập ý kiến đánh giá của công chúng về các hoạt động nói trên
1.4.3 Vai trò của báo mạng điện tử đối với vấn đề truyền thông về
“không uống rượu bia khi tham gia giao thông”
Báo mạng điện tử tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát
Trang 3531
triển của hệ thống internet trên toàn cầu Web (World Wide Web) được sinh ra với mục đích tạo giao diện chung dễ sử dụng trong quá trình truy cập thông tin trên internet Vào cuối những năm cuối của thập kỷ 80 nó được Tim Berners Lee, một nhà vật lý ở viện nghiên cứu hạt nhân châu Âu Cern đề xuất
và tiến hành nghiên cứu cùng với cộng sự của ông là Robert Caililau Năm
1991, người dùng được nhận bản thử nghiệm đầu tiên và từ đó một cuộc cách mạng trên internet đã bùng nổ Tháng 10/1993, Khoa báo chí Đại học Florida (Mỹ) tung ra cái mà họ tự tin là tờ báo Internet đầu tiên Năm 1994, phiên bản online của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên và hàng loạt báo khác tại Mỹ ồ ạt mở website “Cơn sốt vàng” của thời thông tin trực tuyến bắt đầu Một khảo sát lần đầu tiên về độc giả Internet của hãng dịch vụ thống kê truy cập Nielsen/NetRatings công bố mới đây cho thấy 1/5 số người lướt web thích đọc báo mạng hơn các phiên bản phi trực tuyến Có lẽ đó cũng chính là một động lực khiến các tờ báo giấy – vừa là để cạnh tranh vừa là không thể cưỡng lại xu thế điện tử hóa – cũng đã phải lập tức triển khai phiên bản điện tử, trong đó phần lớn phát hành lại các bài báo từ bản giấy và có cập
nhật thêm thông tin riêng
Ngoài ra còn rất nhiều các ảnh hưởng khác đòi hỏi người sử dụng mạng internet phải hợp lý nhằm phục vụ nhu cầu bản thân Internet lợi thì
có lợi thật nhưng nếu không biết cách sử dụng sẽ là con dao 2 lưỡi làm hại chính chúng ta
Mỗi một bước tiến của xã hội ngày nay càng thấy rõ vai trò của công nghệ thông tin nói chung và của báo mạng điện tử nói riêng đối với đời sống xã hội Vì thế hệ thống báo mạng điện tử ở Việt Nam cũng như trên thế giới cần không ngừng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của con người và vươn tới một thời đại mới của nền văn hóa tri thức Trong cái mênh mông của tri thức ở báo mạng
Trang 3632
điện tử thì ta có thể thấy cái hữu ích nhanh nhất và hiệu quả nhất cho vấn
đề truyền thông về an toàn giao thông trên cả nước hay chỉ nho nhỏ là truyền thông “ Không uống rượu bia khi tham gia giao thông”đã có tác dụng thiết thực đôi với công chúng Qua những hình ảnh, những vidio, những dòng chữ ngắn gọn xúc tích đã là một lời cảnh báo đối với những ai không chấp hành pháp luật về giao thông và hơn thế nữa nó còn như là những bài học để công chúng lấy đó làm gương
“Truyền thông không uống rượu bia khi tham gia giao thông” tuy là mục nhỏ trên các tờ báo lớn nhưng nó nhỏ mà lại không nhỏ chút nào bởi lợi ích của việc truyền thông này mang lại cho công chúng là rất lớn Trong khuôn khổ luận văn của tác giả chỉ nghiên cứu 3 tờ báo lớn có uy tín trong cả nước và được công chúng truy cập nhiều đó là các báo điện tử: “ Giao thông vận tải” “VOV online” “ Vietnamnet” từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm
2014 Với mục đích tuyên truyền sâu rộng hơn nữa đến công chúng tác hại của rượu bia và sự nguy hiểm của nó khi con người sử dụng nó rồi tham gia giao thông
1.4.4 Nội dung của truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử
Trong nhiệm vụ truyền thông “không uống rượu bia khi tham gia giao thông” các báo mạng điện tử tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ phản ánh thông tin như sau, nhằm duy trì việc truyền tải thông điệp trực tiếp và gián tiếp tới người đọc
- Quy định pháp luật về hành vi uống rượu bia khi tham gia giao thông
- Trường hợp phạm luật lệ giao thông nghiêm trọng do rượu bia
- Ý thức giao thông của người tham gia giao thông
- Tai nạn giao thông do rượu bia
- Tác hại của rượu bia đôi với an toàn giao thông
Trang 3733
- Hoạt động kiểm tra xử ký người uống rượu bia khi tham gia giao thông
- Phản hồi của công chúng về thông điệp không uống rượu bia khi tham gia giao thông
- Thái độ của công chúng đối với uống rượu bia khi tham gia giao thông
1.4.5 Hình thức truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử
Thông điệp truyền thông là nội dung thông tin mà nguồn phát muốn truyền tải tới đối tượng tiếp nhận nhằm một mục đích nhất định Truyền thông
về bất kỳ chủ đề nào, muốn đạt hiệu quả cũng đòi hỏi phải xây dựng các chiến dịch truyền thông quy mô và bài bản, kết hợp nhiều phương tiện truyền thông khác nhau Với thế mạnh trực tuyến của mình, báo mạng điện tử là một kênh quan trọng của hoạt động truyền thông về thông điệp chống hành vi uống rượu bia mà vẫn tham gia điều khiển phương tiện giao thông Các khía cạnh truyền tải thông điệp của báo mạng điện tử có thể bao gồm:
Truyền tải thông điệp trực tiếp:
Trên báo mạng điện tử có một số hình thức trực tiếp có thể truyền tải toàn bộ nội dung thông điệp như banner, pop-up là các mẫu thiết kế bằng đồ họa chứa thông điệp được đưa trực tiếp ra các giao diện trang của báo điện tử Ngày nay với sự phát triển của công nghệ, banner không chỉ nằm cố định ở một vị trí mà nó còn có thể gây được sự chú ý bằng cách tích hợp các hiệu ứng khác nhau
Các banner và pop-up này chủ yếu được sử dụng để phục vụ quảng cáo Ngày nay pop-up còn được sử dụng công nghệ để hiện lên trên màn hình người đọc đang đọc ma không cần phải click chuột Nó thu hút sự chú ý của độc giả rất lớn Tuy nhiên, đây cũng là cách khiến đọc giả cảm thấy bị "làm phiền" khi lướt trên các trạng mạng
Truyền tải thông điệp gián tiếp:
Trang 3834
Với thế mạnh báo chí của mình, báo mạng điện tử viết bài liên quan tới chủ đề, phục vụ thông điệp và gây ra sự chú ý của độc giả Thông điệp "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" cũng không phải là một ngoại lệ
Tuy nhiên, các bài viết báo chí có chứa thông tin liên quan tới thông điệp này cũng được phân chia thành hai dạng chính: bài viết trực tiếp đề cập tới thông điệp và bài viết gián tiếp đề cập tới thông điệp (hoặc đề cập tới vấn
đề có liên quan tới thông điệp)
Các bài viết này có thể chứa thông điệp trong các yếu tố nội dung và hình thức của chúng Các yếu tố nội dung bao gồm: đề tài, chủ đề, thể loại, cấp độ thông tin quốc gia hay địa phương, các chi tiết Các yếu tố hình thức bao gồm: tít bài, sapo, hộp thông tin bổ xung, ảnh, ngôn ngữ Toàn bộ các yếu
tố này cũng có thể được xem xét trên góc độ phản ánh trực tiếp hay gián tiếp thông điệp mà nhà báo hoặc người làm truyền thông muốn truyền tải
1.4.6 Tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông của báo mạng điện tử đối với thông điệp "không uống rượu bia khi tham gia giao thông"
Muốn đánh giá hiệu quả của một chiến dịch truyền thông, người ta không chỉ dựa vào quá trình lập kế hoạch và tiến hành chiến dịch Như vậy, muốn đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông điệp "không uống rượu bia khi tham giao thông trên báo mạng điện tử, người ta không chỉ xem xét quá trình sáng tạo và đăng tải tác phẩm, đồng thời không chỉ phân tích văn bản báo chí Một hoạt động đóng vai trò then chốt là đo lường hiệu quả đó thông qua phản ứng của chính đối tượng tiếp nhận thông điệp truyền thông
Các đánh giá này vừa tìm hiểu thái độ, thói quen tiếp nhận sản phẩm truyền thông của đối tượng tiếp nhận, đo lường mức độ chú ý, mức độ đồng ý hoặc không đồng ý, phản ứng đối với thông điệp, mức độ thay đổi nhận thức
và thay đổi hành vi của công chúng Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả truyền thông cần những cuộc điều tra quy mô, những phương pháp thực sự hiệu quả
