CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm 1.1 Cán bộ công chức Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế. Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước. 1.2 Đào tạo cán bộ công chức Đào tạo là quá trình làm cho người ta trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, bồi dưỡng là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tô chức ra những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt đượ mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làn gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất là cán bộ công chức. Đào tạo bồi dưỡng tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng các khả năng, tiềm năng vốn có, phát huy hết năng lực làm việc. 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Chính sách đào tạo và bồi dưỡng Đây là yếu tố quan trọng, tạo nền móng và định hướng cho công tác xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức. +Chính sách là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. +Dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức. +Dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến lược, kê hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu. +Dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào tạo và bồi dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt được của công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức. Nguồn và chất lượng đẩu vào của đội ngũ công chức Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đội ngũ công chức. Tuyển dụng được người học đúng ngành, chuyên ngành sẽ làm cho việc bố trí, sử dụng công chức sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn; việc đánh giá năng lực của công chức cũng sát với thực tê hơn. Nếu đội ngũ công chức được tuyển dụng hoặc được luân chuyển không sát với yêu cầu công việc sẽ là một bất lợi cho tổ chức vì phải tiến hành đào tạo, đào tạo lại mới có thể sử dụng được. Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ công chức. Nó ảnh hưởng lớn đến nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; thời gian đào tạo, bồi dưỡng; số lượng cần phải đào tạo, bồi dưỡng và kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức. Khung năng lực của vị trí việc làm Khung năng lực là một công cụ mô tả trong đó xác định các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, khả năng, thái độ, hành vi và các đặc điểm cá nhân khác để thực hiện các nhiệm vụ trong một vị trí, một công việc hay một ngành nghề. Điều 7 của Thông tư số 052013TTBNV ngày 2562013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 362013NĐCP ngày 2242013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức ghi rõ: Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm.
Trang 1MỤC LỤC
1
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
CÔNG CHỨC
1 Một số khái niệm
1.1 Cán bộ công chức
Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước
1.2 Đào tạo cán bộ công chức
Đào tạo là quá trình làm cho người ta trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, bồi dưỡng là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tô chức ra những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt đượ mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làn gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất là cán bộ công chức Đào tạo bồi dưỡng tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng các khả năng, tiềm năng vốn có, phát huy hết năng lực làm việc
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
- Chính sách đào tạo và bồi dưỡng
Đây là yếu tố quan trọng, tạo nền móng và định hướng cho công tác xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
+Chính sách là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
+Dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định chính sách đào tạo và bồi
dưỡng đội ngũ công chức để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
3
Trang 4+Dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến lược, kê'
hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu
+Dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào tạo và bồi
dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt được của công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức
- Nguồn và chất lượng đẩu vào của đội ngũ công chức
Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đội ngũ công chức Tuyển dụng được người học đúng ngành, chuyên ngành sẽ làm cho việc bố trí, sử dụng công chức sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn; việc đánh giá năng lực của công chức cũng sát với thực tê' hơn Nếu đội ngũ công chức được tuyển dụng hoặc được luân chuyển không sát với yêu cầu công việc sẽ là một bất lợi cho tổ chức vì phải tiến hành đào tạo, đào tạo lại mới có thể sử dụng được
Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ công chức Nó ảnh hưởng lớn đến nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; thời gian đào tạo, bồi dưỡng; số lượng cần phải đào tạo, bồi dưỡng và kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
- Khung năng lực của vị trí việc làm
Khung năng lực là một công cụ mô tả trong đó xác định các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, khả năng, thái độ, hành vi và các đặc điểm cá nhân khác để thực hiện các nhiệm vụ trong một vị trí, một công việc hay một ngành nghề Điều 7 của Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về
vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức ghi rõ: "Khung năng lực của từng vị trí việc làm được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm"
- Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Trang 5Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức là nơi tổ chức thực hiện các khóa đào tạo, bổi dưỡng trang bị, cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng hoạt động công vụ cho công chức Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu của một trường/viện/ trung tâm đào tạo công chức hiện đại, như: khuôn viên rộng rãi, có hội trường, các phòng học, ký túc xá, khu vui chơi giải trí thể thao; trang thiết bị giảng dạy hiện đại; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiện đại và chất lượng; đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng và đủ năng lực giảng dạy; đội ngũ quản lý đào tạo chuyên nghiệp
- Trình độ, kỹ năng của đội ngũ giảng viên
Đây là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, vì vậy yêu cầu đội ngũ giảng viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn và kinh qua thực tế công tác Bởi vì trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giảng viên là người hướng dẫn học viên học tập, rèn luyện kỹ năng làm việc Một nguyên tắc của việc bồi dưỡng là cung cấp kiến thức ở mức cần thiết, rèn luyện kỹ năng đến mức có thể Cho nên, giảng viên phải là người có kiến thức, có kỹ năng và kinh nghiệm thực tế đối với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận, chỉ có như vậy công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức mới thu được kết quả như mong muốn
- Ngân sách đào tạo và bồi dưỡng
Sử dụng và quản lý ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưõng Nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết quả cho tổ chức cũng như cá nhân cống chức Ngược lại, nếu nguồn ngân sách được
sử dụng sai mục đích, lãng phí không những vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý đào tạo, bồi dưỡng công chức mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của công chức về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng
- Hội nhập và toàn cầu hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu, rộng và kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, vấn đề dự báo nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với toàn xã hội nói chung và đối với khu vực hành chính công nói riêng Vì vậy, yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải 5
Trang 6có kiến thức về hội nhập quốc tế, trang bị đầy đủ kiến thức tin học, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của tổ chức và yêu cầu của từng vị trí việc làm công chức đảm nhận Tiếp cận chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển công chức của các nước tiên tiến, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính công là rất cần thiết Qua đó đội ngũ cán bộ, công chức trưởng thành, nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới, nâng cao chất lượng công tác hoạch định, xây dựng chính sách phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.4 Các hình thức đào tạo bồi dưỡng
Trên thực tế có rất nhiều hình thức đào tạo bồi dưỡng Việc đa dạng các hình thức đào tạo bồi dưỡng giúp tăng thêm các cơ hội lựa chọn cho cán bộ công chức, viên chức Một số loại hình phổ biến ở Việt Nam hiện nay:
- Đào tạo bồi dưỡng thông qua kèm cặp trong công việc: hình thức này giúp cán bộ công chức, viên chức có thể vừa học, vừa làm ngay tại vị trí công tác của mình, thông qua việc kèm cặp hướng dẫn của lãnh đạo quản lý, người cố vấn hay người có kinh nghiệm làm việc trong đơn vị Đây là con đường tắt để đạt được trình độ cao về năng lực, kỹ năng thực hành trong lĩnh vực chuyên môn nhất định
- Luân chuyển, thuyên chuyển, chuyển đổi vị trí trong công việc: đây là hình thức chuyển cán bộ công chức, viên chức từ công việc này sang công việc khác nhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong tổ chức Sự tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm thu được trong quá trình chuyển đổi giúp họ có khả năng thực hiện được những công việc cao hơn trong tương lai
- Tổ chức lớp học: Hình thức này giúp người học tách biệt với công việc, tập trung cho việc học Bao gồm: học tập trung, bán tập trung, từ xa
- Tự học: hình thức tự học sẽ giúp cho cán bộ, công chức, viên chức chủ động hơn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng Người học có thể chủ động sắp xếp thời gian và lựa chọn chương trình học phù hợp với vị trí công việc được giao
Trang 8CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC TẠI
TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Giới thiệu chung về đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Ninh
Xác định rõ đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng quan trọng trong việc
tham mưu, thực hiện các giải pháp để tháo gỡ các khó khăn, thúc đẩy kinh tế
-xã hội của tỉnh ngày càng phát triển, thời gian qua, tỉnh luôn quan tâm xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Đặc biệt trong các
chương trình đào tạo, tỉnh đã quan tâm đến từng ngành, lĩnh vực, cũng như nhu
cầu đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn để tập trung thực hiện cho phù hợp Cách làm đó
đã góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cũng như nâng
cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng ngày càng tốt
hơn yêu cầu đặt ra trong tình hình mới
2.1.1 Thực trạng cơ cấu, trình độ chuyên môn của cán bộ công chức tỉnh
Quảng Ninh
- Tổng số cán bộ công chức viên chức các cấp là 32.410 người, trong đó,
công chức hành chính cấp tỉnh, huyện là 4.351người gồm khối Đảng, đoàn thể:
1.314 người,khối chính quyền: 3.037 người; viên chức hành chính sự nghiệp:
24.163 người; cán bộ chuyên trách cấp xã: 1.924 người; công chức cấp xã: 1.972
người
-Trình độ chuyên môn được đào tạo của CBCC thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Trình độ chuyên môn được đào tạo của CBCC
Số lượng (người)
Sau Đại học (%)
Đại học (%)
Cao đẳng (%)
Trung cấp (%)
Trung học (%)
Công chức phục vụ khác (%)
Sơ cấp/ Chưa đào tạo (%)
Công chức hành
chính cấp tỉnh,
huyện
4.351 16,18 74,32 6,6 - 2,9 - Viên chức hành
chính sự nghiệp 24.163 3,16 41,32 29,2 - 24,8 1,5 -
Cán bộ chuyên
Công chức cấp
(Nguồn: Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ninh)
Trang 9Nhiều lĩnh vực thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tuy cơ bản đã được chuẩn hoá nhưng thiếu tính chuyên nghiệp theo yêu cầu tiêu chuẩn, chức danh cần thiết của nền công vụ mới Nhận thức về lý luận chính trị, về tư tưởng của cán bộ, công chức ngày càng được nâng lên nhưng vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; trình độ ngoại ngữ, tin học của hầu hết đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động còn nhiều hạn chế,cụ thể: chỉ có 3,2% CBCC đạt trình
độ trung cấp đến sau đại học, còn lại hầu hếtchỉ có chứng chỉ tin học văn phòng (85,78%) Đội ngũ chuyên môn cao về tin học còn ít, trong khi tỉnh đang đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng chính quyền điện tử Bên cạnh đó, trình
độ ngoại ngữ nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu với tỷ lệ đạt chứng chỉ bồi dưỡng chiếm tới 94,07% CBCC trong khi chỉ có khoảng 3,5% trình độ ngoại ngữ từ đại học trở lên; cán bộ công chức xã, phường, thị trấn tuy được đào tạo nhiều nhưng tỷ lệ đạt chuẩn còn thấp, chất lượng không đồng đều
2.1.2 Trình độ văn hóa của cán bộ công chức tỉnh Quảng Ninh
- Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu khả năng độc lập, quyết đoán trong giải quyết và xử lý công việc Một số chưa có khả năng dự báo để chủ động xây dựng chương trình kế hoạch công tác, thực thi nhiệm vụ chuyên môn được giao, thiếu khả năng tổng hợp và thiếu sự phối hợp trong công việc, nên hiệu quả công tác chưa cao; khả năng sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp và giải quyết công việc với người nước ngoài còn hạn chế, thiếu kiến thức hội nhập quốc tế trong tình hình mới; tác phong, lề lối làm việc chậm đổi mới; văn hóa công sở, giao tiếp hành chính và thái độ, ứng xử chưa thể hiện tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ
2.1.3 Trình độ lý luận chính trị
Trình độ lý luận chính trị của CBCC cũng được tỉnh Quảng Ninh quan tâm, chú trọng và có sự thay đổi tích cực trong những năm gần đây Trình độ cao cấp, cử nhân: tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ lý luận chính trị cao cấp, cử nhân chưa cao nhưng có xu hướng tăng thêm hàng năm Cụ thể: năm
2011 tỷ lệ này là 290 người tương ứng 7,11% thì sang năm 2014 tăng lên 430 người tương ứng 11,17% Tuy nhiên, công chức cấp xã thì chưa có trường hợp nào có trình độ lý luận chính trị cao cấp, cử nhân Trình độ trung cấp: Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ lý luận chính trị trung cấp cao và tăng hơn hàng năm Năm 2011 số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ trung cấp là 842 người tương ứng 34,80%, năm 2014 tăng lên 955 người tương ứng 40,26% Trình độ
9
Trang 10sơ cấp và chưa qua đào tạo: Số cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo của thành phố Hạ Long vẫn chiếm tỷ lệ lớn tuy nhiên có
xu hướng giảm qua từng năm Cụ thể, năm 2011 số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo là 837 người tương ứng 58,09%, năm
2014 giảm xuống 787 người tương ứng 48,57%
2.2 Đánh giá thực trạng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Ninh
Trong thời gian qua, tỉnh luôn chú trọng đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ cơ sở và cán bộ dự nguồn các chức danh lãnh đạo Đến nay, đội ngũ cán
bộ chủ chốt của thành phố và cơ sở đảm bảo đủ tiêu chuẩn về trình độ, năng lực
và phẩm chất chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã đã được UBND tỉnh chú trọng, tập trung nâng cao trình độ, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, đóng góp đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Định kỳ hằng năm Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Ninh đều tiến hành xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ theo phương châm “động”, “mở”, liên hoàn Đồng thời thực hiện tốt việc rà soát, đánh giá cán bộ, đã đưa vào quy hoạch được nhiều cán bộ trẻ, có trình độ và triển vọng phát triển Tính đến thời điểm hiện tại, thành phố Hạ Long đã được phê duyệt quy hoạch cho gần 236 lượt cán
bộ bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, Tỉnh uỷ còn quan tâm thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo, cả về lý luận chính trị và nghiệp vụ, chuyên 58 môn, ngoại ngữ…, tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; kiện toàn cơ
sở đào tạo cán bộ
Hằng năm Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Ninh cũng dành nguồn lực thoả đáng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức chuyên môn Nhờ quan tâm thực hiện
có hiệu quả công tác quy hoạch gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nên thành phố đã chủ động trong tạo nguồn cán bộ để thực hiện việc
bố trí, bổ nhiệm, giới thiệu tham gia cấp; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngày càng được nâng lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
- Mức độ hoàn thành nhiệm vụ và các kỹ năng trong thực thi công vụ: Đại
đa số cán bộ công chức đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và hầu hết có các kỹ năng cần thiết trong thực thi công vụ về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của công việc Đội ngũ cán bộ, công chức đã nâng cao tinh thần trách nhiệm trong
Trang 11giải quyết công việc, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, thống nhất và có bước cải thiện uy tín đối với nhân dân
- Ý thức, thái độ trong thực thi công vụ: phần lớn cán bộ công chức cấp
xã được đánh giá có thái độ ý thức tốt trong thực thi công vụ (lịch sự, nhiệt tình, đúng mức khi tiếp xúc với dân); chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ
- Phẩm chất đạo đức: đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh đều có phẩm chất đạo đức, có lối sống lành mạnh, ý thức kỷ luật tốt, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, chấp hành nghiêm đường lối chủ trương, chính 64 sách của Đảng và Nhà nước, chấp hành tốt nội quy, quy chế của tỉnh Phần lớn CBCC đã
có phong cách, lề lối làm việc có tiến bộ hơn, khắc phục một bước tình trạng quan liêu, xa dân, mất dân chủ trong tổ chức các hoạt động ở địa phương
-Cơ cấu độ tuổi, giới tính hợp lý giúp phát huy hết khả năng của đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh
-Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Quảng Ninh, tỉnh đã ban hành đầy đủ văn bản, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã: quy trình tuyển dụng, chính sách thu hút nhân tài, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, quy trình đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã… Đã có các chính sách tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng riêng cho đội ngũ cán
bộ, công chức như Quy trình tuyển dụng công chức, tỉnh cũng mở các lớp đào tạo kỹ năng công việc riêng cho từng đối tượng cán bộ, công chức
- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: vẫn còn một bộ phận cán bộ công chức năng lực, trình độ chuyên môn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc Một số vị trí, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức chưa đúng với yêu cầu
về cấp trình độ quy định cho ví trí, chức danh đó dẫn khó khăn trong thực thi công vụ
- Về trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước: Còn một tỷ lệ lớn chưa qua đào tạo Bên cạnh đó, số cán bộ, công chức đã qua lớp đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị vẫn còn yếu trong thực tế dẫn đến việc nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nước và triển khai vào thực tế tại địa phương còn nhiều hạn chế, chưa xử lý kịp thời những tình huống phát sinh tai địa phương
- Về mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao: Mức độ hoàn thành nhiệm
vụ chỉ đạt yêu cầu và vẫn còn nhiều trường hợp chỉ hoàn thành một phần khối 11