1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Sáng kiến kinh ngiệm Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3

25 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 178 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh nói hoặc viết một đoạn văn theo một chủ đề nào đó, là kết quả từ việcvận dụng kết hợp kiến thức đã học về vốn từ, về các kiểu câu, về cách diễn đạt ý, …Với chương trình giảng dạ

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sốngcộng đồng và trong đời sống mỗi con người Với cộng đồng, đó là công cụ để giaotiếp và tư duy Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng vì “trẻ em đivào trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó, duy nhất thông quaphương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong

nó chỉ thông qua chính công cụ này” (K.A.Usinxki).Vì vậy, các em cần được họctiếng mẹ đẻ một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công cụ này suốt nhữngnăm tháng học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cuộc đời Tiếng mẹ đẻ và toánhọc là những môn học công cụ quan trọng ở trường Tiểu học Khi trở thành một mônhọc, tiếng mẹ đẻ có tính chất lưỡng phân: nó vừa là đối tượng học tập và chiếm lĩnhcủa học sinh, vừa tạo cho các em công cụ để học tập, tư duy và giao tiếp

Chính vì tầm quan trọng nêu trên mà môn Tiếng Việt ở nước ta là môn họcchiếm thời gian học tập nhiều nhất ở bậc Tiểu học Và trong chương trình dạy tiếngViệt thì mục tiêu môn học là yếu tố đầu tiên được quan tâm

Trải qua quá trình đổi mới, chương trình Tiểu học hiện nay xác định mục tiêucủa môn Tiếng Việt lớp 3 thống nhất với mục tiêu chung của chương trình Tiếng Việtcấp Tiểu học, đó là:

1 Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe – nói –đọc – viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện thao tác của tư duy

2 Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơgiản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và của nướcngoài

3 Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàuđẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa

Như vậy, chương trình môn Tiếng Việt lớp 3 nói riêng và chương trình mônTiếng Việt ở bậc Tiểu học hiện nay đặt mục tiêu rèn luyện kĩ năng lên hàng đầu.Trong môn Tiếng Việt, Tập làm văn là phân môn thực hành và rèn luyện tổng hợp cả

Trang 2

bốn kĩ năng “nghe – nói – đọc – viết”, có tính chất tích hợp các phân môn khác trongmôn Tiếng Việt

Học sinh nói hoặc viết một đoạn văn theo một chủ đề nào đó, là kết quả từ việcvận dụng kết hợp kiến thức đã học về vốn từ, về các kiểu câu, về cách diễn đạt ý, …Với chương trình giảng dạy hiện nay, phân môn Tập làm văn ở lớp 3 có khá nhiềukiểu bài như: nghe – kể một câu chuyện; nói, viết theo chủ điểm; viết thư;… Điều nàygiúp học sinh tiến bộ về khả năng vận dụng, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Tuy nhiên,việc dùng từ ngữ, đặt câu của các em còn nhiều hạn chế Các em sử dụng dấu câu cònlúng túng, chưa phù hợp nên câu văn của các em khó hiểu và tối nghĩa Mặt khác, dovốn từ của các em chưa phong phú nên các em còn ngại nói, vì vậy tiết học chưa đạthiệu quả cao Nhiều học sinh không chủ động nắm bắt kiến thức, thiếu tự tin, ngại tìmhiểu; các em chưa biết nói hoặc viết đoạn văn có ý tưởng sáng tạo, giàu hình ảnh màchỉ biết trả lời theo câu hỏi gợi ý

Đứng trước thực trạng đó, là một giáo viên tiểu học đứng lớp nhiều năm, bảnthân tôi rất băn khoăn, làm thế nào để nâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văncho các em học sinh lớp 3? Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằmnâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3/3, trường Tiểuhọc Vĩnh Nguyên 2, thành phố Nha Trang”

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài nhằm phân tích, đánh giá chất lượng học phân môn Tập làmvăn của học sinh trong thời gian qua, từ đó áp dụng một số biện pháp thích hợp đểnâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3/3, trường Tiểuhọc Vĩnh Nguyên 2, thành phố Nha Trang

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nêu trên, tôi đề ra nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Khảo sát thực trạng chất lượng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2, thành phố Nha Trang

- Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học phânmôn Tập làm văn cho học sinh

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu:

4.1 Khách thể nghiên cứu:

- Học sinh lớp 3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2, thành phố Nha Trang

Trang 3

- Chất lượng học phân môn Tập làm văn của học sinh trong những năm qua.4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn cho họcsinh lớp 3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2, thành phố Nha Trang

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Đề tài chỉ nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học phânmôn Tập làm văn cho học sinh lớp 3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2, thành phốNha Trang

- Thời gian nghiên cứu:

Năm học: 2014 – 2015

6 Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Nghiên cứu các loại tài liệu sách báo, tạp chí có liên quan đến tâm lí của họcsinh, phương pháp dạy phân môn Tập làm văn cho học sinh tiểu học

- Phương pháp điều tra:

Điều tra, khảo sát thực trạng chất lượng học phân môn Tập làm văn của họcsinh lớp 3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2, thành phố Nha Trang

Trang 4

I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SƠ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận:

1.1 Mục tiêu của phân mơn Tập làm văn lớp 3:

1 Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng: nói, nghe, viết phục vụ cho việc họctập và giao tiếp Cụ thể là:

- Biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt gia đình,trong sinh hoạt tập thể Biết giới thiệu các thành viên, các hoạt động của tổ, củalớp

- Nghe – hiểu nội dung lời nĩi, ý kiến thảo luận trong các buổi sinh hoạt Nghe –hiểu và kể lại được nội dung các mẩu chuyện ngắn, biết nhận xét về nhân vậttrong các câu chuyện

- Biết viết đơn, viết tờ khai theo mẫu, viết một bức thư ngắn để báo tin tức, đểhỏi thăm người thân hoặc kể lại một việc đã làm, biết kể lại nội dung một bức tranh

- Tiếp tục rèn luyện kỹ năng kể chuyện và miêu tả: kể một sự việc đơn giản,tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi

- Rèn luyện kỹ năng nghe thông qua các bài tập nghe - kể và các hoạt độnghọc tập trên lớp

b Các ki ểu bài tập :

* Bài tập nghe: nghe và kể lại một mẩu chuyện ngắn, nghe và nĩi lại một mẩu

tin

* Bài tập nói:

- Kể hoặc tả miệng về người thân, gia đình, trường lớp, quê hương, lễ hội,hoạt động thể thao – văn nghệ

- Thảo luận về bảo vệ môi trường, về tình hình học tập và hoạt động của lớp

- Báo cáo về các hoạt động

- Giới thiệu các hoạt động của tổ, lớp

Trang 5

- Nói về Đôïi, thành thị, nông thôn, người lao động trí óc.

* Bài tập viết:

- Điền vào giấy tờ in sẵn

- Viết một số giấy tờ theo mẫu

- Viết thư

- Ghi chép sổ tay

- Kể hoặc tả ngắn về người thân, gia đình, trường lớp, quê hương, lễ hội, hoạtđộng thể thao, văn nghệ, thành thị, nông thôn

1.3 Đặc điểm học sinh lớp 3 trong học tập

Tri giác các em cịn đượm màu sắc cảm xúc (bị hấp dẫn bởi các màu sắc sặc sỡ),

số lượng chi tiết tri giác ít Trẻ thường bị thu hút bởi các các chi tiết ngẫu nhiên, khảnăng tổng hợp, quan sát kém Hoạt động phân tích, tổng hợp về hình thức cũng nhưnội dung cịn mang nhiều vết tích tư duy của trẻ mẫu giáo Trong hoạt động khái quáthĩa, các em thường căn cứ vào các dấu hiệu bề ngồi cụ thể, trực quan, chưa chú ý tớinhững dấu hiệu chung, bản chất …Các em thường phán đốn theo một chiều, dựa vàonhững dấu hiệu duy nhất

2 Cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn cho thấy, trong các nhà trường phổ thơng: "Học sinh bây giờ khơng thích học văn" Điều đĩ thể hiện rất rõ ở thống kê bằng con số: 50% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thơng khơng biết viết một bài làm văn theo đúng yêu cầu, viết sai chính tả, ngữ pháp, câu văn khơng gãy gọn Nguyên nhân học sinh khơng thích học văn là: thờ ơ, coi thường mơn văn (cĩ cả các bậc phụ huynh), thực dụng với những ngành học mà sau này làm ra tiền…

Đánh giá sơ bộ các bài tập làm văn của học sinh tiểu học hiện nay, cĩ thể thấy phần lớn học sinh tỏ ra rất hạn chế về tính sáng tạo Bài viết của các em cho thấy hầu hết các em chưa biết nĩi - viết theo cách cảm, cách nghĩ của riêng mình, bài làm khơng cĩ ý tưởng, nội dung đơn giản, thậm chí đơn điệu, khơng gây được ấn tượng cho người đọc Học sinh thường lệ thuộc vào dàn ý của giáo viên, thiếu sự sáng tạo Bài làm của các em thiếu nét riêng, ít cảm xúc và chưa vận dụng tốt các ngữ liệu mẫu

ở sách giáo khoa để thực hành Khâu đọc đề và xác định yêu cầu của đề, học sinh thường bỏ qua nên bài làm chưa đi đúng yêu cầu trọng tâm, cách diễn đạt cịn vụng, câu liệt kê, lủng củng, khơng cĩ sự vận dụng từ các bài tập rèn kĩ năng của luyện từ

và câu vào bài viết

Trang 6

Ở bậc Tiểu học, lứa tuổi học sinh hồn nhiên, hiếu động, thích vừa học vừa chơi;phân môn Tập làm văn lại là phân môn khó học, đòi hỏi sự tổng hợp các kĩ năng :

“nghe – nói – đọc – viết” cùng các kiến thức ở các phân môn Tiếng Việt khác nênphần lớn các em không thích học phân môn này Muốn giúp cho các em học tốt phânmôn Tập làm văn, các thầy cô – những nhà sư phạm phải vận dụng các biện pháp dạyhọc sao cho linh hoạt, sáng tạo phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểuhọc, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, “học mà chơi, chơi mà học”

Là một giáo viên tiểu học, tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy họctiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Vậy làm thế nào để học sinhhọc tốt phân môn Tập làm văn? Chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân để từ đó đề ra cácgiải pháp thích hợp, giúp các em nâng cao chất lượng khi học phân môn Tập làm văn

II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 3/3, TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH NGUYÊN 2, THÀNH PHỐ NHA TRANG.

1 Đặc điểm tình hình lớp 3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2

Tổng số học sinh: 45 nữ: 17

Đa số học sinh trong lớp ngoan ngoãn, biết vâng lời, chăm chỉ học tập, đượccha mẹ quan tâm Bên cạnh đó vẫn còn một số ít chưa ngoan, trong giờ học còn làmviệc riêng, không tập trung nghe giảng, chưa chăm học, thường xuyên không chuẩn bịbài, học bài trước khi đến lớp, làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh cảlớp Các em chưa có thói quen đọc sách, chưa chú ý quan sát các sự vật, hiện tượngxung quanh cuộc sống của các em

Phụ huynh học sinh chủ yếu làm nghề đánh bắt hải sản, đời sống kinh tế khókhăn, một số chưa quan tâm tới việc học tập của học sinh

2 Tìm hiểu về chất lượng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3/3, trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 2

Đầu năm học, khi nhà trường tổ chức khảo sát chất lượng, tôi đã thống kê chất lượnghọc phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3/3 như sau:

Số lượng - Tỉ lệ % 7 – 15,6% 11 – 24,4% 16 – 35,6% 11 – 24,4%

Trang 7

- Qua bảng số liệu thu thập, ta thấy: Tỷ lệ “Điểm dưới 5” chiếm 24,4%, tiếp đến là

“Điểm 5 - 6” chiếm 35,6% Điều này cho thấy chất lượng học phân môn Tập làm văncủa các em là chưa thật cao

- Tuy nhiên, tỷ lệ “Điểm 7 – 8” và “Điểm 9 – 10” cũng chiếm gần 40% Như vậy, một

bộ phận không nhỏ các em học sinh trong lớp có hứng thú và có cách học tốt với phânmôn Tập làm văn

-Điều này cho thấy để nâng cao chất lượng học tập phân môn Tập làm văn cho họcsinh cần giúp các em tiếp cận với các kiểu bài tập một cách trực quan, cụ thể và vậndụng những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh một cách hiệu quảnhất

III MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3/3, TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH NGUYÊN 2, THÀNH PHỐ NHA TRANG.

Phân môn Tập làm văn nối tiếp tự nhiên các bài học của môn Tiếng Việt nhằmgiúp học sinh tạo ra năng lực mới: năng lực sản sinh ngôn bản nói hoặc viết Tập làmvăn có khả năng hàng đầu trong việc rèn cho học sinh nói và viết đúng tiếng Việt, cótác dụng lớn trong việc củng cố nhận thức cho học sinh

Để góp phần nâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn cho học sinh, tôi

đã tiến hành những biện pháp sau:

1 Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của phân môn Tập làm văn

Nhận thức đúng vị trí, vai trò của phân môn Tập làm văn trong nhà trường làvấn đề quan trọng bậc nhất hiện nay Để làm được điều này, người giáo viên cần có

sự hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội Mọi người cần nhận thức được tầm quan trọngcủa phân môn Tập làm văn Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh tạo lập văn bản,góp phần dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy Tập làmvăn là phân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác

Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra, ngoài phươngpháp của giáo viên, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế.Học tốt Tập làm văn sẽ giúp học sinh học tốt các môn học khác, đồng thời giáo dục

Trang 8

các em những tình cảm lành mạnh, trong sáng; rèn luyện khả năng giao tiếp và gópphần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của tiếng Việt, hình thành nhâncách con người Việt Nam.

2 Tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của học sinh

Trước khi đến trường, học sinh đã biết một số lượng từ, một số kiểu câu, một sốquy tắc giao tiếp Vì vậy, khi dạy phân môn Tập làm văn ở tiểu học cần khai thác vốntiếng Việt của các em trong khâu lựa chọn nội dung, tổ chức dạy và học để tránh sựnhàm chán; từng bước giúp học sinh có ý thức và hoàn thiện điều các em đã biết,cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng mới một cách tiết kiệm mà hữu hiệu

3 Tạo hứng thú học tập phân môn Tập làm văn cho học sinh

Hứng thú học tập là niềm say mê đặc biệt của học sinh đối với hoạt động học tập

do nhận thức được tầm quan trọng của việc học, sự hấp dẫn của nội dung, phương tiệncũng như phương pháp học tập

Theo Anaton Phranx – nhà văn Pháp: “Nghệ thuật dạy học là nghệ thuật thức tỉnh trong tâm hồn các em thiếu niên tính ham hiểu biết và sau đó thỏa mãn được nó; mà tính ham hiểu biết đứng đắn và sinh động chỉ có thể có được trong một đầu óc sảng khoái Nếu nhồi nhét kiến thức một cách cưỡng bức thì chúng chỉ gây bực mình khó chịu và làm rác bẩn trí óc mà thôi Để tiêu hóa kiến thức, thì cần phải thưởng thức chúng một cách ngon lành” Câu nói của ông càng thêm khẳng định: Hứng thú học tập có vai trò quan trọng làm tăng khả năng tiếp thu kiến thức cho học sinh Như vậy, muốn học tập trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả, không thể thiếu sự hứng thú

Để giúp học sinh hứng thú học phân môn Tập làm văn, tôi đã thử áp dụng các biệnpháp sau:

3.1.Giảm độ khó cho nội dung bài học

Những nội dung không phù hợp với năng lực học sinh, chương trình giảm tải đã phần nào cắt bỏ, lược bớt những nội dung khó Thế nhưng, tạo hứng thú học tập tiếng Việt cho học sinh chỉ tìm cách “giảm độ khó” của nội dung đó sao cho nó vẫn hiện hữu mà không thành gánh nặng với học sinh “Sự học tập là một trường hợp riêng củanhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên” (Kharlamôp) Người giáo viên như một nghệ sĩ tài tình, biết giảm độ khó, giúp mọi đối tượng học sinh đều có được cảm giác của sự thành công trong học tập

Một trong những biện pháp khiến phân môn Tập làm văn “dễ hóa” là giao lệnh trong bài tập một cách dễ hiểu, phù hợp

Trang 9

Ví dụ: Ở tuần 23, giáo viên có thể thay đề bài 1 như sau: Hãy kể lại một buổi biểu

diễn văn nghệ ở trường mà em đã được xem.

Việc cụ thể hóa nội dung đề bài như vậy sẽ giúp học sinh định hướng dễ dàng hơn trong việc xác định nội dung trọng tâm mà các em cần kể Nội dung này lại rất quen thuộc, phù hợp với tất cả học sinh

3.2 Sử dụng bài tập có hình thức sinh động, hấp dẫn

Thông thường, bài tập được mở đầu bằng những động từ: đọc, viết, nghe vàkể,…Bài tập có hình thức sinh động, hấp dẫn với học sinh Tiểu học là bài tập có thể không đi theo hình thức giao lệnh thông thường ấy, mà xuất hiện dưới dạng lời nói tâm tình hay dưới hình thức đố vui, …

Nhiều khi trong giờ Tập làm văn, nêu nhiệm vụ học tập một cách thân mật lại tỏ rahết sức hiệu quả

Ví dụ: Ở tuần 24, sau khi kể mẫu, giáo viên có thể hỏi các em: “Cô muốn được

nghe lại câu chuyện “Người bán quạt may mắn” từ giọng nói của các em Các em có thể giúp cô được không?”

Hay ở tuần 4: Nghe và kể lại câu chuyện “Dại gì mà đổi”, giáo viên có thể mở đầu

bằng cách: “Đố các em, câu chuyện cô kể sau đây gây cười ở chỗ nào?” để tạo sự tò

mò, hấp dẫn đối với các em

Bài tập đố vui hấp dẫn vì nó tạo tâm thế thoải mái, không có vẻ gì là ép buộc với người học Các em hào hứng đi tìm lời giải đáp mà không hề nghĩ rằng mình đang thực hiện nhiệm vụ học tập, càng không cảm thấy nhiệm vụ được giao là nặng nề, khókhăn

3.3 Tổ chức trò chơi học tập

Trò chơi học tập tiếng Việt là những trò chơi được đưa vào lớp học nhằm biến việchọc tập tiếng Việt trên lớp thành một cuộc chơi, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và rèn kĩ năng dễ dàng hơn, hào hứng hơn Trò chơi học tập cùng lúc đáp ứng cả hai nhu cầu của học sinh – như cầu vui chơi và nhu cầu học tập Trò chơi học tập tạo nên hìnhthức “chơi mà học, học mà chơi” đang được khuyến khích ở tiểu học

Ví dụ: Tiết Tập làm văn ở tuần 8: Kể về người hàng xóm, giáo viên có thể tổ chức

trò chơi: “Cảm ơn bác hàng xóm” như sau:

*Chuẩn bị:

- Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm từ 5 – 7 học sinh

- Bảng phụ ghi một số tình huống gợi ý, chẳng hạn:

a) Đi học về gặp trời mưa, em thấy bác hàng xóm đã cất hộ quần áo cho nhà em.

Trang 10

b) Em vội đi học nên để quên chìa khóa nhà ở ổ khóa, khi về em biết bác hàng xóm đã cất hộ chìa khóa cho em.

c) Bố mẹ em đi vắng, em ở nhà một mình và bị cảm, bác hàng xóm đã chăm sóc em.

- Các câu hỏi gợi ý trong tiết Tập làm văn tuần 8, SGK Tiếng Việt 3, tập một

*Cách tiến hành:

- Giáo viên nêu cách chơi và tính điểm:

+ Học sinh chơi chò chơi trong phạm vi nhóm Trong mỗi nhóm có các vai: người hàng xóm tình cờ xuất hiện, học sinh kể về bác hàng xóm (vai chính), các bạn nghe kể

về bác hàng xóm

+ Mỗi nhóm tự chọn một tình huống để đóng vai

+ Khi 1 nhóm chơi đóng vai, các nhóm khác lắng nghe để hỏi thêm về người hàng xóm mà bạn vừa kể

+ Học sinh ở nhóm khác nhận xét trò chơi đóng vai của nhóm bạn theo tiêu chuẩn (giáo viên ghi vào bảng phụ):

Lời nói to đủ nghe

Nói lưu loát tự nhiên (không kể như đọc thuộc)

Nói đủ ý theo hướng dẫn của SGK

Các vai nói đúng lời của mình và việc đóng vai tự nhiên, hấp dẫn

Nếu nhóm chơi đạt cả 4 tiêu chuẩn trên thì được 10 bông hoa, đạt mỗi tiêu chuẩn được 2,5 bông hoa

- Sau khi nhóm này chơi xong thì đến lượt nhóm khác tiếp tục chơi

- Nhóm nào được nhiều bông hoa hơn thì nhóm đó chiến thắng

*Giáo viên có thể vận dụng trò chơi này ở các tiết Tập làm văn tuần 3 và tuần 21 trong SGK Tiếng Việt 3 (tập một, tập hai)

3.3 Sử dụng phương tiện trực quan:

Hứng thú học tập tiếng Việt của học sinh có thể được nâng cao nhờ phương tiện trực quan Đúng thời điểm học sinh gặp khó khăn về tiếp nhận nội dung học tập, phương tiện dạy học xuất hiện sẽ kịp thời hỗ trợ hoạt động nhận thức, làm cho hoạt động này nhẹ nhàng mà có hiệu quả

Ví dụ: Tiết Tập làm văn tuần 12: Nói, viết về cảnh đẹp đất nước hay tuần 25: Kể

về một ngày hội Để giúp học sinh kể tự nhiên, đúng, sinh động cần sử dụng tranh,

ảnh (có màu sắc) được phóng to Từ việc quan sát các tranh ảnh đó, cùng với những hiểu biết của bản thân, học sinh sẽ dựa vào các câu hỏi gợi ý để hoàn thành bài làm của mình một cách dễ dàng, thuận lợi và hiệu quả hơn

Trang 11

4 Tích hợp kiến thức giữa các phân môn trong chương trình Tiếng Việt lớp 3

Do khả năng tư duy của học sinh lớp 3 còn hạn chế, óc quan sát, trí tưởngtượng không phong phú lại chưa chịu khó rèn luyện, nên đa số các em chỉ biết trìnhbày đoạn văn một cách hạn hẹp theo nội dung đã gợi ý Việc sử dụng và mở rộng vốn

từ còn nhiều hạn chế, các em chưa chú ý cách sử dụng từ hoặc trau chuốt thế nào cho

từ đó hay hơn trong câu văn Có một số từ do được nghe và nói trong sinh hoạt hằngngày thành quen thuộc, các em vẫn vô tư sử dụng trong bài làm của mình

Như vậy, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợpkiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt để từ đó giúp các em trang bị vốn kiến thức

cơ bản cần thiết cho mỗi tiết học Khi dạy các phân môn: Tập đọc; Chính tả; Tập viết;Luyện từ và câu có nội dung phù hợp tiết Tập làm văn sắp học, giáo viên cần dặn dòhướng dẫn học sinh quan sát, tìm hiểu kĩ đối tượng cần nói đến và ghi chép cụ thểhình ảnh, hoạt động ấy vào sổ tay; với những sự việc hoặc hoạt động các em khôngđược chứng kiến hoặc tham gia, giáo viên khuyến khích các em quan sát qua tranhảnh, sách báo, trên tivi,…hoặc hỏi những người thân hay trao đổi với bạn bè Khiđược trang bị những kiến thức cơ bản như thế, học sinh sẽ có những ý tưởng độc lập;

từ đó các em có thể trình bày chân thực, sinh động và sáng tạo Trong việc trang bịkiến thức cho học sinh, giáo viên không nên áp đặt các em vào một khuôn mẫu nhấtđịnh như chỉ định học sinh phải quan sát một bức tranh, một sự vật, con người haymột công việc cụ thể, như thế sẽ hạn chế năng lực sáng tạo của các em Vì vậy, vớibất cứ một đề tài nào của một tiết Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh liên hệ mởrộng để các em phát huy được năng lực sáng tạo trong bài làm của mình

5 Lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức phù hợp với từng dạng bài Tập làm văn

5.1 Dạng bài: Nghe – kể một câu chuyện

Mục đích của dạng bài này là rèn cho học sinh cả hai kĩ năng nghe và nói Các câu chuyện dùng để nghe – kể không có trong SGK Điều đó có nghĩa là học sinh không biết trước câu chuyện Đặc điểm này tạo nên sự hấp dẫn của tiết nghe – kể đối

với học sinh nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao đối với cả giáo viên và học sinh.Giáo

viên phải kể lại câu chuyện một cách trung thành và hấp dẫn Còn học sinh phải nhớ

và kể lại được Muốn thực hiện được yêu cầu này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh

dựa vào một số điểm tựa quan trọng trong SGK như tranh minh họa và các câu hỏi gợi ý để phán đoán nội dung câu chuyện và có định hướng trong khi nghe

Trang 12

Với dạng bài này, giáo viên có thể vận dụng một số phương pháp, hình thức tổ chức như sau:

* Cách 1:

- Cho học sinh xem tranh và đoán nội dung chuyện Giáo viên ghi vài điều cơ bản (nhân vật, một vài sự kiện) mà học sinh đoán được lên bảng (cho học sinh làm việc cả lớp hay nhóm )

- Học sinh nghe giáo viên kể chuyện hai lần

- Học sinh đối chiếu giữa nội dung chuyện vừa được nghe với nội dung mình đã đoán

để điều chỉnh những điều đã đươc ghi trên lớp (cho học sinh làm vào phiếu học tập)

- Học sinh trao đổi về một vài điều thú vị trong chuyện hay ý nghĩa của chuyện

- Học sinh kể lại chuyện theo cặp ( theo nhóm)

- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp (có thể nhập vai kể)

- Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung

Ví dụ: Nghe kể lại câu chuyện: Dại gì mà đổi (BT1-TV3 - tập 1- tr 36)

Nội dung câu chuyện trong SGV như sau : Có một cậu bé bốn tuổi rất nghịch ngợm.

Một hôm, mẹ cậu doạ sẽ đổi cậu để lấy một đứa trẻ ngoan về nuôi Cậu bé nói:

- Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!

Mẹ ngạc nhiên hỏi:

- Vì sao thế?

Cậu bé trả lời:

- Vì chẳng ai muốn đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm đâu, mẹ ạ.

1.Chuẩn bị

- Tranh vẽ ở SGK phóng to

- Phiếu bài tập: Em hãy xem tranh và thử đoán nội dung chuyện theo bảng sau và điều chỉnh lại khi nghe chuyện

Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội dung b Điều chỉnh nội dung

sau khi nghe kể

Câu chuyện có mấy

nhân vật?

Họ đang làm gì?

Người mẹ đã nói với

Ngày đăng: 23/10/2016, 12:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w