1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của công tác giao đất nông lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành tỉnh nghệ an

141 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác động của công tác giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành - tỉnh nghệ an
Tác giả Nguyễn Văn Sinh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thanh Trà
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học NÔNG NGHIệP I

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Nguyễn thanh trà

Hà Nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ4 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đ4

đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Sinh

Trang 3

Lời cảm ơn Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đ4 nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình của tập thể và các cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông nghiệp 1 - Hà Nội

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Thanh Trà, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Đất và Môi trường, tập thể giáo viên và cán bộ công nhân viên khoa Đất và Môi trường, khoa sau Đại học cùng toàn thể bạn

bè và đồng nghiệp giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An; UBND huyện Yên Thành; phòng Tài nguyên Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng thống kê huyện Yên Thành, UBND các x4 đ4 tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện đề tài này

Cảm ơn các đồng chí l4nh đạo và Cán bộ trung tâm Nghiên cứu Quy hoạch và Kinh tế đất – Viện Nghiên cứu Địa chính đ4 tạo điều kiện về thời gian để tôi hoàn thành luận văn này

Cảm ơn gia đình, các anh, chị đồng nghiệp, bạn bè đ4 động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Sinh

Trang 4

Mục lục

2.2 Chính sách giao đất của Việt Nam qua các thời kỳ 11 2.3 kết quả giao đất nông lâm nghiệp ở nước ta 31

4.1.3 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất 51 4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - x4 hội huyện Yên

Trang 5

4.2 Tình hình giao đất nông - lâm nghiệp ở các x4 điều tra 54

4.2.2 Tình hình quản lý sử dụng đất của 4 x4 trước khi giao đất 56 4.2.3 Kết quả điều tra về tình hình giao đất, giao rừng 59 4.3 Tình hình sử dụng đất của các x4 sau khi nhận đất nhận rừng 62 4.3.1 Tình hình chung về sử dụng đất của các x4 sau khi nhận đất nhận rừng 62 4.3.2 Tình hình sử dụng đất của nông hộ sau khi nhận đất, nhận rừng 66 4.4 Hiệu quả sử dụng đất của hộ gia đình sau khi nhận đất 78 4.4.1 Hiệu quả trong sản xuất nông, lâm nghiệp 78 4.4.2 Hiệu quả của công tác giao đất về công tác quản lý Nhà nước về đất đai 84 4.4.3 Hiệu quả của công tác giao đất về lao động việc làm 83 4.4.4 Hiệu quả của công tác giao đất đến tư tưởng của người dân 85

4.5 Những vấn đề tồn tại sau khi giao đất, giao rừng 89 4.5.1 Những tồn tại về phía cơ quan quản lý Nhà nước 89 4.5.2 Những tồn tại về phía hộ gia đình nhận đất 90 4.6 Những vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết sau khi giao đất, giao rừng 90 4.6.1 Vấn đề tích tụ đất đai trong sử dụng đất nông, lâm nghiệp 90

4.6.3 Vấn đề hoàn thành kế hoạch giao đất, lập quy hoạch sử dụng đất

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

Chỉ thị Diện tích Diện tích tự nhiên Giá trị sản xuất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hội đồng nhân dân

Hợp tác x4 Lâm nghiệp Nông nghiệp Năng suất Nghị quyết Sắc lệnh Thông báo Trung −ơng

Uỷ ban nhân dân X4 hội chủ nghĩa

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 4.1 Cơ cấu GTSX của các ngành huyện Yên Thành qua các năm 46Bảng 4.2.Diện tích năng suất sản lượng một số cây trồng chính 48Bảng 4.3.Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm của huyện Yên Thành 49Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng các loại đất huyện Yên Thành (năm 2005) 52Bảng 4.5: Tình hình sử dụng đất của 4 x4 năm 1995 57Bảng 4.6: Cơ cấu các loại đất của 4 x4 điều tra năm 1995 58Bảng 4.7: Tình hình sử dụng đất nông lâm, nghiệp của các đối tượng sử

Bảng 4.8: Tình hình sử dụng đất của 4 x4 năm 2005 63Bảng 4.9: Cơ cấu các loại đất của 4 x4 điều tra năm 2005 64Bảng 4.10: So sánh tình hình sử dụng đất của các x4 trước và sau giao đất 65Bảng 4.11: So sánh một số chỉ tiêu về diện tích đất giao cho hộ gia điều tra

trước và sau khi giao đất, giao rừng (1995 so với năm 2005) 69Bảng 4.12: Tình hình đầu tư tư liệu sản xuất của các hộ gia đình điều tra

Bảng 4.13: Số tiền đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp của các nông hộ

Bảng 4.14: Tình hình vay vốn ngân hàng đầu tư cho sản xuất nông, lâm

Bảng 4.17: So sánh năng suất một số loại cây trồng chính trước và sau

Bảng 4.18: So sánh một số chỉ tiêu về tình hình kinh tế hộ gia đình điều

Bảng 4.19 : So sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả quản lý sử dụng đất 86Bảng 4.20: ý kiến của nông hộ về chính sách giao đất và quyền sử dụng đất 87

Trang 8

Danh mục các hình

Hình 4.2 : So sánh tình sử dụng đất trước và sau giao đất 66 Hình 4.3: So sánh năng suất bình quân các loại cây trồng chính

Trang 9

1 Mẽ ớđu

1.1 ớật vÊn ợồ

ớèi vắi mçi quèc gia trởn thỏ giắi, ợÊt ợai lÌ nguạn tÌi nguyởn vỡ cĩng quý giĨ, lÌ bé phẹn hîp thÌnh cĐa mỡi tr−êng sèng, lÌ t− liơu sộn xuÊt ợậc biơt, lÌ ợẺa bÌn phờn bè dờn c− vÌ tă chục cĨc hoÓt ợéng trởn mét lưnh vùc kinh tỏ, x4 héi, an ninh quèc phßng, lÌ t− liơu sộn xuÊt chĐ yỏu, ợậc biơt lÌ khỡng thố thay thỏ ợ−îc

Trong quĨ trÈnh phĨt triốn kinh tỏ x4 héi, nhƠng thay ợăi vồ cĨc mèi quan hơ trong quộn lý vÌ sö dông ợÊt ợai lÌ mét trong nhƠng vÊn ợồ ợ−îc quan tờm nhÊt, vÈ ợÊt ợai cã ộnh h−ẽng trùc tiỏp tắi lîi Ých cĐa mçi cĨ nhờn vÌ céng

ợạng, lîi Ých giƠa cĨc céng ợạng Mật khĨc trởn ph−Ũng diơn vư mỡ, nã cã tĨc

ợéng mét cĨch trùc tiỏp vÌ sờu s¾c ợỏn phĨt triốn kinh tỏ vÌ ăn ợẺnh chÝnh trẺ x4 héi cĐa mçi Quèc gia; ợèi vắi n−ắc ta, lÌ mét trong nhƠng n−ắc thuéc vĩng nhiơt ợắi ẻm vắi tăng diơn tÝch trởn d−ắi 33 triơu ha, trong ợã vĩng ợại nói cã

ợé cao so vắi mật n−ắc biốn tõ 200m trẽ lởn chiỏm tắi 3/4, vắi ợé chia c¾t rÊt phục tÓp, tÓo nởn nhiồu loÓi ợé dèc khĨc nhau céng thởm l−îng m−a bÈnh quờn hÌng nÙm khoộng 2000-2500ml ChÝnh vÈ thỏ cđn cã chÝnh sĨch ợóng

ợ¾n trong cỡng tĨc quộn lý vÌ khai thĨc sö dông vèn tÌi nguyởn ợÊt; ợèi vắi n−ắc ta gđn 80% dờn sè lÌ nỡng dờn, cŨ cÊu kinh tỏ quèc dờn nỡng nghiơp vÉn chiỏm mét tủ lơ ợĨng kố thÈ ợÊt ợai lÓi cÌng cã ý nghườ

Thùc tỏ cho thÊy nhƠng thay ợăi vồ chÝnh sĨch ợÊt ợai chẺu sù tĨc ợéng cĐa nhiồu nhờn tè nh−: Chỏ ợé chÝnh trẺ, tă chục x4 héi, truyồn thèng vÙn hoĨ, nhẹn thục vÌ thiỏt chỏ kinh tỏ Mçi nhờn tè trởn cã tĨc ợéng khĨc nhau tắi cỡng tĨc quộn lý ợÊt ợai

XuÊt phĨt tõ vẺ trÝ ợẺa lý, ợiồu kiơn tù nhiởn, kinh tỏ vÌ x4 héi, trội qua cĨc thêi kú cĨch mÓng tõ khi thÌnh lẹp ợỏn nay ớộng vÌ NhÌ n−ắc luỡn luỡn

Trang 10

khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn

Vì vậy, trong phát triển chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố cơ bản: chính sách, khoa học kỹ thuật, vốn đầu tư và thị trường Cả 4 yếu tố trên đều vô cùng quan trọng, tuy nhiên rằng yếu tố về chính sách là yếu tố có tính chất quyết

định nhất

Gần hai thập kỷ nay, kể từ khi đất nước giành độc lập; Đảng và Nhà nước đ4 dày công nghiên cứu tìm tòi và đổi mới các chính sách quản lý kinh tế

vĩ mô, đặc biệt là các chính sách đất đai gắn liền với nông dân, nông nghiệp

và nông thôn, nhằm gắn lao động với đất đai tạo thành động lực phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và phát triển kinh tế x4 hội, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường

Công tác giao đất nông, lâm nghiệp được bắt đầu từ năm 1968 Thời gian này Nhà nước đ4 ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách về giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân phù hợp với từng giai đoạn cách mạng

Sau khi luật đất đai lần đầu tiên ở Nhà nước Việt Nam ra đời ngày 29/12/1987, được Quốc Hội khoá 8 kỳ họp thứ 2 thông qua có hiệu lực ngày 8/1/1988 và chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/1/1981 của BCHTW Đảng về cải tiến công tác khoán Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ chính trị ngày 5/4/1988, nghị quyết TW 6 khoá VI với việc khẳng định hộ nông dân là một đơn vị tự chủ

Đ4 đánh một dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực quản lý đất đai, tạo đà cho sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển Luật đất đai sửa đổi năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 có hiệu lực ngày 15/10/1993 đ4 thừa nhận 5 quyền cơ bản của người sử dụng đất, quan hệ sản xuất trong nông, lâm nghiệp được xác lập trên cơ sở giao đất cho các hộ gia đình cá nhân sử dụng

ổn định lâu dài đ4 trở thành động lực thúc đẩy quá trình sản xuất nông, lâm phát triển, hiệu quả sử dụng đất đ4 được nâng lên so với giai đoạn trước Sau

Trang 11

khi có luật đất đai năm 1993, luật sửa đổi bổ sung một số điều luật đất đai năm 1998, năm 2001 và luật đất đai năm 2003 Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 và Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của chính phủ:

“về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp” và Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 quy định “Về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp” Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16-11/1999 về “Giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp”

Thực hiện định hướng phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh Nghệ An, huyện Yên Thành là một trong những huyện triển khai sớm kế hoạch giao đất

đến các x4 trên địa bàn toàn huyện, đất nông - lâm nghiệp đ4 được giao cho các hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài Một phần đất lâm nghiệp đ4 được giao cho lâm trường quản lý

Việc thực hiện giao đất theo đúng chủ trương của Nhà nước đ4 thúc đẩy việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của các hộ gia đình tạo lòng tin cho

họ yên tâm sản xuất, đầu tư lâu dài trên mảnh đất của mình, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên

Để kịp thời tổng kết đánh giá tác động của chính sách giao đất nông - lâm nghiệp, đáp ứng những yêu cầu đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ sau khi được giao đất nông - lâm nghiệp, phát hiện ra những vấn đề bất cập, sớm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh công tác giao đất giao rừng là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá tác động của công tác giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An”

Trang 12

1.2 Mục đích của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của công tác giao đất nông - lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Thành về các mặt:

+ Vấn đề đầu tư trong sản xuất nông - lâm nghiệp

+ Vấn đề việc làm cho các lao động tại địa phương

+ Công tác quản lý Nhà nước về đất đai

+ Tư tưởng của người dân sau khi được giao đất

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý Nhà nước

về đất đai nói chung và công tác giao đất nông - lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Yên Thành

1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành trên địa bàn 4 x4 đại diện cho những loại hình sản xuất mang nét đặc trưng nhất của huyện Yên Thành:

- 02 x4 đại diện loại hình chuyên sản xuất nông nghiệp;

- 02 x4 đại diện loại hình chuyên sản xuất cả nông và lâm nghiệp; 1.3.2 Phạm vi thời gian

Đề tài được thực hiện trong thời gian từ ngày 1/1/2006 đến ngày 30/8/2006

Trang 13

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Chính sách đất đai ở một số nước châu á

2.1.1 Chính sách đất đai của Trung Quốc [19]

Những thành quả về kinh tế x4 hội, bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản chính sách pháp luật đất đai nhằm quản lý có hiệu quả Do vậy, trong thời gian qua quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp ở Trung Quốc đ4 đạt được những kết quả đáng ghi nhận:

Đất canh tác được Nhà nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác Mỗi hộ nông dân chỉ được dùng một nơi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy

định tại địa phương Đất thuộc sở hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính Phủ Trung Quốc đ4 chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, chưa có sự phối kết hợp giữa lợi ích cộng đồng với lợi ích của người dân Để khắc phục tồn tại đó bước sang giai đoạn cải cách nền kinh tế, Chính Phủ Trung Quốc đ4 quan tâm khuyến khích hỗ trợ nông dân kinh doanh lâm nghiệp phát triển, bên cạnh đó coi trọng vấn đề bảo vệ rừng Hiến pháp đ4 quy định phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng Kể từ năm 1984 luật lâm nghiệp quy định

“xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm cơ sở, phát triển mạnh mẽ việc trồng cây mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai thác rừng trồng ” Từ đó ở Trung Quốc toàn x4 hội tham gia công tác lâm nghiệp, Chính Phủ chỉ đạo cán

bộ có trách nhiệm l4nh đạo, chỉ đạo mỗi cấp hoàn thành nhiệm vụ, quá trình thực hiện chính sách này sẽ có thưởng, phạt nghiêm minh

Trang 14

Giai đoạn từ năm 1979-1992 Trung Quốc đ4 ban hành 26 văn bản liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Đầu năm 1980 Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ TW đến cấp tỉnh huyện, tiến hành cấp chứng nhận quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng là những tập thể và tư nhân Luật lâm nghiệp đ4 xác lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên

đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp

đồng và được xử lý theo hợp đồng

Bên cạnh đó quá trình quy hoạch đất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi bảo

vệ nguồn nước, nhằm sử dụng đất có hiệu quả ở miền núi được Chính Phủ Trung Quốc quan tâm từng bước đưa sản xuất nông, lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn cho nhân dân,

đặc biệt ở vùng miền núi

Trung Quốc đ4 thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp GCNQSDĐ Từ đó các trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đ4 có hiệu quả Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ: Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án chống cát bay Mỗi năm Chính Phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo, quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông, lâm nghiệp

2.1.2 Chính sách đất đai của Thái Lan [13]

Tại Thái Lan bước sang chế độ quân chủ, luật ruộng đất được ban hành năm 1954 đ4 thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế x4 hội của đất nước Luật

Trang 15

ruộng đất đ4 công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có thể

được mua, tậu lại từ cá thể Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng, cầm

cố một cách hợp pháp, từ đó Chính Phủ có được toàn bộ đất trồng (có khả năng trồng trọt được) và nhân dân đ4 trở thành người làm công trên đất ấy Tuy nhiên, trong giai đoạn này luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế độ luân canh vừa Bên cạnh đó việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu thừa đất do việc phân hoá giàu nghèo, đ4 dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên

đất tự canh Bước sang năm 1974 Chính phủ Thái Lan ban hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Luật cải cách ruộng đất năm

1975 quy định các điều khoản với mục tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất Nhà nước quy định hạn mức đối với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn nuôi 6,4 ha (100 rai), đối với những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiến hành trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý

Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng Bắt đầu

từ năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi, trong rừng dự trữ Quốc gia, theo chương này mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nhưng mà trước đây những người dân đ4 chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Đến năm 1976 đ4 có 600126 hộ nông dân có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Cùng với chương trình này, đến năm 1975 Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia Thái Lan đ4 thực hiện chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết cho những hộ gia đình được ở trên đất rừng, quá trình thực hiện chương trình này đ4

Trang 16

thành lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia

Chương trình làng lâm nghiệp được quy định một cách chặt chẽ, mỗi

hộ gia đình trong làng được cấp từ 2- 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng, thừa kế, nhưng không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó Quá trình sản xuất của làng được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề Đi cùng với chương trình này là việc thành lập các hợp tác x4 nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo HTX Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư trên đất

được giao đó Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0.8 ha đến 8 ha

Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính Phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải quyết việc làm Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính Phủ, chủ đất và nông dân giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng

đất Theo dự án này Chính Phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo [13] [33] 2.1.3 Chính sách đất đai ở Inđônêxia

Nét đặc biệt trong chính sách đất đai ở Inđônêxia là Nhà nước quy định mỗi hộ nông dân ở gần rừng được nhận khoán 2500 m2 đất để trồng cây, hai năm đầu được phép trồng cây nông nghiệp trên diện tích đó và được quyền hưởng toàn bộ sản phẩm, không phải nộp thuế Quá trình sản xuất của nông dân được sự hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dưới hình thức cho vay Sau khi thu hoạch người nông dân phải hoàn trả lại giống đ4 vay, còn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chỉ phải trả 70 %, nếu mất mùa thì không

Trang 17

phải trả vốn vay đó [13] Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động khuyến nông khuyến lâm Nhà nước còn tổ chức hướng dẫn kỹ thuật, tập huấn làm nghề cho người dân, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng tại nơi họ sinh sống Từ đó, việc quản lý rừng và đất rừng ở Inđônêxia bước đầu đ4 thu được những kết quả

đứng ra mua và bán đất phát canh của địa chủ nếu vượt quá 1 ha Ngay cả với tầng lớp phú nông, có diện tích quá 3 ha nếu sử dụng không hợp lý Nhà nước cũng trưng thu một phần

Như vậy, qua hai lần cải cách ruộng đất bằng những chính sách cụ thể đ4 làm thay đổi quan hệ sở hữu cũng như kết cấu sở hữu ruộng đất ở Nhật Bản đó là: Nhà nước đ4 khẳng định được vai trò kiểm soát đối với việc quản lý và sử dụng

đất đai, người dân đ4 thực sự làm chủ đất để yên tâm đầu tư phát triển sản xuất 2.1.5 Chính sách đất đai ở Đài Loan [28]

Chính phủ Đài Loan tiến hành cải cách ruộng đất theo phương pháp hoà bình, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng" từng bước theo phương thức thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Trang 18

Quá trình cải cách ruộng đất của Đài Loan được thực hiện theo từng giai

đoạn phát triển của từng thời kỳ mà họ có những chính sách điều chỉnh cụ thể cho phù hợp với từng thời kỳ đó:

- Bắt đầu từ 1949 và đến nay họ đ4 tiến hành giảm địa tô để giảm gánh nặng về kinh tế cho nông dân đó là: Giảm tô 37,5%, thực hiện với tính toán rằng 25% sản lượng nông nghiệp là dùng cho chi phí sản xuất, phần thặng dư (75%) được chia đôi cho tá điền và địa chủ Mọi tô nhượng đều phải có hợp

đồng và thời hạn không được dưới 6 năm để bảo vệ quyền lợi cho tá điền

- Sau khi hoàn thành việc giảm tô, đến năm 1951 họ có chính sách bán

đất công cho nông dân với giá bằng 2,5 lần sản lượng hàng năm của thửa đất,

và thanh toán trong 10 năm Nông dân cũng có thể thanh toán sớm hơn nếu muốn Từ đó Nhà nước lập được quỹ cải cách ruộng đất

- Đến năm 1953 họ tiếp tục cải cách ruộng đất đó là chính sách cho người cày có ruộng Địa chủ được giữ lại 3 ha lúa nước và 6 ha đất màu, còn số diện tích dư thừa còn lại thì Nhà nước sẽ tiến hành trưng mua và bán lại cho nông dân Giá trưng mua và giá bán lại đều bằng 2,5 lần sản lượng hàng năm của thửa đất, tính theo sản phẩm thu được sau sản xuất (bằng gạo) để không chịu ảnh hưởng của lạm phát và được thanh toán 20 lần trong 10 năm, giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất được cấp ngay sau lần thanh toán đầu tiên Địa chủ được nhận 70% bằng trái phiếu đất đai để lấy hiện vật (gạo hoặc khoai lang) với l4i suất 4%/năm, 30% còn lại được chuyển thành cổ phần của doanh nghiệp Nhà nước (công ty phát triển nông - lâm nghiệp, công ty giấy và bột giấy, công ty công nghiệp mỏ và công ty xi măng) Kết quả là 139.250 ha đ4 được bán cho 194.820

hộ nông dân và 4 công ty của Nhà nước đ4 được bán cho các địa chủ

Trong nông nghiệp, ngay những năm 50, kinh tế trang trại được hình thành và được Nhà nước tạo điều kiện cho mô hình kinh tế trang trại ở nông thôn được phát triển, thông qua các biện pháp tích cực để hiện đại hoá nông nghiệp ở các làng x4, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được mở mang

Trang 19

Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm vừa đáp ứng nhu cầu phục vụ nông nghiệp tại chỗ, vừa thu hút lao động địa phương, tạo nhiều việc làm mới Công nghiệp hoá nông thôn ở

Đài Loan đ4 thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động (ví dụ năm 1952, lao

động nông nghiệp chiếm 56,1%, lao động công nghiệp chiếm 16,9%, lao động dịch vụ chiếm 27% Đến năm 1992, các chỉ số đó là 12,9%; 40,2% và 46,9%)

Nhận xét đánh giá:

Nhìn chung các chủ trương chính sách về đất đai của các nước Châu á

đều hướng tới mục đích xác lập quyền sở hữu hoặc sử dụng đất cho người sử dụng đất Nhiều nước đ4 có những chính sách hỗ trợ cho những người dân sống bằng nghề nông có đất sản xuất Để từ đó người dân an tâm đầu tư sản xuất, bên cạnh đó quá trình sản xuất của người dân trên đất luôn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước Nhằm mục đích tăng cường hiệu qủa sử dụng đất về các mặt kinh tế x4 hội

và môi trường Do đó, để đánh giá hiệu quả sản xuất của cá nông hộ, thì chúng ta cần đánh giá những chính sách có tác động lớn tới công tác hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp; đặc biệt là đối với nước ta hơn 80% dân số sống ở nông thôn

2.2 Chính sách giao đất của Việt Nam qua các thời kỳ

ở nước ta, đất đai được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp Người nông dân gắn bó với ruộng đất như máu với thịt Do vậy ngay từ khi ra đời vào năm 1930, trong cương lĩnh chính trị của Đảng ta

đ4 yêu cầu cách mạng Việt Nam phải giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược là:

đánh đổ đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và xoá bỏ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân Khẩu hiệu “người cày có ruộng” ra đời từ đây

Đối với đất nông nghiệp, ngay sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc,

Đảng và Nhà nước ta đ4 tiến hành cải cách ruộng đất nhằm thực hiện chính sách

‘Người cày có ruộng”; sau cải cách ruộng đất, chế độ sở hữu ruộng đất và phong kiến, thực dân đ4 chuyển thành chế độ sở hữu ruộng đất cá thể của nông dân

Trang 20

Chính sách ruộng đất của Nhà nước ta từ khi bắt đầu hợp tác hoá năm

1958 về sau đ4 thể hiện nhất quán, một chế độ công hữu bao gồm sở hữu tập thể và sở hữu Nhà nước Quyền sở hữu cá thể về ruộng đất dần dần bị thu hẹp

và hầu như bị xoá bỏ hoàn toàn theo các thời kỳ hợp tác hoá Đến mùa thu năm 1960, toàn miền Bắc đ4 căn bản hoàn thành xây dựng hợp tác x4 với tổng

số 41.400 HTX, thu hút khoảng 2,4 triệu hộ nông dân (chiếm 85,8% số hộ) với 76% diện tích ruộng đất đi vào làm ăn tập thể

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9 năm 1960), đ4 vạch ra đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc, thể hiện trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) Đối với nông nghiệp, Đảng và Nhà nước chỉ đạo tiếp tục thực hiện phong trào mở rộng quy mô HTX, kết hợp hoàn thiện quan

hệ sản xuất với phát triển lực lượng sản xuất[13]

Thực chất của phong trào hợp tác nông nghiệp là tập thể hoá cao độ các tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân, hàng đầu là ruộng đất và sức lao động Chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất, đ4 không khuyến khích người nông dân x4 viên quan tâm đến “hiêụ quả sử dụng” trên thửa đất, mà hàng ngày họ canh tác

và chăm sóc Trong giai đoạn này, các HTX đ4 thực hiện chế độ 3 khoán (khoán sản lượng, khoán lao động và khoán chi phí), không thực hiện chế độ khoán ruộng đất Tập thể làm chủ ruộng đất dần dần dẫn tới tình trạng ruộng

đất hầu như vô chủ Quyền sở hữu có khi không quan trọng bằng quyền được sử dụng liên tục lâu dài, một điều ai cũng nhận thấy là đất 5%, thuộc sở hữu tập thể nhưng giao cho x4 viên hoàn toàn làm chủ trong quá trình canh tác và hưởng dụng, đ4 đưa lại hiệu quả cao rất nhiều lần so với đất sử dụng chung[13]

Kể từ khi có chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX sản xuất nông nghiệp [1], nhất là Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh

Trang 21

tế nông nghiệp thì quyền sử dụng đất của nông dân mới được xác lập Pháp luật

đất đai quy định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho hộ gia

đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất

Chính sách giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp, cùng với quy định các quyền sử dụng đất của họ

được cụ thể hoá trong các văn bản dưới đây:

- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 1992;

- Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001;

- Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và Nghị định 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 sửa đổi,

bổ sung một số điều của bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia

đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp

- Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng

đất, thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999

Đối với đất lâm nghiệp, từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, Nhà nước đ4 thành lập hệ thống lâm trường quốc doanh để làm nhiệm vụ trồng, bảo vệ, phát triển rừng và khai thác lâm sản Trong thời kỳ này, hầu hết đất rừng tự nhiên

được giao cho lực lượng này Tuy nhiên, với tập quán du canh - du cư, người dân

địa phương ở những nơi có rừng vẫn tiếp tục phá rừng làm nương rẫy, khai thác rừng một cách tuỳ tiện không xin phép lâm trường hay chính quyền địa phương

Do vậy, Chính phủ đ4 có Nghị quyết 38/CP ngày 12/3/1968 về công tác định canh, định cư đối với đồng bào còn đang du canh du cư, đ4 chỉ rõ là: muốn phát triển nghề rừng thì phải kết hợp chặt chẽ lực lượng từ dân địa phương với lực

Trang 22

lượng quốc doanh; để quản lý được đất lâm nghiệp và phát huy tiềm năng lao

động của đồng bào định canh định cư, thì cần phải có quy hoạch về đất đai cụ thể cho từng vùng, và có chính sách quy định về quyền lợi cũng như nghĩa vụ của

đồng bào được sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi, trồng và bảo vệ cũng như khai thác rừng Đây có thể xem là chủ trương đầu tiên, đặt nền móng trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách giao đất lâm nghiệp sau này

Chính sách giao đất lâm nghiệp được cụ thể hoá trong các văn bản: Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 và Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ, quy định chi tiết về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Quyết định 178/2001/ QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

Sau khi giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục

đích sản xuất nông lâm nghiệp, Nhà nước tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người được giao đất GCNQSDĐ được xem như là chứng thư pháp lý để xác lập mối quan hệ pháp lý về đất đai giữa Nhà nước với chủ sử dụng đất

Việc thực hiện đề tài này sẽ căn cứ vào các văn bản pháp luật đất đai, tình hình áp dụng chính sách giao đất nông lâm nghiệp và quy định về các quyền sử dụng đất trên địa bàn nghiêm cấm, để đánh giá những tác động của chúng đến hiệu quả sử dụng đất của nông hộ

2.2.1 Chính sách giao đất nông - lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (từ năm 1968- 1986)

Trước thời kỳ đổi mới nền kinh tế của nước ta vận hành theo kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp và có những đặc trưng sau: [12] [10]

- Chỉ có hai thành phần kinh tế đó là kinh tế quốc doanh và HTX

Trang 23

Trong lâm nghiệp là quốc doanh và HTX có kinh doanh nghề rừng, trong nông nghiệp thường là nông trường quốc doanh và HTX nông nghiệp

- Kế hoạch hoá tập trung, cấp phát giao nộp

4/ Quyết định số 129/CP ngày 25/05/1974 của Hội đồng Bộ trưởng về một số chính sách đối với hợp tác x4 , mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp ở trung du và miền núi

5/ Chỉ thị 257/TTg ngày 16/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh trồng rừng và đất rừng cho HTX kinh doanh

6/ Quyết định số 272/CP ngày 03/10/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với HTX mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư

7/ Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/1/1981 của ban chấp hành Trung ương

Đảng về cải tiến công tác khoán mở rộng các công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác x4 nông nghiệp

8/ Quyết định số 184/HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng

về đảy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể nông dan trồng cây rừng

Trang 24

9/ Chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 của ban chấp hành Trung ương

Đảng về đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức nông lâm kết hợp

Như vậy trong vòng 18 năm (1968-1986) từ khi xác định chủ trương giao đất rừng cho HTX những văn bản được Nhà nước ban hành đ4 chứng tỏ chính sách nhất quán và kiên trì chủ trương giao đất giao rừng của Đảng và Nhà nước cho HTX

Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của Chính Phủ đ4 xác định hai hình thức giao đất, giao rừng.:

- Giao cho HTX quản lý kinh doanh toàn diện

- Giao cho HTX làm khoán từng khâu công việc

Quyền lợi của HTX được hưởng tương ứng như: bán theo giá thu mua lâm sản chính do HTX trồng rừng và nhận khoán của từng khâu kinh doanh, khai thác lâm sản phần lớn dưới hình thức nhận giao khoán từng khâu công việc cho các lâm trường quốc doanh ở một số nơi đ4 hình thành HTX chuyên làm nghề rừng Về hoạt động lâm sinh các HTX thường thực hiện việc tu bổ cải tạo rừng, việc trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc rất hạn chế vì HTX không có vốn mà Nhà nước chưa có chính sách cụ thể Tuy nhiên hạn chế ở việc giao đất, giao rừng ở các địa phương vẫn là dựa vào lực lượng quốc doanh làm lâm nghiệp

Năm 1974 tại Quyết định số 80-129/CP ngày 25/05/1974 của Chính phủ “Về chính sách đối với các HTX mở rộng diện tích phát triển nông lâm nghiệp ở trung du và miền núi”, chính sách giao đất, giao rừng đ4 được cụ thể hoá thêm một bước

- Quy định hạn mức đất đồi núi hoặc diện tích đất rừng giao cho HTX bình quân mỗi lao động nông, lâm nghiệp được sử dụng từ 1- 4ha

- Mỗi hộ x4 viên được giao từ 700 m2- 1000 m2 đất để làm nhà ở, trồng

Trang 25

Ngày 16/07/1975 Thủ tướng Chính phủ đ4 ban hành Chỉ thị số 257/TTg

về việc đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng, giao đất và giao rừng cho HTX kinh doanh, văn bản này có một ý nghĩa rất quan trọng, xác định trách nhiệm cho các ngành cụ thể

Đến năm 1977 Chính phủ lại ban hành quyết định số 272/CP cũng đề cập đến chính sách giao đất, giao rừng và hỗ trợ vốn vay cho HTX kinh doanh nghề rừng tương tự Quyết định 129/CP năm 1974

2.2.1.1 Tình hình giao đất, giao rừng trong giai đoạn 1968-1980

Trong giai đoạn này, với chính sách ruộng đất của Nhà nước là hợp tác hoá, chế độ công hưu được đẩy mạnh nó bao gồm sở hữu Nhà nước Quyền sở hữu cá thể về ruộng đất dần dần bị thu hẹp và hầu như bị xoá bỏ hoàn toàn Vì vậy từ năm 1968 đến 1974 với chủ trương đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất, giao rừng cho HTX kinh doanh đ4 cho thấy: một số HTX đ4 hăng hái trồng rừng, bảo vệ rừng và coi đó là một ngành nghề kinh doanh quan trọng Nhờ vậy, diện tích trồng rừng ngày càng được mở rộng, diện tích đất hoang hoá ngày càng giảm Tuy nhiên số HTX làm đúng theo chủ trương còn quá ít, phần lớn các HTX chỉ muốn nhận rừng để khai thác lâm sản, không muốn nhận đất trống để trồng cây gây rừng Nhìn chung công tác bảo vệ rừng chưa thành một ngành của HTX, nạn phá rừng vẫn chưa được ngăn chặn có kết quả

Trang 26

Đến năm 1975 mô hình tập thể hoá nông, lâm nghiệp đạt tới đỉnh điểm,

số HTX nông nghiệp có 17000 HTX, trong đó HTX loại cao chiếm 90% số HTX, tổng số x4 viên HTX chiếm tới 95.6% số nông dân

Mặc dù vậy, thực tế cho thấy HTX có quy mô càng lớn, quản lý tập trung thống nhất thì hiệu quả kinh tế mang lại càng thấp, các hộ x4 viên thu nhập kinh

tế từ tập thể ngày càng giảm, trong khi đó thu nhập của các x4 viên từ đất 5% lại càng trở nên đóng vai trò chính Từ cuối năm 1973 đến năm 1975 ở Miền Bắc có tới 1098 HTX tan r4, nhiều HTX đ4 nới lỏng cho x4 viên mượn đất

Năm 1976 sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, để khắc phục tình trạng nông dân không có ruộng đất, Chính phủ đ4 ban hành quyết

định số 188/Cp ngày 25/09/1976 về chính sách xoá bỏ triệt để tiến trình chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân phong kiến ở miền nam Tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên như: quốc hữu hoá toàn bộ đất đai và chia lại ruộng đất cho nhân dân lao động

Sau khi giao đất, giao rừng cho các HTX một số tỉnh đ4 có biện pháp tích cực tăng cường chỉ đạo các HTX phát triển nghề rừng, ra Nghị quyết chuyên đề

về lâm nghiệp quy định về tổ chức quản lý và chế độ chính sách đối với các HTX kinh doanh nghề rừng, trong thời kỳ này có 3 loại hình HTX sau [12]

* Loại hình thứ nhất: Bao gồm các HTX đ4 thực sự đưa rừng và đất rừng vào dạng tư doanh Các HTX thuộc loại này là HTX bước đầu đ4 thực hiện sản xuất rừng tốt, thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư thích đáng cho nghề rừng, các HTX này đều có tổ chuyên trách gieo ươm, khai thác Việc trồng rừng cơ động chủ lực làm hạt nhân, kết hợp với toàn bộ lao động theo thời vụ, tuy nhiên loại hình HTX này còn quá ít

* Loại hình thứ hai: là loại hình HTX được giao đất, giao rừng , nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên chưa đảm bảo tư doanh, vẫn hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho lâm trường quốc doanh trên diện tích

Trang 27

Kết quả trong thời gian từ năm 1968 đến năm 1980 đ4 giao được 5 triệu

ha cho 3998 HTX và tập đoàn sản xuất (theo số liệu thống kê của Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn)

2.2.1.2 Tình hình giao đất, giao rừng giai đoạn 1980-1986

Trong thời kỳ này cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đ4 và

đang bộc lộ những hạn chế, để khắc phục Nhà nước đang nghiên cứu thử nghiệm, cải cách quản lý kinh tế, cụ thể:

Tại Hội nghị lần thứ IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 12/1980 đ4 quyết định “mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp”

Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của ban chấp hành Trung ương

Đảng chỉ rõ nguyên tắc khoán với nội dung khoán 3 khâu: khoán chi phí, khoán công điểm và khoán sản phẩm Mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao

động trong HTX nông nghiệp, quy định về việc tổ chức ruộng đất cho đội sản xuất, cho nhóm người lao động để thực hiện sản lượng khoán, tránh để đồng ruộng chia cắt manh mún Diện tích giao khoán cho người lao động phải hợp lý

và ổn định trong vòng 3 năm để họ yên tâm canh tác trên diện tích đó Chỉ thị này đ4 mở ra một khả năng mới cho x4 viên được quyền sử dụng đất trong khuôn khổ rộng r4i hơn, nó đ4 lôi cuốn các x4 viên hăng hái lao động tạo ra sản phẩm

Đây là một bước chuyển biến có ý nghĩa về chính sách ruộng đất [16]

Trang 28

Trong lâm nghiệp, Hội đồng Bộ trưởng đ4 đề ra Quyết định số 184/HĐBT ngày 06/11/1982 có những điểm rất mới đó là: đối tượng được giao đất, giao rừng thì mở rộng hơn trước, các hộ gia đình cá nhân cũng được Nhà nước giao đất cho, với mức đất và diện tích rừng được xác định cho từng đối tượng cụ thể sau:

- Giao đất cho tập thể kinh doanh thì không hạn chế khả năng sử dụng

được bao nhiêu thì giao bấy nhiêu

- Các hộ gia đình, cá nhân ở miền núi được giao từ 200m2 đến 2500m2 ngoài ra gia đình còn có thể nhận đất trống đồi núi trọc để trồng rừng theo quy hoạch

Còn quyền lợi của tập thể, cá nhân được quy định như sau:

- Rừng của tập thể trồng hoặc cải tạo bằng vốn và sức lao động tự có của mình thì khi khai thác có thể sử dụng 20-30% sản phẩm chính đối với rừng cải tạo, số còn lại phải bán cho Nhà nước

- Rừng của cá nhân trồng khi thu hoạch phải nộp cho HTX 20% sản phẩm chính, trong số 80% còn lại, cá nhân được sử dụng 30% còn 70% cá nhân phải bán lại cho Nhà nước theo giá thoả thuận

- Đối với sản phẩm nông, lâm nghiệp kết hợp thì cá nhân được hưởng toàn bộ Thực hiện Quyết định trên một số địa phương đ4 giao đất, giao rừng cho HTX và nhân dân kinh doanh, nhưng chưa có nhận thức đúng tầm quan trọng và chưa có kinh nghiệm chỉ đạo nên chưa phát huy được tác dụng tích cực của chính sách này Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì rừng vẫn bị tàn phá và hậu quả sẽ rất nghiêm trọng và môi trường sinh thái bị tác

Trang 29

Chỉ thị này đ4 xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức bảo vệ và kinh doanh rừng, sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống, đồi núi trọc theo phương thức nông lâm kết hợp, coi việc giao đất, giao rừng là một cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc, một nhiệm vụ cụ thể của từng người sử dụng đất trên từng khu đất, chuyển lâm nghiệp từ trạng thái tự nhiên sang kinh doanh có tổ chức, có kế hoạch Chỉ thị

đ4 nêu ra một số định hướng chính sách quan trọng

Ngày 18/01/1984 ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành chỉ thị 35/CP-

TW về việc khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình Nhà nước cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn phát triển đất mà HTX, nông trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất Nhà nước không đánh thuế sản xuất kinh doanh đối với kinh tế hộ gia đình, chỉ đánh thuế tái sinh đất phục hoá được miễn thuế trong vòng 5 năm, hộ gia đình nông dân được tiêu thụ các sản phẩm làm ra

Kết quả giao đất, giao rừng trong thời kỳ 1980- 1986 đ4 giao được 1.934.000

ha cho 1724 HTX, 610 cơ quan đơn vị trường học và 349750 hộ gia đình

*Tổng kết quá trình giao đất, giao rừng tính đến năm 1986 như sau: Trong đó:

Đất có rừng là: 1758356 ha, đất đồi núi trọc là: 2.685.474 ha

- Số HTX được giao là: 5.722 HTX

- Số tập đoàn sản xuất đ4 được giao là: 2.277 tập đoàn

- Số cơ quan, trường học được giao là: 610 tổ chức

- Số hộ được giao đất, giao rừng là: 770.785 hộ

* Diện tích đất đ4 đưa vào kinh doanh là: 1.283.112 ha, trong đó trồng rừng 860.028 ha, vườn rừng: 342.084 ha (theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn).[2] [7] [18]

Trang 30

2.2.2 Chính sách giao đất nông - lâm nghiệp trong thời kỳ đổi mới (1986

Luật đất đai được Quốc hội nước cộng hoà x4 hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 28/12/1987 đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình xây dựng các chính sách đất đai ở nước ta, tiếp đó Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993, 1999 Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật đất đai 1998,

2001 cũng lần lượt ra đời Do chỉ thị 100 CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành Trung ương Đảng còn một số nhược điểm kém hạn chế vai trò kinh

2.2.2.1 Giai đoạn 1986 -1993

Trong giai đoạn này Nhà nước có chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, Nhà nước có chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân vì vậy đ4 khuyến khích nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng Các hộ

Trang 31

gia đình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức thích hợp tuỳ điều kiện cụ thể theo từng vùng như vườn rừng, trại rừng, vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, lương thực, thực phẩm, dược liệu kết hợp với cây rừng (nông lâm kết hợp)

Cùng với việc thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/04/1988 của

Bộ Chính trị Nhà nước đ4 công bố luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 19/08/1991 tạiđiều 1 của Luật này xác định: “… Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước”; tại điều 3: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư lao động, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ vào các việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến”

Đặc biệt ngày 15/09/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đ4 ban hành Quyết định 327/CT (gọi tắt là chương trình 327): “Về việc ban hành một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, b4i bồi, ven biển

và mặt nước hoang” Nội dung chương trình 327 chủ yếu vẫn tập trung để cải tạo mới rừng phòng hộ và rừng đặc dụng gồm bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng gắn nông nghiệp với lâm nghiệp giải quyết một số việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc, tham gia tích cực vào chương trình xoá đói, giảm nghèo, điều chỉnh lại lao

Trang 32

hoá điều 17 và 18 Hiến pháp 1992 Nước cộng hoà x4 hội chủ nghĩa Việt Nam Thể chế hoá đường lối cơ bản của Đảng mà trực tiếp là Nghị quyết hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 6 năm 1993

Việc Quốc hội thông qua Luật đất đai năm 1993 đ4 đánh dấu kết quả một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hoá các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế hàng hoá bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường hiện đại

Trong quá trình thực hiện Luật đất đai năm 1993 đ4 bộc lộ một số bất cập vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của x4 hội, do đó Luật đất đai năm 1993 đ4 được sửa đổi, bổ sung vào năm 1998 và năm 2001 Luật đất đai hiện hành đ4 có những bước chuyển biến tích cực, nó không chỉ giải quyết mối quan hệ giữa chủ sử dụng đất với Nhà nước mà còn mở rộng ra quan hệ giữa những người chủ sử dụng đất với nhau và được thể hiện ở các vấn đề sau:

- Hộ gia đình cá nhân là đối tượng được giao đất sản xuất nông, lâm nghiệp, thay vì giao cho HTX và tập đoàn nông, lâm nghiệp như trước đây

- Người sử dụng đất có quyền sử dụng ổn định, lâu dài, ngoài ra còn có các quyền như: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, góp vốn

- Thừa nhận đất có giá và Nhà nước xác định giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao

đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất

Ngoài ra Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 còn đề cập nhiều vấn đề đổi mới khác như: quy định mức hạn điền, thời hạn

sử dụng đất, đất dành cho nhu cầu công ích Đây là những quy định cụ thể hoá bằng các Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, nghị định 85/CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất nông nghiệp và Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc

Trang 33

giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [6] [7] [8] [9]

a> Những quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

Chủ trương giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn

định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp được quy định tại điều 18 Hiến pháp 1992, điều1, điều 12 Luật đất đai năm 1993, nghị định 64/CP gnày 27/09/1993, nghị định 85/CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ ban hành quy

định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích nông nghiệp, dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng

đất, cho thuê đất theo định mức và thời hạn Luật định

* Đối tượng được giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài

- Các nhân khẩu thường trú tại địa phương kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự

- Ngoài ra, những đối tượng sau có thể được xem xét để giao đất nông nghiệp: + Những người sống bằng nông nghiệp cư trú tại địa phương nhưng chưa có hộ khẩu thường trú mà được UBND x4 phường xác nhận

+ Con của cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước và bộ đội nghỉ mất sức hoặc nghỉ việc do sắp xếp lại sản xuất, tinh giảm biên chế chỉ được hưởng trợ cấp một lần

* Quỹ đất nông nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân

- Quỹ đất nông nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp được pháp luật quy định bao gồm: [3]

Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá được xác định vào sản xuất nông nghiệp

Đối với những loại đất nông nghiệp mà không thể giao cho từng hộ gia đình, cá nhân, tổ chức thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó phải thuê đất sản xuất

Trang 34

vào mục đích nông nghiệp

* Nguyên tắc để giao đất, sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp, việc giao đất nông nghiệp dựa trên những nguyên tắc sau:

- Giao đất trên cơ sở đảm bảo hiện trạng, đảm bảo đoàn kết, ổn định nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển, thực hiện chính sách người làm nông nghiệp có đất để sản xuất

- Người được giao đất, phải sử dụng đúng mục đích trong thời hạn được giao, phải bảo vệ, cải tạo, bồi bổ, sử dụng tiết kiệm, hợp lý để tăng khả năng sinh lợi từ đất và chấp hành đúng pháp luật đất đai

- Đất giao cho hộ gia đình, cá nhân là giao chính thức và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài

- UBND huyện, thị x4, thành phố thuộc tỉnh xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở đề nghị của UBND x4, phường, thị trấn

* Thời hạn giao đất nông nghiệp

- Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản thì thời hạn giao là 20 năm

- Đất nông nghiệp trồng cây lâu năm thì thời hạn giao là 50 năm

* Thời điểm giao đất

- Hộ gia đình và cá nhân được giao đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về trước thì được tính thống nhất từ 15/10/1993, còn nhận đất sau ngày 15/10/1993 thì được tính từ ngày giao đất

* Hạn mức giao đất nông nghiệp

- Đối với đất trồng cây hàng năm:

+ Các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng Bằng sông Cửu Long thì hạn mức giao đất không quá 3 ha

Trang 35

+ Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không quá 2 ha

- Đối với đất trồng cây lâu năm:

+ Các x4 đồng bằng giao không quá 10ha

+ Các x4 Trung du, miền núi giao không quá 30ha

Đối với đất trống, đồi núi trọc, khai hoang lấn biển thì hạn mức của hộ gia đình cá nhân do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định b> Những quy định về giao đất lâm nghiệp

Chủ trương giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hô gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích nông nghiệp được quy định tại các văn bản pháp luật Nhà nước như: Điều 18 Hiến pháp 1992, điều 1, điều 20 Luật

đất đai năm 1993, các điều 2,28,33,36 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm

1991, Luật sửa đổi bổ sung Luật đất đai năm 1993 và các năm 1998, 2001 Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định số 163/1999/NĐ- CP gnày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất nông nghiệp

* Đối tượng giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài

- Các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó, được UBND x4 nơi có đất lâm nghiệp xác nhận

- Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất theo Nghị định 02/CP từ trước ngày 01/11/1999 thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn

đ4 được giao và được cấp GCNQSD đất

* Quỹ đất lâm nghiệp để giao, cho thuê

- Gồm toàn bộ đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng đ4 được quy hoạch để trồng cây gây rừng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực

Trang 36

vật, không phân biệt độ dốc được tính vào quỹ đất lâm nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng ổn định lâu dài Tuỳ thuộc vào từng mục

đích sử dụng đất lâm nghiệp, từng loại rừng đ4 quy hoạch để giao đất, cho thuê đất cho từng đối tượng cụ thể, hộ gia đình, cá nhân có thể được giao hoặc thuê những loại đất lâm nghiệp sau:

+ Đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít sung yếu, phân tán các loại đất rừng phòng hộ, chắn sóng lấn biển, chắn gió, chắn cát

+ Đất lâm nghiệp được quy hoạch để xây dựng, phát triển sản xuất, đất lâm nghiệp dự trữ quốc gia

*Hạn mức giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp

- Hạn mức giao đất lâm nghiệp

+ Hạn mức giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân do UBND tỉnh quyết định nhưng không vượt quá 30 ha

+ Hạn mức giao đất lâm nghiệp cho tổ chức thì theo dự án của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

+ Đối với đất trống, đồi núi trọc, đất cát ven biển, đất lấn biển thì mức

đất giao cho hộ gia đình do UBND tỉnh quyết định căn cứ vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất của nông hộ

- Hạn mức cho thuê đất lâm nghiệp

+ Được căn cứ vào hiện trạng quỹ đất lâm nghiệp của địa phương nhu cầu và khả năng thuê đất của hộ gia đình có chi trong đơn xin thuê đất lâm nghiệp

*Thời hạn giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp

- Thời hạn giao đất lâm nghiệp: Thời hạn giao đất lâm nghiệp cho hộ gia

đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài là 50 năm, nếu trồng cây có chu kỳ trên 50 năm, khi hết thời hạn sử dụng này vẫn được Nhà nước giao tiếp tục sử dụng

- Thời hạn cho thuê đất lâm nghiệp

Trang 37

Thời hạn cho thuê đất lâm nghiệp đối với hộ gia đình cá nhân, tổ chức

đựoc xác định theo đơn xin thuê đất của họ, nhưng không quá 50 năm nếu dự

án có nhu cầu sử dụng đất trên 50 năm thì phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhưng không quá 70 năm

- Quy định mốc thời gian để xác định được thời hạn giao đất, thuê đất, Những đối tượng được Nhà nước giao đất trước ngày 15/10/1993 thì thời hạn được tính thống nhất từ ngày 15/10/1999 thì được sử dụng đến hết hạn ghi trong quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Khi hết thời hạn được giao, người sử dụng đất sẽ được Nhà nước xem xét để cho thuê hay tiếp tục giao, nếu họ có nhu cầu sử dụng đất và trong quá trình sử dụng đất họ chấp hành đúng luật đất đai

* Thẩm quyền giao đất, thuê đất

- UBND cấp huyện quyết định giao đất, thuê đất lâm nghiệp cho hộ gia

đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng, trong đó đất nông nghiệp bao gồm 8 loại đất, đất phi nông nghiệp bao gồm 10 loại đất…[4]

Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 thì hạn mức giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình như sau:

- Đối với đất trồng cây hàng năm, đất NTTS, đất làm muối của mỗi hộ gia đình không quá ba (03) ha cho mỗi loại đất cho các tỉnh thành phố trực thuộc TW thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu

Trang 38

Long; không quá hai (02) ha cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc TW khác

- Hạn mức trồng cây LN cho mỗi hộ gia đình không quá mười (10) ha

đối với các x4, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá ba mươi (30) ha đối với x4, phường, thị trấn ở trung du, miền núi

- Hạn mức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất cho mỗi hộ gia

đình, cá nhân không quá ba mươi (30) ha đối với mỗi loại đất

- Trường hợp hộ gia đình được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất NTTS, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá năm (5) ha

Trường hợp hộ gia đình được giao thêm đất trồng cây LN thì hạn mức

đất trồng cây LN là không quá năm (5) ha đối với các x4, phường, thị trấn ở

đồng bằng; không quá hai mươi lăm (25) ha đối với các x4, phường, thị trấn ở trung du, miền núi

Trường hợp hộ gia đình được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá hai mươi lăm (25) ha

- Hạn mức đất giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm

đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, NTTS, làm muối không quá hạn mức giao

đất quy định đối với đất trồng cây hàng năm, đất NTTS, đất làm muối, đất trồng cây LN, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất và không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình quy định cho các loại đất này

Trang 39

2.3 kết quả giao đất nông lâm nghiệp ở nước ta

2.3.1 Kết quả giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình

Thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, Nghị định

85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp, tính đến 12/2005, kết quả giao đất và cấp GCNQSDĐ của các địa phương trên phạm vi toàn quốc

đến nay, kết quả đ4 có trên 8000 x4 tiến hành giao đất nông nghiệp, để sử dụng ổn định lâu dài cho gần 11 triệu hộ nông dân (chiếm khoảng 80 % tổng

số hộ) với 45.946.000 nhân khẩu Trong gần 9,29 triệu ha đất nông nghiệp hiện có của cả nước, diện tích đ4 giao trực tiếp cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng là 8,37 triệu ha (bằng 90%) Chỉ có khoảng 1 triệu ha được giao hoặc cho thuê theo các đối tượng khác như:

- Giao cho các tổ chức kinh tế 633.149,63 ha (6,8%)

- Cho nước ngoài và liên doanh với nước ngoài thuê 8472,15 ha (0,09%)

- UBND x4 quản lý sử dụng 193.797,86 ha (2,08%)

- Các đối tượng khác sử dụng 80.992,55 ha (1,03%)

Tính đến tháng 6/1998 có 6.428 x4, phường, thị trấn triển khai cấp GCNQSDĐ, chiếm 62% số đơn vị x4, cho 7.203.455 hộ, chiếm 94,4% tổng số hộ nông dân, diện tích đất được cấp giấy chứng nhận là 6.123.571 ha, gần 87,02% tổng diện tích đất nông nghiệp ở khu vực nông thôn Một số tỉnh đ4 cơ bản hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ (đạt trên 90% tổng số hộ nông nghiệp) như: Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Bình, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Bình Thuận, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang và Bạc Liêu

Thực tế nhiều địa phương đ4 căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể để lựa chọn những phương án tiến hành giao đất thích hợp, nhằm đảm bảo yêu cầu vừa ổn định, vừa phát triển sản xuất

Trang 40

Phần lớn các tỉnh, thành phố phía Bắc (trừ một số tỉnh Miền núi) và Duyên hải Miền trung đều kế thừa những kết quả giao khoán đất cho hộ nông dân khi thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị, cách giao khoán này, phù hợp với tinh thần giao đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, nên các địa phương không phải điều chỉnh nhiều

Các tỉnh Miền núi phía Bắc, Tây nguyên và Nam bộ trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, đ4 tổ chức các hộ nông dân thương lượng với nhau dưới sự chỉ đạo chính quyền địa phương, nên khi thực hiện giao đất nông nghiệp, chủ yếu là căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất để giao đất cho hộ gia đình và cá nhân [17] 2.3.2 Kết quả giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình

Thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 và Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, kết quả giao đất lâm nghiệp tính đến 12/2005 trên địa bàn cả nước, theo số liệu báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường như sau:

Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng đ4 giao là: 11.266.903,93 ha

- Tổng diện tích đất lâm nghiệp đ4 giao cho hộ gia đình cá nhân là: 3.473.219,4 ha

- Nước ngoài và liên doanh nước ngoài thuê: 10.528,69 ha

- UBND x4 quản lý sử dụng: 264.698,97 ha

- Các tổ chức kinh tế: 3.542.419,26 ha

- Các đối tượng khác: 3.476.037,80 ha

Nhìn chung tiến độ giao đất lâm nghiệp còn chậm Nhiều địa phương chưa chú trọng đúng mức công tác giao đất lâm nghiệp Cơ chế về giao khoán cho các hộ lâm trường viên, hộ gia đình và cá nhân chưa rõ ràng Tài liệu hồ sơ để quản lý đất có rừng còn thiếu, chưa đồng bộ

2.3.3 Tình hình sử dụng đất sau khi giao đất

Chủ trương giao đất nông lâm nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thực hiện đánh giá hiệu quả sử dụng đất của nông hộ dưới tác động của  chính sách giao đất ổn định lâu dài và các quyền sử dụng đất - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Sơ đồ th ực hiện đánh giá hiệu quả sử dụng đất của nông hộ dưới tác động của chính sách giao đất ổn định lâu dài và các quyền sử dụng đất (Trang 45)
Bảng 4.1. Cơ cấu GTSX của các ngành huyện Yên Thành qua các năm 1995199820012005 Chỉ tiêu GTSX (triệu đồng) - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.1. Cơ cấu GTSX của các ngành huyện Yên Thành qua các năm 1995199820012005 Chỉ tiêu GTSX (triệu đồng) (Trang 54)
Bảng 4.2.Diện tích năng suất sản l−ợng một số cây trồng chính - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.2. Diện tích năng suất sản l−ợng một số cây trồng chính (Trang 56)
Bảng 4.3.Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm của huyện Yên Thành - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.3. Tình hình chăn nuôi gia súc-gia cầm của huyện Yên Thành (Trang 57)
Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Thành - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Hình 4.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Thành (Trang 60)
Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng các loại đất huyện Yên Thành (năm 2005) - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng các loại đất huyện Yên Thành (năm 2005) (Trang 60)
Bảng 4.5: Tình hình sử dụng đất của 4 xã  năm 1995 - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.5 Tình hình sử dụng đất của 4 xã năm 1995 (Trang 65)
Bảng 4.7: Tình hình sử dụng đất nông lâm, nghiệp   của các đối t−ợng sử dụng đất năm 1995 - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.7 Tình hình sử dụng đất nông lâm, nghiệp của các đối t−ợng sử dụng đất năm 1995 (Trang 67)
Bảng 4.10: So sánh tình hình sử dụng đất của các xã trước và sau giao đất - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.10 So sánh tình hình sử dụng đất của các xã trước và sau giao đất (Trang 73)
Hình 4.2 : So sánh tình sử dụng đất trước và sau giao đất - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Hình 4.2 So sánh tình sử dụng đất trước và sau giao đất (Trang 74)
Bảng 4.15:  Hướng đầu tư của hộ gia đình - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.15 Hướng đầu tư của hộ gia đình (Trang 84)
Bảng 4.16: Cơ cấu bình quân diện tích các loại cây trồng của hộ gia đình sau khi giao đất, giao rừng  Bình quân chungX4 Nam ThànhX4 Thọ ThànhX4 Lăng ThànhX4 M4 Thành êu 1995 (m2/ hộ) - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.16 Cơ cấu bình quân diện tích các loại cây trồng của hộ gia đình sau khi giao đất, giao rừng Bình quân chungX4 Nam ThànhX4 Thọ ThànhX4 Lăng ThànhX4 M4 Thành êu 1995 (m2/ hộ) (Trang 87)
Hình 4.3: So sánh năng suất bình quân các loại cây trồng chính   trước và sau khi giao đất - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Hình 4.3 So sánh năng suất bình quân các loại cây trồng chính trước và sau khi giao đất (Trang 90)
Bảng 4.17: So sánh năng suất một số loại cây trồng chính tr−ớc   và sau khi giao đất - Đánh giá tác động của công tác giao đất nông  lâm nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ trên địa bàn huyện yên thành  tỉnh nghệ an
Bảng 4.17 So sánh năng suất một số loại cây trồng chính tr−ớc và sau khi giao đất (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w