Trang 3935
Với khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chọn phát 200 bảng hỏi cho đối tượng chính là lái xe, học sinh sinh sinh viên và nam viên chức trên địa bàn thành phố Hà Nội Các đối tượng khác, người nghiên cứu hi vọng sẽ có dịp
mở rộng phạm vi nghiên cứu trong thời gian tiếp theo với các cuộc điều tra xã hội học có quy mô lớn hơn
Vì vậy, đề tài tập trung đánh giá:
Việc sử dụng các yếu tố của tác phẩm báo chí nhằm truyền tải thông điệp "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" được thực hiện như thế nào trên các tờ báo được khảo sát
Độc giả nhận biết và đánh giá như thế nào đối với các tác phẩm báo chí truyền tải "thông điệp không uống rượu bia khi tham gia giao thông" và tác dụng thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi của các thông điệp này đối với độc giả
Hiệu quả của truyền thông được đánh giá trên ba cấp độ chính:
- Thay đổi thái độ: Đối với mỗi chiến dịch truyền thông, thông điệp
truyền thông, hiệu quả đầu tiên được tính tới là khả năng thay đổi thái độ của đối tượng được truyền thông từ "không quan tâm" hoặc "chối bỏ" tới "quan tâm Đối với thông điệp truyền thông về an toàn giao thông nói chung và truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông", hiệu quả đầu tiên được đánh giá cũng cần xem xét tới khả năng thay đổi thái độ của đối tượng được truyền thông Đây cũng là bước đầu tiên cho hiệu quả cao nhất của truyền thông hiện đại là thay đổi hành vi của người được truyền thông, giúp cải tạo hiện thực theo chiều hướng tích cực
- Thay đổi nhận thức: Nhận thức chính là cội nguồn của hành động
Bất kỳ hành động nào của con người cũng bắt nguồn từ nhận thực của họ về vấn đề nào đó được đề cập Đối với hoạt động truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông", việc thay đổi nhận thức của đối tượng được
Trang 4036
truyền thông cũng hết sức quan trọng Chỉ có thay đổi được nhận thức của người dân, làm cho người dân không chỉ hiểu được mà còn định hướng được hành động để tránh những hậu quả đáng tiếc do uống rượu bia gây ra Tuy nhiên, cũng có nhiều người, không phải là họ thực hiện hành vi do không nhận thức được vấn đề, quan trọng là sự thay đổi nhận thức đó có đủ để chiến thắng định kiến xã hội và định kiến cá nhân về vấn đề đó hay không
- Thay đổi hành vi: Thay đổi hành vi là hiệu quả cao nhất, quan trọng
nhất nhưng cũng khó đạt tới nhất của hoạt động truyền thông Sự thay đổi hành vi bao giờ cũng cần bắt nguồn từ thay đổi thái độ và nhận thức Khi đã
có biến chuyển về hành vi thì đương nhiên có thể đánh giá là đối tượng đã có những thay đổi nhất định về thái độ và nhận thức
Sự thay đổi hành vi có thể diễn ra nhanh chóng hoặc chậm chạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính cách cá nhân, môi trường văn hóa, học vấn, định kiến xã hội Tuy nhiên, để duy trì bền vững sự thay đổi về hành vi cũng cần có môi trường xã hội có khả năng hỗ trợ Do vậy, để đánh giá hiệu quả thay đổi hành vi cũng cần rất nhiều phương pháp cũng như công cụ phân tích, đánh giá khoa học
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi sẽ không đi sâu vào việc đánh giá hiệu quả đó, mà chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát để đưa ra một diện mạo chung cho hoạt động truyền thông "không uống rượu bia khi tham gia giao thông" trên báo mạng điện tử Việt Nam, đưa ra một số luận điểm với các luận cứ xác đáng về các ưu điểm cũng như các mặt còn tồn tại của hoạt động này Hi vọng, các nghiên cứu sâu rộng hơn sẽ tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới đây
Tiểu kết chương 1
Lý thuyết truyền thông là một trong những hoạt động nghiên cứu được chú trọng trong những năm trở lại đây, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế