Một số hoạt động nhằm nâng cao khả năng giao tiếp Tiếng Anh cho học sinhkhối lớp 5 ở trường Tiểu học Vĩnh Thọ I.. Chính vì thế năm 2003, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình dạy Tiếng Anh c
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 2
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……… 3
1 Cơ sở lý luận ……… 3
2 Thực trạng ……… 4
3 Các biện pháp tiến hành ……… 5
4 Hiệu quả ……… 11
III KẾT LUẬN ……… 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 14
PHỤ LỤC ……… 15
Trang 2Một số hoạt động nhằm nâng cao khả năng giao tiếp Tiếng Anh cho học sinh
khối lớp 5 ở trường Tiểu học Vĩnh Thọ
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự nghiệp cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa đất nước và trong xu thế hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay, Tiếng Anh là một trong những ngơn ngữ cĩ vai trị quan trọng như là phương tiện hỗ trợ hiệu quả nhất trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của nước nhà Chính vì thế năm 2003, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình dạy Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học trên phạm vi tồn quốc và đặc biệt chú trọng phát triển cả bốn kỹ năng: Nghe, nĩi, đọc, viết mà trọng tâm là hai kỹ năng nghe và nĩi ((kỹ năng giao tiếp) cho học sinh Tiểu học
Để giúp học sinh học giao tiếp tốt Tiếng Anh, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
đã chỉ thị nâng thời lượng dạy và học của bộ mơn lên 4 tiết/ tuần (tương đương với số tiết của mơn Tốn và Tiếng Việt), xem mơn Tiếng Anh gần như là một mơn học chính trong trường Tiểu học Với thời lượng đĩ học sinh hầu như học Tiếng Anh hàng ngày, tiếp xúc với Tiếng Anh hàng ngày
Các nhà biên soạn sách cũng đã dần cải thiện bộ sách của mình theo đường hướng giao tiếp Trong các bộ sách hiện đang giảng dạy tại các trường Tiểu học ở bộ mơn Tiếng Anh tự chọn, bộ sách Let’s Learn English bám sát sườn nhất so với yêu cầu về nội dung giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh Tiểu học của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chính thức thay đổi bằng giáo trình “Tiếng Anh” với nội dung phong phú và gần gũi hơn với học sinh hơn và đặc biệt chú trọng, phát triển nhiều hơn ở hai kỹ năng nghe và nĩi (hai kỹ năng này chiếm phần lớn trong một bài học của sách “Tiếng Anh”) để dần hình thành kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong buổi ban đầu này Tuy nhiên quy trình dạy Tiếng Anh ở Tiểu học đang gặp nhiều khĩ khăn như điều kiện cơ sở vật chất, tài liệu dạy học: sách, vở, băng, đĩa, máy cassette … chưa đáp ứng nhu cầu dạy và học nên việc luyện tập cho học sinh giao tiếp bằng Tiếng Anh cũng là một trở ngại lớn cho giáo viên dạy Tiếng Anh ở bậc Tiểu học hiện nay
Bên cạnh đĩ, Tiếng Anh khơng phải là tiếng mẹ đẻ nên luơn là một mơn học khĩ và mới mẻ đối với học sinh Đa số phu huynh chưa thật sự quan tâm đến mơn học này vì chưa hiểu hết tầm quan trọng cũng như lợi ích giao tiếp mà
nĩ mang lại trong quá trình hội nhập Vì vậy bộ mơn này chưa được sự quan tâm đúng mức của phần lớn phụ huynh và học sinh ở trường Tiểu học Vĩnh Thọ hiện nay Để đạt được mục tiêu giảng dạy và để học sinh yêu thích mơn học này địi hỏi giáo viên phải cĩ phương pháp dạy phù hợp, phải tìm tịi học hỏi để đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với chương trình và gây hứng thú học tập cho học sinh Học sinh Tiểu học Vĩnh Thọ vốn thuộc dân cư vùng biển nên đa số đều rụt rè, ít nĩi, ngại giao tiếp Các em ngại nĩi nên dẫn đến nghe và nĩi yếu Làm thế nào để giúp các em tự tin, mạnh dạn sử dụng Tiếng Anh khi giao tiếp
Trang 3trong các giờ học Tiếng Anh là điều mà người giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn nên làm
Với những lý do trên, và qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy tại trường
Tiểu học Vĩnh Thọ, tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số hoạt động nhằm nâng cao khả năng giao tiếp Tiếng Anh cho học sinh khối lớp 5 ở Trường Tiểu học Vĩnh Thọ” nhằm tìm ra một số các biện pháp giúp các em nói
đúng Tiếng Anh và nâng cao kỹ năng giao tiếp ở môn học này
Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu những lỗi học sinh thường mắc phải
trong quá trình giao tiếp trên lớp để khắc phục đồng thời tạo cho học sinh thói quen giao tiếp, mạnh dạn, tự tin khi sử dụng Tiếng Anh nói chuyện với các bạn trong giờ học và có thể bắt chuyện được với người nước ngoài bằng những câu nói đơn giản mà các em đã được học
Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động dạy và học đặc biệt dạy và học 2
kỹ năng nghe, nói ở bộ môn Tiếng Anh cho học sinh khối lớp 5 ở trường Tiểu học Vĩnh Thọ
Phạm vi nghiên cứu: Các tiết học Tiếng Anh ở khối lớp 5, trường Tiểu
học Vĩnh Thọ năm học 2014 – 2015
Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Dựa vào tài liệu được tập huấn tại Sở Giáo Dục do các giảng viên trong và ngoài nước cung cấp
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: Phương pháp quan sát, điều tra, phân tích trao đổi, thống kê, tổng hợp, so sánh, tổng kết kinh nghiệm
- Ngoài ra tôi còn tham khảo ý kiến từ các đồng nghiệp và thông qua các tài liệu từ sách, báo, Internet kết hợp với dự giờ, thực nghiệm, kiểm tra đối chiếu với kết quả học tập của học sinh
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận
Phương pháp Giao tiếp (Communicative Approach) được xem như
phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay Hầu hết các giáo trình, sách giáo khoa phổ thông tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theo quan điểm của phương pháp này Qua đó, coi mục tiêu cuối cùng của dạy học ngoại ngữ là phát triển kỹ năng giao
tiếp/kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills), năng lực giao tiếp (communicative competence) Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương
diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày Ngoài
ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay
nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of communication) Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function) Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương
Trang 4Để giao tiếp được người học phải có một số vốn từ, và nắm được một số các mẫu câu căn bản Mục đích cuối cùng của người học là không chỉ học từ vựng và học mẫu câu riêng lẽ, không chỉ dừng lại ở biết được cách đọc, cách viết và nghĩa của từ mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được
từ vựng đó để giao tiếp
Tiếng Anh ngày nay là ngôn ngữ giao tiếp quan trọng trên toàn thế giới Việc đưa môn học Tiếng Anh vào dạy và học ở cấp Tiểu học nhằm bước đầu luyện tập cho các em 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Quan niệm của nhiều phụ huynh xưa nay là Tiếng Việt còn chưa rành thì làm sao học Tiếng Anh Hiểu đơn giản, học Tiếng Anh trong chương trình Tiếng Anh Tiểu học cũng như chương trình Tiếng Anh lớp 5 chỉ dựa vào khả năng bắt chước là chính Bắt chước từ vựng và cách đọc từ vựng, bắt chước ngữ điệu câu, bắt chước dấu nhấn trọng âm, bắt chước các mẫu câu… Lứa tuổi học sinh Tiểu học
là lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng, dễ bắt chước, các em dễ dàng nắm bắt rất nhanh và nếu có phương pháp giảng dạy phù hợp sẽ tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh sẽ giúp các em
tự tin, giao tiếp tốt trong môn học này
Phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Vĩnh Thọ cần chú ý làm sao cho các em đọc và viết được một số từ vựng và mẫu câu đơn giản trong chương trình các em đã được học, biết cấu trúc câu, ngữ điệu trong từng câu nói và biết cách vận dụng những kiến thức đã học để sản sinh ra những câu nói đơn giản Đây chính là mục đích cuối cùng của việc dạy giao tiếp Bên cạnh đó rèn cho học sinh sự mạnh dạn tự tin trong quá trình giao tiếp cũng quan trọng không kém Trong quá trình giảng dạy thực tế tôi đã tìm ra được các biện pháp nhằm phát triển khả năng giao tiếp cho các em Các biện pháp này đã được tôi áp dụng trong các tiết học và bước đầu đã đem lại những kết quả thật khả quan
2 Thực trạng
Qua kết quả thống kê đầu năm học 2014 – 2015 bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp các em học sinh khối 5, tôi thấy học sinh thường mắc phải những lỗi sau:
- Về phát âm: Phần lớn các em chưa nhấn đúng trọng âm trong khi phát
âm từ
Ví dụ: ’clasroom, ’library, e’raer
- Ngoài ra các em chưa phát âm được những từ có âm s, z, p, k
Ví dụ: /s/: close, its, excuse,
/z/: please, He’s,
/p/: pen, pencil, pet,
/k/: milk, like,
Trang 5- Nguyên nhân dẫn đến những lỗi này là do học sinh quen với cách đọc Tiếng Việt Tiếng Việt là tiếng đơn âm tiết trong khi Tiếng Anh lại là tiếng đa
âm tiết Tiếng Anh chú trọng đến dấu nhấn trọng âm và phụ âm cuối trong khi Tiếng Việt không hề chú trọng đến vấn đề này
- Về từ vựng: Học sinh đọc từ còn sai nhiều, phần lớn do các em không
nhớ từ vựng nhất là các từ có nhiều âm tiết
Ví dụ: good afternoon, school library, bathroom, interesting, difficult, …
- Về ngữ pháp: Các em chưa giao tiếp trôi chảy, sợ mắc lỗi nên không
dám nói, chưa hình thành câu đầy đủ, thường quên các động từ
3 Các biện pháp tiến hành
Sau khi nhận lớp được 4 tuần, tôi thấy cần phải cải thiện khả năng giao tiếp của học sinh của mình và tôi đã sử dụng các hoạt động sau nhằm giúp các
em cải thiện khả năng phát âm, nắm được ngữ liệu mới, nhớ lâu các từ vựng đã học, luyện tập cấu trúc câu cũng như luyện tập hội thoại đồng thời giúp các em
tự tin khi nói Tiếng Anh; bước đầu đem lại hiệu quả và làm tăng hứng thú học tập môn Tiếng Anh của các em
* Để giúp học sinh nắm vững ngữ liệu mới vừa học, tôi có các hoạt động sau:
3.1 Repetition Drill (Luyện nhắc lại)
Với hoạt động này giáo viên bước đầu giúp học sinh làm quen với ngữ liệu mới, nắm được mẫu câu, đọc đúng từ và đúng ngữ điệu câu
Giáo viên đọc mẫu câu mới hoặc ngữ liệu mới cho học sinh đọc theo
Ví dụ:
T: monkeys, monkeys
Ss: monkeys
T: tigers, tigers
Ss: tigers
Hoặc T: I like monkeys
Ss: I like monkeys
T: I don’t like tigers
Ss: I don’t like tigers
3.2 Substitution Drill (Luyện thay thế)
Đây là hoạt động luyện tập để củng cố mẫu câu mà giáo viên vừa giới thiệu
Có thể dùng phiếu tranh hoặc học cụ để thay thế
Ví dụ:
Trang 6T: How’s the weather today ? (chỉ vào bức tranh có mây) It’s cloudy Ss: It’s cloudy.
T: (chỉ vào bức tranh có mưa)
Ss: It’s rainy.
T: (chỉ vào bức tranh những con khỉ đang đu đưa) I like monkeys because they can swing
Ss: I like monkeys because they can swing.
T: (chỉ vào bức tranh những con voi đang múa)
Ss: I like elephants because they can dance.
3.3 Transformation Drill (Luyện cải biên)
Hoạt động này dùng để củng cố kiến thức ngữ pháp và khắc sâu kiến thức cho học sinh Bên cạnh đó cũng rèn thêm về cách phát âm cho học sinh
Giáo viên nói một động từ nguyên mẫu gọi một học sinh chuyển từ đó sang dạng chủ ngữ ở ngôi thứ 3 số ít
Ví dụ:
T: go
Ss: goes.
Với bài luyện này chúng ta có thể sử dụng cả câu
T: I get up at six o’clock
Ss: She gets up at six o’clock
3.4 Để giúp học sinh tăng cường vốn từ vựng, và nhớ lâu các cấu trúc
đã học, tôi có các hoạt động trò chơi Các trò chơi này không những giúp các
em tăng cường vốn từ vựng mà còn tạo không khí vui tươi trong giờ học Các
em có cảm giác mình đang chơi nhưng thực chất là đang học, đang tiếp thu kiến thức một cách không ý thức Cách ghi nhớ không ý thức này làm các em nhớ lâu hơn là ghi nhớ chủ động, có ý thức Các hoạt động trò chơi này còn được gọi là
“Trò chơi ngôn ngữ”
* Một số hoạt động tăng cương vốn từ vựng
3.4.1 Bingo.
Trò chơi này nhằm tăng cường năng lực ghi nhớ và nghe hiểu Phát cho mỗi học sinh một bảng gồm 9 ô vuông, 3 hàng, mỗi hàng 3 ô Học sinh chọn 9
từ hoặc phiếu tranh (dựa trên số lượng từ vựng trong bài học) sau đó xếp 9 từ đó vào ô chữ của mình Người gọi (giáo viên hoặc học sinh) rút 1 phiếu trong 1 loạt phiếu giống nhau và đọc to từ hoặc nhóm từ ghi trên phiếu Học sinh nào có phiếu có từ ấy thì lật úp chiếc phiếu của mình xuống (hoặc lấy giấy phủ lên hoặc che đi, hoặc đánh dấu chéo vào từ đó) Học sinh nào che được 3 ô vuông hoặc theo hàng ngang hoặc trên xuống, hoặc theo đường chéo thì thắng cuộc
Trang 7Car train
_ _ _
_ _ _
3.4.2 Board Race ( Chạy đua lên bảng )
Có nhiều cách chơi, và tất cả các cách chơi đều khích lệ học sinh nhớ lại
từ đã học một trong những cách chơi là chia lớp thành nhiều đôi Đính một loạt thẻ từ hoặc phiếu tranh lên bảng Giáo viên đọc to một từ trong số đó Mỗi đội một học sinh chạy đua lên bảng, chạm tay vào phiếu từ hoặc tranh đó Hoặc có cách khác là không đính những thẻ từ hoặc tranh lên bảng, mà giáo viên đọc to một từ (chỉ đồ vật, con vật) Mỗi đội một học sinh lên bảng vẽ tranh minh họa cho từ đó Ai vẽ đúng thì được điểm Đội nào có điểm cao nhất thì đội đó sẽ thắng
Có một cách chơi khác dành cho lớp ít học sinh đó là cho học sinh xếp thành từng hàng trước bảng Hai học sinh đầu hàng đứng lên sát bảng Cho hai học sinh đó mỗi người một thước kẻ hoặc một bút viết bảng Giáo viên đọc to một từ lên Hai học sinh đó chạy đua lên vừa chỉ vào phiếu có từ đó vừa đọc to
từ đó lên Học sinh làm đúng hơn và nhanh hơn được đứng lại ở đó, chờ bạn tiếp sau lên chơi tiếp Học sinh bị thua, trao lại thước kẻ cho bạn đứng sau Cứ như vậy chơi cho đến người cuối cùng
3.4.3 Charades ( Thể hiện nghĩa bằng điệu bộ)
Hoạt động này bao gồm nhiều dạng thức, nhưng tựu chung đều dùng điệu
bộ để diễn tả nghĩa Cách chơi đơn giản nhất là: thẻ từ hoặc tranh úp mặt xuống thành từng chồng Một học sinh nhặt một phiếu trên cùng nhưng không thông báo cho cả lớp biết từ đó là gì Học sinh đó phải dùng cử chỉ để diễn tả nghĩa của từ đó Cả lớp đoán từ Cũng có cách đơn giản hơn là không dùng thẻ từ hoặc tranh mà giáo viên nói thầm cho một học sinh một từ nào đó Học sinh ấy làm như trên
Trang 8(2 học sinh đang tham gia trò chơi)
3.4.4 Guess the word (Đoán từ)
Hoạt động này dùng để ôn tập từ đã học và xây dựng khả năng phán đoán của học sinh Chia lớp thành từng nhóm, mỗi nhóm từ ba đến năm học sinh S1 nghĩ 1 từ, rồi viết 1 chữ cái của từ đó vào giấy Các thành viên khác đoán xem từ
đó là từ gì Nếu sau một vòng không ai đoán đúng từ thì S1 cho thêm 1 chữ cái
Cứ như vậy cho đến khi có người đoán đúng từ Thay phiên làm S1
* Một số hoạt động luyện cấu trúc
3.4.5 Beanbag Circle (Vòng tròn túi đậu)
Học sinh đứng thành vòng tròn Tung một quả bóng hay một túi đậu cho HS1 và hỏi (Ví dụ: What will your dream house be like? (Unit 15 leson 1)) HS1 trả lời rồi tung bóng tiếp cho người khác (HS2) Cứ như vậy cho đến khi mọi người đều hết lựợt
(Học sinh đang đứng thành vòng tròn tung túi đậu hỏi và trả lời)
3.4.6 Find your partner (Tìm bạn luyện)
Hoạt động này tạo cho học sinh cơ hội sử dụng ngôn ngữ trong văn cảnh
Sử dụng 2 bộ phiếu giống nhau, với số lượng phiếu bằng số lượng học sinh Mỗi học sinh nhận một phiếu Người nọ không được cho người kia xem phiếu của mình Học sinh đi quanh lớp tìm người có phiếu từ giống mình Phương thức tìm
là đặt câu hỏi có liên quan đến phiếu từ mình đang cầm trong tay Chẳng hạn một học sinh trong tay đang cầm chiếc phiếu có từ “chicken” có thể hỏi người khác “ Do you like chicken?” Khi người kia trả lời “Yes, I do” có nghĩa là người
ấy có phiếu giống như vậy Cứ đi quanh hỏi như vậy cho đến khi tìm được bạn thì thôi
Trang 93.4.7 Living sentence or dialogue (Tái dựng câu hoặc đoạn hội thoại)
Hoạt động này khích lệ học sinh nghĩ ra cấu trúc và sắp xếp từ theo đúng trật tự Chọn một số câu trong bài vừa học hoặc bài trước đó Chia lớp thành từng nhóm và cung cấp cho mỗi nhóm một câu Mỗi học sinh trong nhóm được cấp một từ trong câu đó Học sinh chỉ được đọc to từ của mình lên, không được phép nói thêm từ khác Cứ như vậy cả nhóm khớp dần các từ lại với nhau thành câu theo đúng trật từ gốc Nếu trò chơi dựng đoạn hội thoại thì mỗi học sinh được cấp một câu, chứ không phải một từ
3.4.8 Relay race (Chạy tiếp sức)
Có nhiều cách chơi Chia lớp thành nhiều đội, mỗi đội ngội theo một hàng ngang Cho học sinh ngồi đầu mỗi hàng một từ, hoặc câu (S1) S1 nói lại từ đó cho người ngồi cạnh mình (S2) nghe Cứ như thế cho đến khi từ đó đến với học sinh ngồi cuối hàng Khi nhận được từ, học sinh này đứng dậy đọc to từ đó lên, rồi chạy nhanh lên bảng viết từ đó lên bảng Đội nào hoàn thành trước sẽ thắng
3.4.9 Back – to – back activity (Tựa lưng vào nhau làm bài tập)
Hoạt động này tạo ra một tình huống mà học sinh phải dựa vào nhau mới hoàn thành được bài tập và như thế tạo ra được nhu cầu giao tiếp chia học sinh thành từng đôi một Các đôi ngồi tựa lưng vào nhau, hoặc chắn giữa hai người bằng một tấm màng che Mục đích của cách bố trí này là không cho hai người nhìn thấy giấy của nhau Cho mỗi học sinh một bảng biểu trống (a blank grid); hoặc một bảng biểu đã điền một số thông tin rồi (partially filled in grids) S1 điền nối thông tin vào bảng theo chỉ dẫn của giáo viên S2 cố tìm cách tái tạo lại thông tin của S1; hoặc láng nghe S1 miêu tả thông tin của mình, thỉnh thoảng có thể hỏi thêm câu hỏi để khẳng định khi cần thiết Sau khi hoàn thành bài tập, 2 học sinh so bài với nhau để đánh giá mức độ chính xác Đổi vai luyện tiếp
Có một cách chơi nữa là vẽ hình Cung cấp cho mỗi học sinh một tờ giấy trắng (hoặc giấy có vẽ một phần của một vật thể nào đó) S1 vẽ theo sự chỉ dẫn của giáo viên S1 hướng dẫn S2 vẽ theo đúng như hình của mình Sau khi hoàn thành bài tập, 2 học sinh so bài của nhau để đánh giá mức độ chính xác Đổi vai luyện tiếp
3.4.10 Walk and walk (Vừa đi vừa nói)
Đặt quanh lớp mỗi chỗ 2 phiếu: một phiếu cho học sinh và một phiếu cho giáo viên (không giống nhau) Học sinh đi bộ quanh lớp học theo đôi Khi nghe tín hiệu “stop”, mỗi đôi phải dừng lại trước một đôi phiếu Tiến hành hỏi – trả
lời, sử dụng phiếu như một yếu tố gọi ý S1 (chỉ vào phiếu đầu tiên): What will
we do in the morning?; S2: We’ll run on the beach Sau đó đổi vai S2 (chỉ vào phiếu thứ 2) What will we do in the evening?; S2: We’ll set up a camfire .
* Một số hoạt động luyện hội thoại
3.4.11 Step away lines (Lùi khỏi hàng)
Trang 10Hoạt động này khích lệ học sinh nói to Học sinh đứng thành 2 hàng đối diện nhau theo từng đôi Mỗi đôi luyện một đoạn hội thoại Đôi nào thực hiện xong bài hội thoại đó thì mỗi bên lùi lại một bước và luyện lại lần 2 Luyện xong lại lùi thêm một bước nữa và luyện lại lần thứ 3 Theo cách này, hai người trong một đôi sẽ càng ngày càng cách xa nhau và càng phải nói to lên để nghe thấy nhau nói
(Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi trong bài)
3.4.12 Back – to – back telephones (Tựa lưng vào nhau gọi điện thoại)
Dùng điện thoại trò chơi hoặc điện thoại cũ Chia lớp thành từng đôi Mỗi học sinh được phát một điện thoại Các đôi ngồi tựa lưng vào nhau giả vờ như đang gọi điện thoại cho nhau Học sinh phải lắng nghe bạn mình nói gì và khi mình nói phải nói rõ ràng Mỗi đoạn hội thoại tập 2 lần tạo điều kiện cho mỗi học sinh được đóng cả hai vai Giáo viên đi quanh lớp hỗ trợ học sinh khi cần
3.4.13 Conversation lines (Hội thoại theo hàng)
Học sinh đứng thành 2 hàng đối diện nhau theo từng đôi (S1 và S2) để hỏi
và trả lời Sau đó cho học sinh bước một bước sang trái hoặc sang phải Như vậy
sẽ thừa ra một học sinh ở cuối hàng Nhưng như vậy mỗi học sinh lại có bạn luyện mới Giáo viên đi quanh lớp để hỗ trợ khi cần thiết
3.5 Group work (Hoạt động nhóm)
Ngoài việc sử dụng những phương pháp và những trò chơi trên vào giờ học, việc xây dựng tốt hoạt động làm việc theo nhóm cũng được tôi đặc biệt quan tâm và áp dụng thường xuyên vào các tiết học trên lớp Đây là một hình thức dạy học tích cực Ở trong nhóm, học sinh có điều kiện luyện tâp, học hỏi lẫn nhau Những em năng khiếu có thể giúp đỡ được các em khó khăn, dần dần các em có cảm giác thoải mái tự tin hơn khi giao tiếp Tuy nhiên nhóm chỉ có tác dụng tốt khi giáo viên biết cách phát huy được hết tính tích cực của học sinh
Để xây dựng nhóm hoạt động tốt giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho nhóm và nhóm trưởng sẽ phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm của mình
Ví dụ: Dạy Unit 15: My dream house; Part 4: Talk