1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo THỰC HIỆN ĐƯỜNG lối đối NGOẠI TRONG NHỮNG năm đổi mới từ 1990 đến 2001

154 399 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 758 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thế kỷ 20, kinh tế tri thức xuất hiện, cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất vật chất, tạo ra những bước nhảy vọt về chất, đẩy mạnh việc cơ cấu lại các nền kinh tế, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới. Cải cách và mở cửa xuất hiện như một trào lưu tại nhiều nước trên thế giới. Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế mang lại những cơ hội và xung lực cho quá trình phát triển, đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với tất cả các nước, trước hết là các nước đang phát triển và chậm phát triển.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo côngcuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến vàothời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong thắng lợi to lớn đó,đường lối đối ngoại đóng một vai trò quan trọng

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thế kỷ 20, kinh tế tri thức xuấthiện, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới, thúc đẩy xã hội hóasản xuất vật chất, tạo ra những bước nhảy vọt về chất, đẩy mạnh việc cơ cấulại các nền kinh tế, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới Cải cách và mở cửa xuấthiện như một trào lưu tại nhiều nước trên thế giới Toàn cầu hóa kinh tế vàhội nhập quốc tế mang lại những cơ hội và xung lực cho quá trình phát triển,đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với tất cả các nước, trướchết là các nước đang phát triển và chậm phát triển

Đặc biệt, từ cuối năm 1989 đầu năm 1990, cục diện chính trị thế giớithay đổi nhanh chóng, phức tạp Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, đẩymạnh hòa hoãn và cải thiện quan hệ với nhau Năm 1989, Liên Xô và Hoa Kỳchấm dứt chiến tranh lạnh; Liên Xô và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ.Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới haicực chấm dứt, dẫn tới yêu cầu khách quan cho sự xuất hiện xu hướng đa dạnghóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sứcmạnh tổng hợp của từng quốc gia và đóng vai trò quan trọng trong quan hệquốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Tình hình châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nóiriêng cũng có nhiều biến đổi sâu sắc Đông Á trở thành khu vực có tốc độtăng trưởng cao hàng đầu thế giới Các nước đều điều chỉnh chiến lược phát

Trang 2

triển kinh tế - xã hội và chiến lược đối ngoại của mình cho phù hợp các xu thếchung đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.

Trong bối cảnh chung đó, Đảng Cộng sản Việt Nam bằng nhạy cảmchính trị và kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng đã tiến hành sự nghiệp đổi mới,hội nhập kinh tế thế giới, mà trước hết và căn bản là hội nhập khu vực ĐôngNam Á, châu Á - Thái Bình Dương và vươn lên hội nhập quốc tế Đảng vừađổi mới đường lối đối nội, vừa đổi mới đường lối đối ngoại một cách linhhoạt, kế thừa truyền thống ngoại giao trong lịch sử, năng động, sáng tạo trongthời kỳ mới, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận, bìnhthường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, tạo ra những cơ hội mới để pháttriển kinh tế - xã hội, hội nhập khu vực và quốc tế

Nghiên cứu sự lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng từ

1991 đến 2001 chẳng những làm rõ thêm đường lối đổi mới của Đảng Cộng sảnViệt Nam, mà còn rút ra một số kinh nghiệm cho công tác đối ngoại hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước tatrong thời kỳ đổi mới là đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu trong vàngoài nước Tuy vậy, cho đến nay các công trình chuyên khảo, luận văn về đề tàinày chưa nhiều Hầu hết vẫn là các bài viết, nói của các đồng chí lãnh đạoĐảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, gồm những bài sau đây:

"Hãy nhìn quan hệ Mỹ - Việt với đôi mắt mới" bài phát biểu của Lê

Mai, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trước Hội đồng Đối ngoại Mỹ tại Niu Oóc

tháng 9-1990; "Dân tộc và thời đại - Thời cơ và thách thức" của Trần Quang

Cơ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trả lời phỏng vấn Tạp chí Thông tin lý luận,

tháng 1-1991; "Một số vấn đề quốc tế của Đại hội VII" bài viết của Vũ

Khoan, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đăng trong Tạp chí Quan hệ Quốc tế,

tháng 8-1991; "Cục diện thế giới mới và vận nước" của Trần Quang Cơ đăng trong Tạp chí Quan hệ Quốc tế, 3-1992; "Trên đường triển khai chính sách

Trang 3

đối ngoại theo định hướng mới" của Nguyễn Mạnh Cầm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đăng trong Tạp chí Cộng sản, số 4-1993; "Nền ngoại giao đổi mới" của

Thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn Tuần báo Quốc tế đầu xuân 1994;v.v…

Các bài viết của các nhà nghiên cứu: "Nhìn lại thế giới năm 1987" và

"Năm 1988, bước ngoặt lớn" của Kiều Nguyễn đăng trong Tạp chí Cộng sản,

số 1-1989, "Hòa bình thế giới và các vấn đề xung đột khu vực" và "Về vấn đề hợp tác quốc tế" của Xuân Anh đăng trong Tạp chí Cộng sản, số 2, số 10-1989;

"Về chiến lược "diễn biến hòa bình" của đế quốc Mỹ trong tình hình hiện nay" của Nguyễn Văn Trung đăng trong Tạp chí Cộng sản, số 12-1989; "Chính sách đa dạng hóa" của Nguyễn Ngọc Trường và "Thử nhìn lại chặng đường ngoại giao Việt Nam từ 1975" của Thu Nga đăng trong Tuần báo Quốc tế

tháng 5-1994; v.v

Các sách đã xuất bản của các tác giả trong nước: "Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, 2002 của Nguyễn Thanh Uẩn; "Chiến lược diễn biến hòa bình của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động", Nxb Chính trị quốc gia, 1993 của Nguyễn Anh Lân; "Hãy cảnh giác cuộc chiến tranh không có khói súng", Nxb Chính trị quốc gia, 1994 của Lưu Đình Á; "Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh", Nxb Chính trị quốc gia, 2002; "Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000", Nxb Chính trị quốc

gia, 2002 của Bộ Ngoại giao; v.v…

Bên cạnh đó, còn có một số luận án, luận văn đã bảo vệ đề cập đến chủ

đề này: Vũ Quang Vinh: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 - 2000), Luận án tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001; Vũ Đình Công: Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986- 1995), Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội,

1997; v.v

Tất cả các công trình nghiên cứu trên đề cập đến một số khía cạnhđường lối đối ngoại của Đảng ta từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên

Trang 4

chưa có một công trình nào đề cập trực tiếp, đặc tả sự lãnh đạo của Đảngtrong thực hiện đường lối đối ngoại từ khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay.

Vì vậy tôi chọn đề tài: " Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại trong những năm đổi mới từ 1991 đến 2001" làm luận

văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

- Từ việc hệ thống, khái quát, phân tích những chủ trương, chính sách,làm rõ sự độc lập, sáng tạo của Đảng trong việc hoạch định đường lối đốingoại đổi mới

- Làm rõ các phương pháp, cách thức tiến hành thực hiện đường lốiđối ngoại của Đảng từ 1991đến 2001

- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của việc lãnh đạo thực hiệnđường lối đối ngoại đổi mới của Đảng trong những năm 1991 - 2001; bướcđầu nêu ra những kinh nghiệm của công tác đối ngoại nhằm phục vụ công tácđối ngoại hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Phân tích biến động của tình hình thế giới, trong nước từ năm 1991đến năm 2001

- Nêu lên chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng; làm

rõ sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối đó; các phương pháp, cách thức thựchiện đường lối đối ngoại của Đảng những năm 1991 - 2001

- Thành tựu và một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo thực hiệnđường lối đối ngoại những năm 1991 - 2001

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Nghiên cứu đường lối, chủ trương và quá trình tổ chức chỉđạo thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng Những thành công, hạn chế

Trang 5

trong công tác đối ngoại của Đảng

- Thời gian luận văn đề cập từ năm 1991 đến năm 2001

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đối ngoại

- Nguồn tư liệu:

+ Các Văn kiện của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,Ban Bí thư về đường lối đối ngoại

+ Các tài liệu lưu trữ của Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Ngoạigiao, Ban Đối ngoại Trung ương

+ Bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, BộNgoại giao

+ Một số sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước đã xuất bản

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử với các phương pháp được lôgíc, tổnghợp, phân tích, so sánh

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Tái hiện trên những nét chính yếu quá trình hoạch định và lãnh đạothực hiện đường lối đối ngoại của Đảng từ 1991 - 2001

- Hệ thống tư liệu bước đầu, góp phần tổng kết đường lối đối ngoạicủa Đảng trong 20 năm đổi mới

- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm cho công tác đối ngoại tronggiai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 6

đề mới bao gồm những cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển và cả nhữngkhó khăn, thách thức không nhỏ.

Chiến tranh lạnh kết thúc, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ pháttriển mạnh mẽ, tác động toàn diện đến tình hình chính trị và kinh tế thế giới

Tình hình chính trị thế giới có những biến động to lớn Kể từ đầu thập

kỷ 90, thế giới bước vào thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới cũ sang hình thànhmột trật tự thế giới mới Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vàLiên Xô (1991), sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô đã làm cho cục diện thếgiới có sự thay đổi căn bản Trật tự thế giới hai cực tồn tại trong suốt nửa thế

kỷ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt Lực lượng trên thế giớithay đổi từ chỗ tương đối cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội chuyểnsang hướng có lợi cho Mỹ và các nước tư bản phát triển, bất lợi cho phong tràocách mạng tiến bộ trên thế giới

Nhật Bản và Tây Âu sau chiến tranh lạnh có xu hướng ly tâm Mỹ đểphát triển Việc Liên Xô sụp đổ là thời cơ thuận lợi để Nhật Bản và Tây Âutăng cường vai trò chính trị, quân sự cho tương xứng với thực lực kinh tếcủa mình

Sau chiến tranh lạnh, quan hệ Mỹ - Tây Âu có sự thay đổi Mỹ tiếp tục

Trang 7

khống chế Tây Âu, còn Tây Âu vừa muốn vươn lên độc lập, khẳng định vị thếcủa mình, cạnh tranh, đối trọng với Mỹ, vừa muốn tiếp tục hợp tác, liên minh

tư bản Sự kiện Tây Âu thống nhất theo Hiệp ước Maastricht (7/2/1992) đãtạo cho liên minh này một khả năng kinh tế khổng lồ

Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng tác động không nhỏ đến cán cân sosánh lực lượng của thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh, trở thành một tháchthức mới đối với Mỹ Là một nước lớn với số dân trên một tỷ người, TrungQuốc đã đạt được những thành tựu to lớn trong kinh tế bằng cải cách kinh tế

và chính sách mở cửa Trung Quốc nuôi hy vọng sẽ vượt Mỹ, Nhật Bản vềquy mô kinh tế, trở thành "anh cả" trong nền kinh tế thế giới và thế kỷ XXI sẽ

là thế kỷ của Trung Quốc

Tình hình kinh tế quốc tế diễn ra những biến động lớn với những xu

hướng cơ bản sau:

Ưu tiên phát triển kinh tế trở thành một trong những xu hướng chung

của mọi quốc gia dân tộc

Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, các nước trên thế giới chịu sự chiphối của cuộc đối đầu Đông - Tây với cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt giữahai siêu cường Liên Xô và Mỹ Tuy không phủ nhận vai trò của kinh tế, song

về cơ bản, sức mạnh chính trị quân sự trong thời kỳ này trở thành nhân tố chủyếu đảm bảo vị trí siêu cường của một quốc gia Chiến tranh lạnh kết thúc, xuthế hòa hoãn trong quan hệ quốc tế trở thành xu thế chủ đạo, cuộc chạy đua

về kinh tế giữa các nước trên thế giới đang thay thế cho cuộc chạy đua vũtrang Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh đường lối, tập trung sứcphát triển kinh tế - xã hội, cố gắng ổn định chính trị, củng cố sức mạnh quốcgia, đồng thời mở rộng cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, tăng cườnghợp tác quốc tế nhằm phục vụ cho sự phát triển của đất nước Kinh tế trởthành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, đảm bảovai trò, vị trí của quốc gia đó trong đời sống quốc tế Nước Mỹ - cường quốc

Trang 8

kinh tế số 1 thế giới những năm sau chiến tranh lạnh cũng buộc phải giảm bớtnhững cam kết với bên ngoài để tập trung sức mạnh thực hiện mục tiêu chấnhưng nền kinh tế ở trong nước.

Xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ramạnh mẽ và trở thành phổ biến

Điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới những năm gần đây là xu hướng liên kết kinh tế khu vực Xu hướng này nảy sinh từ cuộc chạy đua và cạnh tranh

kinh tế gay gắt mang tính toàn cầu cũng như từ sự tập hợp lực lượng trong quátrình hình thành trật tự thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh Các nước trên thếgiới đều coi trọng chính sách khu vực, ưu tiên phát triển quan hệ với các nướcláng giềng, đẩy mạnh hợp tác và liên lết khu vực, nhất là trong lĩnh vực kinh tế

Từ năm 1992, quá trình hợp tác, liên kết và nhất thể hóa nền kinh tếkhu vực diễn ra mạnh mẽ và sôi động Nhiều tổ chức và diễn đàn kinh tế đaphương ở từng khu vực đã được hình thành, như ở châu Âu, 12 nước Cộngđồng châu Âu và các nước Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu ký Hiệp ướclập không gian kinh tế châu Âu nhằm cạnh tranh với Mỹ và Nhật; Nhật tậphợp lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương đưa ra khái niệm Khu vực đồngYên ở châu Á - Thái Bình Dương; Mỹ hình thành Khu vực tự do thươngmại Bắc Mỹ (NAFTA); các nước ASEAN lập Khu vực mậu dịch tự doAFTA… Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn

ra mạnh mẽ và cùng với nó là xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới

mà lợi thế thuộc về các nước công nghiệp phát triển, các trung tâm kinh tế

tư bản chủ nghĩa Các nước vừa và nhỏ có nhu cầu hợp lực với nhau để đốiphó có hiệu quả trước chính sách bảo hộ mậu dịch, chính sách can thiệphoặc gây sức ép về kinh tế từ các trung tâm kinh tế thế giới Đây chính làđộng lực quan trọng thúc đẩy quá trình hợp tác, liên kết và nhất thể hóa nềnkinh tế khu vực

Tuy vậy, nền kinh tế thế giới cũng gặp không ít khó khăn, thử thách

Trang 9

Cuộc khủng hoảng vùng Vịnh và việc giá dầu lửa tăng tác động mạnh đếnkinh tế các nước Năm 1991, kinh tế thế giới vẫn ở trong tình trạng suy thoái:hoạt động kinh tế chung toàn cầu giảm dẫn đến "tốc độ tăng trưởng ở mức độthấp (0,9 - 1%), trong đó các nước công nghiệp phát triển chỉ tăng 1,3% sovới 2,6% của năm 1990, các nước Đông Âu - Liên Xô giảm 12%, các nướcđang phát triển giảm 0,6% Trao đổi buôn bán quốc tế chỉ tăng 0,6% so với4,3% năm 1990" [2, tr 1]

Nguồn vốn đầu tư thiếu nghiêm trọng, tình trạng mắc nợ và thanh toán

nợ chưa được giải quyết về cơ bản, quan hệ kinh tế - thương mại còn nhiềuhạn chế do bế tắc trong vòng thương lượng buôn bán quốc tế

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, do sự sụp đổ của các nước

xã hội chủ nghĩa ở châu Âu nhất là ở Liên Xô, bị khủng hoảng sâu sắc về lýluận, đường lối, tổ chức và phương thức hoạt động

Ở khu vực tư bản chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân đangphải đấu tranh trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn Chủ nghĩa đế quốc

và giai cấp tư sản ra sức tấn công vào Đảng, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng.Một số Đảng xảy ra các hiện tượng hoang mang về tư tưởng, đường lối, tan rã

về tổ chức; một số Đảng tự giải tán hoặc chuyển thành Đảng Dân chủ - Xãhội, Đảng cánh tả như Đảng Cộng sản Ôxtrâylia, Đảng Cộng sản cánh tảThụy Điển, Đảng Cộng sản Italia, Đảng Cộng sản Braxin, Đảng Cộng sảnPhần Lan, Đảng Cộng sản Bôlivia Một số đảng mâu thuẫn nội bộ hoặc bịphân liệt như Đảng Cộng sản Anh, Chi lê, Áchentina, Pháp

Tuy vậy, nhiều Đảng cộng sản và công nhân đã tiến hành đánh giá lạitình hình, điều chỉnh đường lối, chính sách cho phù hợp với những điều kiệnkhách quan đã thay đổi

Phong trào dân chủ - xã hội cũng đứng trước những khó khăn Nguyênnhân chính là mô hình chủ nghĩa dân chủ - xã hội (mô hình thứ ba) đã tỏ rakém hiệu quả không đáp ứng được yêu cầu phát triển sức sản xuất của các tập

Trang 10

đoàn tư bản lớn, đồng thời không thỏa mãn được các nhu cầu về mặt xã hộicủa quần chúng lao động.

Phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ la tinh trước sức ép vàtiến công của Mỹ đã tự chủ điều chỉnh chiến lược, chuyển hướng đấu tranh, từđấu tranh vũ trang là chủ yếu sang đấu tranh chính trị là chủ yếu, tập hợp lựclượng, tranh thủ dư luận quốc tế đấu tranh cho các giải pháp chính trị côngbằng và hợp lý cho các cuộc xung đột khu vực

Phong trào hòa bình chống chạy đua vũ trang và chống nguy cơ chiếntranh hạt nhân từ cuối những năm 70 và trong nửa đầu những năm 80 vẫnphát triển mạnh mẽ lôi cuốn hàng chục triệu người tham gia, góp phần tíchcực vào việc giảm tình hình căng thẳng ở châu Âu và trên thế giới

Phong trào đấu tranh của quần chúng vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xãhội vẫn tiếp tục trong điều kiện khó khăn hơn Các tổ chức quần chúng dânchủ quốc tế gặp những trở ngại về mục tiêu, nội dung, phương thức hoạtđộng, lãnh đạo, tài chính Nguyên nhân cơ bản là do các nước xã hội chủnghĩa - chỗ dựa chủ yếu của các tổ chức dân chủ quốc tế, bị khủng hoảng, sụpđổ

Trước yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh và của các tổ chứcthanh niên ở nhiều nước, buộc các tổ chức dân chủ quốc tế phải tìm cách đổimới tổ chức, chuyển hướng hành động gắn bó với lợi ích của quần chúng

Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Nam Á, từcuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 là một khu vực phát triển năng động, nơitập trung các nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới Các nước công nghiệpmới (NICs) và ASEAN đã luôn giữ được tỷ lệ tăng trưởng từ 6-8% Đặc biệtnền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh nhất thế giới, với tỷ lệ tăng trưởnglên tới 9,5% trong suốt thời kỳ từ 1978 đến 1996 [2 tr 13-14] Đông Á trởthành khu vực có tốc độc tăng trưởng cao hàng đầu trên thế giới; một số quốc

Trang 11

gia và vùng lãnh thổ vươn lên trở thành những "con rồng", "con hổ mới" vềkinh tế Đa số các nước trong khu vực đều có nguyện vọng cùng tồn tại hòabình, hữu nghị, hợp tác để phát triển, đều đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triểnkinh tế và thực hiện chính sách kinh tế và đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêubao trùm này Sự cam kết mạnh mẽ của chính phủ các nước trong khu vực đốivới công nghiệp hóa và hiện đại hóa, chính sách mở cửa, hội nhập và hợp táckhu vực là nét nổi bật của các nền kinh tế ở khu vực, từ những nền kinh tếphát triển đến những nước đang phát triển đặc biệt là Trung Quốc, các nướcASEAN trong đó có Việt Nam Những cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vựckinh tế, tài chính tuy còn khiêm tốn, nhưng ngày càng có vai trò tích cực, thúcđẩy hợp tác kinh tế giữa các nước và góp phần cho sự phát triển kinh tế năngđộng trong khu vực Sự phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu của các chươngtrình hợp tác như Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC),Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp hội hợp tác khu vực Nam

Á (SAARC), Diễn đàn hợp tác Đông Á - Mỹ la tinh (FELAC)

Hầu hết các quốc gia trong khu vực đều muốn mở rộng thị trường,phối hợp các nguồn nhân lực, tài lực, kết cấu hạ tầng và nguồn tài nguyên sẵn

có để hợp tác cùng phát triển

Tuy vậy, vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, các nước ở Đông Álâm vào cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, kéo theo khủng hoảng kinh tế - xãhội nghiêm trọng, gây nhiều bất lợi cho các nước trong khu vực Môi trườnghòa bình, ổn định, phát triển của khu vực chưa thật vững chắc, vẫn còn tiềm

ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định Nội bộ một số nước và giữa cácnước với nhau còn tồn tại mâu thuẫn, xung đột về chính trị, sắc tộc, tôn giáo,kinh tế, xã hội, biên giới trên đất liền, hải đảo và trên biển, đặc biệt là cuộctranh chấp liên quan đến nhiều nước ở biển Đông Những diễn biến trongquan hệ giữa các nước lớn có liên quan đến khu vực và sự dính líu, can thiệpdưới những hình thức mới có thể gây nên không ít phức tạp cho các quốc gia

Trang 12

và quan hệ giữa các nước trong khu vực với nhau.

Nhìn chung bối cảnh thế giới sau chiến tranh lạnh là các quốc gia trênthế giới, bên cạnh việc tập trung ưu tiên để giải quyết các vấn đề kinh tế - xãhội ở trong nước, đang đẩy mạnh đấu tranh để giành lấy những điều kiệnthuận lợi nhất để phát triển Do đó, xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác để cùngphát triển, giải quyết mọi tranh chấp bất đồng thông qua đàm phán, thươnglượng chính trị trở thành xu thế chủ đạo trong đời sống quan hệ quốc tếđương đại

Xu thế bình thường hóa, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đốingoại đã trở thành một đòi hỏi khách quan, bức bách của tất cả các nước dotính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa

và sự mất đi của trật tự thế giới cũ

Bối cảnh quốc tế có những thay đổi lớn, tác động sâu sắc đến nước ta:

sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã gây ra ảnhhưởng không tốt về chính trị, tư tưởng, làm một số người hoài nghi đối vớichủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước Một số cán bộ,đảng viên tiếp nhận những tư tưởng sai lầm về cải tổ, cải cách của nước ngoàimột cách máy móc, giáo điều; những phần tử cơ hội, bất mãn đẩy mạnh hoạtđộng chống lại sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng, đòidân chủ không giới hạn, gây mất ổn định tình hình, cản trở công cuộc đổimới; sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đốivới cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ có những điều chỉnh mới; sự sụp đổ của Liên Xô và cácnước Đông Âu cũng tác động sâu sắc đến Lào và Campuchia Chủ nghĩa đếquốc và các lực lượng phản động quốc tế lợi dụng tình hình để chia rẽ banước Đông Dương, gây sức ép hơn nữa đối với nước ta và các nước Đông

Trang 13

Dương, hòng giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho chúng Các thế lực thùđịch ra sức lợi dụng tình hình trên, ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòabình bằng những thủ đoạn về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và quân sựrất thâm độc Chính quyền Mỹ vẫn duy trì chính sách bao vây, cấm vận, ngăncản các nước và các tổ chức quốc tế quan hệ kinh tế với Việt Nam.

Trên lĩnh vực kinh tế, đã đạt được những thành tựu rõ rệt trong việcthực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế (lương thực, thực phẩm,hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) Từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo, năm 1989 đã xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo,đứng hàng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu lương thực [99, tr 211] Hànghóa trên thị trường, nhất là tiêu dùng ngày càng dồi dào, đa dạng, tiến bộ rõnét về mẫu mã và chất lượng Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộnghơn trước về quy mô, hình thức và góp phần quan trọng vào thực hiện cácmục tiêu kinh tế - xã hội Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 439 triệu đôla năm

1986 lên 1.019 triệu rúp và 1.170 triệu đôla năm 1990; đã giảm được phần lớnmức độ nhập siêu so với trước đây; phần bù lỗ cho xuất khẩu giảm đáng kể.Bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; kiềm chế được một bước đàlạm phát: nếu chỉ số tăng giá bình quân hàng tháng của thị trường năm 1986

là 20%, năm 1987 là 10%, năm 1988 là 14% thì năm 1989 còn là 2,5% vànăm 1990 là 4,4% Từ 1991- 1995, nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổngsản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%; cơ cấu kinh tế có bước chuyển đổi: tỉ

Trang 14

trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990 lên 29,1%năm 1995 Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Lạm phát từ mức 67,1%năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995 Quan hệ sản xuất được điềuchỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất Nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng

Kinh tế phát triển giúp cho giải quyết tốt các vấn đề chính sách xã hội

Từ năm 1990 đã có thêm 4,2 triệu lao động tìm được việc làm, đời sống củamột bộ phận nhân dân được cải thiện

Công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội cónhững đổi mới quan trọng về đường lối, chủ trương, phương pháp công tác vàxây dựng lực lượng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môitrường thuận lợi cho công cuộc đổi mới

Trên lĩnh vực đối ngoại, thành tựu của công tác đối ngoại tạo môi trườngquốc tế thuận lợi hơn cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,đẩy lùi một bước sự bao vây, cô lập của các thế lực thù địch đối với nước ta,tăng thêm bè bạn, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

Từ sau Đại hội VI, trước những biến đổi của tình hình quốc tế,trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì đường lối đổi mới, đề ra

và lãnh đạo nhân dân thực hiện có kết quả một số chủ trương, chính sáchlớn về đối nội và đối ngoại; có sự đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế;kịp thời khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công cuộc đổimới, bảo đảm ổn định về chính trị để thực hiện đổi mới đất nước

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng đất nước ta vẫncòn không ít khó khăn, trở ngại: các nhân tố chưa ổn định và các vấn đề

nóng bỏng còn nhiều, đất nước chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Đáng chú ý là nhiều xí nghiệp quốc doanh và hợp tác tiểu, thủ công

nghiệp chưa vượt qua được thử thách của cơ chế mới; số người không có

Trang 15

việc làm hoặc việc làm thất thường rất lớn; đời sống của một bộ phận nhândân, cán bộ, công nhân viên chức, sinh viên, bộ đội, công an, những người

về hưu còn nhiều khó khăn; bất công xã hội có chiều hướng tăng lên; đờisống văn hóa, tinh thần có biểu hiện suy thoái; chất lượng giáo dục giảm,nhiều giá trị đạo đức bị xói mòn, trật tự xã hội ở mức đáng lo ngại; các tệnạn xã hội phát triển; một bộ phận cán bộ, đảng viên quan liêu, độc đoán,tham nhũng, tha hóa, biến chất

Nhưng nước ta cũng có những thuận lợi là Đảng có đường lối đúng đắn;thành công của sự nghiệp đổi mới và chính sách đối ngoại làm cho nhân dântin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng; xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển ngàycàng tăng trong khu vực và trên thế giới tạo ra thế và lực cho đất nước chuyểndần sang một thời kỳ phát triển mới

Những yếu tố mới của bối cảnh quốc tế xuất hiện, đòi hỏi Đảngphải đổi mới sự lãnh đạo, chủ động đón nhận thời cơ, tranh thủ vốn, khoahọc - công nghệ hiện đại của thế giới để xây dựng đất nước vững mạnh vềmọi mặt, đồng thời chủ động ứng phó với những nguy cơ, thách thức, tạothế và lực đưa nước ta thoát khỏi thế bị bao vây, cấm vận

1.2 PHÁ THẾ BỊ BAO VÂY, CẤM VẬN (1991 - 1996)

Trước tình hình các thế lực thù địch thực hiện chính sách bao vây,cấm vận Việt Nam, Bộ Chính trị họp và ra Nghị quyết số 32 (tháng 7-1986)

Về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Nghị

quyết chỉ rõ, trên mặt trận đối ngoại phải ra sức kết hợp tốt nhất sức mạnh củadân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở ĐôngDương và Đông Nam Á, góp phần giữ vững hòa bình thế giới Tình hình thếgiới và khu vực biến đổi, mở ra những khả năng mới, nên Nghị quyết nhấnmạnh phải chủ động chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới dưới hình thứccùng tồn tại hòa bình giữa ba nước Đông Dương với Trung Quốc, các nước

Trang 16

ASEAN, Mỹ, xây dựng thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác

Tháng 12-1986, nắm vững xu thế vận động của thế giới, đòi hỏi củathực tiễn đất nước, nhằm tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng quyết định đổi mới sự lãnh đạo củaĐảng về mọi mặt, đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế Cùng với đổi mới tư duykinh tế, Đảng ta từng bước đổi mới về tư duy đối ngoại Đại hội đề ra đườnglối đối ngoại rộng mở, xác định nhiệm vụ hàng đầu là:

Ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại,phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữvững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan

hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, tăng cường quan hệ hữu nghị

và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xãhội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc [37, tr 99]

Đại hội VI chủ trương "thêm bạn, bớt thù", ra sức phấn đấu tạo môitrường quốc tế hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới đất nước.Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là bình thường hóa quan hệ Việt -Trung, Việt - Mỹ; coi việc giải quyết vấn đề Campuchia là then chốt mở đường

đi tới những mục tiêu đó

Bước đi đầu tiên của đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng ta là đổimới đường lối với Trung Quốc, với nội dung cơ bản: "Việt Nam sẵn sàng đàmphán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằmbình thường hóa quan hệ giữa hai nước " [37, tr 107] Đối với Mỹ, ta "tiếptục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề nhân đạo sau chiến tranh để lại vàsẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ" [37, tr 108] Với Campuchia, Đảng "chủtrương tiếp tục rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia, đồng thời sẵnsàng hợp tác với tất cả các bên để đi tới một giải pháp chính trị đúng đắn về

Trang 17

Campuchia" [37, tr 108] Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách

đối ngoại hòa bình hữu nghị, ủng hộ chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau

Nhằm cụ thể hóa hơn nữa, bàn sâu về chính sách đối ngoại, Bộ Chính

trị ra Nghị quyết 13 (5-1988), Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới Nghị quyết xác định quan điểm trong quan hệ quốc tế chúng ta phải

"thêm bạn, bớt thù", ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luậnrộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưubao vây và cô lập ta về kinh tế, chính trị, kiên quyết và chủ động chuyển cuộcđấu tranh từ tình trạng đối đầu hiện nay sang đấu tranh và hợp tác trong cùngtồn tại hòa bình [16, tr 56] Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ ngoại giao phục

vụ ổn định chính trị, phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc, nêu rõ chủ trương củaĐảng và Nhà nước ta là "giữ vững độc lập tự chủ, giữ vững đoàn kết và hợptác toàn diện với Liên Xô, đồng thời kiên trì phấn đấu bình thường hóa quan

hệ với Trung Quốc và khôi phục tình hữu nghị Việt - Trung" [16, tr 56] Nghịquyết nêu lên những chủ trương góp phần giải quyết vấn đề Campuchia; cảithiện quan hệ với các nước ASEAN, lấy việc lập khuôn khổ cùng tồn tại hòabình giữa ba nước và ASEAN để tạo thuận lợi cho việc giữ vững hòa bình vàphát triển kinh tế , tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Inđônêxia, phá

vỡ bế tắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế,khoa học kỹ thuật, văn hóa với các nước trong khu vực ; từng bước bìnhthường hóa quan hệ với Mỹ, mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, cóchính sách tích cực thúc đẩy quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật với các nướcTây Bắc Âu, Nhật Bản, Ôxtrâylia; thiết lập quan hệ kinh tế với thị trườngchung châu Âu Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị tạo một bước ngoặt đổi mới

tư duy đối ngoại của Đảng, đề ra những điều chỉnh có ý nghĩa chiến lược vềđường lối và chính sách cho các hoạt động đối ngoại nhằm đưa đất nước rakhỏi tình thế bị bao vây, cô lập

Trang 18

Quán triệt chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, tham gia tích cực vàophân công lao động quốc tế, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ươngkhóa VI (3-1989) xác định "chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệchính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị - kinh tế" [38, tr 40].

Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI)(3-1990), khẳng định tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, khắc phục tư tưởng ỷlại, đồng thời phải chủ động hơn trong quan hệ quốc tế, mở rộng và đa dạnghóa quan hệ hợp tác, tham gia tích cực vào sự phân công lao động quốc tế

Đổi mới tư duy về đối ngoại được khởi xướng từ Đại hội VI, sau đóđược Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị và các nghị quyết khác của Trung ươngphát triển đã thể hiện rõ sự phát triển của đường lối đối ngoại của Đảng trướctình hình mới Sự điều chỉnh này mở ra một thời kỳ mới cho đường lối đốingoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tếcủa Đảng và Nhà nước ta

1.2.1 Đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986),đường lối đổi mới của Đảng do Đại hội khởi xướng, sau đó được các Hộinghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương phát triển, cụ thể hóa, đã đivào cuộc sống Khó khăn lớn nhất của nước ta lúc này là đất nước vẫn bịbao vây, cấm vận, các nước lớn lấy vấn đề rút quân tình nguyện Việt Namkhỏi Campuchia làm điều kiện để giải quyết các vấn đề quốc tế Điều đó đãđặt Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trước những thử thách

Trong lúc Việt Nam đang nỗ lực tìm giải pháp cho vấn đề Campuchiathì cuối năm 1989 đầu năm 1990, chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng trầmtrọng và tan vỡ ở Đông Âu tác động tiêu cực đến tình hình nước ta, tạo ranhững tác động xấu về chính trị, tư tưởng, làm một số người hoài nghi đối vớichủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước, làm phát triển

Trang 19

những khuynh hướng chính trị, tư tưởng sai lầm

Trước những biến đổi đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảnglần thứ sáu (tháng 3-1989) xác định những nguyên tắc cơ bản của công cuộcđổi mới, khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nướcta; chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng và sự lãnhđạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) đề ra nhiệm

vụ đối ngoại là "giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạođiều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ Tổ quốc" [40, tr 146] Từ quan điểm ủng hộ chính sách cùng tồn tại hòabình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau, Đại hội VII pháttriển chủ trương "thêm bạn, bớt thù" của Đại hội VI thành phương châm "ViệtNam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vìhòa bình, độc lập và phát triển" [40, tr 147] Nghị quyết Đại hội VII và

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đề ra

chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng

và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hộikhác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình

Đa dạng hóa các quan hệ quốc tế có nghĩa là chúng ta chủ trương mở

rộng quan hệ quốc tế trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật,văn hóa, giáo dục, y tế, phát triển quan hệ đối ngoại cả về mặt nhà nước, vềmặt đảng và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội và tổ chức phi chínhphủ Mỗi lĩnh vực lại có nhiều hình thức khác nhau trong hợp tác nhằm khaithác được nhiều thuận lợi để tăng sức mạnh Việt Nam

Đa phương hóa có nghĩa là chúng ta mở rộng quan hệ với rất nhiều

đối tượng: các nước xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, các nước tư bản, cácđảng cộng sản, một số đảng khác và các tổ chức quốc tế

Trang 20

Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ đối ngoại là: "Cần nhạy bén nhận thức

và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệquốc tế, sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất và xu thế quốc tế hóa củanền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp" [40, tr 88].Đây chính là bước phát triển mới của Đảng về nhận thức chính sách đối ngoạitrước những biến đổi của tình hình thế giới

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, tình hình thế giới chuyển biến nhanhchóng phức tạp, Liên Xô sụp đổ (tháng 12-1991), tác động mạnh tới Việt Nam;gây hoang mang dao động cho một bộ phận cán bộ, đảng viên; thị trườngtruyền thống của Việt Nam với các nước Liên Xô, Đông Âu bị đảo lộn; cácthế lực thù địch thừa cơ nổi dậy chống phá Đảng và Nhà nước ta Tình hình

đó đặt Đảng Cộng sản Việt Nam trước những khó khăn, thử thách Tuy nhiên,trên thế giới cũng xuất hiện những nhân tố thuận lợi mới, trong đó xu thế hợptác, liên kết kinh tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế phát triểnmạnh, tạo điều kiện để phát triển, mở rộng tập hợp lực lượng mới trong đờisống cộng đồng quốc tế

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (12-1991)nhận định: "Chúng ta đang có những khả năng và cơ hội mới" [41, tr 45].Cục diện chính trị, kinh tế giữ được ổn định và có bước phát triển "việc giảiquyết hòa bình vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, nốilại và phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á đang mở ra thế mới cảtrong nước và trong quan hệ với bên ngoài" [41, tr 46] Tuy vậy, Hội nghịcũng chỉ rõ những khó khăn của đất nước là nền kinh tế còn nhiều nhân tốkhông ổn định, mất cân đối, có phần gay gắt hơn trước; sau khi Liên Xô sụp

đổ, nước ta phải điều chỉnh quan hệ kinh tế đối ngoại, chuyển sang quan hệtrực tiếp với các nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết trước đây cũng nhưvới nước khác Cục diện mới ở Campuchia đặt nước ta trước những vấn đềphức tạp mới trong quan hệ với Campuchia và trong việc bảo vệ an ninh,

Trang 21

quốc phòng Các thế lực phản động ra sức lợi dụng tình hình, khoan sâu cáckhó khăn và sơ hở của ta xúc tiến âm mưu và thủ đoạn chống phá đối vớinước ta

Trong bối cảnh quốc tế đó, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ phải "giữ vữngnguyên tắc bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh chính trị, bình đẳng, cùng có lợitrong quan hệ với bên ngoài, đồng thời có đối sách linh hoạt, triệt để khai thác cácyếu tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của những yếu tố bất lợi " [41, tr 77].Đặc biệt về việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, Nghị quyếtnhấn mạnh: "Chính sách ngoại giao và kinh tế đối ngoại cần được điều chỉnhphù hợp với những biến động trong cục diện thế giới, nhằm vượt khỏi baovây, cấm vận, không ngừng mở rộng quan hệ với các nước" [41, tr 77]; phảikhai thác những thuận lợi do việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc

và giải pháp chính trị về Campuchia để mở rộng thị trường; tích cực phát triểnquan hệ kinh tế - thương mại với Trung Quốc, Lào; tăng cường quan hệ hợptác với các nước ASEAN; coi trọng phát triển quan hệ với Ấn Độ, Ôxtrâylia

và các nước trong khu vực; xúc tiến quan hệ nhiều mặt với Tây Âu, Nhật vàMỹ

Tháng 6-1992, xuất phát từ tình hình mới, Hội nghị lần thứ ba BanChấp hành Trung ương (khóa VII) cụ thể hóa nhiệm vụ đối ngoại của Đạihội VII, xác định mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo trong chính sách đối ngoại củaĐảng và Nhà nước ta là giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủnghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với

vị trí, điều kiện và hoàn cảnh của nước ta, cũng như diễn biến tình hình thếgiới và khu vực Hội nghị đề ra bốn phương châm xử lý các mối quan hệ đốingoại trên các lĩnh vực và đối với các đối tượng là:

Một là, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ

nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

Trang 22

Hai là, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng

hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại

Ba là, nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế Bốn là, tham gia hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất

cả các nước

Tháng giêng năm 1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ(khóa VII) quán triệt sâu sắc thêm về yêu cầu vận dụng đúng đắn bốn phươngchâm xử lý các quan hệ quốc tế do Hội nghị Trung ương lần thứ ba đề ra.Trên cơ sở phân tích những khó khăn và thuận lợi của đất nước, Hội nghị nhấnmạnh

4 nguy cơ: nguy cơ tụt hậu về kinh tế, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa,nguy cơ về tham nhũng và tệ quan liêu và nguy cơ "diễn biến hòa bình" của cácthế lực thù địch Hội nghị cho rằng: "phải thấy rõ khó khăn và thách thức cũngnhư thuận lợi và cơ hội của nước ta, theo dõi sát diễn biến phức tạp trong quan

hệ quốc tế để có chủ trương thích hợp, giữ vững nguyên tắc năng động, linhhoạt" [43, tr 55] Khẳng định kết quả hoạt động đối ngoại là một trong bathành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, đồng thời Hội nghị cũng xácđịnh rõ nhiệm vụ đối ngoại là "tiếp tục thi hành đường lối đối ngoại độc lập tựchủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại phát huy cácđiểm đồng về lợi ích và thu hẹp các bất đồng, tăng thêm bạn và phát triển sựhợp tác quốc tế" [43, tr 56] Đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đaphương hóa trong quan hệ quốc tế của Đảng, cùng với những thành tựu vềkinh tế - xã hội trong 10 năm đổi mới, đã tạo nên thế và lực cho đất nước; tácđộng tích cực đến chính sách của các nước lớn; các tổ chức khu vực và quốc

tế, tạo nên sự chuyển biến từ đối đầu, bao vây, cấm vận sang đối thoại, hợptác cạnh tranh

1.2.2 Tham gia giải quyết vấn đề Campuchia

Trang 23

Năm 1979, Việt Nam đưa quân tình nguyện vào Campuchia để giúpnhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng là cần thiết, phù hợp với lợiích dân tộc và quốc tế Song, quan hệ quốc tế và khu vực cho thấy vấn đềCampuchia không chỉ liên quan đến Việt Nam, Trung Quốc, mà còn liên quanđến thái độ chính trị và sự lo ngại, mặc cảm của các nước ASEAN và một số

nước khác Từ thực tế đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa VI) xác định

phải "tích cực giải quyết vấn đề Campuchia bằng chính trị, chuẩn bị tốt việcrút hết quân sớm trong trường hợp chưa có giải pháp về Campuchia" [38, tr 30].Đến Đại hội VII, Đảng ta nhấn mạnh phải "phấn đấu góp phần sớm đạt đượcmột giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Campuchia, trên cơ sở tôn trọng chủquyền của Campuchia và Hiến chương Liên hợp quốc" [40, tr 89]

Theo chủ trương của Trung ương Đảng ngày 26/5/1988, Bộ Quốc phòngViệt Nam ra tuyên bố rút 5 vạn quân và rút Bộ Tư lệnh quân tình nguyện ViệtNam ở Campuchia về nước

Tháng 9/1989, Việt Nam rút hết quân tình nguyện Việt Nam khỏiCampuchia, đã tạo đà thúc đẩy nhanh xu thế đối thoại, tăng sức ép đốiphương đi vào giải pháp, vô hiệu hóa con bài "rút quân Việt Nam" của cácnước dùng để chống phá nước ta Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchiarút hết về nước đã làm "thay đổi cơ bản tính chất cuộc đấu tranh ởCampucchia thành cuộc đấu tranh nội bộ giữa các lực lượng liên quan củaCampuchia" [76, tr 331]

Tình hình quốc tế cũng có những thuận lợi, các nước lớn đi vào hợptác giải quyết vấn đề Campuchia Từ sau khi Việt Nam bắt đầu rút dần quântình nguyện khỏi Campuchia, các nước ASEAN chuyển dần thái độ, dần táchkhỏi lập trường của những nước hậu thuẫn cho Campuchia dân chủ đi vào đốithoại với Việt Nam

Cuộc gặp giữa Ngoại trưởng Việt Nam và Ngoại trưởng Inđônêxia ở

Trang 24

Thành phố Hồ Chí Minh (7-1987) và cuộc gặp đầu tiên giữa Thủ tướng Hunxen

và Hoàng thân Xihanúc ở Pháp (12-1987) đã tạo thuận lợi cho quá trình đốithoại giữa hai nhóm nước nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia

Từ ngày 25 đến ngày 28-7-1988, cuộc gặp không chính thức về vấn đềCampuchia giữa đại diện các nước ASEAN và đại diện các nước Đông Dương -JIM-1, được tổ chức ở Bôgo - Inđônêxia JIM-1 kết thúc với tuyên bố về khuônkhổ cho một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia với hai vấn đề then chốtlà: quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia; ngăn chặn sự trở lại củachế độ diệt chủng ở Campuchia và chấm dứt sự viện trợ quân sự của nướcngoài cho các bên Campuchia Cuộc gặp JIM-1 có tác dụng làm giảm dần tìnhtrạng đối đầu giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á, mở ra giai đoạn bìnhthường hóa quan hệ và hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực

Nhằm tiếp tục tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, từ ngày 19 đến 21tháng 2 năm 1989, cuộc gặp không chính thức về vấn đề Campuchia giữa đạidiện các nước ASEAN và đại diện các nước Đông Dương - JIM-2 họp ởJakarta - Inđônêxia Với sự phối hợp vận động và đấu tranh khôn khéo củaViệt Nam, Campuchia và Lào, các nước ASEAN nhất trí với những nguyêntắc lớn của giải pháp: Việt Nam rút hết quân; chấm dứt viện trợ quân sự và sựcan thiệp từ bên ngoài vào Campuchia, loại trừ sự quay trở lại của chế độ diệtchủng Những nguyên tắc đó về cơ bản phù hợp với lập trường của Cộng hòanhân dân Campuchia JIM-2 đã góp phần củng cố thêm cơ sở cho một giảipháp về vấn đề Campuchia

Trong việc tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, hai nước Việt Nam

và Campuchia luôn có thái độ tích cực chấp nhận sử dụng vai trò Liên hợpquốc và xem xét sáng kiến của Ôxtrâylia để giải quyết vấn đề phân chiaquyền lực bị bế tắc tại Hội nghị quốc tế Paris (8-1989), một lần nữa thúc đẩymạnh mẽ các diễn đàn để giải quyết vấn đề Campuchia

Trang 25

Ngày 26-2-1990, một cuộc họp không chính thức về Campuchia (IMC)

ở Jakarta được tiến hành, đưa ra dự thảo khung về một giải pháp chính trị vềvấn đề Campuchia, trong đó đề cập việc ngăn chặn diệt chủng Nhưng bản dựthảo lại một lần nữa bị Khơme đỏ phủ quyết, cuộc họp không thành công

Ngày17-7-1990, cuộc họp vòng năm của năm nước thường trực Hộiđồng Bảo an Liên hợp quốc (P-5) cấp thứ trưởng ngoại giao thỏa thuận việctập kết và giải giáp các bên Campuchia và Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử,kiểm soát 5 bộ: Quốc phòng, An ninh, Ngoại giao, Thông tin, Tài chính, thànhlập Hội đồng Dân tộc tối cao (SNC) là cơ quan đại diện cho chủ quyền Campuchia,

sẽ trao quyền cho Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia

Tháng 8-1990, cuộc họp vòng sáu các đại diện 5 nước lớn thỏa thuậnthông qua văn kiện khung về một giải pháp chính trị toàn bộ cho cuộc xungđột ở Campuchia và lập Hội đồng dân tộc tối cao của Campuchia bao gồmcác phái Khơme Vấn đề Campuchia gồm hai mặt nội bộ và quốc tế đan xennhau, liên quan trước hết đến lợi ích của nhân dân Campuchia, đồng thời cũngquan hệ đến một giải pháp lâu dài về Campuchia, phù hợp với lợi ích hòabình, ổn định trên bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á Vì vậy, việc giảiquyết, đàm phán vấn đề này hết sức khó khăn, phức tạp

Mặc dù vậy, do xu thế quốc tế, các nước lớn đều không muốn cuộcxung đột Campuchia kéo dài, ảnh hưởng đến việc triển khai quan hệ của họvới nhau và ở khu vực Đông Nam Á Sau những cuộc đàm phán, thươnglượng kéo dài, từ ngày 21 đến 23 tháng 10 năm 1991, Hội nghị quốc tế vềCampuchia họp vòng hai tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber - Paris để kýkết các văn kiện về giải pháp chính trị toàn bộ cho vấn đề Campuchia

Hiệp định về Campuchia được ký kết gồm các văn kiện chính sau:

- Định ước cuối cùng của Hội nghị Paris về Campuchia

- Hiệp định về một giải pháp chính trị toàn bộ cho cuộc xung đột

Trang 26

Campuchia với các phụ lục về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quyền lực quá

độ của Liên hợp quốc (UNTAC), vấn đề quân sự, bầu cử, hồi hương người tỵnạn và ly tán Campuchia và nguyên tắc cho một hiến pháp mới của Campuchia

- Hiệp định liên quan đến chủ quyền, độc lập, toàn vẹn và bất khả xâmphạm lãnh thổ, trung lập và thống nhất dân tộc Campuchia

- Tuyên bố về phục hồi và tái thiết Campuchia

Toàn bộ các văn kiện của Hiệp định thể hiện nội dung cơ bản là côngnhận và khẳng định tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, trung lập

và thống nhất dân tộc của Campuchia; công nhận Hội đồng dân tộc tối cao là

cơ quan hợp pháp duy nhất thể hiện chủ quyền, độc lập và thống nhất củaCampuchia trong thời kỳ quá độ, đại diện cho Campuchia ở bên ngoài, tại Liênhợp quốc, các tổ chức và hội nghị quốc tế; thành lập UNTAC kiểm soát, quản

lý các ngành ngoại giao, quốc phòng, tài chính, an ninh và thông tin; qui định

tổ chức tổng tuyển cử tự do để bầu quốc hội lập hiến, soạn thảo hiến pháp, lậpchính phủ mới của Campuchia Tuyển cử sẽ do Liên hợp quốc đứng ra tổchức và bảo trợ Khi có Chính phủ mới, thời kỳ quá độ chấm dứt, UNTAC hếtnhiệm vụ, sau khi hiệp định có hiệu lực, rút hết tất cả lực lượng, cố vấn, nhânviên quân sự nước ngoài khỏi Campuchia và không được đưa trở lại nướcnày; ngừng ngay lập tức các viện trợ quân sự bên ngoài cho tất cả các bênCampuchia

Việc ký Hiệp định hòa bình về Campuchia trước hết là kết quả của bảnthân nhân dân Campuchia quyết tâm làm chủ vận mệnh của mình, phấn đấucho hòa giải và hòa hợp dân tộc vì hòa bình và phát triển; kết quả củanhững cố gắng liên tục của các cuộc họp Hội đồng Dân tộc tối cao Campuchia

đã mở đường cho việc triệu tập lại Hội nghị quốc tế Paris về Campuchia vàchứng minh rằng người Campuchia hoàn toàn có thể giải quyết những vấn đềthuộc chủ quyền của họ với sự ủng hộ, hợp tác của các nước có liên quan

Trang 27

và Liên hợp quốc Vấn đề Campuchia không thể đạt được giải pháp chínhtrị toàn bộ nếu không có nỗ lực và thiện chí hợp tác của các nước Đông Nam Á.Việt Nam là thành viên khu vực, nước liên quan, nước láng giềng củaCampuchia, thiết tha mong muốn hòa bình cho nhân dân Campuchia ViệtNam tích cực đối thoại với các nước hữu quan và nhất quán đóng góp cùngvới Lào, các nước ASEAN để sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn

bộ, công bằng, hợp lí cho vấn đề Campuchia, trên tinh thần thiện chí và xâydựng

Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết mở ra một trang mới vềquan hệ ngoại giao giữa nước ta với các nước trên thế giới; chính thức chấmdứt tình trạng căng thẳng, đối đầu giữa Việt Nam với các nước đã lợi dụngvấn đề Campuchia để thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, tiến hành chiếntranh phá hoại hòng làm suy yếu nước ta; bảo đảm được độc lập, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ; phù hợp với lợi ích, an ninh lâu dài của Việt Nam; ViệtNam đã làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với Campuchia

1.2.3 Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc

Bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là một vấn đề lớn,được Đảng ta hết sức chú trọng Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V(tháng 3-1982) Đảng ta nêu rõ: "Kiên trì chính sách hữu nghị và láng giềngtốt với nhân dân Trung Quốc, chúng ta chủ trương khôi phục quan hệ bình

thường giữa hai nước " [34, tr 154] Tiếp đó Đại hội VI (12-1986) của Đảng

khẳng định: "Chính phủ và nhân dân Việt Nam, trước sau như một, quí trọng

và nhất định làm hết sức mình để khôi phục tình hữu nghị giữa nhân dân hai

nước" [37, tr 107] Và Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ

lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu, nhằm bình thường hóa quan hệ giữahai nước Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị nêu rõ: "chúng ta cần có chính sáchtoàn diện, lâu dài và những biện pháp nhằm từng bước khắc phục tình trạng đối

Trang 28

đầu hiện nay giữa hai nước, kiên trì và chủ động tạo điều kiện để bình thườnghóa quan hệ Việt - Trung" [16, tr 7] Đại hội VII của Đảng chủ trương: "Thúcđẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng

sự hợp tác Việt - Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thôngqua thương lượng" [40, tr 89]

Theo chủ trương đó, Việt Nam nỗ lực tìm kiếm khả năng tháo gỡ nhữngvướng mắc, làm giảm bớt căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước bằng nhiềubiện pháp khác nhau, mở đường cho quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hainước theo nguyên tắc láng giềng thân thiện và cùng tồn tại hòa bình Trước hết,chúng ta tiến hành sửa Lời nói đầu trong Hiến pháp, không coi Trung Quốc là

kẻ thù; Hiến pháp 1992 khẳng định: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác vớitất cả các nước trên thế giới… Tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệhợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng" [49, tr.141].Biện pháp được coi là mấu chốt, như "chiếc chìa khóa" của quá trình bìnhthường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là tìm kiếm giải pháp cho vấn đềCampuchia Nhằm thực hiện vấn đề này, Việt Nam tiến hành rút quân tìnhnguyện Việt Nam khỏi Campuchia Tháng 12-1988, Việt Nam lại chính thức đềnghị (trước đó, cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng đãgửi thông điệp miệng cho nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nêu rõ:Việt Nam không cho rằng việc giải quyết vấn đề Campuchia có liên quan tớibình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc) với Trung Quốc tổ chứccuộc gặp cấp bộ trưởng ngoại giao bàn về bình thường hóa quan hệ giữa hainước Tháng giêng năm 1989 vòng đàm phán đầu tiên cấp thứ trưởng giữaTrung Quốc và Việt Nam diễn ra tại Bắc Kinh Tại cuộc đàm phán này, TrungQuốc "tỏ ý muốn bình thường hóa quan hệ với ta, nhưng vẫn đặt điều kiện gắnquá trình bình thường hóa quan hệ với quá trình rút quân tình nguyện ViệtNam và giải quyết vấn đề Campuchia" [18, tr 5] Cuộc đàm phán vòng hai cấp

Trang 29

thứ trưởng ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc (từ ngày 8 đến 10-5-1989) đượctiến hành tại Bắc Kinh, phía Trung Quốc "chỉ tập trung vào vấn đề Campuchia,trong đó có điểm chính là vấn đề lập chính phủ lâm thời bốn bên do Xihanúcđứng đầu, đoàn kết và giảm quân đội bốn bên trong thời gian quá độ" [19, tr.6] và cho rằng việc ta rút hết quân là đã cơ bản giải quyết vấn đề Campuchianhưng "vẫn kiên trì đòi ta bàn và thỏa thuận vấn đề Chính phủ bốn bên trongthời kỳ quá độ ở Campuchia trước tuyển cử thì mới giải quyết xong vấn đềCampuchia và mới nhằm bình thường hóa quan hệ" [19, tr 7] Tháng 9-1989,toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia Việc Việt Nam rút hếtquân tình nguyện ở Campuchia về nước sớm hơn dự kiến và giải quyết một cáchtoàn diện vấn đề Campuchia đã dỡ bỏ trở ngại lớn nhất trong quan hệ Việt -Trung, thúc đẩy nhanh xu thế đối thoại, mở ra khả năng hiện thực cho tiến trìnhbình thường hóa.

Ngay sau khi rút quân, Việt Nam thường xuyên tiến hành các cuộctrao đổi, hội đàm với Trung Quốc để sớm đi đến bình thường hóa quan hệ.Trung Quốc tỏ ra có thiện chí và mong muốn bình thường hóa quan hệ nhưngvẫn đặt ra những điều kiện cho Việt Nam:

Trung Quốc chân thành mong muốn sớm bình thường hóaquan hệ Trung - Việt Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếulàm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện Việckhắc phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa thực hiện được nếu

bỏ qua vấn đề Campuchia Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để vàlập Chính phủ liên hiệp lâm thời 04 bên do Xihanúc đứng đầu là haivấn đề, hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết Phía TrungQuốc sẵn sàng suy xét đề nghị của Việt Nam về mở vòng mớithương lượng ở cấp thứ trưởng, nếu Việt Nam chấp thuận cơ chếgiám sát quốc tế do Liên hợp quốc chủ trì có 04 bên tham gia đểkiểm chứng việc rút quân Việt Nam và lập Chính phủ liên hiệp lâm

Trang 30

thời 04 bên do Xihanúc đứng đầu trong giai đoạn quá độ [21, tr 2] Tháng 2 năm 1990, phát biểu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, Đại

sứ Trung Quốc Trương Đức Duy vẫn khẳng định: "Quan hệ Trung - Việt cómột trở ngại lớn là vấn đề Campuchia, miễn là vấn đề Campuchia được giảiquyết toàn diện, công bằng, hợp lý thì cải thiện quan hệ Trung - Việt khôngthành vấn đề" [22, tr 1]

Khi vấn đề Campuchia từng bước có tiến triển: vòng một Hội nghịParis về Campuchia (từ 30-7 đến 30-8-1989), cuộc họp không chính thức vềCampuchia (IMC) (ngày 26-2-1990) được tiến hành, thì tháng 8-1990, tronglúc đang thăm chính thức Xinh-ga-po, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc

Lý Bằng tuyên bố Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình thường hóa vớiViệt Nam và thảo luận các vấn đề như cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa

Ngày 31- 8-1990, sau khi năm nước thường trực Hội đồng Bảo anLiên hợp quốc - P5 và hai đồng Chủ tịch Hội nghị quốc tế về Campuchiathông qua dự thảo văn kiện về giải pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia, phíaTrung Quốc đã mời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng thăm Trung Quốc không chínhthức Trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, Cuộc gặp giữa các nhà lãnhđạo Trung Quốc và Việt Nam đã diễn ra tại Thành Đô (Tứ Xuyên - TrungQuốc) Tại cuộc gặp Thành Đô, lãnh đạo hai nước Trung Quốc và Việt Nam

đã trao đổi ý kiến về vấn đề bình thường hóa quan hệ Việt Nam - TrungQuốc, mặt quốc tế của vấn đề Campuchia và các vấn đề hai bên cùng quantâm

Cuộc gặp này có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy khai thông quan hệViệt - Trung lên một bước mới Tháng 3-1991, Thủ tướng Quốc vụ việnTrung Quốc Lý Bằng tuyên bố: "Quan hệ Việt - Trung đã tan băng" Đếntháng

Trang 31

6-1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Namchủ trương thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, từngbước mở rộng sự hợp tác quan hệ Việt - Trung, giải quyết những vấn đề tồntại giữa hai nước thông qua thương lượng.

Đáp lại thiện chí của Việt Nam, Trung Quốc cũng tuyên bố: "Chúng

ta là hai nước láng giềng, hai Đảng cộng sản cầm quyền, không có lí do gìkhông xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị với nhau" [3, tr 3] Sau khiHiệp định Paris về Campuchia được ký kết (10-1991), ngày 5-11-1991,nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnTrung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòanhân dân Trung Hoa Lý Bằng, đoàn đại biểu cấp cao nước ta do Tổng Bíthư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủtịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VõVăn Kiệt dẫn đầu đi thăm chính thức nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.Tại chuyến viếng thăm này, hai bên thỏa thuận về quan hệ hai nước,

"khẳng định cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của đoàn đại biểu cấpcao Việt Nam đánh dấu sự bình thường hóa quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhànước và nhân dân hai nước Việc bình thường hóa quan hệ Việt - Trungphù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước, đồng thời phùhợp với xu thế chung của nhân dân thế giới, có lợi cho hòa bình ổn định và sự

phát triển của khu vực" [90, tr 1] Hai bên ra Thông cáo chung khẳng định

hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ "phát triển quan hệ hữu nghị và lánggiềng thân thiện trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình"

[90, tr 5] Quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc dựa

trên cơ sở các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫnnhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Hai bên nhất trí thúc

Trang 32

đẩy sự hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoahọc kỹ thuật và văn hóa theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.

Thông cáo chung còn đề cập việc thương lượng giải quyết vấn đề biêngiới, vấn đề kiều dân và khẳng định lập trường của Việt Nam về vấn đề ĐàiLoan là: "Lập trường nguyên tắc trước sau như một của Việt Nam là thôngcảm và ủng hộ sự nghiệp thống nhất của Trung Quốc Việt Nam công nhậnChính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhấtcủa Trung Quốc, Đài Loan là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc" [90, tr

5]

Cũng tại cuộc gặp này, Trung Quốc nhấn mạnh "bình thường hóaquan hệ cần tiến hành từng bước vững chắc và không nóng vội, không làm

ồn ào" [90, tr 5]

Cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc với Thông cáo chung Việt Nam

- Trung Quốc ký ngày 10-11-1991, góp phần tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau,xây dựng sự tin cậy giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước làm cơ sở cho việcgiải quyết tốt những vấn đề tồn tại giữa hai bên, phát triển tình hữu nghịtruyền thống và sự hợp tác hai bên cùng có lợi; chấm dứt hơn một thập kỷcăng thẳng, đối đầu trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Sau khi chính thức bình thường hóa, quan hệ giữa hai nước phát triểnnhanh chóng và ngày càng toàn diện Tháng 12-1992, Thủ tướng Trung Quốc

Lý Bằng và tháng 11-1994, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa GiangTrạch Dân thăm chính thức Việt Nam Hai bên cho rằng chuyến thăm này đưa

Trang 33

quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc lên tầm cao mới.

Từ năm 1991 đến năm 1995 hai nước đã ký kết bốn Thông cáo chung(năm 1991, 1992, 1994 và 1995) và các Hiệp định như Hiệp định tạm thời vềviệc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nước (7-11-1991) và Hiệpđịnh tránh đánh thuế hai lần (tháng 5-1995)

Về quan hệ kinh tế, thương mại chính ngạch Việt - Trung tăng từ

32 triệu đôla Mỹ năm 1991 lên 1032 triệu đôla Mỹ năm 1995 [51, tr 89].Năm 1995, Trung Quốc đứng thứ 21 trong số 51 nước và khu vực đầu tư ởViệt Nam, đứng hàng thứ 8 trong số hơn 100 nước và khu vực có buôn bánvới Việt Nam [8, tr 12]

Quan hệ hợp tác về văn hóa, giáo dục, thể thao và du lịch Việt - Trungngày càng phát triển, trở thành hoạt động thường xuyên, thể hiện tình hữunghị và hợp tác đa dạng, phong phú giữa hai nước

1.2.4 Đấu tranh phá bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Mỹ

Trong thập kỷ 80, Mỹ tiếp tục cùng với một số nước châu Á - TháiBình Dương tiến hành bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam, tạo ra các trở ngại

về việc bình thường hóa quan hệ Mỹ cho rằng không thể có quan hệ với ViệtNam vì Việt Nam không hợp tác trong việc giải quyết những vấn đề nhân đạo

mà Mỹ quan tâm, đặc biệt là vấn đề POW/ MIA (vấn đề tù binh Mỹ và người

Mỹ bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam); Mỹ chỉ bình thường hóa quan hệvới Việt Nam sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia

Mỹ là một cường quốc trên thế giới, do đó chiến lược và chính sáchđối ngoại của Mỹ có tác động lớn tới chính sách đối ngoại của nhiều nước Vìvậy, thái độ và quan hệ của Mỹ đối với Việt Nam có ảnh hưởng chi phối quanđiểm thái độ của nhiều nước đối với Việt Nam, đặc biệt là các nước đồngminh của Mỹ, thân Mỹ Sự đối đầu, thù địch kéo dài của Mỹ và một số nước

Trang 34

khác đối với Việt Nam gây ra tình trạng căng thẳng, mất ổn định trong khuvực và gây khó khăn nghiêm trọng cho sự phát triển của Việt Nam Chínhsách ngoại giao cấm vận chống Việt Nam của Mỹ "có thể nói được chính thức

phát động nhưng cũng chưa từng chính thức kết thúc" [24, tr 44]

Từ cuối thập kỷ 80, trên thế giới xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác đểphát triển ngày càng chiếm ưu thế, buộc các nước phải điều chỉnh chính sáchđối ngoại cho phù hợp với môi trường vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùngtồn tại hòa bình Chính trong bối cảnh đó, nhu cầu bình thường hóa quan hệViệt Nam - Mỹ xuất hiện, trở thành nhu cầu chung của hai quốc gia

Đối với Việt Nam, sự bao vây, cấm vận của Mỹ và các thế lực thùđịch là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội ởViệt Nam từ cuối thập kỷ 70 Vì vậy, bình thường hóa quan hệ với Mỹ sẽ tạođiều kiện cho Việt Nam tiếp cận được một nền kinh tế phát triển, nguồn vốndồi dào, thị trường giàu tiềm năng Những nguồn lợi này sẽ giúp cho ViệtNam đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Về mặt đối ngoại,bình thường hóa quan hệ với Mỹ giúp cho Việt Nam khai thông được trở ngạitrong quan hệ với các nước, tạo thuận lợi cho việc cải thiện và phát triển quan

hệ với các nước khu vực và quốc tế

Đối với Mỹ, từ sau chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ khẳng định mục tiêunhất quán của nước Mỹ là Mỹ vẫn có "trách nhiệm" trên khắp thế giới Từ saukhi Liên Xô sụp đổ, Mỹ cho rằng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dươngxuất hiện những nguy cơ thách thức vai trò của Mỹ Do đó, mối quan tâm lớnnhất của Mỹ là làm thế nào để đảm bảo vai trò của mình ở khu vực này

Bình thường hóa quan hệ với Việt Nam là "bước đi phù hợp với lợiích lâu dài và tốt nhất đối với Mỹ", sẽ tạo điều kiện thuận lợi giải quyết cácvấn đề song phương như POW/MIA; những quyền lợi lâu dài của nước Mỹtrong cuộc đấu tranh bằng biện pháp hòa bình thông qua các lĩnh vực thương

Trang 35

mại, ngoại giao và kinh tế bảo vệ được những quyền lợi ở biển Đông; tạo chỗđứng ở Việt Nam sẽ giúp Mỹ không những phần nào kiềm chế được ý đồbành trướng của các nước lớn trong khu vực, mà còn giúp Mỹ mở rộng ảnhhưởng ra toàn Đông Dương

Mặt khác, Việt Nam là một thị trường hầu như chưa được khai thác,tạo nên những cơ hội buôn bán, đầu tư không thể bỏ qua đối với các công ty

Mỹ Hơn nữa, được đánh giá là một đất nước có tiềm năng to lớn bởi nhữngnguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào và đầy tàinăng, Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư vàbuôn bán của Mỹ Chính sách cải cách kinh tế và mở cửa được bắt đầu từ năm

1986 đã đưa Việt Nam gia nhập hàng ngũ của những nền kinh tế phát triểnnăng động ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Các công ty Mỹ có những

cơ hội kinh doanh to lớn ở Việt Nam trong các lĩnh vực công nghiệp, dầu lửa,hàng nông sản, Trong bối cảnh nhiều nước lớn đã mở rộng hợp tác với ViệtNam càng thúc đẩy Mỹ không thể tiếp tục chậm chân trong việc thâm nhập,khai thác thị trường Việt Nam Các nhà doanh nghiệp Nhật Bản đang khôngngừng đầu tư và làm ăn với Việt Nam, họ công nhận rằng Việt Nam có thể trởthành "một mini Trung Quốc" với một lực lượng dồi dào có tinh thần laođộng cần cù và tính kỷ luật rất cao, một thị trường tiêu thụ ngày càng lớn

Bình thường hóa quan hệ với Việt Nam nằm trong một ý đồ nữa của Mỹ

là sẽ phục vụ cho lợi ích thúc đẩy dân chủ, nhân quyền và cải cách chính trị ởViệt Nam Dưới chính quyền B.Clintơn thúc đẩy dân chủ, nhân quyền đã trởthành một trong ba trụ cột của chính sách đối ngoại của Mỹ Theo lập luậncủa phái chủ trương bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, thì bình thườnghóa quan hệ với Mỹ sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh quá trình cải cách kinh tế theohướng tự do hóa hơn và cùng với thời gian, điều này sẽ dẫn đến những chuyểnđổi về mặt chính trị ở Việt Nam Đây chính là chủ trương "diễn biến hòa bình"của Mỹ đối với Việt Nam nhằm thúc đẩy những chuyển biến theo tiêu chuẩn dân

Trang 36

chủ, nhân quyền của Mỹ ở Việt Nam Trong dự tính của Mỹ, một sự chuyển đổikiểu Đông Âu sẽ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới Tổngthống Mỹ B Clintơn đã công khai tuyên bố rằng việc bình thường hóa và tăngcường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sựnghiệp tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô

Tóm lại, những lợi ích kinh tế, chính trị và hàn gắn vết thương chiếntranh của Mỹ là những động lực cơ bản thúc đẩy chính sách bình thường hóaquan hệ với Việt Nam vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đã chủtrương không đối đầu với Mỹ, từng bước cải thiện quan hệ với Mỹ Đại hộilần thứ VI (12-1986) của Đảng đã chỉ rõ quan điểm và lập trường của ViệtNam là tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết vấn đề nhân đạo do chiến tranh đểlại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ vì lợi ích của hòa bình, ổn định ởĐông Nam Á Đại hội Đảng lần thứ VII (6-1991) chủ trương thúc đẩy quátrình bình thường hóa quan hệ với Mỹ Cụ thể hóa các chủ trương đó, Hộinghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994) nêu rõ việc tranhthủ bình thường hóa quan hệ với Mỹ là điều cần thiết, thúc đẩy mở rộng quan

hệ kinh tế - thương mại, tranh thủ đầu tư, viện trợ, công nghệ của Mỹ và cácnước phương Tây, đồng thời kiên quyết chống âm mưu "diễn biến hòa bình"gây bạo loạn lật đổ, dùng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "tôn giáo" để gâysức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; trong quan hệ với Mỹphải giữ vững nguyên tắc, tranh thủ tối đa những mặt "đồng", đấu tranh trênnhững vấn đề còn bất đồng, tranh thủ những mặt thuận lợi cho ta, hạn chếnhững mặt tiêu cực Quan điểm, chủ trương của Việt Nam trong đấu tranhvới Mỹ để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước là tích cực, chủ động vàtạo mọi điều kiện để cùng với Mỹ giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm,nhưng đồng thời cũng làm cho Mỹ nhận rõ, bình thường hóa quan hệ Việt -

Mỹ là phù hợp với lợi ích của hai nước, khu vực và quốc tế

Trang 37

Một trong những trở ngại chính trên con đường tiến tới bình thườnghóa quan hệ Việt Nam - Mỹ là vấn đề Campuchia.

Đối với Mỹ, Việt Nam chủ trương đồng thời với diễn đàn Việt Nam

-Mỹ về người -Mỹ mất tích trong chiến tranh, thúc đẩy các diễn đàn khác nhằmgiải quyết các vấn đề tồn tại giữa hai nước, bỏ lệnh cấm vận của Mỹ và bìnhthường hóa quan hệ Việt Nam - Mỹ Việt Nam có những động thái tích cựcgóp phần giải quyết sớm các vấn đề này: Việt Nam kêu gọi Mỹ không nên coiviệc giải quyết vấn đề Campuchia là điều kiện tiên quyết để bình thường hóaquan hệ với Việt Nam Việc xây dựng "quan hệ mới với Việt Nam và cácnước Đông Dương khác không cần phải chờ tới sau khi ký Hiệp định vềCampuchia Không được để bình thường hóa quan hệ Mỹ - Việt trở thành con

tin của Kh'mer đỏ và sự bất hợp tác của họ" [67, tr 6].

Tháng 9-1989, Việt Nam rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia vàtham gia ký Hiệp định Paris về Campuchia; tích cực hợp tác với Mỹ trong vấn

đề POW/MIA, Việt Nam coi vấn đề này là vấn đề nhân đạo, không được gắnvới các vấn đề khác Trong hai năm 1990-1991, Việt Nam tiến hành 16 đợttìm kiếm MIA, đã trao cho Mỹ 457 hài cốt và 152 tin tức khác về MIA; chophép Mỹ đặt văn phòng MIA tại Hà Nội [4, tr 7]

Tháng 10-1989, trước những động thái tích cực của Việt Nam, Mỹ cửtướng J.Vessy - Đặc phái viên của Tổng thống Mỹ đến Việt Nam thảo luận vềcác vấn đề nhân đạo hai bên quan tâm Ông ta khẳng định "Chính phủ và nhândân đánh giá cao những cố gắng đơn phương tìm kiếm và sự hợp tác của ViệtNam" [20, tr 1] Ngày 18-7-1990, Ngoại trưởng Mỹ J.Baker tuyên bố mở đốithoại trực tiếp với Việt Nam về vấn đề Campuchia và không công nhận Chínhphủ liên hiệp Campuchia dân chủ ở Liên hợp quốc

Tuyên bố này của Mỹ đánh dấu bước đầu điều chỉnh chính sách quantrọng nhất của Mỹ đối với Việt Nam, mở đường cho đối thoại chính thức giữa

Mỹ và Việt Nam về vấn đề Campuchia

Trang 38

Cuộc gặp đầu tiên giữa Trưởng phái đoàn đại diện Việt Nam tại Liênhợp quốc đại sứ Trịnh Xuân Lãng và phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ K.Quinn diễn

ra tại New York ngày 6-8-1990 Nội dung chủ yếu của cuộc đối thoại là bàn vềcác vấn đề liên quan đến một giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đềCampuchia Tiếp đó, là cuộc gặp ngày 29-9-1990 giữa ngoại trưởng Mỹ J.Baker

và Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch Trong các cuộc gặp này,

Mỹ đều cố gắng thúc ép Việt Nam chấp nhận giải pháp của năm nước thườngtrực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5) về vấn đề Campuchia

Cũng vào thời điểm trên, dư luận nội bộ Mỹ và Quốc hội Mỹ kêu gọichính quyền Mỹ có những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ và tích cực hơn đốivới Việt Nam Ngày 24-7-1990, hai phần ba (66 trong số 100) Thượng nghị sĩ

Mỹ gửi thư cho Tổng thống Bush đòi chính quyền phải tuyên bố rõ: Mỹ sẽkhông ủng hộ một giải pháp thương lượng nào để cho Khơmer đỏ có vai tròtrong tương lai của Campuchia, hoặc làm tăng khả năng có một chiến thắngquân sự của Khơmer đỏ

Ngày 9-4-1991, Mỹ chính thức đưa ra bản lộ trình (Road maping) gồm

4 bước (xem phụ lục) vạch ra tiến trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam,với mục đích là dùng bình thường hóa làm điều kiện để ép Việt Nam tích cựcgiải quyết vấn đề Campuchia và vấn đề POW/MIA; bảo đảm việc Việt Nam kýHiệp định hòa bình về Campuchia và tôn trọng Hiệp định sau khi được ký kết

Việc công bố lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Chính phủ

Mỹ đã áp đặt những đòi hỏi bất bình đẳng đối với Việt Nam, nhưng mặt kháccũng phản ánh sự tiến bộ trong chính sách của Mỹ đối với Việt Nam Đây làlần đầu tiên Mỹ chính thức công khai đưa ra chính sách của họ đối với nước ta

Sau khi Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết (ngày 23-10-1991)

và Campuchia tổ chức tuyển cử (5-1993), Mỹ từng bước thực hiện nới lỏngcấm vận đối với nước ta Tháng 7-1993, Mỹ tuyên bố không cấm Quỹ tiền tệ

Trang 39

quốc tế (IMF) viện trợ cho Việt Nam Quyết định này đã tạo điều kiện thuậnlợi cho quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế.

Ngày 3-2-1994, Tổng thống Mỹ B.Clintơn tuyên bố bãi bỏ cấm vận vàthiết lập cơ quan liên lạc Mỹ tại Hà Nội và ngày 11-7-1995, tuyên bố chínhthức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Sự kiện này đã mở ra một trangmới trong quan hệ Mỹ - Việt Nam Với việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ,lần đầu tiên Việt Nam có quan hệ với tất cả các nước lớn trên thế giới, tạothêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế

Sau gần hai thập kỷ bị bao vây, cấm vận về kinh tế, việc Mỹ bình thườnghóa quan hệ với Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta mở rộng quan hệvới các tổ chức quốc tế, khai thông những trở ngại trong quan hệ Việt Nam vớicác nước, mở đường cho quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư Việt Nam -

Mỹ phát triển Năm 1994, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đã tăng từ 2 dự án (2,5triệu đôla) lên 16 dự án (171 triệu đô la), kim ngạch buôn bán Việt Nam - Mỹđạt 222 triệu đôla Cán cân thương mại Mỹ - Việt từ 7,583 triệu đôla Mỹ năm

1993 lên 1,116 tỷ đôla Mỹ năm 1995 Một số doanh nghiệp Việt Nam đã xuấtđược những mặt hàng nông phẩm, thực phẩm, hải sản, giày dép sang thịtrường Mỹ Hai bên đang xúc tiến lập quan hệ kinh tế ở cấp Chính phủ Mỹ ủng

hộ Việt Nam gia nhập ASEAN, APEC và trở thành quan sát viên của GATT

Mặc dù quan hệ Việt Nam - Mỹ đã có những tiến triển đáng kể so vớigiai đoạn trước khi bình thường hóa quan hệ, nhưng vẫn còn không ít khókhăn, trở ngại Đó là những vấn đề về "dân chủ", "nhân quyền", "diễn biếnhòa bình" của Mỹ thực hiện đối với Việt Nam và "Hội chứng Việt Nam"trong lòng xã hội Mỹ

1.2.5 Tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á và gia nhập ASEAN

Chính sách đối ngoại của Việt Nam là luôn ưu tiên cho việc xây dựng

Trang 40

quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, tạo môi trường hòa bình,

ổn định Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) đề ra chủ trương phát triển quan hệhữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á, bày tỏ mong muốn sẵn sàngcùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở ĐôngNam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình Đến Đại hội lần thứ VII,Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định chủ trương thực hiện đường lối đốingoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, trong đó nhấn mạnh việc pháttriển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á, phấn đấu cho một ĐôngNam Á hòa bình, hữu nghị và hợp tác

Trên tinh thần đó, Việt Nam thực hiện rút dần quân tình nguyện khỏiCampuchia.Tháng 7-1987, cuộc đối thoại đầu tiên giữa Việt Nam đại diệnnhóm nước Đông Dương và Inđônêxia đại diện nhóm nước ASEAN được tổchức, hai bên ký thông cáo chung cấp bộ trưởng mở đầu cho quá trình đốithoại giữa hai nhóm nước nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia Cuộcgặp này đã tạo điều kiện thuận lợi, đưa đến các cuộc gặp không chính thức vềvấn đề Campuchia giữa đại diện các nước ASEAN và đại diện các nước ĐôngDương, JIM-1 (7-1988), JIM-2 (2-1989)

Với JIM-1, tình trạng đối đầu giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Ágiảm dần, mở ra giai đoạn bình thường hóa quan hệ và hợp tác giải quyết cácvấn đề khu vực Tại JIM-2, nhờ có sự phối hợp vận động và đấu tranh khônkhéo của ba nước Đông Dương, các nước ASEAN nhất trí với những nguyêntắc lớn của giải pháp: Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia; chấm dứt việntrợ quân sự và sự can thiệp từ bên ngoài vào Campuchia, loại trừ sự quay trởlại của chính sách và chế độ diệt chủng Pônpốt Các nước ASEAN lần lượttuyên bố "không chống Việt Nam gia nhập ASEAN" (Philipin) và "BiếnĐông Dương từ chiến trường thành thị trường" (Thái Lan)

Tháng 10-1990, Tổng thống Inđônêxia Xuhactô là vị nguyên thủ đầutiên trong các nước ASEAN thăm chính thức Việt Nam Sau khi Việt Nam rút

Ngày đăng: 22/10/2016, 19:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w