1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả kinh tế cây chè của các nông hộ trên địa bàn huyện anh sơn tỉnh nghệ an

71 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được điều đó tôi đã chọn đề tài " Hiệu quả kinh tế cây chè của các nông hộ trên địa bàn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An".. Mục đích nghiên cứu - Phân tích đánh giá thực trạng tình h

Trang 1

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Phát triển cây công nghiệp lâu năm có ý nghĩa to lớn trong việc xóa đói giảmnghèo, làm tăng thêm thu nhập cho người nông dân, sử dụng hợp lý tài nguyên, laođộng, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn xuất khẩu Với xu thế phát triểnCNH - HĐH như hiện nay, phát triển cây lâu năm ngày càng đóng vai trò quan trọngcho cung cấp nguyên liệu sản xuất công nghiệp Trong đó có sự đóng góp đáng kể củacây chè, là một cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, nó rất phù hợp vớinhững vùng cao, vùng núi và đặc biệt với đời sống người dân vùng dân tộc thiểu số,nâng cao thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân địa phương ở đó

Nhận thức được điều đó tôi đã chọn đề tài " Hiệu quả kinh tế cây chè của các nông hộ trên địa bàn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An".

Mục đích nghiên cứu

- Phân tích đánh giá thực trạng tình hình phát triển của cây chè trên địa bànhuyện Anh Sơn từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế mang lại từ hoạt động trồng chè

- So sánh hiệu quả kinh tế cây chè giữa các xã với nhau trên địa bàn nghiên cứu

- Từ đó tìm ra các giải pháp từ hoạt động sản xuất đến hoạt động tiêu thụ, đềxuất định hướng phát triển trong tương lai

Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp thu thập số liệu

+ Phương pháp thống kê

+ Phương pháp điều tra

+ Phương pháp so sánh

+ Phương pháp phân tổ

+ Phương pháp chuyên gia chuyên khảo

Kết quả nghiên cứu

Cây chè là cây có NPV khá lớn khoảng 3,8 triệu đồng/năm, như vậy sản xuất chècũng mang lại lợi ích đáng kể cho người dân, không chỉ có lợi ích kinh tế mà cả lợi ích

xã hội Tuy nhiên sản xuất cũng có những bất cập, khó khăn, những năm hạn hán các

hộ hầu như không chủ động nước tưới cho nên là năng xuất thấp, không có hộ nào tướinước cho chè chủ yếu là "nhờ trời" Thời gian cho thu lợi nhuận chậm, đến năm kinhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

doanh thứ 12 nếu tính cả những năm kiến thiết là đến 15 năm mới bắt đầu cho lợinhuận nhưng mức lợi nhuận cũng không cao Những năm gần đây mức lợi nhuận chỉ ởmức 14 triệu đồng/ha Hoạt động sản xuất ở đây cũng còn manh mún, mức độ đầu tưcủa các hộ chưa thật sự mạnh, tư tưởng trông chờ ỷ lại của người dân còn cao, tính bảothủ trì trệ của một số cán bộ đảng viên vẫn còn phổ biến Chính vì thế mà hiệu quảkinh tế của cây chè chưa cao, người nông dân chưa nắm được thế mạnh của mình đểkhai thác.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng, pháttriển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm Tuy nhiên nhờ sự phát triển của khoa học

kỹ thuật, cây chè đã được trồng khá xa với nguyên sản của nó Trên thế giới, cây chèphân bố từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam và tập trung chủ yếu ở khu vực từ 16 vĩ độBắc đến 20 vĩ độ Nam

Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chèphát triển Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, cây chè cho năng suất và sảnlượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập hàngnăm cho người lao động,đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi

Nghệ An là một tỉnh miền trung có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triểntrồng chè Và hiện nay diện tích trồng chè ngày càng được mở rộng và đang có nhiều

dự án phát triển trồng chè ở nhiều huyện Việc trồng chè đã mang lại hiệu quả kinh tếcao Trong những năm qua góp phần tăng thêm thu nhập cho người nông dân đặc biệt

là góp phần xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số

Anh Sơn là một trong những huyện trọng điểm chè của tỉnh Quỹ đất trồng chètrong các vùng đã được quy hoạch vẫn còn trên 600 ha Hiện tại trên địa bàn huyện đã

có 03 nhà máy chế biến chè với tổng công suất 100 tấn ngày (cả chè xanh và chè đen).Sản lượng chè tươi cung cấp cho nhà máy chế biến trong những năm gần đây mới đạt

từ 13-15 ngàn tấn Thị trường xuất khẩu chè của trong nước nói chung, tỉnh Nghệ Annói riêng được mở rộng và ổn định Như vậy nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy chếbiến và xuất khẩu còn rất lớn Trong mười năm qua ( Từ năm 2001) huyện Anh Sơnxác định chè là cây mũi nhọn kinh tế, vì vậy cây chè được chú trọng phát triển và đãmang lại hiệu quả kinh tế khá rõ

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó việc trồng chè cũng gặp phải những khókhăn trong quá trình sản xuất Là một huyện miền núi còn nhiều khó khăn cơ sở vật chấtkém phát triển gây trở ngại rất lớn đến quá trình tiêu thụ, tiếp cận thị trường, bị ảnhhưởng nhiều về thời tiết khí hậu tác động bất lợi gây nhiểu thiệt hại cho sản xuất và đờiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

sống của nhân dân như sâu hại chè và một số bệnh cây gây ảnh hưởng rất lớn đến sảnlượng và chất lượng, giá các loại vật tư phân bón tăng làm giảm mức đầu tư, chất lượng

và sản lượng giảm hẳn, gây ảnh hưởng đến năng xuất Chưa có sự tập trung chỉ đạoquyết liệt từ cấp cơ sở (xã, thôn bản) Trong chỉ đạo điều hành có lúc thiếu tính đồng bộ,thiếu tính kiên quyết Chính sách hổ trợ trồng chè chưa lớn để tạo động lực cho nhân dântích cực tham gia Ngoài ra nguồn vốn cho vay từ hoạt động trồng chè còn hạn chế gâykhông ít khó khăn đến các hoạt động của dự án Do vậy phát triển trồng chè cần phải cónhững giải pháp cụ thể để đảm bảo cho ngành trồng cây lâu năm phát triển ổn định vàmạnh mẽ hơn

Để đánh giá đúng hiệu quả kinh tế của cây chè tác động đến đời sống người dân nhưthế nào để từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu để phát triể chè tại địa bàn huyện Anh Sơncho nên tôi chọn đề tài:"Hiệu quả kinh tế cây chè của các nông dân trên địa bàn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An" làm nội dung nghiên cứu cho bài khóa luận của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

2.1.Mục tiêu tổng quát

Mục đích mà đề tài hướng đến là đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè của cácnông hộ Từ đó đưa ra định hướng và một số biện pháp chủ yếu nhằm phát triển nângcao năng suất và mở rộng quy mô diện tích trồng chè trên địa bàn huyện

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích đánh giá thực trạng tình hình phát triển của cây chè trên địa bànhuyện Anh Sơn từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế mang lại từ hoạt động trồng chè

- So sánh hiệu quả kinh tế cây chè giữa các xã với nhau trên địa bàn nghiên cứu

- Từ đó tìm ra các giải pháp từ hoạt động sản xuất đến hoạt động tiêu thụ, đềxuất các định hướng phát triển trong tương lai

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp sau:

+ Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu sơ cấp: Chọn ngẫu nhiên 60 nông hộ thuộc 3 xã trong địa bàn huyện đểđiều tra phỏng vấn trực tiếp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu tại phòng Nông Nghiệp huyện, niên giám thống

kê huyện, và tìm hiểu thông tin qua mạng, sách báo

+ Phương pháp thống kê: Trình bày các kết quả tổng hợp và phân tích số liệuthống kê, từ đó đánh giá các vấn đề nghiên cứu dưới các khía cạnh khác nhau

+ Phương pháp điều tra

+ Phương pháp so sánh

+ Phương pháp phân tổ

+ Phương pháp chuyên gia chuyên khảo

2.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế của cây chè

của các nông hộ tại địa bàn huyện Anh Sơn

- Phạm vi nghiên cứu: Các hộ nông dân sản xuất chè trên địa bàn huyện Anh Sơn

tỉnh Nghệ An, trong đó tập trung nghiên cứu vào các vùng chuyên canh sản xuất chècủa huyện Anh Sơn

Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng trong thời kỳ 2009-2011 và đềxuất những giải pháp phát triển trong những năm tới

Do thời gian và kiến thức còn hạn hẹp, nên đề tài khó tranh khỏi những sai xót, rấtmong sự đóng góp của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt độngkinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích củacon người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệuquả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từnhững nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng

Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của cáchoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế

Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quanđiểm khác nhau về hiệu quả kinh tế

+ Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quảđạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp,bởi vì nếu cùng một kết quả xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quanđiểm này chúng có cùng một hiệu quả

+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm

xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao.Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sảnxuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế cónhững ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa được thoả đáng

+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất

ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị

+ Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệmchi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu íchcủa hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của

xã hội, của nền kinh tế quốc dân

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá

mà không cắt sản lượng một loại hàng hoá nào khác Một nền kinh tế có hiệu quảnằm trên đường khả năng giới hạn sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuấtđược đặc trưng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng (Potential GrossNational Produst) là tổng sản phẩm quốc dân cao nhất có thể đạt được, đó là mứcsản lượng tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

Tỷ lệ giữa tổng sản phẩm quốc dân thực tế với tổng sản phẩm quốc dân tiềmnăng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối giữa sản lượng tiềm năng

và sản lượng thực tế là phần sản lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng đượcphần lãng phí Tuy nhiên, khái niệm tiềm năng phụ thuộc vào lao động tiềm năng làlao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Sản lượng tiềm năng cũng phải ứng vớimột tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó thì mới hợp lý

Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả do đó việc xác định khái niệmhiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít và những luận điểm của lýthuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn

- Một là: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất của hiệu quả kinh tế

là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụngnguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật cótầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt độngcủa con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lựclượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của conngười qua mọi thời đại

- Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một

hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người vớicon người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó cácquá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội

Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầucủa con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của conngười đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữasản xuất xã hội và môi trường

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

- Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà làmục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan

hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhấtđịnh hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quảkinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các

tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sửdụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là mộtphạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xácđịnh hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn Bảnchất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đápứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong

xã hội Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiếtkiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môitrường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giátoàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

1.1.1.2.Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

Như chúng ta đã biết hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa kết quả thu được

và lượng chi phí bỏ ra trong một chu kỳ sản xuất Do đó muốn xác định được hiệu quảkinh tế thì ta phải xác định được kết quả và chi phí bỏ ra

Chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh là chi phí cho các yếu tố đầu vào như:đất đai, lao động, tiền vốn, nguyên vật liệu Tùy theo mục đích phân tích và nghiêncứu mà chi phí bỏ ra có thể tính toàn bộ hoặc có thể tính chi phí cho từng yếu tố

Sau khi đã xác định được kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra chúng ta có thể tínhđược hiệu quả kinh tế và có thể dùng những phương pháp sau:

Trang 9

Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nuồn lực, xem xét đượcmột đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, do đó giúp ta so sánhđược hiệu quả ở các quy mô khác nhau.

Thứ hai, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêm của kếtquả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra Công thức được xác định như sau:

C

Q H

H: Hiệu quả kinh tế

Q: Phần tăng thêm của kết quả

C: Phần tăng thêm của chi phí

Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu đầu tư theo chiều sâu, nó xácđịnh lượng kết quả thu thêm trên một đơn vị chi phí thêm hay nói cách khác một đơn

vị chi phí tăng thêm đã tạo bao nhiêu kết quả thu thêm

Với cách tính này nó sẽ cho ta biết được tổng thu nhập, tổng lợi nhuận đạt đượcmột cách chính xác cụ thể hơn và không thể so sánh được hiệu quả kinh tế của cácdoanh nghiệp, các đơn vị sản xuất sinh doanh có quy mô khác nhau

Như vậy theo như phân tích trên thì hiệu quả kinh tế có rất nhiều cách tính khácnhau mỗi cách tính đều phản ánh một khía cạnh nhất định về hiệu quả kinh tế Do đótheo từng điều hiện của mỗi doanh nghiệp để chọn cho mình một cách tính phù hợp

1.1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

+ Tổng giá trị sản xuất: GO

Tổng giá trị sản xuất là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các cơ sởsản xuất thuộc tất cả các ngành nghề kinh tế quốc dân đạt được trong một chu kỳ nhấtđịnh thường là 1 năm Là kết quả hoạt động hữu ích từ các cơ sở sản xuất từ các cơ sởsản xuất đó, giá trị sản xuất bao gồm:

Giá trị sản phẩm vật chất: Tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

Giá trị sản phẩm dịch vụ: Phục vụ sản phẩm và phục vụ đời sống

p*i Q i

= GO

Trang 10

+ Chi phí trung gian IC: Là bộ phận cấu thành của tổng giá trị sản xuất bao gồm

toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất (không kể khấu hao) và chi phí dịch vụ (sảnphẩm vật chất và phi vật chất) được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch

vụ khác của doanh nghiệp trong một thời thời kỳ nhất định (thường là một năm)

Chi phí vật chất: Là chi phí do hộ gia đình bỏ ra không qua hoạt động dịch vụ,như chi phí phân bón, vật rẻ tiền mau hỏng được phân bổ trong năm

Chi phí dịch vụ là chi phí cần trong quá trình hoạt động dịch vụ như: Thuê laođộng ngoài, thuê máy hái, quản lý phí, trãi lãi vay, phí bốc vác

+ Giá trị gia tăng VA: Là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi chi

phí trung gian và được xác định bằng công thức:

VA = GO - IC

VA: Giá trị gia tăng

GO: Tổng giá trị sản xuất

IC: Chi phí trung gian

+ Tổng chi phí sản xuất: là toàn bộ hao phí về vật chất, dịch vụ và lao động đã

đầu tư cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm

+ GO/IC: Cứ mỗi đơn vị trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất+ VA/IC: Cứ mỗi đơn vị trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng+ Giá trị hiện tại thuần (NPV - Net present value)

Giá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow)trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash inflow) tính theo lãi xuất chiết khấu lựa chọn.NPV được tính theo công thức sau:

t t

B NPV ( ) / ( 1 )

Trong đó:

* Bt: Khoản thu hàng năm của dư án và cả giá trị thanh lý khi hết thời kỳ kinh doanh

* Ct: Là chi phí hàng năm của năm t, và vốn ban đầu bỏ ra để tạo tài sản cố định,

và tài sản lưu động ở thời điểm ban đầu và cả thời điểm trung gian

* t - Thời gian tính dòng tiền (chu kỳ sản xuất)

* r - Tỉ lệ chiết khấu được chọn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

1.1.1.4 Vị trí giá trị của cây chè

Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọngtrong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế văn hóa của con người Sản phẩm chèhiện nay được tiêu dung ở khắp các nơi trên trế giới, kể cả các nước không trông chècũng có nhu cầu lớn về chè Ngoài tác dụng giải khát chè còn có nhiều tác dụng khácnhư kích thích thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao nănglực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…

Đối với nước ta sản phẩm chè không chỉ tiêu dung nội địa mà còn là mặt hàng xuấtkhẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước Đối với người dân thì câychè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định,cải thiện đời sống văn hóa xã hội, tạo racông ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn Nếu sosánh cây chè với các loại cây chè khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn,vì câychè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng,phát triển và cho sản phẩm liên tụckhoảng 30-40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa

Mặt khác cây chè là cây không tranh chấp đất đai với cây lương thực,nó là loại câytrồng thích hợp với vùng đất trung du và miền núi Chính vì vậy cây chè mang lại giá trịkinh tế cao mà còn góp phần cải thiện môi trường,phủ xanh đất trống đồi núi trọc Nếukết hợp với trông rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đaixanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững

Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớncho xã hội,tăng thu nhu nhập cho người dân,cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn

Nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa hiện đại hóanong nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh tế xã hội giữa thành thị và nôngthôn, giữa vùng núi cao và đồng bằng

1.1.1.5 Đặc điểm thực vật học của cây chè

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được

sử dụng để sản xuất chè (trà – đừng nhầm với cây hoa trà) Tên gọi sinensis có nghĩa

là ‘Trung Quốc’ trong tiếng ‘ La tinh’ Các danh pháp khoa học cũ còn có tên Thea bohea vàThea viridis Nó là laoij cây xanh lưu niên mọc từng bụi hoặc các cây nhỏ, thông thườngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

được xén tỉa để thấp hơn 2 mét (6 ft) khi được trồng để lấy lá Là loại cây trồng một lần vàthu hoạch nhiều lần Trong vòng 2-3 năm là thu hoạch và thu hoạch từ 30 – 40 năm.

Rễ : Nó có rễ dài là rễ trụ, khi hạt mới nảy mầm rễ phát triển mạnh, sau 3-5 tháng

rễ trụ phát triễn chậm lại và rễ biên phát triển mạnh hơn Từ năm thứ 2-3 rễ trụ và rễbiên phát triển mạnh

Thân chè : Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên chỉ có một thân chính,trên thân phân thành 3 loại :

Thân gỗ : Là loại hình cây to, có thân chính, vị trí phân cành cao

Thân nhỏ: Là loại hình trung gian, có thân chính tương đối rõ rệt, vị trí phân cànhthường cao 20-30 cm

Thân bụi (quán mộc) : Không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp, phân cànhnhiều Vị trí phân cành cấp 1 ngay gần cổ rễ

Cành chè : Cành chè mọc từ chồi dinh dưỡng trên thân chính gọi là cành 1, mọc

từ cành 1 gọi là cành 2, cành 3…Cành nằm tương

Trên cành chia ra nhiều đốt, dài 1 đến 10 cm tùy giống và điều kiện sinh trưởng.Mầm chè : Gồm mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực

Mầm dinh dưỡng gồm :

- Mầm đỉnh : Nằm trên đỉnh cây sinh trưởng mạnh

- Mầm nách : Nằm ở nách lá chè, nó được phát triển khi mầm đỉnh hái đi

- Mầm ngủ : Nằm bộ phận già đã hóa gỗ

- Mầm bất định : Mầm ở cổ rễ

Mầm sinh thực : Nằm ở nách lá , lá mầm từ đó phát triển thành hoa, quả chè

thường mỗi nách là 2 mầm sinh thực

Búp chè : Búp chè có hai loại :

- Búp bình thường : Búp gồm 1 tôm và 2 hay 3 lá non

- Búp mù xòe : Búp không có tôm mà chỉ có 2-3 lá non

Lá chè gồm lá cá lá, vẩy ốc và lá thật

Lá chè mọc trên cành chè mỗi đốt có một lá, lá chè thường hay thay đổi hình dạng.Hoa và quả chè : Hoa bắt đầu nở trên cây chè 2-3 năm tuổi, hoa lưỡng tính có 5-9cánh màu trắng hay phớt hồng Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1-4 hạt Hình dạngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

quả có thể tròn, tam giác, vuông, tùy theo số hạt Khi còn non quả chè màu xanh, khichín quả chuyển sang màu thẫm hoặc nâu Khi quả chín vỏ nức ra.

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

1.1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

Giá chè thế giới năm 2009 đã tăng gấp đôi, lập kỷ lục cao của nhiều năm nay dohạn hán ở Ấn Độ, Sri Lanka và Kenya, trong khi nhu cầu tăng mạnh

Từ mức giá trung bình 2,38 USD/kg năm 2008, giá chè hảo hạng BP1s củaKenya đã tăng lên 2,74 USD/kg vào đầu năm 2009, tiếp tục tăng lên 3,18 USD/kg vàotháng 9/2009 và kết thúc năm 2009 ở mức 5,45 USD/kg

Sản lượng chè của Kenya, nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới, đã giảm 9%xuống còn 278 triệu kg trong 11 tháng đầu năm 2009 Sri Lanka, nước sản xuất chèlớn thứ 4 thế giới, đã sản xuất 263,8 triệu kg chè trong 11 tháng đầu năm 2009, cũnggiảm 12% so với cùng kỳ năm trước đó Theo thống kê chính thức trong giai đoạntháng 1 - 9/2009, sản lượng chè thế giới đạt 1275,5 triệu kg, giảm khoảng 89 triệu kg

so với cùng kỳ năm ngoái

Nhu cầu chè cao ngay cả trong giai đoạn kinh tế suy thoái, nhất là các loại chèchế biến Giá chè tăng đã không ảnh hưởng nhiều tới tiêu thụ ở các nước phát triển bởisức cạnh tranh của mặt hàng này rất cao trên thị trường đồ uống nói chung Còn tại cácnước đang phát triển, các nhà chế biến chè chắc chắn gánh phần tăng giá nhiều hơn sovới người tiêu dùng, bởi giá thu mua chè chiếm phần lớn nhất trong giá bán lẻ

Tiêu thụ chè thế giới luôn tăng vượt sản lượng trong giai đoạn 2005 – 2009, vớikhoảng cách lớn nhất là vào những năm từ 2007 đến 2009, khi mức tăng nhu cầu vượttới 3,4 điểm phần trăm so với mức tăng cung, đúng vào thời điểm giá chè tăng mạnh.Trên thực tế, phần thu nhập mà các hộ gia đình dành để mua chè vẫn tương đối nhỏ Vìvậy, đây là thị trường được đánh giá là có tiềm năng rất lớn

Dự báo tình trạng thiếu cung chè sẽ càng thêm trầm trọng trong năm 2010 do sảnlượng ở Châu Phi, Sri Lanka và Ấn Độ tăng không theo kịp mức tăng của nhu cầu vềchè Theo ông Aditya Khaitan, giám đốc công ty McLeod Russel India Ltd – công tysản xuất chè lớn nhất thế giới, dự báo thị trường chè thế giới có thể thiếu tới 130 triệuTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

kg vào tháng 4/2010, cao hơn mức thiếu 110 triệu kg dự báo hồi tháng 9/2009 và giá

có thể lập kỷ lục cao mới trong năm nay do tình trạng thiếu hụt kéo dài quá lâu

Sản lượng của các nước sản xuất lớn năm nay sẽ hồi phục, song vẫn không đủ bù đắpchỗ thiếu hụt bởi tiêu thụ đang tăng nhanh, không chỉ ở Ấn Độ mà cả Trung Đông,Pakistan, Ai Cập và những thị trường có mức tiêu thụ tưởng đã bão hòa như Anh và Ai Len.Chỉ riêng Ấn Độ sẽ cần thêm 35 triệu kg chè để đáp ứng nhu cầu tăng thêm 3,5%trong năm nay Tiêu thụ chè hàng năm ở Ấn Độ hiện khoảng 800 triệu kg, với mứctăng mỗi năm khoảng 30 triệu kg Lượng thiếu cung 65 triệu tấn hiện nay ở Ấn Độchưa thể nhanh chóng được lấp đầy Với sản lượng 960 triệu kg hiện nay, Ấn Độ vẫnđang là nước xuất khẩu ròng chè Tuy nhiên trong 7 đến 10 năm tới, Ấn Độ có thể sẽtrở thành nước nhập ròng mặt hàng này Các bang trồng chè lớn nhất của Ấn Độ làAssam và West Bengal sẽ không sản xuất chè cho tới đầu tháng 4 năm nay vì đó là giaiđoạn thời tiết lạnh Sản lượng chè của Ấn Độ trong 10 tháng tính tới 31/10/2009 đãgiảm xuống mức 830,4 triệu kg, so với 832,5 triệu kg cùng kỳ năm trước đó Xuấtkhẩu đã giảm 12% trong cùng kỳ, xuống 150 triệu kg Nhiều nước sản xuất chè lớnkhác cũng rơi vào tình trạng thiếu cung, như Châu Phi và Sri Lanka Năm 2009, kimngạch xuất khẩu chè của Việt Nam tăng khoảng 40 triệu USD so với năm trước đó, đạt

117 ngàn tấn, nhờ khối lượng xuất khẩu tăng Đây là một trong số ít những ngành giữđược phong độ xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế toàn cấu sa sút Việt Nam hiện có 270doanh nghiệp làm chè, 75% lượng chè khô hàng năm được xuất khẩu sang 110 nước

và vùng lãnh thổ trên thế giới và Việt Nam hiện nay đứng thứ 5 thế giới về sản lượngcũng như kim ngạch xuất khẩu chè Triển vọng thiếu cung chè trong những tháng tới

sẽ là cơ hội tốt cho ngành chè Việt Nam Tuy nhiên, điểm yếu của chè nước ta là chấtlượng không đồng đều, nên giá chưa cao, chỉ bằng nửa giá thế giới Trong khi giá chètrung bình toàn cầu năm 2009 là 2,2 USD/kg thì chè VN chỉ khoảng 1,1 USD/kg Dovậy, trong khi khối lượng xuất khẩu tăng mạnh thì trị giá xuất khẩu chỉ tăng khoảng13,6% đạt 167 triệu USD Những vấn đề đặt ra cho ngành chè nước ta hiện nay là nângcao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu để chè Việt Nam ngày một vươn xatrên thị trường toàn cầu Triển vọng chè thế giới năm 2009 sẽ còn tiếp tục tăng và mứcTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

độ tăng sẽ phụ thuộc nhiều vào thời tiết ở các khu vực sản xuất chính của Châu Á vàChâu Phi, nhất là Ấn Độ.

1.1.2 2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè ở Việt Nam

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, hầu hết các mặt hàng nông lâm thủy sản ViệtNam đều bị tác động tiêu cực do rớt giá và giảm sức mua nhưng với những đặc thùriêng, cuối năm 2008 và những tháng năm 2009, ngành chè là một trong số ít ngànhhàng vẫn giữ được “phong độ” với nhiều thi trường tiêu thụ, sản lượng và giá trị xuấtkhẩu đều tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái

Chỉ riêng nữa đầu năm 2009, xuất khẩu chè đã đạt trên 51,7 ngàn tấn, kim ngạchxuất khẩu gần 64 triệu USD, tăng 13,7% về lượng và tăng 4,6 % về giá trị so với cùng

kỳ năm 2008

Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2009, diện tích trồng chècủa Việt nam sẽ đạt 131,5 nghìn ha, với năng suất dự kiến 6,5 tấn búp tươi/ha Dự báocủa ngành chè cho thấy, thời gian tới do diễn biến thời tiết thuận lợi,năng suất và sảnlượng chè năm 2009 của Việt Nam sẽ tăng hơn so với năm 2008 Bên cạnh đó các hộsản xuất và kinh doanh ngành chè Việt Nam cũng đã dần chú trọng đến khâu sản xuất

và chế biến chè đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao năngsuất và chất lượng chè Việt Nam nên bức tranh tổng thể của ngành chè trong năm 2009tương đối sang sủa và khả quan

Hiệp hội Chè Việt Nam(Vitas) cho biết,trong những tháng cuối năm 2009, ngoàicác thị trường lớn như Pakistan, Ấn Độ,Ả rập Xeut …thì Nga và Mỹ cũng là hai thịtrường tiềm năng “mới nổi” mà các doanh nghiệp ngành chè cần tập trungg phát triểnhơn nữa trong tổng số 49 thị trường nhập khẩu chè Việt nam hiện nay

Theo điều tra đánh giá của Vitas, hiện nay Mỹ là quốc gia tiêu thụ chè lớn thứ 8thế giới với 84% cơ cấu là chè đen, còn lại là chè xanh và các loại chè khác Lợi thếlớn nhất của Việt Nam hiện nay là giá chè xanh xuất khẩu vào Mỹ thấp hơn so với giácủa các nước xuất khẩu khác Nhìn chung Mỹ, Nga là hai thị trường tương đối “máttính” và có nhu cầu tiêu thụ lớn nên sản phẩm chè Việt Nam có nhiều khả năng cạnhtranh để tiếp tục khẳng định vị trí trên thị trường chè thế giới

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

1.1.2.3 Tình hình sản xuất chè ở địa bàn nghiên cứu

Chè là cây công nghiệp có khả năng thích ứng rộng, sinh trưởng phát triển tốt,tạo ra hiệu quả kinh tế cao trên những vùng đất đồi có độ dốc dưới 30 độ

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An chè công nghiệp được trồng rộng rãi thànhnhững vùng lớn, tập trung thuộc các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông Câychè công nghiệp đang thực sự trở thành cây làm giàu cho người dân trồng chè AnhSơn là một trong những huyện trọng điểm chè của tỉnh Quỹ đất trồng chè trong cácvùng đã được quy hoạch vẫn còn trên 600 ha Hiện tại trên địa bàn huyện đã có 03 nhàmáy chế biến chè với tổng công suất 100 tấn ngày (cả chè xanh và chè đen) Sản lượngchè tươi cung cấp cho nhà máy chế biến trong những năm gần đây mới đạt từ 13-15ngàn tấn Thị trường xuất khẩu chè của trong nước nó chung, tỉnh Nghệ An nói riêngđược mở rộng và ổn định Như vậy nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy chế biến và xuấtkhẩu còn rất lớn Trong mười năm qua ( Từ năm 2001) huyện Anh Sơn xác định chè làcây mũi nhọn kinh tế, vì vậy cây chè được chú trọng phát triển và đã mang lại hiệu quảkinh tế khá rõ.tổng diện tích chè hiện có là 960 ha tập trung tại 3 xã: Hùng Sơn, PhúcSơn, Long Sơn Theo báo cáo tình hình sản xuất thì Hùng Sơn với diện tích 363ha,Phúc Sơn là 160, Long Sơn là197 còn lại là các xã khác

Bảng 1 : Một số chỉ tiêu về diện tích và sản lượng, năng suất chè trên địa bàn

huyện trong 3 năm 2009 đến 2011

Tính bình quân/ha

Chỉ tiêu ĐVT 2009 2010 2011

2010/2009 2011/2010 +/- % +/- %

3 Sản lượng Tấn 9523,36 9535,5 10000 12,14 0,13 464,5 4,874.Năng suất Tấn/ha 15,46 14,67 20 -0,79 -5,11 5,33 36,33

(Nguồn: Số liệu phòng nông nghiệp huyện Anh Sơn)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Trong năm 2009 diện tích trồng chè là 907 ha nhưng đến năm 2010 diện tíchtrồng chè tăng lên 916 ha tăng lên 9ha tương đương với tăng 1% Nhưng trong đó diệntích co sản lượng chỉ có 616 ha với năng suất là 15,46 tấn/ha Trong năm 2010 thì diệntích đất trồng cho sản lượng có tăng nhưng không đáng kể với diện tích là 650 ha đạt14,67 tấn/ha Năng suất năm 2010 giảm so với năm 2009 đó là do yếu tố khí hậu làmảnh hưởng đến năng suất và có một số vườn chè đến thời kì giảm năng suất Trongnăm 2011 do áp dụng khoa học kĩ thuật và bón phân đúng qui định nên năng suất cótăng đáng kể tăng lên đến 5,33 tấn/ha,tương dương với tăng 36,33% so với năm 2010,năng suất năm này lên đến 20 ngàn tấn.nhưng diện tích cho sản lượng thì giảm đi21,875% tương đương với giảm là 140 ha Sở dĩ diện tích này giảm đi là do một số hộphá chè đã lâu năm năng suất thấp để trông mới, có một số hộ phá để canh tác câykhác mang lại hiệu quả hơn, và một số hộ phá do dự án đầu tư của ngành khác Vớinăng suất 20 ngàn tấn/ha đó là một thành quả vượt xa kế hoạch đặt ra.

Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết đại hội huyện Đảng bộ khóa XIX đề ra là đếnnăm 2015 trồng mới thêm 200 ha chè công nghiệp, đưa diện tích chè của huyện lên

1160 ha, sản lượng chè búp tươi 25 ngàn tấn/năm UBND huyện xây dựng: Đề án điềuchỉnh, bổ sung phát triển chè công nghiệp huyện Anh Sơn giai đoạn 2011-2015 và dự

án này dang được triển khai thực hiện

1.2 Chủ trương chính sách của đảng và nhà nước về phát triển chè ở Việt Nam

- Chỉ thị số 29: ban hành ngày 31/11/1983 của BBT trung ương Đảng và chỉ thị 56

CT/TW ngày 29/01/1985 về việc giao khoán đất, giao rừng cho hộ nông dân, gắn quyềnhạn, trách nhiệm và lợi ích vật chất để khuyến khích nhân dân trồng rừng trên đất trống,đồi trọc, nhân dân được thừa kế tài sản trên đất trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày.Đối với vùng núi cao không nhất thiết phải tổ chức HTX mà phát triển kinh tế hộ vàthành lập quan hệ Nhà nước theo đơn vị bản, buôn, HTX, thực hiện cơ chế khoán gọncho xã viên

- Chỉ thị số 53 CT/TW: Ngày 08/01/1984 của BBT trung ương Đảng về khuyến

khích phát triển kinh tế hộ gia đình, cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọinguồn đất đai mà HTX và lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất Nhà nướckhông đánh thuế sản xuất kinh doanh đối với kinh tế hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình

xã viên được chính thức thừa nhận là một bộ phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

và được tạo mọi điều kiện phát triển.

- Nghi quyết 10: Ban hành ngày 05/04/ 1988 của BCH Trung ương Đảng với nội

dung chủ yếu là khoán hộ, đã xác định hộ nông dân được quyền tự chủ ruộng đất lâudài và lam chủ thêm nhiều tư liệu sản xuất Phần lớn các phương tiện sản xuất đượcgiao cho hộ nông dân và họ tự do sử dụng chúng theo mong muốn Đất đai vẫn thuộcquyền sở hữu của nhà nước và có thể chia lại sau một thời gian nhất định

- Luật đất đai: Ra ngày 22/07/1993 và được sửa đổi vào ngày 02/12/1998 chính

thức được ban hành, nhằm khuyến khích mọi cá nhân tổ chức sử dụng đất đai vào sảnxuất nông lâm nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình, xác định quyền lợi và trách nhiệmcủa mọi tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng và bảo vệ đất đai, khai thác hợp lý và sửdụng có hiệu quả tiềm năng của đất góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội

- Nghị định 02/CP: Ra ngày 15/01/1998 và sửa đổi thành nghị định số

163/1999/NĐ-CP ban hành văn bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức,

cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Chỉ thị 01/CP: Ra ngày 14/01/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích

sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước

- Nghị định 13: của chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác khuyến nông,

khuyến lâm nhằm giúp hộ nông dân sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất nông, lâmnghiệp từ đó phát triển kinh tế xã hội

- Để công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể này bỏ vốn, sức lao

động và kỹ thuật vào phát triển nông lâm nghiệp

- Nghị định 170 HĐBT: đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này phát triển

trong mọi lĩnh vực như: Trồng rừng sản xuất, chăn nuôi và kinh doanh nghề phụ Thôngqua đó có thể mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với khả năng sẵn có của mình

- Quyết định 72 HĐBT: Ra ngày 13/03/1990 về một số chủ trương chính sách cụ

thể để phát triển kinh tế xã hội miền núi Quyết định đề cập đến vấn đề giao đất, giaorừng cho các hộ gia đình, có quyền tự chủ kinh doanh bằng nhiều hình thức phù hợpvới điều kiện cụ thể cho từng vùng

Thực tế cho thấy các chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo cho nông thônmiền núi nói chung và các hộ gia đình miền núi nói riêng rất nhiều thuận lợi trong quátrình phát triển kinh tế xã hội của khu vực này

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

CHƯƠNG II KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CHÈ TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN NGHỆ AN

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Anh Sơn là huyện miền núi nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý

từ 104055’ đến 105015’ kinh độ Đông, 18046’ đến 19010’ vĩ độ Bắc

Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Tân Kỳ và huyện Quỳ Hợp;

- Phía Nam giáp huyện Thanh Chương;

- Phía Đông giáp huyện Đô Lương;

- Phía Tây giáp huyện Con Cuông và nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào

- Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Năm 2007 là 60.328,50 ha với 20 đơn vịhành chính cấp xã (01 thị trấn và 19 xã)

Huyện Anh Sơn cách thành phố Vinh khoảng 100 km về phía Tây Bắc, trên địabàn huyện có 2 tuyến đường giao thông chính là Quốc lộ 7A và đường mòn Hồ ChíMinh nối liền các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ Hệ thống giao thôngđường thủy bao gồm: Sông Lam, sông Giăng và sông Con đã tạo điều kiện thuận lợi

cơ bản cho huyện trong việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địaphương khác trong và ngoài tỉnh

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi có xen kẽ với đồng bằng, hai bên cao dốc

ở giữa là sông Lam Do địa hình bị chia cắt bởi ba con sông lớn (sông Lam, sông Con

và sông Giăng) và các khe suối nên hạn hán lũ lụt thường xảy ra Có thể chia địa hìnhcủa huyện thành 3 dạng: Dạng đồng bằng ven sông, dạng đồi và dạng núi thấp

Dạng đồng bằng ven sông: Chủ yếu nằm dọc hai bên sông Lam ở độ cao 30

-40 m (bao gồm các xã: Tam Sơn, Thạch Sơn, Vĩnh Sơn, Long Sơn ), chiếm khoảng14% tổng diện tích tự nhiên, có khoảng 30% loại đất này bị ngập lụt hàng năm (bãi bồiven sông), còn lại là ít hoặc không bị ngập lụt Vùng này chủ yếu trồng các loại câyTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

lúa, ngô, cây công nghiệp ngắn ngày và các loại rau màu khác.

- Dạng địa hình đồi: Phần lớn ở độ cao từ 100 - 200 m, chủ yếu là dạng đồi lượn

sóng, độ dốc không lớn từ 8 - 150 Đây là dạng địa hình có diện tích lớn nhất, chiếmkhoảng 56% tổng diện tích tự nhiên, có ở hầu hết các xã, nhưng tập trung nhiều ở phíaNam và phía Tây của huyện (Cao Sơn, Khai Sơn, Tường Sơn ) Thổ nhưỡng ở đâychủ yếu là đất phát triển trên đá phiến thạch, là vùng có tiềm năng lớn về phát triển câycông nghiệp dài ngày và cây ăn quả, mía đồi, trồng cây lâm nghiệp

- Dạng địa hình núi thấp: Chủ yếu ở dạng núi thấp 300 - 500 m, chiếm khoảng

26% diện tích tự nhiên Tập trung ở phía Bắc của huyện (gồm các xã: Thành Sơn, BìnhSơn, Thọ Sơn, Đỉnh Sơn), phía Tây nam (xã Phúc Sơn) Những đỉnh cao nhất ở xãThành Sơn là 400 m, Phúc Sơn cao nhất là đỉnh Cao Vều 1.200 m, dạng địa hình nàychủ yếu sử dụng vào mục đích lâm nghiệp

2.1.1.3 Khí hậu

Huyện Anh Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và mang những đặc điểmriêng của khí hậu khu vực miền Trung Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa,nóng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau:

a Nhiệt độ:

- Nhiệt độ không khí bình quân hàng năm: 23,60C

- Nhiệt độ không khí cao nhất: 40 - 410C (tháng 6, tháng 7)

c Lượng nước bốc hơi:

- Tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm là: 1.000 - 1.100 mm

- Lượng bốc hơi tháng lớn nhất là : 172,2 mm (tháng 7)

- Lượng bốc hơi tháng nhỏ nhất là : 28,8 mm (tháng 2)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

d Lượng mưa:

- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.870 mm

- Lượng mưa năm lớn nhất: 3.500 mm

- Lượng mưa năm nhỏ nhất: 1.105 mm

Lượng mưa phân bố không đều theo thời gian, lượng mưa lớn thường tập trungvào tháng 8 và tháng 9 chiếm 75% - 80% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa ít làtháng 2, tháng 3, tháng 7

đ Nắng:

+ Số giờ nắng trong năm: 1.668 giờ Các tháng nắng nhiều là: tháng 5, tháng 6,tháng 7, bình quân tới 7 đến 8 giờ/ ngày Tháng ít nắng nhất là tháng 2 bình quân có1,6 giờ/ngày, thường có mưa phùn

2.1.1.4 Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của các sông:

- Sông Lam: Đây là sông lớn nhất trên địa bàn huyện Anh Sơn, chia huyện Anh

Sơn thành 2 phần Chiều dài của sông đoạn qua địa bàn huyện là 47 km, chảy theohướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Diện tích lưu vực sông là 17.730 km2, mật độlưới sông là 0,60 km/km2 Lưu lượng trung bình hàng năm của sông đạt 688 m3/s Mựcnước bình quân lớn nhất là 5,03 m, lưu lượng lớn nhất bình quân là 2.260 m3/s (đo tạitrạm Cửa Rào) Đây là tuyến đường thuỷ quan trọng và duy nhất nối nước bạn Lào vớiNghệ An và thông ra biển Đông

- Sông Con: Sông Con là phụ lưu của sông Lam, chiều dài của sông đoạn chảy

qua địa bàn huyện là 20 km, chảy qua địa bàn các xã: Bình Sơn, Thành Sơn và ĐỉnhSơn Diện tích lưu vực của sông là 5.340 km2, lưu lượng bình quân là 141 m3/s, môđun dòng chảy là 25,4 l/s/km2

- Sông Giăng: Sông Giăng cũng là phụ lưu của sông Lam, chiều dài của sông

đoạn chảy qua địa bàn huyện là 13 km, chảy qua địa bàn các xã: Hội Sơn và Phúc Sơn.Diện tích lưu vực của sông là 1.050 km2, tổng lượng nước của sông khu vực phụ lưulên tới 21,90 km3, ứng với lưu lượng bình quân nhiều năm là 688 m3/s và mô đun dòngchảy là 25,3 l/s/km2 Lòng sông nhỏ, hẹp, khả năng vận tải gặp nhiều khó khăn

Ngoài 3 sông chính trên, địa bàn huyện Anh Sơn còn có các sông suối nhỏ: tạoTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

thành mạng lưới lưu vực các sông chính Đây là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sảnxuất, sinh hoạt của người dân trong huyện.

2.1.1.5.Thổ nhưỡng

Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng toàn tỉnh Nghệ An, huyện Anh Sơn có nhữngloại đất chính sau:

* Đất phù Sa

- Bãi cát ven sông: Phân bố rải rác dọc hai bên sông Lam Có diện tích khoảng 60

ha, địa hình tương đối bằng, thấp, thường bị ngập lụt hàng năm Thành phần cơ giớiđất chủ yếu là cát, có nơi lẫn sỏi, không sử dụng được cho trồng trọt Mục đích sửdụng chủ yếu là nguồn cung cấp cát sỏi xây dựng

- Đất phù sa được bồi hàng năm: Diện tích 2.579 ha, chiếm 4,25% tổng diện tích

tự nhiên và chiếm 4,69% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng, có ở các xã dọc sôngLam Loại đất này hàng năm bị ngập lụt vào mùa mưa và được bồi thêm một lớp phù

sa, nơi thấp lụt tiểu mãn cũng ngập Đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ,pH(kcl) 6,7 - 7,2, đạm tổng số 0,126%, lân tổng số 0,069%, kali tổng số 0,254% Đây

là loại đất có nhiều tính chất tốt: Cấu tượng tốt, các chất đạm, lân, kali tổng số cũngnhư các chất dễ tiêu đều khá, khả năng trao đổi cao, loại đất này phù hợp cho các loạicây trồng như: ngô, lạc, mía, đậu, rau Nơi có điều kiện thủy lợi tốt có thể trồng lúa

Là loại đất có giá trị trong sản xuất nông nghiệp (đã được sử dụng gần hết) Yêu cầu sửdụng là cần có biện pháp để bảo vệ cho đất không bị xói lở bào mòn, bồi lấp, nhưtrồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng rừng ven sông

- Đất phù sa không được bồi không có glây hoặc glây yếu - chua: Diện tích 5.728

ha, chiếm 9,45% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 10,3% tổng diện tích các loại thổnhưỡng Phân bố ở các xã Hùng Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Thạch Sơn,Long Sơn, Tào Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn ở địa hình cao, nguồn gốc là đất phù sa của

hệ thống sông Cả, do quá trình canh tác lâu đời, chế độ nước không ổn định và hợp lýnên chất màu kém dần Hầu hết đất có sản phẩm Peralit, thành phần cơ giới từ thịt nhẹđến thịt nặng tùy từng vùng Đất có phản ứng chua (pH(kcl) phần lớn nhỏ hơn 5), ítmùn, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số 0,02 - 0,04%, lân dễ tiêu thường làvệt, kali trung bình (kali tổng số 0,12 - 1,00%)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

- Đất phù sa ngòi suối, đất dốc tụ: Hai loại này có diện tích không nhiều: Đất phù

sa ngòi suối diện tích 200 ha, có ở Thọ Sơn, Phúc Sơn, Lĩnh Sơn Đất dốc có khoảng

440 ha, ở các xã: Phúc Sơn, Lĩnh Sơn và rải rác ở một số xã Tùy địa hình và điều kiệntưới tiêu có nơi trồng màu, nơi trồng lúa

* Đất đồi núi

- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ: Diện tích 1.993 ha, chiếm 3,28%tổng diện tích tự nhiên và chiếm 3,6% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng, có ở các xã:Thành Sơn, Bình Sơn (phân bố ở dãy đồi dọc sát hữu ngạn sông Con) Lớp phù sa,cuội có thể dày 2 - 3 m, là loại đất đồi có lý tính tốt, chất dinh dưỡng khá Hiện nayhầu hết loại đất này đã được bố trí dân cư

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi: Diện tích 392 ha, có ở dưới chân cácnúi đá vôi ở các xã: Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn và Thọ Sơn Đây là sản phẩm biến hóa của đávôi Đất có cấu tượng tốt (xốp), khả năng giữ nước và giữ màu khá Đất có phản ứngchua, mùn trung bình, đạm và ka li giàu, lân khá Là loại đất khá tốt, có thể trồng câycông nghiệp như cà phê, chè, mít, cây ăn quả và các loại rau màu khác Hiện nay hầuhết loại đất này đã được sử dụng

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: Diện tích 22.015 ha, chiếm36,33% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 40,07% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng.Phân bố ở tất cả các xã vùng đồi của huyện, nhiều nhất ở các xã Cao Sơn, Khai Sơn,Long Sơn, Phúc Sơn Đây là loại đất quan trọng, chứa đựng nhiều tiềm năng và thếmạnh của huyện Là loại đất có diện tích lớn nhất và tương đối tốt về lý tính cũng nhưhóa tính Đất có phản ứng chua (pH( kcl) 4 - 5), đạm tổng số trung bình (0,08% -0,1%), kali tổng số trung bình (0,1% - 0,15%), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trungbình, tầng đất trung bình hoặc dày (40 cm -120 cm) Tuy nhiên một số nơi lâu nay sửdụng không hợp lý nên đã thoái hóa nghiêm trọng, bị xói mòn tầng đất mỏng

2.1.2 Đặc điểm kinh tế -xã hội

2.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm 2009-2011

Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, trong quá trình sửdụng chúng ta cần phải biết bảo vệ và tái tạo chúng, không nên thuần túy là chỉ khai thác.Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

Bảng 2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm 2009-2011

Chỉ tiêu 2009 2010 2011 So sánh

2010/2009 2011/2010

Tổng diện tích tự nhiên 60328,50 100,00 60328,50 100,00 60328,50 100,00 - - - I.Đất nông nghiệp 13743,06 22,78 14127,59 23,42 14457,24 23,96 384,53 2,8 329,65 2,331.Đất trồng cây hằng năm 8483,29 14,06 8519,46 14,12 8628,74 14,3 36,17 0,43 109,28 1,282.Đất trồng cây lâu năm 3159,77 5,24 3308,13 5,48 3428,50 5,68 148,36 4,7 120,37 3,643.Đất vườn tạp 1812,67 3,00 2007,29 3,33 2106,52 3,49 194,62 10,74 99,23 4,94

(Số liệu phòng nông nghiệp huyện Anh Sơn)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

Nhìn vào bảng ta thấy rằng: Tổng diện tích của huyện là 60328,50 ha và ổn địnhqua 3 năm Trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,78% trong năm 2009 tổng đó năm

2010 tăng 2.8% so với năm 2009 nhưng sang năm 2011 tăng 2,33% so với năm 2010tương đương với tăng lên 329,65 ha

Trong cơ cấu đất nông nghiệp thì tất cả các loại đất đều có xu hướng tăng lên, tuynhiên chỉ tăng với số lượng nhỏ, đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm tăngvới tỉ lệ cao nhất Năm 2010 so với năm 2009 đất hằng năm tăng lên 0,43% tương ứngtawng 36,17 ha, đất lâu năm tăng 4,7% tương ứng tăng 148,36 ha Đây là xu hướngtốt đối với ngành nông nghiệp của huyện, đất nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ lệ nhỏtrong cơ cấu đất nông nghiệp và số lượng biến đổi không nhiều qua các năm Nguyênnhân cũng là vì Anh Sơn là một huyện miền núi mặt nước nuôi trồng thủy sản là rất ít,chỉ có một số đồng ruộng thường ngập nước trong mùa mưa nên người dân đắp bờ lêncao làm ao nuôi cá, tốn ít công lao động nhưng với hiệu quả kinh tế cao

Với đất lâm nghiệp, Anh Sơn có thế mạnh về rừng, diện ích lâm nghiệp khá lớn35689,39 ha (năm 2011) và tăng đều qua các năm, năm 2010 so với năm 2009 tăng lên1,05% tương ứng tăng là 368,31 ha và năm 2011 tăng lên 0,53% tương ứng tăng là187,24 ha so với năm 2010 Diện tích rừng tăng đồng đều nhờ công tác khai hoantrồng mới them rừng, trồng cây kinh tế cao và chăm sóc rừng được chú trọng nhằmthực hiện tốt chủ trương phủ xanh những vùng đất bạc màu, núi đá cồn cát không cókhả năng sản xuất nông nghiệp

2.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Tổng dân số toàn huyện năm 2011 là 101969 người với tổng số hộ là 27598 hộ

Để biết được tình hình dân số và lao động qua 3 năm ta đi vào phân tích bảng sau:

Nhìn vào số liệu ta thấy rằng:

Về số hộ: Tính đến 6 tháng đầu năm 2011 theo số liệu thống kê toàn huyện có

27898 hộ với 101969 khẩu tăng lên 527 hộ so với 2010, tương ứng tăng 0,52% Trong

đó có 18967 hộ sản xuất nông nghiệp, còn hộ phi nông nghiệp là 8931 tăng lên 2183

hộ, tương ứng với tăng 24,44% so với năm 2010 Trong năm 2010 thì tổng số hộ là

27730 với tổng nhân khẩu là 101442 khẩu tăng lên 77 hộ so với 2009, tương ứng tăng0.28%.trong đó có 20982 hộ nông nghiệp,còn hộ phi nông nghiệp là 6748 tăng lênTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

1082 hộ, tương ứng tăng 16,03% so với năm 2009 Điều này cho thấy rằng sự tăng lênnày phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế.

Bảng 3:Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm 2009-2011

-BQLĐNN/hộ 1,19 1,18 1,17 -0,01 -0,85 -0,01 -0,85

(Số liệu phòng nông nghiệp huyện Anh Sơn)

Về nhân khẩu: cùng với gia tăng về số hộ thì nhân khẩu cũng tăng lên Trongnăm 2011 so với năm 2010 ta thấy rằng nhân khẩu tăng lên 527 khẩu tương ứng với0,52% tương ứng mỗi hộ có 3,66 khẩu/hộ Trong năm 2010 so với năm 2009 thì tổngnhân khẩu là 101442 tăng lên 556 khẩu tương ứng với tăng 0,55% tương ứng mỗi hộ

là 3,66 khẩu/hộ

Về lao động: Lao đông của toàn huyện trong năm vừa rồi theo thống kê 6 thángđầu năm là 45607 lao động Trong năm 2011 so với năm 2010 ta thấy rằng lao độnggiảm 118 lao động, tương ứng với giảm 0,26% Trong đó lao động nông nghiệp là

32699, giảm 125 lao động tương ứng giảm 0,38%, còn lao động phi nông nghiệp là

12908 tăng lên 7 lao động tương ừng với 0,05% Trong năm 2010 so với năm 2009 tathấy lao động tăng 455 lao động tương ứng tăng 1% Trong đó lao đông nông nghiệp là

32824 lao động, tăng 49 lao động tương ứng với 0,15%, còn lao động phi nông nghiệptăng lên 406 lao động tương ứng với 3,15%

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Nhìn chung kết cấu lao dông nông nghiệp và phi nông nghiệp của huyện trong tổng

số lao động chưa phù hợp, lao động nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng quá cao, cần phải cócác biện pháp nhằm phân lại lao động, nâng cao chất lượng lao dộng,để một mặt tối đakhả năng của ngươi lao động, một mặt đáp ứng nền kinh tế thị trường hiện nay

2.1.2.3 Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

* Giao thông

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn huyện hiện có

- Quốc lộ 7A: Điểm đầu tại xã Lĩnh Sơn, điểm cuối tại xã Đỉnh Sơn Đây là mộttrong những tuyến đường có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của

cả tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Anh Sơn nói riêng Phần đường chạy trên địa bànhuyện có chiều dài là 46,00 km, toàn tuyến hiện có 7 cầu

- Đường Hồ Chí Minh: Dài 13,00 km, điểm đầu tại xã Lạng Sơn điểm cuối tại CaoSơn Tuyến đường này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộicủa huyện Anh Sơn với hai huyện giáp danh là huyện Tân Kỳ và huyện Thanh Chương.Phần đường chạy trên địa bàn huyện có chiều dài 13,00 km

- Đường 7B: Điểm đầu tại xã Tào Sơn, điểm cuối tại xã Hùng Sơn Tuyến đườngnày có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác các nguồn tài nguyên, thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội của các xã phía tả ngạn sông Lam Phần đường chạy trên địa bànhuyện dài 40,00 km, chiều rộng nền đường là 4,00 m, mặt đường cấp phối, toàn tuyếnhiện có 11 cầu

- Huyện lộ Trại Lạt - Cây Chanh: Chạy qua các xã Thọ Sơn, Thành Sơn và ĐỉnhSơn nối liền huyện Tân Kỳ với huyện Con Cuông Phần đường chạy trên địa bàn huyệndài 12,00 km, bề rộng trung bình nền đường 4,00 m, mặt đường đã được trải nhựa dài 9,00

km, còn lại là đường cấp phối

- Tổng chiều dài các tuyến đường giao thông liên huyện có 67,00 km, trong đó có49,00 km đường cấp phối, 18,00 km đường đất

- Các tuyến đường giao thông nội huyện có 138,80 km, trong đó có 56,80 kmđường láng nhựa, 49,00 km đường cấp phối và 18,00 km đường đất

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

- Các tuyến đường giao thông liên xã trong toàn huyện có 114,00 km, trong đó có25,50 km đường láng nhựa, 4,60 km đường bê tông, 51,90 km đường cấp phối và32,00 km đường đất.

- Các tuyến đường giao thông nội xã trong toàn huyện có 406,00 km, trong đó có57,70 km đường láng nhựa, 112,30 km đường bê tông, 60,00 km đường cấp phối và183,00 km đường đất

- Tổng chiều dài các tuyến đường giao thông thôn bản trong toàn huyện có 921,0

km, trong đó có 527,0 km có bề rộng nền đường > 3 m (ô tô đã đi được)

* Thủy lợi

Trong những năm qua các công trình thuỷ lợi đã được đầu tư phát triển nhằm khaithác nguồn nước chủ động cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt dân sinh Hiện tại trênđịa bàn huyện có 46 hồ đập chứa nước, trong đó có 6 hồ đập lớn tại các xã Tào Sơn,Phúc Sơn, Đức Sơn, Vĩnh Sơn, Long Sơn và Lạng Sơn với tổng diện tích tưới theothực tế 1.220 ha Tổng số trạm bơm trên địa bàn huyện có 18 trạm trong đó trạm bơmđiện là 12 trạm với tổng diện tích tưới theo thực tế 652 ha

Hệ thống kênh mương thuỷ lợi trên địa bàn huyện trong những năm gần đây đãđược đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng kiên cố, trong thời gian tới sẽ tiếp tục đầu

tư xây dựng kênh mương kiên cố ở tất cả các xã nhằm chủ động cho sản xuất nôngnghiệp và sinh hoạt dân sinh

2.1.2.4 Giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa

* Giáo dục - đào tạo

Công tác giáo dục đào tạo của huyện Anh Sơn trong những năm qua đã có nhữngchuyển biến đáng khích lệ, phát triển cả về số lượng và chất lượng Hệ thống trườnghọc tiếp tục được củng cố và mở rộng Hệ thống cơ sở vật chất của ngành Giáo dục -đào tạo đến năm 2006 có:

- Bậc học mẫu giáo - mầm non có 24 trường với tổng diện tích 6,07 ha đạt 0,54

m2/đầu người (định mức sử dụng đất theo đầu người cấp mẫu giáo mầm non là từ 0,50 0,92 m2/người), số lớp học là 157 lớp, số giáo viên và cán bộ công nhân viên chức là

-418 người, số cháu đến trường là 3.567 cháu, tỷ lệ huy động là 100%

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

- Bậc tiểu học có 27 trường với tổng diện tích 30,06 ha đạt 2,68 m2/đầu người(định mức sử dụng đất theo đầu người cấp tiểu học là từ 1,34 - 1,67 m2/người), số lớphọc có 392 lớp, có 784 giáo viên, cán bộ công nhân viên chức và 8.627 học sinh, tỷ lệhuy động là 98%, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 100% đảm bảo phổ cập giáo dục đúng độ tuổi đihọc ở 20/20 xã, thị trấn.

- Bậc trung học cơ sở có 22 trường với tổng diện tích 26,04 ha đạt 2,35 m2/đầungười (định mức sử dụng đất theo đầu người cấp trung học cơ sở là từ 1,33 - 1,60

m2/người), có 320 lớp học, với 712 giáo viên, cán bộ công nhân viên chức và có 11.586học sinh, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,5%

- Bậc trung học phổ thông có 3 trường với tổng diện tích 10,56 ha đạt 0,94 m2/đầungười (định mức sử dụng đất theo đầu người cấp trung học phổ thông là từ 1,14 - 1,27

m2/người), có 125 lớp học, với 242 giáo viên, cán bộ công nhân viên chức và 5.989 họcsinh, tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 96%

- Hệ bổ túc văn hóa có 2 trường với tổng diện tích 1,13 ha đạt 0,10 m2/đầu người

có 23 lớp học, với 28 giáo viên, cán bộ công nhân viên chức và 1.088 học sinh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

* Văn hoá

Cơ sở vật chất ngành văn hoá thông tin của huyện trong những năm gần đâykhông ngừng được cải thiện góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân vàphục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương Phong trào văn hoá văn nghệ ở cơ sởđược phát triển mạnh mẽ, đến nay toàn huyện hiện có 241 đội văn hoá quần chúng cơ

sở, 95 đội trường học cơ quan sinh hoạt nhân ngày lễ, ngày kỷ nịêm đều tổ chức giaolưu văn nghệ, nhiều hội thi, hội diễn được tổ chức

Trong năm đã tổ chức triển khai thực hiện các quy định xây dựng nếp sống vănhoá, văn minh, đổi mới công tác bình xét các danh hiệu văn hoá, bước đầu làm chuyểnbiến nhận thức, ý thức của người dân, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng các danhhiệu văn hoá trên địa bàn Năm 2006 qua kết quả bình xét có đến 19.100 hộ đạt danhhiệu gia đình văn hoá, chiếm 74,52% tổng số hộ; có 175 thôn, xóm đạt xóm văn hoá, 75

cơ quan, đơn vị, trường học đạt danh hiệu đơn vị văn hoá

2.1.2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè trên địa bàn huyện Anh Sơn

* Thuận lợi

- Chè công nghiệp là cây mũi nhọn để khai thác tiềm năng kinh tế vùng đồi củahuyện Anh Sơn Quy hoạch sản xuất nguyên liệu gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩmtheo hướng sản xuất hàng hóa tập trung đã làm thay đổi nhận thức cho cán bộ và nhândân huyện nhà

- Quy mô sản xuất chè hộ gia đình ở địa bàn các xã ( Ngoài XN chè quản lý)tăng nhanh Năm 2000 số hộ trồng chè ở các xã chỉ 170 hộ; Năm 2004 lên 1066 hộ,đến nay đã có gần 1450 hộ trồng chè thuộc 11 xã Diện tích chè của các xã 1037,43 hachiếm 52,%; Các XN và TĐ Nghệ An 957 ha chiếm 48 %

- Mở thêm vùng chè mới phía tả ngạn sông Lam ( Hùng Sơn, Đức Sơn, bản CẩmHòa xã Cẩm Sơn), kết hợp XD nhà máy Chế biến tại xã Hùng Sơn, đã làm thay đổi bộmặt nông thôn nông nghiệp cho nhân dân quanh vùng kể từ khi chuyển đổi trồng chè

- Giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động và làm giàu cho nhiều hộ nôngdân Góp phần thực hiện thành công Nghị quyết TW về công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

- Giá trị thu nhập về chè trên đất đồi đã được khẳng định, Nhiều đồi chè năngsuất 20 – 25 tấn/ha/năm cho tổng thu nhập 40 -50 triệu đồng/ha/năm Mặc dù hiện naynăng suất bình quân trên toàn bộ diện tích đang ở mức 8 -10 tấn/ha/năm, giá trị thunhập khoảng 20 triệu đồng/ha/năm, Nhưng chè vẫn là cây cho thu nhập cao và ổn địnhnhất trên đất đồi Nông dân trồng chè đều có đời sống ổn định.

- Chất lượng vườn chè: Khoảng 80% diện tích chè hiện còn được trồng từ năm

1998 đến năm 2008; 20% DT hiện còn trồng tước năm 1997 trở về trước Như vậy tuổichè đang ở độ sung sức, cho năng suất, sản lượng cao Giống chè phần lớn LDP 2 làgiống được ngành chè lựa chọn, phù hợp trên vùng đất của huyện Anh Sơn

- Mối quan hệ giữa nhà nước, nhà khoa học, doang nghiệp và người trồng chè đãđược xác định rõ

- XD được hàng chục Km đường giao thông vùng chè Lợi dụng điều kiện về địahình, nông dân đã xây dựng được hàng trăm hồ đập nhỏ trong vùng chè, vừa cải tạomôi trường, giữ ẩm cho chè, vừa kết hợp chăn nuôi cá tăng thu nhập

* Những khó khăn vướng mắc

- Về quy hoạch: Từ khi được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch vùng nguyên liệuchè huyện Anh Sơn tại Quyết định số 2752/QĐ.UBND ngày 25/7/2003 đến nay chưalập được bản đồ chi tiết theo lô, thửa của từng đơn vị để quản lý, chỉ đạo trồng mớihàng năm Một số địa phương như Lạng Sơn, Đức Sơn trong vùng quy hoạch, hàngnăm đều được giao chỉ tiêu nhưng không năm nào hoàn thành kế hoạch

- Số liệu diện tích chè có nhiều biến động nhưng không tổng hợp được chính xác,

vì vậy việc lập kế hoạch đầu tư, chăm sóc, trồng mới hàng năm chưa sát thực tế và cótính khoa học

- Đầu tư kinh phí trồng mới hàng năm chưa đảm bảo định mức quy trình kỹ thuậtnên chât lượng kỹ thuật phần lớn không đạt yêu cầu: Khai hoang làm đất chậm, không

đủ phân hữu xơ, trồng chậm, không bối tủ sau trồng

- Sự phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và nông dân trong việc đầu tư mởrộng diện tích chè chưa được duy trì thường xuyên Đặc biệt là trên địa bàn các xãngoại vùng XN Đối với những địa bàn này thì việc chỉ đạo trồng chè lâu nay đang lànhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước từ huyện đến cơ sở và người dân trồng chè.Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

Các xí nghiệp chủ đầu tư thực sự chưa vào cuộc, còn xem việc trồng chè là của huyện

và các địa phương nên không bỏ vốn đầu tư cho vay Cơ chế chính sách hỗ trợ chongười trồng chè không có trong khi đó huyện và Tỉnh đều có cơ chế Trong quá trìnhchỉ đạo trồng mới, các XN chè không phân công cán bộ kỹ thuật phối hợp với huyệnxuống cơ sở hướng dẫn cho nông dân

- Năng suất bình quân còn thấp nên sản lượng hàng năm chưa đáp ứng công suấtcác nhà máy trên địa bàn

- Giá thu mua nguyên liệu chè trong thời gian gần đây không tăng hoặc tăngkhông đáng kể trong khi đó giá vật tư phân bón, nhân công lao động đều tăng cao;Trước đây giá 1 kg búp chè tươi tương đương 1-1,5 kg thóc, nhưng theo giá thị trườnghiện nay thì 1 kg chè búp tươi chỉ đạt 0,5 kg thóc Chính lý do này mà có lúc, có nơinông dân đã không mặn mà với cây chè

- Vẫn còn tình trạng tranh chấp nguyên liệu gây tâm lý hoang mang cho nông dân

- Cơ chế chính sách đầu tư hỗ trợ trồng mới chè của tỉnh và huyện còn thấp, chưađáp ứng nhu cầu đầu tư trồng mới, Trong khi Công ty chè và các XN chè trên địa bànchưa có cơ chế gì để hỗ trợ thêm (Chính sách của tỉnh hiện nay 5,2 /ha, đạt 10% nhucầu/ha) Chưa có chính sách vay vốn ưu đãi để đầu tư trồng chè

2.2 Cơ cấu các hộ điều tra

Theo phân loại hộ của huyện, tôi chọn ra 60 hộ điều tra, đề tài chọn 3 xã có diệntích chè chiếm ưu thế của huyện Anh Sơn, đó là 3 xã Hùng Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn

Số lượng hộ chọn điều tra từ các xã đại diện được thực hiện theo phương phápchọn ngẫu nhiên trên cơ sở qui mô diện tích trồng chè của các xã

Bảng 4: Cơ cấu các hộ điều tra

Xã Diện tích trồng chè (ha) Số hộ điều tra % trong tổng

(Số liệu phòng nông nghiệp huyện Anh Sơn)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

2.3 Thực trạng sản xuất chè của các nông hộ điều tra

2.3.1 Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động của các nông hộ điều tra

Nhân khẩu và lao động là yếu tố quan trọng liên quan đến nguồn lực cho quátrình sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình Tình hình sử dụng lao động phụ thuộcvào các loại hình sản xuất, trình độ tư liệu sản xuất và qui mô sản xuất Lao động nôngnghiệp phụ thuộc rất lớn vào tính thời vụ của cây trồng nên sử dụng lao động mangtính thời vụ cao, sử dụng lao động hợp lý có khoa học là vấn đề rất cần thiết để tiếtkiệm được chi phí vừa mang lại lợi ích, lợi nhuận cao

Bảng 5: Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động của các nông hộ điều tra

(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)

Qua bảng điều tra ta thấy rằng bình quân một hộ có 4,3 khẩu nhưng giữa 3 xãtrên có số khẩu khác nhau, số khẩu của xã Long Sơn cao hơn xã Hùng Sơn và PhúcSơn với số khẩu là 4,7 khẩu/hộ

Nhân khẩu và lao động là yếu tố quan trọng liên quan đến nguồn lực cho quátrình sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình Tình hình sử dụng lao động phụ thuộcvào các loại hình sản xuất, trình độ tư liệu sản xuất và qui mô sản xuất Lao động nôngnghiệp phụ thuộc rất lớn vào tính thời vụ của cây trồng nên sử dụng lao động mangtính thời vụ cao, sử dụng lao động hợp lý có khoa học là vấn đề rất cần thiết để tiếtkiệm được chi phí vừa mang lại lợi ích, lợi nhuận cao

Qua bảng điều tra ta thấy rằng bình quân một hộ có 4,3 khẩu nhưng giữa 3 xãtrên có số khẩu khác nhau, số khẩu của xã Long Sơn cao hơn xã Hùng Sơn và PhúcSơn với số khẩu là 4,7 khẩu/hộ

Lao động: Lao động trong các nhóm hộ khá cao, trung bình mỗi hộ có 2,16người/hộ trong đó lao động chuyên nông nghiệp là 1,63 người/hộ Còn lại là lao độngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

không chuyên trong nông nghiệp Qua điều tra cho thấy lượng lao động này chủ yếu làhọc sinh và một số lao động đi làm ăn xa không tham gia lao động nông nghiệp tronggia đình được, có một số ít lao động buôn bán, và một số người làm nghề phi nôngnghiệp khác Xã Hùng Sơn có tỷ lệ lao động trên khẩu là 0,52 lao động/khẩu , xã PhúcSơn là 0,48 lao động/khẩu và xã Long Sơn là 0,49 lao động/khẩu.

2.3.2 Tình hình sử dụng đất đai của nông hộ điều tra

Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được.Trong trồng trọt đất đai vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động, như vậy đấtđai có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, giá trịsản xuất được tạo ra ngày một lớn nếu chúng ta biết sử dụng hợp lí nguồn đất đai

Qua số liệu điều tra cho thấy tổng diện tích của các hộ qua 3 xã có sự chênh lệchnhưng không đáng kể, ta thấy rằng diện tích tự nhiên của các nông hộ ở xã Hùng Sơn

là nhiều nhất, bình quân mỗi hộ là 1,03 ha, tiếp đến là Long Sơn với diện tích tự nhiên

là 1 ha bình quân mỗi hộ, bình quân 3 xã là 1 ha

Bảng 6: Tình hình sử dụng đất đai của nông hộ điều tra

(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)

Còn đối với diện tích chè bình quân mỗi hộ là 0,66 ha, trong đó ta thấy rằng xãHùng Sơn là xã có diện tích chè nhiều nhất, bình quân mỗi hộ là 0,68 ha chiếm 66 %diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất màu chiếm 31% với 0,32 ha Qua điều tracho thấy các hộ trồng chè hầu như là không trồng hoặc trồng ít các cây công nghiệpngắn ngày như ngô, lạc,… vì trồng chè phải tốn rất nhiều công lao động mà lao độngnông nghiệp bình quân mỗi hộ vẫn còn thiếu Đây cũng là xã sản xuất nông nghiệpphát triển nhất trên địa bàn huyện, và cũng là xã có nguồn đất tốt thuận lợi cho phátTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày Là xã mà cây chè có mặt sớm nhất vàngười dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất Còn ở xã Phúc Sơn và Long Sơn chỉtrồng rải rác và chưa nhiều Để tạo điều kiện cho các nông hộ nhận thức được cây chè

là cây phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế ở địa bàn phía Tây Nam nghệ An thìtỉnh đã và đang có chính sách kế hoạch và phương hướng sắp tới cho việc đầu tư pháttriển cây chè công nghiệp tại địa bàn này

2.3.3 Tình hình trang bị kỹ thuật và vốn của nông hộ điều tra

Trong sản xuất nông nghiệp ngoài yếu tố lao động, đất đai thì năng lực sản xuấtcủa hộ còn được thể hiện thông qua TLSX và vốn

Đầu tư trang bị TLSX là một trong những yếu tố có tính chất quyết định đến vấn đềnâng cao NSLĐ, tạo ra một lượng hàng hóa lớn hơn, giải phóng được lao động chân tay

Bảng 7: Tình hình trang bị kỹ thuật và vốn của nông hộ điều tra

Tính bình quân/hộ

Chỉ tiêu ĐVT Hùng sơn Phúc sơn Long sơn BQC

6.Vốn vay dùng cho chè 1000đ 5070 4909,62 4883,82 4982,5

I.Tổng giá trị tài sản 1000đ 52748,33 54601,92 49648,53 52271,67

(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)

Trình độ trang bị kĩ thuật là thước đo trình độ của phương thức sản xuât, trang bịđầy đủ hiện đại phù hợp sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, giảm được chiphí, đặc biệt là đối với sản xuất chè cần rất nhiều lao động, tư liệu này phụ thuộc vàođiều kiện hộ gia đình đầu tư vào trang bị kỹ thuật để phục vụ nhu cầu sản xuất

Qua điều tra cho thấy các nông hộ sản xuất nông nghiệp cho thấy các tư liệu trâu

bò cày kéo, bình phun thuốc và xe vận chuyển là những TLSX cần thiết cho quá trìnhTrường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Các trang web:- http://www.nongthon.net - http://www.baonghean.net - http://www.khuyennongvn - http://www.gso.gov.vn - http://google.com.vn Link
1. T.S. Nguyễn Hữu Khải, Cây chè Việt Nam, năng lực cạnh tranh và xuất khẩu, 2005 Khác
2. T.S. Phùng Thị Hồng Hà, Bài giảng quản trị kinh doanh nông nghiệp, Đại học Huế, 2004 Khác
3. Vũ Đình Thắng, Giáo trình Marketing nông nghiệp, NXB thống kê Hà Nội, 2001 Khác
4. T.S. Nguyễn Văn Toàn, Lập và quản lý dự án đầu tư, Đại học Huế, 2004 Khác
5. Báo cáo điều chỉnh qui hoạch sử dụng đất của huyện Anh Sơn đến năm 2010 và đinh hướng đến năm 2015 Khác
6. Đề án điều chỉnh, bổ sung phát triển chè công nghiệp của huyện Anh Sơn giai đoạn 2011-2015 Khác
7. Bảng kế hoạch định mức đầu tư phân bón thâm canh chè năm 2012 của xí nghiệp chè Anh Sơn Khác
8. Báo cáo tình hình kế hoạch PT KT XH QP-AN 2011 và kế hoạch năm 2012 huyện Anh Sơn Khác
9. Khóa luận tốt nghiệp 38 “ Giải pháp phát triển nâng cao hiệu quả sản xuất cam của huyện Nam Đông. Trường ĐHKT –Huế Khác
10. Trần Minh Trí, Báo cáo nghiên cứu trường hợp nông hộ vùng gò đồi ở Nghệ An, ĐHKT Huế, 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN