1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, để nâng cao năng lực và vị trí của quốc gia trên trường quốc tế, Chính phủ các nước đều rất coi trọng việc đào tạo công chức, viên chức. Nhật Bản cho rằng việc đào tạo công chức là một cách “đầu tư trí lực”, là khai thác tài nguyên trí óc của các nhân tài. Chính phủ Pháp khi tổng kết thành quả đào tạo công chức, viên chức đã đưa ra kết luận, đào tạo công chức, viên chức là sự “đầu tư tốt nhất”...Như vậy, có thể nói coi trọng và tăng cường đào tạo đội ngũ công chức, viên chức đã trở thành một xu thế của thế giới. Do đó, công tác đào tạo công chức, viên chức có nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc phát triển nền hành chính của một quốc gia. - Đào tạo công chức, viên chức là nhu cầu bức thiết để nâng cao trình độ quản lý hành chính nhà nước, nâng cao hiệu suất các mặt công tác của tổ chức. - Đào tạo công chức, viên chức là biện pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức giỏi, tinh thông, liêm khiết, làm việc có hiệu quả. - Trong bối cảnh mới của đất nước, khu vực và thế giới, việc đào tạo công chức, viên chức đòi hỏi phải có nhận thức mới, sâu sắc và toàn diện, phải hướng tới hình thành đội ngũ công chức, viên chức có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, nội dung, tính chất công việc có nhiều thay đổi; việc bám sát chương trình và tiêu chuẩn công chức, viên chức quốc tế và khu vực đạt chuẩn quốc tế đặt ra là rất cấp thiết. Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường, lớp, ngoài tăng cường trang bị lý thuyết thì rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong công tác đối với công chức, viên chức là yêu cầu rất cần thiết. Công chức, viên chức không thể thỏa mãn với một số kiến thức mà mình đã được đào tạo, mà phải tiến hành tự đào tạo, đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên. Phải đổi mới chương trình, nội dung để đào tạo, bổ sung nâng cao trình độ, năng lực cho công chức, viên chức không chỉ ở một lĩnh vực mà một vài lĩnh vực có liên quan với nhau, thậm chí khác nhau. Để thực hiện mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước có số lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu thực tiễn, từng bước tiến tới chuyên nghiệp, hiện đại” thì điều kiện tiên quyết là phải coi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức là khâu đột phá trong cải cách bộ máy nhà nước. Điều đó chứng tỏ công tác đào tạo là công việc vô cùng quan trọng, là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chấtc thự, năng lực thực thi công vụ tốt. Xã hội càng phát triển cao bao nhiêu thì sự đòi hỏi về năng lực chuyên môn trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý càng cao bấy nhiêu. Như vậy, có thể thấy rằng: đào tạo nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý cho đội ngũ công chức, viên chức không phải là một yêu cầu mang tính lịch sử, chỉ tồn tại trong quá trình chuyển đổi, nhất thời mà là một yêu cầu đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Một trong những nội dung quan trọng của chiến lược công chức, viên chức là đào tạo công chức, viên chức. Thấy được tầm quan trọng của đào tạo công chức, viên chức, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng chăm lo xây dựng, có kế hoạch đào tạo công chức, viên chức. Đây là một hoạt động nhằm trang bị và nâng cao kiến thức, năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức. Nhằm hướng tới xây dựng một đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất năng lực để làm tốt công việc mà Đảng và Nhà nước giao. 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài - Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề đạo tạo công chức viên chức. - Đánh giá thực trạng đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn nhằm chỉ ra các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. - Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực trang, luận văn đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn - Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi không gian: tỉnh Lạng Sơn + Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập trong khoảng thời gian từ 2012 đến năm 2014 4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu - Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu từ website của tỉnh Lạng Sơn để đánh giá tình hình chung của tỉnh; để cung cấp số liệu chính thức đánh giá thực trạng công tác đào tạo công chức, viên chức và những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn - Phương pháp phân tích hệ thống: Phương pháp này sử dụng để phân tích các số liệu, các kết quả điều tra, khảo sát. 5. Kết cấu luận văn Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham kháo, danh mục bảng biểu, danh mục các từ viết tắt và các phụ lục, khóa luận được chia làm 3 chương Chương 1. Cơ sở lý luận về đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn. Chương 2. Thực trạng đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn. Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn.
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
Trang 2BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận với đề tài “Đào tạo công chức, viên
chức tại tỉnh Lạng Sơn” là công trình nghiên cứu của riêng em Các số
liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ
ĐẶNG LINH TRANG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Lao
Động-Xã hội và dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy giáo, cô giáo; khóa
luận tốt nghiệp với đề tài: “Đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng
Sơn” đã được hoàn thành Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến các thầy giáo, cô giáo; đặc biệt là TS Đỗ Thị Tươi đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ, công chức tại các Phòng ban đơn
vị Sở Nội vụ nói chung và phòng công chức, viên chức nói riêng tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho em thu thập tài liệu, nghiên cứu nghiệp vụ và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
3.2.2.Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể 55
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn 56
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6Ủy ban nhân dânHội đồng nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
3.2.2.Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể 55 3.3 Một số giải pháp hoàn thiện đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn 56
Sơ đồ 1.1 Quá trình tổ chức thực hiện đào tạo Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Error: Reference source not found
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, để nâng cao năng lực và vị trí của quốc gia trên trường quốc tế, Chính phủ các nước đều rất coi trọng việc đào tạo công chức, viên chức Nhật Bản cho rằng việc đào tạo công chức là một cách “đầu tư trí lực”, là khai thác tài nguyên trí óc của các nhân tài Chính phủ Pháp khi tổng kết thành quả đào tạo công chức, viên chức đã đưa ra kết luận, đào tạo công chức, viên chức là sự “đầu tư tốt nhất” Như vậy, có thể nói coi trọng
và tăng cường đào tạo đội ngũ công chức, viên chức đã trở thành một xu thế của thế giới Do đó, công tác đào tạo công chức, viên chức có nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc phát triển nền hành chính của một quốc gia
- Đào tạo công chức, viên chức là nhu cầu bức thiết để nâng cao trình độ quản lý hành chính nhà nước, nâng cao hiệu suất các mặt công tác của tổ chức
- Đào tạo công chức, viên chức là biện pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức giỏi, tinh thông, liêm khiết, làm việc có hiệu quả
- Trong bối cảnh mới của đất nước, khu vực và thế giới, việc đào tạo công chức, viên chức đòi hỏi phải có nhận thức mới, sâu sắc và toàn diện, phải hướng tới hình thành đội ngũ công chức, viên chức có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, nội dung, tính chất công việc có nhiều thay đổi; việc bám sát chương trình và tiêu chuẩn công chức, viên chức quốc tế và khu vực đạt chuẩn quốc tế đặt ra là rất cấp thiết Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường, lớp, ngoài tăng cường trang bị lý thuyết thì rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, ứng
xử trong công tác đối với công chức, viên chức là yêu cầu rất cần thiết Công chức, viên chức không thể thỏa mãn với một số kiến thức mà mình
đã được đào tạo, mà phải tiến hành tự đào tạo, đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên Phải đổi mới chương trình, nội dung để đào tạo, bổ sung nâng cao trình độ, năng lực cho công chức, viên chức không chỉ ở một lĩnh vực mà
Trang 9một vài lĩnh vực có liên quan với nhau, thậm chí khác nhau.
Để thực hiện mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước có số lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu thực tiễn, từng bước tiến tới chuyên nghiệp, hiện đại” thì điều kiện tiên quyết là phải coi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức là khâu đột phá trong cải cách bộ máy nhà nước
Điều đó chứng tỏ công tác đào tạo là công việc vô cùng quan trọng, là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chấtc thự, năng lực thực thi công vụ tốt Xã hội càng phát triển cao bao nhiêu thì sự đòi hỏi về năng lực chuyên môn trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý càng cao bấy nhiêu Như vậy, có thể thấy rằng: đào tạo nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý cho đội ngũ công chức, viên chức không phải là một yêu cầu mang tính lịch sử, chỉ tồn tại trong quá trình chuyển đổi, nhất thời mà là một yêu cầu đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, liên tục
Một trong những nội dung quan trọng của chiến lược công chức, viên chức là đào tạo công chức, viên chức Thấy được tầm quan trọng của đào tạo công chức, viên chức, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng chăm lo xây dựng, có kế hoạch đào tạo công chức, viên chức Đây là một hoạt động nhằm trang bị và nâng cao kiến thức, năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức Nhằm hướng tới xây dựng một đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất năng lực để làm tốt công việc mà Đảng và Nhà nước giao
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề đạo tạo công chức viên chức
- Đánh giá thực trạng đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn nhằm chỉ ra các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực trang, luận văn đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 10+ Phạm vi không gian: tỉnh Lạng Sơn
+ Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập trong khoảng thời gian từ 2012 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu từ website của tỉnh Lạng Sơn để đánh giá tình hình chung của tỉnh; để cung cấp số liệu chính thức đánh giá thực trạng công tác đào tạo công chức, viên chức và những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn
- Phương pháp phân tích hệ thống: Phương pháp này sử dụng để phân tích các số liệu, các kết quả điều tra, khảo sát
5 Kết cấu luận văn Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham kháo, danh mục bảng biểu, danh mục các từ viết tắt và các phụ lục, khóa luận được chia làm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn
Chương 2 Thực trạng đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn.Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện đào tạo công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về công chức
Theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định: “Công chức được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công
vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán ); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các
cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân các cấp (Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm soát nhân dân; tổ chức CT-XH (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên ); Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập ”
1.1.2 Khái niệm về viên chức
Viên chức được tuyển dụng theo hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định
là công chức) Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ
có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học
Từ đó để phân loại rõ hơn về khái niệm công chức, viên chức ta có bảng sau:
Trang 12Bảng 1.1 So sách giữa công chức và viên chức
Hình thức tuyển dụng: thi tuyển, bổ
nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thuộc biên chế
Hình thức tuyển dụng: xét tuyển, ký hợp đồng làm việc
Lương: hưởng lương từ ngân sách
nhà nước, theo ngạch bậc
Lương: một phần từ ngân sách, còn lại
là nguồn thu sự nghiệp
Nơi làm việc: cơ quan nhà nước, tổ
chức CT-XH (Thành Đoàn,Thành ủy)
Nơi làm việc: đơn vị sự nghiệp và đơn
vị sự nghiệp của các tổ chức xã hội
1.1.3 Khái niệm về đào tạo công chức, viên chức
- Thông thường, đào tạo được cho là “quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định”
- Trong đạo luật Liên bang của Mỹ, đào tạo được xác định như là một quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí, đưa họ vào các chương trình, khoá học, môn học, hệ thống hoặc nói cách khác là huấn luyện và giáo dục được chuẩn bị, có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học, chuyên ngành, kỹ thuật, cơ khí, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính hay các lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm
vụ và mục tiêu công tác
- Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu
và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình
- Đào tạo đối với các nhân viên không phải là các quản trị gia là việc thực hiện việc học tập, lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng kỹ thuật
- Theo điều 5 Nghị định 18/2010/NĐ-CP quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức quy định “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học.”
- Từ đó ta có thể khái quát khái niệm về đào tạo công chức viên chức
là quá trình truyền thụ kỹ thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các
Trang 13hình thức khác nhau cho cán bộ công chức viên chức để phù hợp với yêu cầu giải quyết hiệu quả các công việc được nhà nước giao cho, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức thực hiện.
1.2 Nội dung đào tạo công chức, viên chức
1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo
Xác định nhu cầu đào tạo là một phần của quá trình đào tạp; song đó là bước đầu tiên, quan trọng, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo
Để xác định nhu cầu đào tạo cho công chức, viên chức cần tiến hành một số khâu công việc như sau:
- So sánh kiến thức và kỹ năng thực tế của công chức, viên chức với yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, trình độ tiêu chuẩn chức danh của họ Đưa những người thiếu các kiến thức và kỹ năng cần thiết vào danh sách những người cần đào tạo bổ sung
- Xác định số người cần tuyển thêm ở các bộ phần và các chức danh công việc cần tuyển thêm Danh mục các chức danh cần tuyển thêm được lấy từ kế hoạch số lượng nhân lực của tổ chức Những người cần tuyển thêm này sẽ nằm trong danh sách cán bộ nhân viên cần đào tại theo hình thức đào tạo khi mới bắt đầu nhận việc
- Dựa trên mục tiêu và chiến lược phát triển của tổ chức, xác định trong năm kế hoạch phải đào tạo thêm những kiến thức và kỹ năng gì để đạt được mục tiêu và chiến lược phát triển đó Đồng thời, lựa chọn những
cá nhân cần thiết để tiến hành đào tạo trong năm kế hoạch
Ta có thể thấy được rằng nhu cầu đào tạo của công chức, viên chức bao gồm:
- Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị
- Nhằm thường xuyên xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt
- Nội dung đào tạo bồi đưỡng lý luận chính trị bao gồm:
+ Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho các chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý.+ Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng; bồi dưỡng cập nhật, nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Đào tạo kiến thức về quản lý nhà nước
Trang 14Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hành chính nhà nước và quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường nhằm xây dựng đội ngũ công chức vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng của công chức trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới Nội dung đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản trị nhân lực bao gồm:
+ Trang bị kiến thức, kỹ năng quản trị nhân lực theo chương trình quy định cho công chức các ngạch và theo chức vụ lãnh đạo, quản lý;
+ Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản trị nhân lực chuyên ngành và tương ứng với các vị trí làm việc theo chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm;
+ Bồi dưỡng văn hóa công sở
Chương tŕnh đào tạo, bồi dưỡng gồm: bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới; bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng cho cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp; đào tạo trung cấp, đại học, sau đại học
Đào tạo kiến thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng làm việc
Nhằm cập nhật kiến thức về pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ và năng lực thực thi công việc; xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, có năng lực xây dựng, hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các chương trình, dự án có hiệu quả, đáp ứng các mục tiêu phát triển Gồm có các chương trình bồi dưỡng những chính sách pháp luật chung, bồi dưỡng và kiến thức về pháp luật chuyên ngành; các chương trình bồi dưỡng cập nhật, kỹ năng hoạt động, sơ cấp, trung cấp, đại học, sau đại học thuộc các lĩnh vực chuyên môn; các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh công chức, ngạch công chức
Đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế và các kiến thức bổ trợ khác
Để tăng cường khả năng giao dịch, nghiên cứu tài liệu, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất và năng lực làm việc của công chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị
1.2.2 Xác định mục tiêu đào tạo
Xác định mục tiêu đào tạo là việc xác định kết quả cần đạt được của chương trình đào tạo các mục tiêu phải nêu một các rõ ràng và chính xác
Trang 15Điều này có nghĩa là mục tiêu chung của một chương trình đào tạo phải nêu được cả kết quả thực hiện công việc và các tiêu chuẩn thực hiện Bởi vậy, xác định mục tiêu đào tạo cán bộ công chức, viên chức là góp phần:
Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại
Mục tiêu của đào tạo là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và thái độ lao động của người lao động, qua đó giúp tổ chức sử dụng có hiệu quả tối đa nguồn nhân lực hiện có nhằm thực hiện tốt các mục tiêu được đặt ra trong biện tại cũng như tương lai của tổ chức Cụ thể hơn, mục của đào tạo nhân lực là giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc được giao, làm việc tự giác hơn, có thái độ lao động tốt hơn và nâng cao khả năng thích ứng của họ đối với công việc trong tương lai
Do vậy góp phần xây dựng đội ngũ công chức viên chức chuyên nghiệp và có bản lĩnh chính trị, nghiệp vụ vững vàng đủ năng lực xây dựng
hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước hiện đại và tiên tiến hơn
1.2.3 Lựa chọn đối tượng đào tạo
Là xác định đối tượng nào, bao nhiêu người cần được đào tạo Việc xác định đối tượng đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của chương trình đào tạo Nếu xác định đối tượng, số lượng không đúng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến kết quả đào tạo, mục tiêu của chương trình đào tạo có thể không đạt được Dẫn đến sự mất cân đối giữa kế hoạch và nhu cầu thực tế, giữa đào tạo và sử dụng, thiếu cân đối về cơ cấu lao động
Việc xác định đối tượng đào tạo phải được dựa trên nghiên cứu và nhu cầu của công chức, viên chức tỉnh Hiện nay, trước khi được bầu bổ nhiệm vào ngạch hoặc chức danh nào đó, họ đã được đào tạo ở một trình độ nhất định Vì vậy cần nắm chắc trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ
đã được đào tạo để lựa chọn đối tượng đi đào tạo, bồi dưỡng phù hợp
Đối với việc đào tạo cho công chức, viên chức được dự kiến bổ nhiệm hoặc thăng tiến trong công việc, tổ chức cần tạo điều kiện cử đi đào tạo để
Trang 16họ đáp ứng được những yêu cầ và tiêu chuẩn của chức danh công việc dự kiến sẽ bổ nhiệm hoặc phân công Muốn vậy, cần:
So sánh kiến thức, kỹ năng và các yêu cầu đối với chức danh công việc dự kiến trong tương lai với các kến thức, kỹ năng, yêu cầu đối với chức danh công việc hiện tại Từ đó xác định những kiến thức và kỹ năng cần đào tạo bổ sung để công chức, viên chức đáp ứng được yêu cầu đối với chức danh công việc dự kiến sẽ phân công (hoặc bổ nhiệm) trong tương lai
Xác định kiến thức nào, kỹ năng nào cần đào tạo trước; kiến thức nào và kỹ năng nào có thể đào tạo sau
1.2.4 Xác định kế hoạch, chương trình đào tạo
Theo nghiên cứu của David Kolb về quá trình học tập của công chức, viên chức cho thấy đây là quá trình chuyển từ kinh nghiệm sang hình thành quan điểm để sử dụng trong việc hướng dẫn lựa chọn những kinh nghiệm mới Để học tập có hiệu quả, cá nhân mỗi người luôn phải thay đổi cách tiếp cận trong quá trình học tập Có khi họ phải là những người quan sát xem các học viên học tập như thế nào, hoặc trực tiếp tham gia vào phân tích một vấn đề một cách có chủ định Việc quan sát và phản ánh sẽ giúp hình thành những quan điểm từ thực tiễn và tiếp theo là quá trình thử nghiệm chủ động, là đưa vào thí điểm các quan điểm, ý tưởng mới trong những tình huống mới Tiếp tục phát triển đưa ra kinh nghiệm cụ thể mới
và chu kỳ lại tiếp tục Và quản lý đào tạo chính là quá trình tổ chức thực hiện đào tạo để đạt được mục tiêu của nó
Thông thường người ta cho rằng quy trình đào tạo bao gồm các thành
tố sau đây:
Trang 17Sơ đồ 1.1 Quá trình tổ chức thực hiện đào tạo
Trong đó, bước xác định kế hoạch, chương trình đào tạo bao gồm:
Do công việc đặc thù của công chức, viên chức hiện là ngành không đòi học trình độ khoa học, kỹ thuật cao bởi vậy trong việc thiết kế chương trình đào tạo không đòi hỏi phải sử dụng đến các thiết bị công nghệ quá hiện đại mà bên cạnh đó nên tập trung vào các lĩnh vực khác Tuy nhiên, để đáp ứng với nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của nước ta như hiện nay việc đem kỹ thuật vào đào tạo và giảng dạy cho đội ngũ công chức, viên chức là vô cùng quan trọng và cần thiết, do đó cần được chú trọng và phát triển hơn nữa
Thiết bị giảng dạy chủ yếu hiện nay đã dần áp dụng khoa học kỹ thuật vào, không còn quá phụ thuộc vào sách vở, học viên cũng như giảng viên đều có thể sử dụng những thiết bị hiện đại như: máy tính, máy chiếu,…vào nhằm phong phú, đa dạng và giúp bài học trở nên hấp dẫn,
dễ hiểu hơn
Kỹ thuật Thiết bị Cơ sở đào tạo Giáo viên
Thực hiện kế hoạch đào tạo
Đánh giá đào tạo
Xác định nhu cầu đào tạo
Xác định yêu cầu học tập
Kế hoạch, chương trình đào tạo
Trang 18 Xác định cơ sở đào tạo:
Dựa theo phương pháp đào tạo ta có thể chọn cơ sở đào tạo phù hợp
Có thể đào tạo ngay tại nơi làm việc hoặc cử học viên đến trường đào tạo chuyên nghiệp
Họ thường là những người có chuyên môn sâu trong ngành đào tạo, có
đủ khả năng hướng dẫn cho học viên, giúp học viên mở rộng kiến thức về ngành học
1.2.5 Lựa chọn phương pháp đào tạo
Phương pháp đào tạo công chức, viên chức là các hình thức đào tạo Hình thức đào tạo là cách thức tổ chức một khóa học, các khóa đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức thường được tổ chức dưới các hình thức sau:
- Đào tạo bồi dưỡng theo hình thức tập trung hoặc bán tập trung
- Đào tạo bồi dưỡng dài hạn
- Các khóa bồi dưỡng ngắn hạn
Mỗi hình thức đào tạo bồi dưỡng trên đều có những ưu và nhược điểm nhất định Việc lựa chọn hình thức tổ chức cụ thể nào dành cho từng khóa học không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người tổ chức lớp học mà phải xem xét các yếu tố liên quan đến khóa học
- Tự đào tạo để nâng cao trình độ, kinh nghiệm và năng lực thực thi công vụ Tự đào tạo, bồi dưỡng có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hoạt động của mỗi cá nhân; là quá trình các cán bộ tự nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua thực tế công việc để nhận thức, năng cao trình độ và năng lực thực thi công việc của mình Đây là hình thức đào tạo quan trọng hiện nay trong thời đại thông tin, trong suốt quá trình tham gia công tác của mỗi công chức, viên chức
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo công chức, viên chức 1.3.1 Các nhân tố khách quan
Nhận thức của đội ngũ cán bộ đối với đào tạo bồi dưỡng là yếu tố cơ bản và quyết định tới các kết quả của hoạt động đào tạo bồi dưỡng Bởi đó
là yếu tố chủ quan, yếu tố nội tại bên trong của mỗi người Nhận thức đúng
là tiền đề, là kim chỉ nam cho những hành động, việc làm đúng đắn, khoa học và ngược lại Nếu mỗi cán bộ đều nhận thức được vai trò, tầm quan
Trang 19trọng của việc đào tạo, nó có tác dụng nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của bản thân, học tập là để phục vụ chính họ trong việc nâng cao chất lượng hoạt động công vụ, họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng một cách tích cực, ham mê và có hiệu quả.
Để hoàn thành tốt được nhiệm vụ, công vụ thì công chức viên chức tỉnh Lạng Sơn phải có đủ trình độ, năng lực và vận dụng vào thực thi công việc; mặt khác nhiệm vụ, công vụ luôn đòi hỏi phải hoàn thành tốt hơn, luôn biến đổi, thay đổi theo hoàn cảnh, điều kiện, phương tiện, từ đó đòi hỏi họ phải không ngừng học tập nhằm có những năng lực mới, kỹ năng, khả năng thích ứng để thực thi tốt nhiệm vụ Nếu các cán bộ công chức, viên chức xác định nhiệm vụ học tập là để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bổ sung, cập nhật kịp thời những kiến thức mới nhằm hoàn thành một cách tốt nhất nhiệm
vụ trong thời gian tới Như vậy, họ sẽ có thái độ tích cực khi tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng Hoạt động đào tạo bồi dưỡng cũng đạt được kết quả tốt Đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức của cơ quan cũng đạt được mục tiêu và kế hoạch đã đề ra
Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cho rằng việc đi đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu là đối phó, học cho qua để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theo tiêu chuẩn chức danh công chức hoặc để được đề đạt, bổ nhiệm, được chuyển ngạch cao hơn, thậm chí học để “đánh bóng” tên tuổi của mình chứ chưa thực sự có mục đích học để nâng cao trình độ, phục vụ cho công việc chuyên môn Họ sẽ có thái độ thờ ơ khi tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng Như vậy, sẽ gây nên tình trạng lãng phí do đào tạo bồi dưỡng gây nên Phải tốn nhiều thời gian, kinh phí để cử đi tham gia đào tạo nhưng kết quả là sau khóa học họ chẳng biết gì, năng lực làm việc của họ không được cải thiện Mục tiêu và kết quả của hoạt động đào tạo bồi dưỡng sẽ không đạt được
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
- Quan điểm, chủ trương, đường lối của các cấp lãnh đạo về đào tạo,
bồi dưỡng công chức, viên chức
Ngay những năm đầu tiên của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thực sự có năng lực đáp ứng yêu cầu, tính chất mới của công việc trong một xã hội mới và phải thực sự là công bộc của dân, Người đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất
Trang 20bại đều do cán bộ tốt hay kém".
Từ những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, các ngành, các địa phương đã cụ thể hóa thành các chính sách, các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn
- Các yêu cầu của ngành, địa phương về đào tạo công chức, viên chức
Hoạt động đào tạo cán bộ công chức, viên chức tỉnh cũng chịu ảnh hưởng bởi những yêu cầu của ngành, địa phương Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi địa phương lại có những yêu cầu, đòi hỏi khác nhau đối với các đào tạo Ở những địa phương mà trình độ cán bộ công chức, viên chức còn yếu, chưa đạt chuẩn theo các quy định của Nhà nước thì nhu cầu đào tạo cao Ở các ngành, các địa phương trình độ các cán bộ đã đạt chuẩn thì yêu cầu đào tạo bồi dưỡng thấp hơn, chủ yếu là các hoạt động đào tạo mang tính nâng cao và chuyên sâu Vì vậy, yêu cầu của các ngành, các địa phương cũng là yếu tố tác động tới đào tạo bồi dưỡng cán
bộ tỉnh Lạng Sơn
1.3.3 Đánh giá hiệu quả của đào tạo công chức, viên chức
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo Kết quả đánh giá cho chúng ta biết mục tiêu đào tạo đã đạt được ở mức độ nào để có những điều chỉnh cần thiết, phù hợp
Đối với đào tạo, đánh giá được hiểu như là quá trình thu thập và xử
lý thông tin về quá trình đào tạo bồi dưỡng, nhằm xác định mức độ đạt được các mục tiêu, giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định phù hợp cho công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức tỉnh Về bản chất, đánh giá chính là việc so sánh những kết quả đạt được với mục tiêu đề ra từ trước Với ý nghĩa phát triển, đánh giá được xem như là việc kiểm tra, xem xét độc lập và có hệ thống của một chương trình dự án để xác định kết quả, hiệu quả của khóa đào tạo, bồi dưỡng Đánh giá kết quả của chương trình đào tạo là việc đánh giá những kiến thức thu được của các cán bộ và khả năng ứng dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn công việc của
họ Kết quả của chương trình đào tạo bao gồm: kết quả nhận thức, mức độ hài lòng của họ đối với chương trình đào tạo, khả năng vận dụng những kiến thức và kĩ năng lĩnh hội được từ chương trình đào tạo,…
Trang 21Để đánh giá chính xác, sát với tình hình thực tế, trong quá trình đánh giá phải sử dụng những phương pháp khác nhau như: quan sát, bảng hỏi, điều tra khảo sát nhằm thu thập thông tin.
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TẠI
- Sở Nội vụ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu
sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, chương trình đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao
Về tổ chức bộ máy
- Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định việc phân cấp quản lý tổ chức
bộ máy đối với các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc
Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện;
- Thẩm định văn bản của các cơ quan trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn, các Chi cục và tương đương thuộc cơ quan chuyên môn và đơn vị sự
Trang 23nghiệp nhà nước thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh; đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh để các
cơ quan trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định;
- Thẩm định, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định việc thành lập, giải thể, sáp nhập các tổ chức phối hợp liên ngành cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
- Tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo quy định để Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định theo thẩm quyền;
- Phối hợp với các cơ quan chuyên môn cùng cấp hướng dẫn Uỷ ban nhân dân cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các phòng chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan của tỉnh hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện phân loại, xếp hạng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của tỉnh theo quy định của pháp luật
Về quản lý, sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp
- Xây dựng và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh kế hoạch biên chế của địa phương để trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa phương và thông qua tổng biên chế hành chính của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;
- Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định giao chỉ tiêu biên chế hành chính, sự nghiệp nhà nước;
- Hướng dẫn quản lý, sử dụng biên chế đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và các đơn vị
sự nghiệp của nhà nước theo quy định của pháp luật
cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp;
- Thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê chuẩn kết quả bầu cử Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp huyện Giúp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn các chức danh bầu cử theo quy định của pháp luật;
- Tham mưu giúp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh trong
Trang 24công tác đào tạo, bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; thống kê
số lượng, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân và thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp để tổng hợp, báo cáo theo quy định
Về công tác địa giới hành chính và phân loại đơn vị hành chính
- Theo dõi, quản lý công tác địa giới hành chính trong tỉnh theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Nội vụ; chuẩn bị các đề án, thủ tục liên quan tới việc thành lập, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới, đổi tên đơn vị hành chính, nâng cấp đô thị trong địa bàn tỉnh để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; hướng dẫn và tổ chức thực hiện sau khi có quyết định phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền Giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện, hướng dẫn và quản lý việc phân loại đơn vị hành chính các cấp theo quy định của pháp luật;
- Tổng hợp và quản lý hồ sơ, bản đồ địa giới, mốc, địa giới hành chính của tỉnh theo hướng dẫn và quy định của Bộ Nội vụ;
- Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của thôn, khối phố theo quy định của pháp luật và của Bộ Nội vụ;
- Hướng dẫn, kiểm tra tổng hợp báo cáo thực hiện Quy chế dân chủ tại
xã, phường, thị trấn và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật
Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt Hướng dẫn, kiểm tra việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng và việc thực hiện chính sách, chế độ đối với công chức, viên chức trong tỉnh;
- Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền việc tuyển dụng, đánh giá, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ, chính sách khác đối với công chức, viên chức theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tiêu chuẩn chức danh và cơ cấu công chức, viên chức nhà nước; tuyển dụng, quản lý và sử dụng công chức, viên chức nhà nước; cán bộ, công chức cấp xã thuộc tỉnh
Trang 25theo quy định của pháp luật và Bộ Nội vụ; việc phân cấp quản lý hồ sơ công chức, viên chức theo quy định của pháp luật.
Về cải cách hành chính
- Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định phân công các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách các nội dung, công việc của cải cách hành chính, bao gồm: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức, viên chức, cải cách tài chính công, hiện đại hoá nền hành chính; theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc triển khai thực hiện theo quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định các chủ chương, biện pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trong tỉnh; chủ trì, phối hợp các cơ quan ngành dọc của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh triển khai cải cách hành chính;
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã triển khai công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh đã được phê duyệt; việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh tổng hợp chung việc thực hiện các quy định về chế độ tự chủ và tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế đối với
cơ quan nhà nước và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng báo cáo công tác cải cách hành chính trình phiên họp hàng tháng của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ về công tác cải cách hành chính theo quy định
Về công tác tổ chức hội và tổ chức phi Chính phủ
- Thẩm định và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định cho phép thành lập, giải thể, phê duyệt điều lệ hội, tổ chức phi Chính phủ trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Điều lệ đối với hội, tổ chức phi Chính phủ trong tỉnh Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo thẩm quyền đối với các hội, tổ chức phi Chính phủ vi phạm các quy định của pháp luật,
Trang 26Điều lệ hội;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn cùng cấp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định hỗ trợ định xuất và các chế độ, chính sách khác đối với tổ chức hội theo quy định của pháp luật
Về công tác thanh niên
- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề
án, dự án liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên; dự thảo các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm thuộc phạm vi quản lý nhà nước về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh;
- Tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên sau khi được phê duyệt;
- Phối hợp với các sở, ban, ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan của tỉnh trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên; giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành về thanh niên và công tác thanh niên;
- Phối hợp với Ban Tổ chức tỉnh ủy, các cơ quan liên quan, tỉnh Đoàn
và các tổ chức khác của thanh niên trong việc thực hiện cơ chế, chính sách đối với thanh niên và công tác thanh niên;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên; việc thực hiện chính sách, chế độ trong
tổ chức và quản lý thanh niên, công tác thanh niên của tỉnh;
- Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về thanh niên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác thanh niên đối với các
sở, cơ quan ngang sở, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
Về công tác tôn giáo
- Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo thuộc phạm vi quản lý của tỉnh;
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo đối với công chức, viên chức và tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, nhân sỹ các tôn giáo trong phạm vi quản lý của tỉnh;
- Báo cáo, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc giải quyết theo thẩm quyền những vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của pháp luật; Chủ
Trang 27trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan giải quyết theo thẩm quyền hoặc tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết những vấn đề phát sinh trong tôn giáo; là đầu mối liên hệ giữa chính quyền địa phương với các tổ chức tôn giáo;
- Thực hiện việc áp dụng chính sách đãi ngộ đối với những tổ chức, cá nhân tôn giáo; Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tôn giáo, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ trương chính sách đối với tôn giáo
Về công tác văn thư, lưu trữ
- Nhiệm vụ, quyền hạn về công tác văn thư, lưu trữ theo quy định tại Điều 3, Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 24/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Chi cục Văn thư - Lưu trữ trực thuộc Sở Nội vụ
Về công tác thi đua, khen thưởng
- Nhiệm vụ, quyền hạn về công tác thi đua, khen thưởng theo quy định tại Điều 2, Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 24/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Thi đua - Khen thưởng trực thuộc Sở Nội vụ
Về thực hiện công tác hợp tác quốc tế về nội vụ và các lĩnh vực được giao theo quy định của pháp luật và theo phân công của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Về thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra về công tác nội vụ; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí và xử lý các vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực công tác được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao theo quy định của pháp luật
Về hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác nội vụ và các lĩnh vực khác được giao đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo các lĩnh vực công tác được giao đối với các tổ chức của các Bộ, ngành Trung ương và địa phương khác đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh
Về tổng hợp, thống kê theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; số lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố; số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, cán bộ, công chức cấp xã; công tác văn thư, lưu trữ nhà nước; công tác tôn giáo; công tác thi đua, khen thưởng
và các lĩnh vực khác được giao
Về tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học; công tác pháp chế của Sở; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ, số liệu phục vụ công tác quản lý và chuyên môn, nghiệp vụ được giao
Trang 28 Về chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức các hoạt động dịch vụ công trong các lĩnh vực công tác thuộc phạm vi quản lý của Sở.
Về thực hiện công tác thông tin, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh và
Bộ Nội vụ về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định
Về quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc Sở theo quy định
Về quản lý tài chính, tài sản của Sở theo quy định của pháp luật và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Về xây dựng quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác và trách nhiệm của người đứng đầu của các tổ chức thuộc Sở theo quy định của pháp luật để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền
Về thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao và theo quy định của pháp luật
2.1.3 Tóm lược quá trình hình thành và phát triển của sở Nội
vụ tỉnh Lạng Sơn
- Sau cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng được thiết lập ở Lạng Sơn, trong cơ cấu Văn phòng Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh có Phòng Hành chính - Nhân sự - Tổ chức trong đó
có nhiệm vụ về công tác Tổ chức nhà nước
- Năm 1949, Phòng Hành chính - Nhân sự - Tổ chức được đổi tên là Phòng Hành chính - Nhân sự, với các nhiệm vụ về công tác Hội đồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp, về công tác Hội viên Hội đồng nhân dân các cấp, về tuyển dụng, thăng thưởng và lý lịch công chức
- Năm 1951, Phòng Hành chính - Nhân sự được đổi tên là Phòng Tổ chức Ủy ban hành chính tỉnh
- Năm 1954, Thành lập Phòng Tổ chức cán bộ thuộc Ủy ban hành chính tỉnh
- Ngày 21/08/1963, Ủy ban hành chính tỉnh ban hành quyết định số 548/TCCB thành lập Ban Tổ chức dân chính trực thuộc Ủy ban hành chính tỉnh
- Năm 1970, Ban Tổ chức dân chính được tách ra để thành lập hai đơn
vị là Ban Thương binh - Xã hội và Phòng Tổ chức trực thuộc Ủy ban hành chính tỉnh
- Ngày 09/12/1975 Ủy ban hành chính tỉnh ban hành Quyết định số 14 QĐ-TC/UB, thành lập Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Lạng Sơn, tháng 4 năm 1976, Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, hai tỉnh Cao Bằng, Lạng
Trang 29Sơn sáp nhập thành tỉnh Cao Lạng, các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể của hai tỉnh được sáp nhập lại, Ban Tổ chức chính quyền Lạng Sơn và Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Cao Bằng được hợp nhất thành Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Cao Lạng.
- Trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ biên cương của Tổ quốc, tháng 12/1978, Hội đồng Nhà nước đã quyết định tách tỉnh Cao Lạng trở lại thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn Cùng với các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể của tỉnh, Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Lạng Sơn được tái lập và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của mình
- Ngày 13/02/2004 Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng sơn ban hành Quyết định số 141/QĐ-UB đổi tên Ban Tổ chức chính quyền thành Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
- Hiện nay, Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn có 09 phòng ban chuyên môn và
45 cán bộ công nhân viên thực hiện công tác đảm bảo hoạt động của Ngành (tính đến hết 31/12/2014)
Trang 302.1.4 Sơ đồ bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức
(Nguồn: Sở Nội vụ Lạng Sơn- Phòng công chức viên chức/ Tháng 1 năm 2015)
Trang 31 Lãnh đạo Sở
- Sở LĐTBXH tỉnh Lạng Sơn có Giám đốc và 02 Phó Giám đốc;
- Giám đốc Sở là người đứng đầu Sở, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Sở;
- Phó Giám đốc Sở là người giúp Giám đốc Sở, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở và trước pháp luật về các nhiệm vụ được phân công; khi Giám đốc Sở vắng mặt, một Phó Giám đốc Sở được Giám đốc ủy nhiệm điều hành các hoạt động của Sở;
- Việc bổ nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Nội vụ ban hành và theo quy định của pháp luật; việc miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc và Phó Giám đốc Sở thực hiện theo quy định của pháp luật
Văn phòng sở
Nhiệm vụ, quyền hạn
Tham mưu giúp Giám đốc
- Tổng hợp, xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm và các đề án, dự án, chương trình về công tác nội vụ trên địa bàn tỉnh, chương trình công tác của sở;
- Theo dõi và đôn đốc các phòng thuộc sở các tổ chức trực thuộc sở trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo kế hoạch, tiến độ; tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ của các phòng chuyên môn và các tổ chức trực thuộc theo định kỳ;
- Công tác tổ chức, quy hoạch, nhân sự, tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan theo quy định hiện hành; công tác thi đua, khen thưởng đối với công chức, viên chức trong cơ quan và ngành nội vụ;
- Xây dựng hệ thống quy chế và các quy định nội bộ; đôn đốc, kiểm tra các phòng, tổ chức trực thuộc và các cá nhân liên quan trong thực hiện các quy chế làm việc, quy trình xử lý công việc, chương trình, kế hoạch
Trang 32hoạt động của sở đã được ban hành;
- Thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, quy định của pháp luật về lưu trữ và bảo mật; thực hiện công tác pháp chế; kiểm tra thể thức và thủ tục trong việc ban hành các văn bản của sở;
- Tham mưu, xây dựng dự toán ngân sách, tổ chức kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn ngân sách nhà nước; thực hiện công tác quản lý tài vụ, kiểm tra tình hình tài chính của các tổ chức trực thuộc sở theo thẩm quyền được phân cấp;
- Thực hiện công tác quản lý tài chính, tài sản được giao; lập dự toán và báo cáo thu, chi, quyết toán tài chính hàng năm, hàng quý phục vụ cho hoạt động của cơ quan, hướng dẫn, thẩm định, quyết toán tài chính của các chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu, nghiệp vụ chi thuộc sở quản lý theo đúng quy định của Nhà nước;
- Chủ trì hoặc phối hợp cùng các phòng, các tổ chức thuộc sở tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn phổ biến, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật và các nhiệm vụ chuyên môn, tiếp khách (trong và ngoài tỉnh), khánh tiết, nghi lễ trong cơ quan khi được Lãnh đạo sở giao;
- Chủ trì thực hiện công tác bảo vệ an ninh nội bộ; cơ quan an toàn, cơ quan văn hóa; công tác quân sự, lực lượng tự vệ; phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan liên quan thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy, phòng chống bão lụt, bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường của sở;
Phòng công chức, viên chức
Chức năng
Phòng Công chức, viên chức có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; công tác đào tạo, bồi dưỡng; quản lý, tiếp nhận, bố trí học sinh, sinh viên cử tuyển và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, công chức cấp xã
Nhiệm vụ và quyền hạn
Tham mưu giúp Giám đốc sở:
Trang 33- Xây dựng trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy hoạch, kế hoạch
về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các chính sách thu hút nguồn nhân lực, chế độ đãi ngộ; tổ chức, hướng dẫn thực hiện khi được phê duyệt;
- Quản lý, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra các nội dung công tác về tuyển dụng, sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong các
cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật và thẩm quyền phân cấp;
- Chủ trì xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; công chức, viên chức cấp xã; đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và các đối tượng khác theo quy định; thống nhất quản lý và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở trong và ngoài nước sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt;
- Xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chức danh, tiêu chuẩn; tổ chức tuyển dụng công chức hành chính, nâng ngạch, chuyển ngạch công chức, viên chức theo quy định của pháp luật và thẩm quyền phân cấp;
Phòng công tác thanh niên
Chức năng
Phòng Công tác thanh niên có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc sở quản lý nhà nước và tổ chức triển khai các nhiệm vụ về công tác thanh niên và công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ, bình đẳng giới trên địa bàn toàn tỉnh
Nhiệm vụ
Tham mưu giúp Giám đốc sở:
- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề
án, dự án liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên; dự thảo các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm thuộc phạm vi quản lý nhà nước về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh;
Trang 34- Tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên sau khi được phê duyệt;
- Phối hợp với các sở, ban, ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên; giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành về thanh niên và công tác thanh niên;
- Phối hợp với Ban Tổ chức tỉnh ủy, các cơ quan liên quan, tỉnh Đoàn
và các tổ chức khác của thanh niên trong việc thực hiện cơ chế, chính sách đối với thanh niên và công tác thanh niên;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên; việc thực hiện chính sách, chế độ trong
tổ chức và quản lý thanh niên, công tác thanh niên của tỉnh;
- Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác thanh niên đối với các
sở, cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
Phòng tổ chức, biên chế
Chức năng:
Phòng Tổ chức, biên chế có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc sở quản lý nhà nước về tổ chức, bộ máy, biên chế đối với các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp; hoạt động dịch vụ công trong các lĩnh vực công tác thuộc phạm vi quản lý của sở; các Hội, quỹ, tổ chức phi chính phủ và quản lý cán bộ, công chức, viên chức, các chức danh trong doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức thuộc đối tượng Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý
Nhiệm vụ, quyền hạn:
Tham mưu giúp Giám đốc sở:
- Chủ trì, xây dựng, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức đối với các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
Ủy ban nhân dân cấp huyện;
- Về tổ chức bộ máy: Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng
đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
Trang 35nhân dân tỉnh hoặc các đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định; Hướng dẫn, thẩm định dự thảo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn, các chi cục thuộc cơ quan chuyên môn và đơn vị sự nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,…
- Chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức các hoạt động dịch vụ công trong các lĩnh vực công tác thuộc phạm vi quản lý của Sở.Về quản lý, sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp
- Về công tác tổ chức hội và tổ chức phi Chính phủ: Thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cho phép thành lập, giải thể, phê duyệt điều lệ hội, tổ chức phi Chính phủ trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Điều lệ đối với hội, tổ chức phi Chính phủ trong tỉnh Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo thẩm quyền đối với các hội, tổ chức phi Chính phủ vi phạm các quy định của pháp luật, Điều lệ hội;…
Phòng cải cách hành chính
Chức năng
Phòng Cải cách hành chính có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc
sở thực hiện chương trình, kế hoạch, giải pháp về công tác cải cách hành chính trên địa bàn toàn tỉnh và làm cơ quan thường trực công tác cải cách hành chính
Nhiệm vụ, quyền hạn
Tham mưu giúp Giám đốc sở:
- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định phân công các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách các nội dung, công việc của cải cách hành chính, bao gồm: cải cách thể chế, cải cách tổ chức
bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức, viên chức cải cách tài chính công, hiện đại hoá nền hành chính; theo dõi, đôn đốc
và kiểm tra việc triển khai thực hiện theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh;
Trang 36- Trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định các chủ chương, biện pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trong tỉnh; chủ trì, phối hợp các cơ quan ngành dọc của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh triển khai cải cách hành chính;
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã triển khai công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh
đã được phê duyệt; việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp
xã theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh;
- Xây dựng báo cáo công tác cải cách hành chính trình phiên họp hàng tháng của Ủy ban nhân dân tỉnh; giúp Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ về công tác cải cách hành chính theo quy định
Phòng thanh tra sở
Chức năng
Thanh tra sở có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc sở thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra về công tác nội vụ; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiết kiệm, chống lãng phí và xử lý các vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực công tác được Giám đốc sở giao theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn
Tham mưu giúp Giám đốc sở:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác thanh tra, kiểm tra hàng năm về việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch đối với công tác nội vụ trên địa bàn tỉnh thuộc chức năng quản lý nhà nước của sở;
Tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được phê duyệt hoặc thanh tra, kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của Giám đốc sở;
- Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra đối với các phòng thuộc sở, các tổ chức trực thuộc sở trong thực
Trang 37hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực nội vụ trong phạm vi toàn tỉnh;
- Trực, tiếp công dân và tổ chức để Giám đốc sở tiếp công dân theo quy định;
- Chủ trì phối hợp cùng các phòng thuộc sở, các tổ chức trực thuộc sở giúp Giám đốc sở trong công tác quản lý, tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý nhà nước của sở theo quy định;
- Chủ trì phối hợp cùng các phòng thuộc sở, các tổ chức trực thuộc sở tham mưu giúp Giám đốc Sở giải quyết đơn thư của tổ chức và cá nhân không có nội dung khiếu nại, tố cáo; Tổng hợp, báo cáo kết quả giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo và các đơn, thư khác thuộc thẩm quyền của Sở Nội vụ
Phòng xây dựng chính quyền
Chức năng
Phòng Xây dựng chính quyền có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc
sở thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực: tổ chức hoạt động của chính quyền các cấp; địa giới hành chính; công chức, viên chức cấp xã; tổ chức và hoạt động của thôn, bản, khối phố; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Nhiệm vụ, quyền hạn
Tham mưu giúp Giám đốc sở:
- Về tổ chức hoạt động của chính quyền: Hướng dẫn tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn; Tổ chức, hướng dẫn và phối hợp với các cơ quan liên quan về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật; tổng hợp kết quả bầu cử đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; …
- Về quản lý công chức, viên chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, khối phố: Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước đối với đội ngũ công chức, viên chức cấp xã; Tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản về tuyển dụng, quản
Trang 38lý, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức cấp xã theo quy định;…
- Về công tác địa giới hành chính và phân loại đơn vị hành chính: Theo dõi, quản lý công tác địa giới hành chính trong tỉnh theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Nội vụ; chuẩn bị các đề án, thủ tục liên quan tới việc thành lập, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới, đổi tên đơn vị hành chính, nâng cấp đô thị trong địa bàn tỉnh để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; hướng dẫn và tổ chức thực hiện sau khi có quyết định phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền Giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện, hướng dẫn và quản lý việc phân loại đơn vị hành chính các cấp theo quy định của pháp luật; Tổng hợp và quản lý hồ sơ, bản đồ địa giới, mốc địa giới hành chính của cấp tỉnh theo hướng dẫn và quy định của Bộ Nội vụ;…
Do chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban là rất đa dạng và phong phú nên không thể liệt kê hết được Trên đây là những nhiệm vụ chính và thường xuyên của các phòng ban được liệt kê một cách vắn tắt để
từ đó hiểu rõ được phần nào bộ máy tổ chức cũng như phương pháp hoạt động của sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn
2.2 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội đến việc đào tạo cán bộ công chức, viên chức tại tỉnh Lạng Sơn
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B và đường 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái nguyên, Bắc Cạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc giang, Bắc Ninh, Thủ đô
Hà nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc với hai cửa khẩu quốc gia và
7 cặp chợ biên giới Mặt khác có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học - công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các vùng châu Á, châu Âu và các nước khác
Nhờ đó tỉnh Lạng Sơn có nhiều lợi thế về vị trí địa lý giúp và cũng là một tỉnh nhận được sự quan tâm của Chính phủ, Nhà nước, tỉnh là trọng điểm để phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh vùng biên Đó là cơ sở rất
Trang 39tốt để tạo những điều kiện vật chất cho công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức tuy nhiên chính những sự ưu ái mà thiên nhiên và quốc gia ban tặng đó lại chính là những áp lực lớn của tỉnh Do tỉnh là một trong số những tỉnh miền núi có diện tích khá rộng do đó việc bao quát tất cả các huyện thị thuộc tỉnh về vấn đề đào tạo còn nhiều bất cập thêm vào nữa các kiến thức khoa học- công nghệ khó có thể được phổ cập đồng đều dẫn đến việc nhiền huyện, xã còn nhiều vướng mắc khó giải quyết.
2.2.2 Đặc điểm dân cư
Dân số toàn tỉnh năm 2010 là 732 nghìn người Trong đó dân số thành thị có 141.728 người, chiếm 19,33%, dân số nông thôn có 591.403 người, chiếm 80,67 % Lạng Sơn có 7 dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên địa bàn, trong đó có 2 dân tộc chiếm tỷ lệ lớn là: Dân tộc Nùng 43,9%, dân tộc Tày 35,9% Với số lượng người dân tộc lớn như vậy, để phổ cập được tiếng quốc ngữ thêm và đó là đào tạo tiếng ngoại ngữ là vô cùng khó khăn dẫn đến việc đạt được mục tiêu phát triển toàn diện của tỉnh cần có nhiều thời gian và bỏ nhiều công sức Ngoài ra, phần lớn người dân tộc thường sống ở những vùng địa lý hiểm trở nên khó có thể tiếp cận với thông tin đại chúng, các kỹ năng và phương pháp làm việc mới và các chính sách mới do nhà nước ban hành
Toàn tỉnh hiện nay có 460.358 lao động trong độ tuổi lao động, chiếm 62,79% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 50,71% Qua số liệu sơ bộ này ta có thể thấy được tỉnh có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao, đây vừa là thuận lợi vừa là thách thức cho tỉnh Với số lượng người lao động lớn như vậy tỉnh có nguồn cung lao động dồi dào tuy nhiên lượng cầu còn hạn chế nên dẫn đến tình trạng thất nghiệp rất phổ biến, bên cạnh đó tuy nguồn lao động có số lượng lớn nhưng chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, thiếu kiến thức về kỹ nặng, nghiệp vụ nên cần đào tạo bổ sung với số lượng lớn
Tỷ lệ lao động khu vực nông thôn chiếm 79,78%, lao động khu vực thành thị chiếm 20,22% Số lượng lao động nông thôn gấp gần 4 lần so với lao động thành thị, điều này có thể cho thấy nguồn lao động tỉnh Lạng Sơn chủ yếu là lao động chân tay, dẫn đến việc nguồn cung lao động lớn nhưng
Trang 40chưa đồng đều và chưa đạt được hiệu quả cao cũng như năng suất lao động
2.2.3 Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá nhân văn phong phú Lạng Sơn còn là tỉnh miền núi có hệ thống giao thông thuận lợi có đường biên giới chung với Trung quốc dài 253km, có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng) 2 cửa khẩu quốc gia (Chi na, Bình Nghi) và 7 cặp chợ biên giới đã tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành điểm giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của các tỉnh trong cả nước với trung quốc, qua đó sang các nước Trung Á, châu Âu Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thì Lạng Sơn càng có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại- du lich - dịch vụ Khu kinh tế cửa khẩu là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, là khu vực phát triển năng động nhất, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, là trọng tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh
Lạng Sơn có lợi thế về phát triển kinh tế thương mại với điều kiện về khu kinh tế cửa khẩu hệ thống giao thông thuận lợi, nên việc buôn bán trong những năm qua ở đây rất sôi động, hàng hoá trong tỉnh, các tỉnh bạn trong cả nước qua Lạng Sơn xuất khẩu sang Trung quốc và nhập các loại hành từ Trung quốc về phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân với số lượng, chủng loại lớn, năm sau cao hơn năm trước hàng năm có hàng trăm doanh nghiệp trong cả nước tham gia xuất nhập khẩu qua biên giới, thu hút nhiều doanh nghiệp trong nước, nước ngoài, các thành phần kinh tế tham gia các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch ở cửa khẩu và trên địa bàn tỉnh Thương mại Lạng Sơn phát triển nhanh chóng đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao mức sống của nhân dân, tăng thu ngân sách địa phương và trung ương Hàng năm thu thuế các loại của hoạt động thương mại chiếm trên 80% tổng thu ngân sách toàn tỉnh
Cùng với buôn bán phát triển ngành du lịch, dịch vụ khách sạn, nhà hàng trong những năm qua cũng đã phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu