Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Quan điểm về hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả
Hiệu quả được định nghĩa là kết quả mong muốn mà con người hướng tới Trong sản xuất, hiệu quả thể hiện qua hiệu suất và năng suất Trong lĩnh vực kinh doanh, hiệu quả liên quan đến lãi suất và lợi nhuận Đối với lao động, hiệu quả lao động được đánh giá qua năng suất, cụ thể là thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
1.1.1.2 Khái niệm về hiệu quả sản xuất
Hiệu quả sản xuất là một khái niệm kinh tế quan trọng, liên quan đến việc sản xuất hàng hóa và phản ánh khả năng sử dụng tối ưu các nguồn lực của nhà sản xuất Mục tiêu chính là đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất, đồng thời đảm bảo rằng hiệu quả sản xuất phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của chủ thể sản xuất.
Trong bất kỳ quá trình sản xuất nào khi tính đến hiệu quả sản xuất thì người sản xuất đề cập đến 4 nội dung:
(1) Hiệu quả kinh tế (2) Hiệu quả kỹ thuật
(3) Hiệu quả phân phối (4) Hiệu quả theo quy mô sản xuất
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế đƣợc dùng nhƣ một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào
Tiêu chí hiệu quả kinh tế chính là giá trị; khi có sự thay đổi làm gia tăng giá trị, điều đó chứng tỏ sự thay đổi đó là hiệu quả, và ngược lại.
Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp phụ thuộc vào các đặc điểm riêng của sản xuất nông nghiệp, trong đó ruộng đất là tư liệu sản xuất thiết yếu, vừa là sản phẩm tự nhiên vừa là sản phẩm lao động Đối tượng sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống, chúng phát triển và diệt vong theo các quy luật sinh học nhất định, chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện ngoại cảnh như đất đai và thời tiết Con người chỉ có thể tạo ra điều kiện thuận lợi để các cơ thể sống phát triển tốt hơn, mà không thể thay đổi các quy luật sinh học theo ý muốn.
Hiệu quả kỹ thuật yêu cầu nhà sản xuất tạo ra một lượng sản phẩm nhất định bằng cách sử dụng tối thiểu các nguồn lực đầu vào.
Hiệu quả phân phối thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, yêu cầu nhà sản xuất cung cấp sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Điều này có nghĩa là các nguồn lực cần được phân phối một cách tối ưu để mang lại lợi ích cao nhất cho người sử dụng.
Hiệu quả theo quy mô sản xuất là sự gia tăng số lượng sản phẩm, dẫn đến giảm chi phí bình quân cho mỗi sản phẩm được sản xuất.
1.1.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế chung
1 1.2.1 Các chỉ tiêu đo lường kết quả và chi phí
Tổng giá trị sản xuất thu được (G) là tổng thu nhập hỗn hợp của một loại mô hình hoặc một đơn vị diện tích Công thức tính tổng giá trị sản xuất là: \$G = \Sigma Q_i \cdot P_i\$, trong đó \$Q_i\$ là sản lượng và \$P_i\$ là giá bán của sản phẩm.
Qi là khối lƣợng sản phẩm thứ i, Pi là giá sản phẩm thứ i
Chi phí là sự hao phí được thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh, nhằm mục đích thu về sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh hoặc kết quả kinh doanh cụ thể Chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất của hộ gia đình hướng đến mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận.
Chi phí trồng chè bao gồm các khoản như chi phí giống, phân bón, thuốc trừ sâu, lao động gia đình quy ra tiền, khấu hao và các chi phí khác.
Tổng chi phí (TC)= Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khấu hao + Chi phí khác
Trong đó: Chi phí lao động bao gồm các khâu: Trồng, chăm sóc và thu hoạch
Chi phí lao động = Chi phí lao động gia đình + Chi phí lao động thuê
Chi phí lao động thuê = số ngày công x số tiền công trả /ngày
Tính chi phí lao động gia đình tương tự như chi phí lao động thuê, với giá trị của lao động gia đình được xác định bằng giá tiền của lao động thuê.
- Tổng Doanh thu (TR): Là toàn bộ số tiền sẽ thu đƣợc do tiêu thụ sản phẩm
Tổng Doanh thu = Giá bán * Tổng sản lượng
- Lợi nhuận: Là giá trị chênh lệch giữa doanh thu và tổng chi phí sản xuất, đƣợc tính bằng tiền
Công thức tính: π = TR - TC
- Doanh thu (TR): Là tổng giá trị sản phẩm thu đƣợc trong một vụ sản xuất
Tổng chi phí (TC) là tổng hợp tất cả các chi phí sản xuất, bao gồm cả chi phí lao động và chi phí vật chất của gia đình, được tính theo giá cả thị trường.
- Thu nhập hỗn hợp hỗn hợp của hộ gia đình: Là tổng giá trị thu đƣợc sau một quá trình sản xuất và đƣợc tính bằng tiền
Thu nhập hỗn hợp hỗn hợp = Lợi nhuận + Chi phí công lao động nhà
Chi phí công lao động nhà là giá trị tương ứng với công sức lao động mà gia đình tự bỏ ra trong quá trình sản xuất, được quy đổi thành tiền và so sánh với chi phí lao động thuê.
1.1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế
+ Doanh thu/Chi phí: Cho biết một đồng chi phí mà người trồng chè bỏ ra đầu tƣ sẽ thu lại đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu
+ Lợi nhuận/Doanh thu: Cho biết trong một đồng doanh thu mà hộ gia đình có đƣợc thì sẽ có bao nhiêu đồng lợi nhuận trong đó
+ Lợi nhuận/Chi phí: Cho biết một đồng chi phí mà hộ gia đình bỏ ra sẽ thu lại đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.1.3 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất
Xác định hiệu quả sản xuất liên quan đến việc đánh giá lượng đầu ra và lợi nhuận từ các yếu tố đầu vào Do đó, nghiên cứu hiệu quả thường bắt đầu bằng việc phân tích hàm sản xuất.
Hàm sản xuất của một sản phẩm thể hiện mối quan hệ toán học giữa đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất Do đó, hàm sản xuất thường được biểu diễn theo cách cụ thể.
Cở sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ chè trên thế giới
Trong những năm gần đây, thị trường tiêu thụ chè toàn cầu ghi nhận sự tăng trưởng ổn định với lượng nhập khẩu chè đen ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, tăng trung bình 0,6% mỗi năm Các quốc gia nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ và Nhật Bản chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới Đặc biệt, thị trường tiêu thụ lớn nhất cho chè xanh và chè đen bao gồm Nga với hơn 174.000 tấn, Pakistan 126.170 tấn, Hy Lạp 81.700 tấn, Iran 62.000 tấn và Morocco 58.000 tấn.
Các chi nhánh bán lẻ của công ty hiện diện tại thị trường Mỹ và Canada, với tổng lượng chè nhập khẩu đạt 144.000 tấn Tại Vương quốc Anh, con số này là 126.000 tấn, trong khi Liên minh Châu Âu (EU) nhập khẩu tổng cộng 128.000 tấn chè.
Trung Quốc là quốc gia có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới, với tổng diện tích lên tới 1.106.933 ha và sản lượng đạt 683.324 tấn vào năm 2000 Tuy nhiên, trong những năm 90, nước này đã gặp phải vấn đề nghiêm trọng về an toàn thực phẩm do sử dụng quá liều thuốc trừ sâu và phân hóa học Gần đây, Trung Quốc đã chuyển hướng sang sản xuất chè an toàn và hữu cơ, với diện tích trồng chè hữu cơ đạt 6.700 ha và sản lượng khoảng 4.000 tấn Xuất khẩu chè hữu cơ sang Nhật Bản, Mỹ và châu Âu chiếm từ 3.000 - 3.500 tấn, trong khi tiêu thụ nội địa khoảng 500 tấn Để khuyến khích sản xuất và xuất khẩu chè hữu cơ, Trung Quốc đã ban hành các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và chính sách hỗ trợ như cho vay vốn và giảm thuế Hướng ưu tiên hiện tại và tương lai là đảm bảo an toàn thực phẩm, với Viện nghiên cứu Chè Hàng Châu xây dựng vùng sản xuất chè an toàn và bền vững thông qua quy trình kỹ thuật quản lý và tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ.
Sản xuất chè ở Nhật Bản chủ yếu do các hộ nông dân và công ty tư nhân thực hiện, với mỗi hộ thường có diện tích khoảng 2 - 3 ha Ngoài ra, còn có các hợp tác xã sản xuất chè, bao gồm khoảng 40 hộ, với quy mô từ 80 – 120 ha và có nhà máy chế biến Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi, sản xuất chè bán thành phẩm để tiêu thụ trên thị trường.
Sản phẩm chè an toàn của Nhật Bản chủ yếu được tiêu thụ trong nước, với các nhà sản xuất bán qua Hiệp hội nông nghiệp chè thông qua hình thức đấu giá Tại các chợ, kho lạnh bảo quản chè cung cấp dịch vụ cho người mua và bán, giúp các công ty kinh doanh chè khi cần bảo quản lạnh Hệ thống tự động hóa trong bảo quản chè cho phép một người quản lý điều hành qua mạng máy tính, giúp việc lấy hàng trở nên dễ dàng và nhanh chóng Hiệp hội nông nghiệp chè kết hợp với các Viện nghiên cứu chè cung cấp dịch vụ kỹ thuật sản xuất chè, bao gồm việc lắp đặt thiết bị quan sát đồng ruộng để thu thập thông số kỹ thuật như nhiệt độ, độ ẩm và hàm lượng NPK, từ đó đưa ra khuyến cáo về phân bón và tưới tiêu cho người sản xuất.
Trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, các khuyến cáo về quy trình phòng chống sâu bệnh hại chè được cung cấp cho người sản xuất thông qua lịch phòng chống và hướng dẫn cụ thể về các chỉ tiêu chất lượng chè bán thành phẩm như tanin, chất hòa tan, cafein và acid amin Những quy trình này dựa trên số liệu quan sát, điều tra và dự báo Hiệp hội nông nghiệp chè cũng thực hiện phân tích chất lượng chè khi cần thiết và đáp ứng yêu cầu của nông dân Phí dịch vụ của Hiệp hội nông nghiệp khoảng 2% giá trị sản phẩm được cung cấp dịch vụ.
Người tiêu dùng Nhật Bản rất chú trọng đến dư lượng thuốc hóa học trong sản phẩm chè Tuy nhiên, chè an toàn sản xuất tại Nhật Bản không chứa dư lượng thuốc trừ sâu, nhờ vào quy trình canh tác và điều kiện sinh trưởng đặc biệt Mỗi năm, chè chỉ được hái 3 - 4 lứa, với khoảng cách giữa các lứa hái từ 1 đến 2 tháng, giúp thuốc trừ sâu phân giải hoàn toàn trước khi thu hoạch.
Sản lượng chè của Nhật Bản hiện tại chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước, vì vậy người trồng chè tại Nhật Bản không phải lo lắng về thị trường tiêu thụ sản phẩm chè.
1.2.2 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ chè trong nước
Việt Nam hiện có diện tích trồng chè từ 126.000 đến 133.000 ha, thu hút khoảng 2 triệu lao động Năm 2011, diện tích trồng chè đạt 133.000 ha, sản lượng thô đạt 888.600 tấn, sản lượng chế biến đạt 165.000 tấn, và xuất khẩu đạt 132.600 tấn.
Cả nước hiện có khoảng 300 cơ sở chế biến chè với tổng công suất đạt 900 nghìn tấn búp tươi mỗi năm Trong số đó, có khoảng 31 nhà máy lớn với công suất 30 tấn búp tươi mỗi ngày, chiếm 47% tổng công suất chế biến Bên cạnh đó, 103 nhà máy vừa có công suất từ 10 đến 28 tấn búp tươi mỗi ngày, chiếm 43% Các cơ sở chế biến nhỏ, với công suất từ 3 đến 6 tấn búp tươi mỗi ngày, cùng với các hộ chế biến nhỏ lẻ, chiếm khoảng 10% tổng công suất chế biến.
Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu và sản xuất chè, với kế hoạch sản xuất 1,2 triệu tấn chè thô và xuất khẩu 200.000 tấn chè chế biến vào năm 2015 Chè Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, cũng như các nước Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Iran, Iraq, Kuwait và Ả Rập Thống Nhất, trong đó chè xanh và chè đen là hai loại chính được nhập khẩu.
Pakistan là thị trường lớn nhất của Việt Nam trong xuất khẩu chè, với 24.045 tấn và trị giá 45.304.840 USD, tăng 38% về lượng và 39% về trị giá so với năm 2012, chiếm 20,1% tổng trị giá xuất khẩu chè Đài Loan đứng thứ hai với 22.453 tấn và trị giá 29.589.578 USD, tăng 10,4% về lượng và 13% về trị giá Nga, Trung Quốc, Inđônêxia và Mỹ cũng là những thị trường quan trọng tiếp theo.
Tổng quan công trình nghiên cứu có liên quan
Nguyễn Khánh Doanh (2012) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Mô hình nghiên cứu chỉ ra bốn yếu tố chính tác động đến thu nhập hỗn hợp của các hộ nông dân, bao gồm trình độ học vấn, chi phí trồng trọt, chi phí chăn nuôi và số lao động.
Phạm Đình Hải (2014) đã nghiên cứu về việc hoàn thiện tổ chức và chính sách nhằm thúc đẩy thực hành nông nghiệp tốt (VIETGAP) trong sản xuất chè búp tươi tại TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyễn Thị Hoa (2008) đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân tại huyện Văn Chấn – Yên Bái và chỉ ra năm yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả này, bao gồm chi phí phân lân, chi phí phân chuồng, chi phí thuốc trừ sâu, khấu hao và chi phí công chăm sóc.
Nguyễn Thị Phương Thảo (2011) đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất chè tại huyện Đông Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong bối cảnh hội nhập kinh tế Kết quả mô hình cho thấy mười yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất chè, bao gồm: vốn tự có, lao động, diện tích, trình độ văn hóa, công nghệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, loại hình hộ điều tra, tuổi, giới tính và vốn vay.
Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả trồng chè cho huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
Đẩy mạnh nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại thông qua hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, cũng như tổ chức Festival chè để quảng bá sản phẩm chè trên thị trường nội địa và quốc tế Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển vùng nguyên liệu và chế biến chè, đồng thời tăng cường liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và đối tác nước ngoài nhằm nâng cao tiềm lực xuất khẩu.
Định hướng sản phẩm chè nhằm xác định vùng nguyên liệu cho chế biến, với tỷ lệ 80% sản phẩm chè xanh, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm theo hướng an toàn và chất lượng cao Quy hoạch sản xuất chè an toàn bao gồm việc xác định các điều kiện cần thiết cho sản xuất chè an toàn tại các vùng trồng, như đất, nước và người lao động, cũng như xây dựng bản đồ mức độ an toàn trong sản xuất chè.
Cần thực hiện các biện pháp khuyến nông để khuyến khích người dân tham gia vào công tác này, đồng thời thúc đẩy việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Ứng dụng khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nguyên liệu, bao gồm giống, canh tác và bảo vệ thực vật, là rất quan trọng Việc áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) trong sản xuất chè giúp nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời, đổi mới thiết bị và công nghệ chế biến theo hướng sử dụng công nghệ cao sẽ cải thiện hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Các đơn vị và ngành huyện cần xem xét các phương thức cho vay cụ thể với thủ tục đơn giản, lãi suất thấp và hình thức cho vay phù hợp để thu hút vốn đầu tư.
Đặc điểm cơ bản của huyện Bảo Lâm
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, khí hậu
Huyện Bảo Lâm, nằm ở phía Tây-Nam tỉnh Lâm Đồng, giáp huyện Di Linh ở phía Đông, huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên ở phía Tây, huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận ở phía Nam, và huyện Đắk GLong cùng Đắk RLấp tỉnh Đắc Nông ở phía Bắc Trung tâm huyện là thị trấn Lộc Thắng, cách quốc lộ 20 khoảng 14 km và cách trung tâm thành phố Bảo Lộc 16 km Địa bàn huyện nằm trên cao nguyên B’Lao-Di Linh, ở cuối dãy Trường Sơn, với độ cao hơn 800 m so với mực nước biển Bảo Lâm có địa hình phong phú và đa dạng, với nhiều ngọn núi nối nhau chập chùng, đồi lượn sóng hình bát úp, cùng các thung lũng, sông, suối và độ dốc cao, hướng thấp dần từ Đông sang Tây.
Huyện Bảo Lâm sở hữu tiềm năng thuỷ điện phong phú nhờ vị trí nằm trong lưu vực của hai sông Đồng Nai và La Ngà Đây cũng là khu vực có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú nhất tỉnh, chiếm 10% tổng giá trị tài nguyên khoáng sản của Đông Nam Bộ, với bauxite là nguồn tài nguyên chủ yếu Theo báo cáo của Chính Phủ, trữ lượng quặng bauxite tại Bảo Lâm đạt 975 triệu tấn, tương đương 18% tổng trữ lượng bauxite khu vực Tây Nguyên Hiện tại, Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam đã đầu tư xây dựng nhà máy Alumin với công suất 630 ngàn tấn/năm, chính thức đi vào hoạt động từ cuối năm 2012.
Huyện Bảo Lâm bao gồm 14 đơn vị hành chính, trong đó có thị trấn Lộc Thắng và 13 xã: Lộc Quảng, Lộc Tân, Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm, Lộc Phú, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam, Tân Lạc và BLá Các xã này chủ yếu nằm ở vùng sâu, vùng xa của huyện Bảo Lộc cũ Việc thành lập huyện Bảo Lâm đã tạo ra cơ cấu tổ chức hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực này, đồng thời hỗ trợ các địa phương khác trong tỉnh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.1.1.2 Địa hình, khí hậu và thủy văn
Huyện Bảo Lâm có ba địa hình chính: Núi cao, đồi thấp và thung lũng ven sông
Dạng địa hình núi cao có độ dốc lớn (trên 20°) và chủ yếu hình thành từ các loại đá xâm nhập như granite, dacite, cùng với các trầm tích như phiến sa, phiến sét, với diện tích khoảng 59.780 ha, chiếm 40,9% tổng diện tích Khu vực này chủ yếu phân bố ở gần Bình Thuận và một số khu vực như Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm, Lộc Phú Đất ở dạng địa hình này thường là đất đỏ vàng, với tầng đất mỏng, thích hợp cho việc trồng rừng Một số diện tích còn lại là rừng đầu nguồn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước của hệ thống sông Đồng Nai, do đó cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Địa hình đồi núi thấp đến trung bình có độ dốc dưới 200 độ và độ cao trung bình khoảng 800 m, chủ yếu có nguồn gốc từ phun trào bazan, chiếm 53,4% tổng diện tích huyện với khoảng 78.110 ha, tập trung ở khu vực phía Nam và Đông Nam Khả năng sử dụng đất phụ thuộc vào độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu và điều kiện tưới tiêu, cho phép trồng cây lâu năm như chè, cà phê, tiêu và một số loại cây ăn quả Ở những khu vực ít dốc, có thể trồng hoa màu và cây công nghiệp hàng năm Cần chú trọng các biện pháp chống xói mòn để bảo vệ tầng canh tác của đất.
Dạng địa hình thung lũng có diện tích 6.800 ha, chiếm 4,7% tổng diện tích toàn huyện, phân bố ven các sông, suối lớn Độ cao phổ biến so với mực nước biển từ 700 m trở xuống và độ dốc từ 0 – 30 độ Đất ở đây chủ yếu là phù sa và dốc tụ, với nguồn nước mặt dồi dào, rất thích hợp cho việc phát triển chè nước, dâu và các loại rau màu ngắn ngày Tuy nhiên, một số khu vực thường bị ngập úng trong mùa mưa lớn, do đó cần chú trọng các biện pháp tiêu úng và cung cấp nước tưới vào mùa khô.
Khí hậu Bảo Lâm thuộc loại nhiệt đới và á nhiệt đới, với hai mùa rõ rệt trong năm Mùa mưa diễn ra từ tháng 4 đến tháng 11, trong khi mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình thấp và ôn hòa, với biên độ dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn (10,3 °C), tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây á nhiệt đới và nhiệt đới như chè, cà phê, dâu, bơ và các loại rau khác.
Bảo Lâm có lợi thế trong việc trồng cây lâu năm nhờ lượng mưa lớn, mùa mưa kéo dài và nhiệt độ thấp, dẫn đến cường độ bốc hơi trong mùa khô không cao Điều này cho phép khu vực này canh tác trên đất có tầng canh tác mỏng hơn so với các vùng khác ở cao nguyên Đắc Lắc và Đông Nam bộ.
Khí hậu vùng có đặc điểm nắng ít, độ ẩm không khí cao, thường xuyên có sương mù, và mưa lớn tập trung, dẫn đến nguy cơ xói mòn đất Do đó, cần chú ý đặc biệt trong việc bố trí sử dụng đất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật phù hợp.
Huyện Bảo Lâm có nguồn nước mặt phong phú với các suối lớn như Đa Tong Kriong, Đa Dung Krian, và Đạ Riam, cùng nhiều nhánh suối nhỏ đổ vào sông La Ngà Phía Bắc huyện cũng có nhiều dòng suối lớn như Đạ Pou và Đạ Siat, tạo thành ranh giới tự nhiên với tỉnh Đắk Nông, nơi có các nhà máy thủy điện Đồng Nai 3, 4, 5 Nguồn nước ngầm phân bổ ở độ sâu từ 30-80 m, có thể khai thác cho sinh hoạt và sản xuất Với lượng mưa hàng năm đạt 2.000 – 2.500 mm, huyện Bảo Lâm có tiềm năng lớn về thủy lợi và thủy điện, đã xây dựng 21 hồ chứa cung cấp nước cho hơn 3.500 ha cây trồng và nhiều công trình thủy điện quốc gia như Hàm Thuận – Đa.
Mùa khô ở vùng Bảo Lâm có độ ẩm không khí cao, với ít nhất một cơn mưa trong hầu hết các tháng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày, giúp đạt năng suất cao.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số, lao động và đất đai
Bảo Lâm là huyện mới được thành lập vào năm 1994, tách ra từ thành phố Bảo Lộc Huyện bao gồm thị trấn Lộc Thắng, là huyện lỵ, cùng với 13 xã: Lộc Quảng, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc Lâm, Lộc Phú, Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc An, Lộc Tân, Lộc Thành, Lộc Nam, B'Lá, và Tân Lạc.
Huyện Bảo Lâm có nguồn gốc hình thành cư dân đa dạng, chủ yếu đến từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền Trung, cùng với cư dân từ miền Tây Nam Bộ, miền núi phía Bắc, và các thành phố, huyện trong tỉnh Sự đa dạng này không chỉ tạo nên bản sắc văn hóa phong phú với nhiều vùng và sắc tộc, mà còn đặt ra thách thức trong việc quản lý trật tự an ninh trên địa bàn huyện.
Các dân tộc chủ yếu sống trên địa bàn huyện là: Kinh, Mạ, K'ho, Nùng, Tày, Hoa, Mường, Hmông
Tình hình dân số và lao động huyện Bảo Lâm đƣợc trình bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Tình hình dân số và lao động huyện Bảo lâm trong 3 năm (2013-2015)
- Tổng số dân Người 115.802 100 116.464 100 117.169 100 100,6 100,6 100,6 + Thành thị Người 18.350 15,9 18.554 16,2 18.981 16,20 101,1 102,3 101,7 + Nông thôn Người 97.452 84,1 97.910 83,8 98.188 83,80 100,5 100,3 100,4 2.Tổng số lao động Người 64.045 100 64.468 100 64.975 100 100,7 100,8 100,7
- Nông lâm nghiệp-thủy sản Người 48.028 74,8 48.220 74,5 48.398 74,49 100,4 100,4 100,4
- Công nghiệp-xây dựng Người 7.693 12,1 7.780 12,3 7.980 12,28 101,1 102,6 101,9
(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Bảo Lâm)
Theo bảng 2.1, vào năm 2015, huyện Bảo Lâm có tổng dân số là 117.169 người, trong đó dân số thành thị là 18.981 người, chiếm 16,2% tổng dân số, còn dân số nông thôn là 98.188 người, chiếm 83,8% Điều này cho thấy tỷ lệ dân số nông thôn chiếm ưu thế rõ rệt, trong khi dân số thành thị chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ do huyện chỉ có một thị trấn.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu khảo sát Để kết quả nghiên cứu mang tính khách quan và có ý nghĩa thực tiễn tôi lựa chọn khảo sát các hộ dân 3 xã trong tổng 13 xã của huyện Các xã đƣợc chọn mang tính đại diện cho toàn huyện, việc lựa chọn đƣợc căn cứ vào:
Diện tích đất nông nghiệp của xã rất lớn, đặc biệt là diện tích trồng chè, với điều kiện tự nhiên và khí hậu lý tưởng cho sự phát triển của cây chè tại huyện.
Địa bàn với điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và văn hóa đại diện cho khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Địa bàn điều tra (xã, thôn, hộ gia đình) có điều kiện kinh tế (giàu, trung bình, nghèo) để có số liệu phong phú trong quá trình nghiên cứu
Căn cứ vào những điều kiện đó tôi đã lựa chọn địa bàn 3 xã là Lộc An, Lộc Thành, Lộc Tân là địa bàn khảo sát
Bảng 2.5 Diện tích địa bàn nghiên cứu
STT Xã Diện tích (ha) Tỷ trọng (%)
(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Bảo Lâm năm 2015)
Thông tin về sản xuất và tiêu thụ chè được thu thập từ Sở Nông Nghiệp, UBND huyện, UBND các xã khảo sát, cùng với một số địa điểm khác.
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Dữ liệu được thu thập từ Niên giám thống kê của Chi cục thống kê huyện Bảo Lâm trong các năm 2013, 2014, 2015, cùng với kết quả điều tra sản lượng thu hoạch chè của hộ gia đình trong cùng thời gian từ Phòng Nông nghiệp - Phát triển nông thôn huyện Bảo Lâm Thông tin cũng được bổ sung từ các ấn phẩm, internet, tài liệu và báo cáo của địa phương, cũng như từ các Sở, Ban, Ngành của tỉnh.
2.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Năm 2016, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp các nông hộ sản xuất chè Phiếu điều tra tập trung vào tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chè của các hộ gia đình, với mẫu phiếu điều tra được trình bày trong phần phụ lục.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phỏng vấn 120 hộ gia đình, được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Số lượng mẫu được xác định dựa trên công thức m ≥ 8n + 50, trong đó m là số lượng mẫu khảo sát và n là số biến trong mô hình Đối tượng phỏng vấn bao gồm các chủ hộ hoặc những người phụ trách sản xuất chính trong gia đình Chi tiết về quy trình chọn mẫu được trình bày trong bảng 2.6.
Bảng 2.6 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Tiêu chí Xã Tổng số
Lộc Thành Lộc Tân Lộc An 120
Phân loại hộ gia đình
Nội dung phiếu điều tra được thiết kế để thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, bao gồm các thông tin quan trọng như sau:
1 Thông tin cơ bản về hộ điều tra (Tên, tuổi, trình độ học vấn, nhân khẩu, số lao động tham gia sản xuất, điều kiện sinh hoạt, đất đai, thu nhập hỗn hợp bình quân, )
2 Thông tin về hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ bao gồm các thông tin về đầu vào, đầu ra, vay và sử dụng vốn, khuyến nông, tình hình tiêu thụ của hoạt động trồng cây chè
3 Thông tin thăm dò ý kiến của hộ trồng chè trên địa bàn huyện Bảo
4 Những thông tin về nhận thức của người nông dân đối với hoạt động sản xuất cây chè, thông tin về nhu cầu cần đƣợc sự hỗ trợ để phát triển sản xuất
2.2.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu a Phương pháp xử lý số liệu
- Với số liệu đã công bố: Thu thập đƣợc chúng tôi tiến hành kiểm tra độ tin cậy sau đó thống kê dưới dạng bảng để phân tích
- Với số liệu điều tra: Toàn bộ số liệu đƣợc xử lý trên máy với phần mềm bảng tính Excel, phần mềm SPSS b Phương pháp phân tích
* Phương pháp thống kê mô tả
- Phân tổ thống kê: phân tổ theo giống, diện tích, theo xã để làm cơ sở cho việc so sánh phân tích
- So sánh: So sánh giữa các chỉ tiêu nghiên cứu, thông qua so sánh để tính đƣợc mức độ điển hình
* Phương pháp định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hỗn hợp của các hộ trồng chè
Phân tích mô hình hồi quy đa biến nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trồng cây chè của hộ gia đình Mô hình này được xây dựng với biến phụ thuộc là hiệu quả kinh tế, trong khi các biến độc lập được xác định dựa trên kết quả phân tích mối tương quan giữa từng biến độc lập và biến phụ thuộc.
Tác giả đã tổng hợp các lý thuyết, nghiên cứu trước và kinh nghiệm thực tiễn tại các địa phương để đánh giá sơ bộ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trồng cây chè của hộ gia đình, trong đó các biến độc lập có thể được xác định.
- Chi phí thuốc bảo vệ thực vật
- Diện tích đất canh tác
Hàm sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất Nó mô tả số lượng sản phẩm (đầu ra) có thể được tạo ra từ các yếu tố sản xuất (đầu vào) nhất định, tương ứng với trình độ kỹ thuật cụ thể.
Trong bài viết này, tôi áp dụng hàm sản xuất để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến sản lượng chè của nông dân Dựa trên số liệu thực tế thu thập được, nghiên cứu nhằm củng cố các giả thuyết và đưa ra quyết định chính xác hơn, đồng thời dự báo kịp thời các hoạt động sản xuất Mô hình toán học được trình bày như sau: