Những người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm: Người đại diện theo pháp luật của DN, HTX; chủ DN tư nhân, chủ tịch HĐQT của CTCP, Chủ tịch Hội đồng thành viên của côn
Trang 1Tiểu luận
Đề tài:
Phần 1 Luật phá sản, giải thể doanh nghiệp.
1 Khái niệm
2 Ba điểm mới cơ bản của Luật phá sản năm 2014
3 Luật phá sản ở một số nước trên thế giới
4 Kinh nghiệm từ thế giới
Phần 2 Luật sáp nhập doanh nghiệp.
1 Định nghĩa
2 Thủ tục sáp nhập doanh nghiệp
3 Sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới
4 Sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
5 Những bất cập trong sáp nhập doanh nghiệp
6 Giải pháp
Thành viên:
Trang 2Phần 1 Luật phá sản, giải thể doanh nghiệp
1 Khái niệm
Thuật ngữ phá sản được lý giải rất khác nhau về xuất xứ, song khái niệm này đều được
sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một thương nhân hay của một doanh nghiệp
2 Ba điểm mới cơ bản của Luật phá sản năm 2014
Ngày 19/6/2014 Quốc hội đã thông qua Luật Phá sản năm 2014 Luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, thay thế cho Luật Phá sản 2004 Theo đó, Luật Phá sản 2014 gồm
14 chương, 133 điều, có nhiều nội dung mới so với Luật Phá sản 2004 trong đó có 3 điểm mới cơ bản.
Xác định DN, HTX mất khả năng thanh toán
Tiêu chí xác định doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán (Khoản 1, Điều 4 Luật Phá sản 2014) là “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” chứ không phải “không có khả năng thanh toán”
Thời điểm được xác định trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu” như quy định tại Luật Phá sản 2004 Bộ luật mới không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh DN, HTX không có khả năng thanh toán bằng bản cân đối tài chính
Căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản là có khoản nợ và đến thời điểm Tòa án ra quyết định việc mở thủ tục phá sản DN, HTX vẫn không thanh toán Tiêu chí mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ nhiều hay ít
mà chỉ cần 1 khoản nợ Luật Phá sản 2014 không quy định giới hạn các khoản nợ
Điều này có thể hiểu bất kỳ khoản nợ nào, dù nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ hợp đồng chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản DN, HTX
Điều 5 Luật Phá sản 2014 xác định rõ người có quyền, người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Theo đó, những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm: Chủ
nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần; người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở; cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong
Trang 3thời gian liên tục ít nhất 6 tháng trong trường hợp Điều lệ công ty quy định; thành viên HTX hoặc người đại diện theo pháp luật của HTX, thành viên của liên hiệp HTX
Những người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm: Người đại diện theo pháp luật của DN, HTX; chủ DN tư nhân, chủ tịch HĐQT của CTCP, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH MTV, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
Quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản
Luật Phá sản 2014 quy định cá nhân, DN được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản, gồm: Quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản
Quản tài viên là luật sư, kiểm toán viên, người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 5 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo được cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên
DN quản lý, thanh lý tài sản gồm: Công ty hợp danh có tối thiểu 2 thành viên hợp danh là quản tài viên, tổng giám đốc hoặc giám đốc của công ty hợp danh là quản tài viên; DN tư nhân có chủ DN là quản tài viên, đồng thời là giám đốc
Việc xây dựng chế định chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân, pháp nhân là một bước thay đổi cơ bản trong Luật Phá sản 2014 Có thể nói, Luật Phá sản 2014 tạo ra một nghề nghiệp mới: nghề quản lý thanh lý tài sản phá sản của quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản
Theo quy định tại Điều 85, Điều 86 Luật Phá sản 2004, Tòa án ra quyết định tuyên
bố DN, HTX bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản khi DN, HTX không còn tài sản để thực hiện phương án phân chia tài sản; hoặc phương
án phân chia tài sản đã được thực hiện xong
Luật Phá sản 2014 quy định theo hướng khi Hội nghị chủ nợ không thành hoặc theo nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, Tòa án tuyên bố DN, HTX phá sản Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thủ tục thi hành quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản
Tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn
Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 5 Luật Phá sản 2014 mà DN, HTX mất khả năng thanh toán, không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì nộp đơn ghi rõ yêu cầu Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn
Trang 4Đơn yêu cầu mở thụ tục phá sản và các tài liệu kèm theo phải đúng quy định tại Điều 28 Luật Phá sản 2014 và có đầy đủ căn cứ chứng minh DN, HTX không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản
Đối với trường hợp này, thủ tục phá sản được giải quyết nhanh chóng Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Tòa án thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản về việc Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn, Tòa án xem xét, tuyên bố DN, HTX phá sản hoặc tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết
Xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt, đây cũng là thủ tục mới mà Luật Phá sản 2004 không có
Về thủ tục nộp đơn: Người tham gia thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản Về thẩm quyền xem xét đơn: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Về căn cứ xem xét: Tòa án xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt khi có một trong hai căn cứ sau: 1 Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản; 2 Phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên bố phá sản
mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản không thể biết được khi Tòa án nhân dân ra quyết định
3 Luật phá sản ở một số nước trên thế giới
Luật phá sản ở Hoa Kỳ
Đặc trưng cơ bản của pháp luật Hoa Kỳ là “khuyến khích chấp nhận rủi ro và tinh thần doanh nhân” Luật Phá sản Hoa Kỳ ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi Pháp luật phá sản Hoa Kỳ được áp dụng cho cả doanh nghiệp và cá nhân
Luật phá sản Cộng hòa Pháp
Pháp luật phá sản hiện đại của Pháp chủ yếu hướng tới thủ tục tái tổ chức lại hoạt động của con nợ Càng ngày, luật phá sản Pháp càng tiến tới việc cứu vớt doanh nghiệp hơn là tiến hành các thủ tục để đóng cửa doanh nghiệp
Luật phá sản Trung Quốc
Luật Phá sản doanh nghiệp của Trung Quốc lần đầu tiên được thông qua năm 1986
và chỉ áp dụng cho khối doanh nghiệp Nhà nước
Năm 2006, Luật Phá sản doanh nghiệp Trung Quốc được áp dụng cho tất cả các chủ thể kinh doanh tồn tại dưới hình thức pháp lý là doanh nghiệp, không có sự phân biệt
Trang 5quốc doanh hay dân doanh Tuy nhiên, Luật này vẫn không áp dụng đối với cá nhân vỡ
nợ, điểm này giống với Luật Phá sản Việt Nam hiện hành
4 Kinh nghiệm từ thế giới
Xúc tiến phục hồi hoạt động của con nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán) là mục tiêu và là xu thế chung của luật phá sản hiện đại trên thế giới Các chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm về vấn đề này
Luật sư Lương Văn Lý
Ở Việt Nam, bản thân tôi cũng không xử lý nhiều những vụ phá sản của các doanh nghiệp Việt Nam Tôi cho rằng Luật Phá sản của Việt Nam chưa cụ thể, mới chỉ dừng ở mức nguyên tắc chung trong khi “đụng” vào một vụ xử lý phá sản sẽ có muôn vàn vấn đề cần giải quyết Chính vì vậy, thời gian xử lý các vụ phá sản thường rất kéo dài Luật pháp vẫn còn nhiều kẽ hở và phụ thuộc vào cách giải quyết của một số người có vai trò trong Tòa án, khi đó các bên liên quan thường cảm thấy không được đảm bảo về pháp lý Một
số trường hợp không tránh khỏi việc có liên quan đến lợi ích
Theo tôi, một doanh nghiệp bị phá sản là việc rất bình thường, do vậy không nên
áp dụng những “hình phạt” bằng việc cấm chủ doanh nghiệp đó tiếp tục kinh doanh trong vòng 1-3 năm trừ phi họ phá sản vì mục đích trục lợi, vi phạm luật pháp…
Xúc tiến phục hồi hoạt động của con nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán) là mục tiêu và là xu thế chung của luật phá sản hiện đại trên thế giới Điều này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện kinh doanh, là phương thuốc cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Phá sản là một hiện tượng tất yếu Nhưng trước hết cũng cần phải có những biện pháp “cứu chữa”, nếu không tác dụng mới tiến hành loại bỏ.Thủ tục phục hồi chính là phương thuốc cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Dự thảo Luật Phá sản cho phép thẩm phán chỉ định luật sư có chứng chỉ về quản
lý tài sản làm Quản tài viên có những quyền hạn, gồm: quản lý tài sản; tổ chức hội nghị chủ nợ; giám sát và quản lý hoạt động kinh doanh trong trường hợp phục hồi, tái cơ cấu doanh nghiệp…Tôi cho rằng điều này rất phù hợp với các nước tiên tiến và là xu hướng chung của thế giới, trong đó có Đức, Anh, Mỹ…
Quản tài viên sẽ là người giám sát, bảo đảm sao cho quá trình xét xử phá sản của doanh nghiệp thật trung thực, công minh nhằm mang lại quyền lợi cho tất cả các bên liên quan một cách công bằng
Trang 6 Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành
Ở Mỹ, Luật Phá sản rất hữu ích cho doanh nghiệp Doanh nghiệp nếu lâm vào tình trạng khó khăn về kinh doanh như: vốn vay nhiều, lãi suất cao…khiến họ không thể tiếp tục kinh doanh trong điều kiện tối ưu thì sẽ sử dụng Luật Phá sản với mục đích nhận được sự bảo hộ của luật pháp và tái cấu trúc lại doanh nghiệp
Mỹ có hệ thống tòa án thương mại riêng chỉ chịu trách nhiệm xử những vụ việc liên quan đến kinh doanh, thương mại Tòa án này được phân bổ từng vùng, trong đó thẩm phán là người có trình độ về kinh doanh thương mại, sẽ theo dõi sát sao quá trình diễn ra các vụ xử lý phá sản cho tới khi doanh nghiệp được tái cấu trúc lại hoặc ngừng hoạt động hẳn
Một khi doanh nghiệp đã tuyên bố phá sản thì mọi hoạt động sẽ dừng lại: Ngân hàng sẽ không đòi lãi suất, chủ nợ không được phép đòi tiền Khi đó, Luật Phá sản góp phần quan trọng, giúp bảo vệ quyền lợi cho tất cả các thành phần liên quan đến vụ phá sản và quan trọng là tất cả các bên đều đạt được sự đồng thuận
Luật sư Trần Anh Đức
Luật Phá sản của Việt Nam tương đối lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới Ví dụ, Luật Phá sản của Việt Nam dùng cụm từ “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” trong khi ở các nước tiên tiến họ dùng cụm từ “doanh nghiệp mất khả năng thanh toán” Được biết, Luật Phá sản sửa đổi của Việt Nam cũng sẽ đi theo hướng như thế
Ở nhiều nước trên thế giới khi xử lý các vụ phá sản thì con nợ bị đặt dưới sự giám sát của các chủ nợ trong khi chủ nợ ở Việt Nam không có tiếng nói Tôi hy vọng trong Luật sửa đổi tới vai trò của chủ nợ sẽ được thể hiện rõ Khi một doanh nghiệp phá sản thì con nợ, các chủ nợ phải họp lại để tìm ra giải pháp, quyết định cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động hay không?
Trong dự thảo Luật sửa đổi, việc thẩm phán được chỉ định quản tài viên – là người đứng ra quản lý tài sản cũng là xu hướng chung của các nước trên thế giới
Hay như thẩm phán cũng cần có những kiến thức cần thiết phục vụ cho công việc
Ở Mỹ, điều kiện để trở thành sinh viên trường Luật là phải có bằng tốt nghiệp của một trường đại học nào đó, trong khi Việt Nam mình không như vậy Nếu bạn đã có bằng đại học kinh tế rồi, lại tốt nghiệp trường Luật nữa thì sẽ có nền tảng về kinh tế rất tốt để phục vụ cho công việc thẩm phán của tòa án thương mại
Trang 7Tuy nhiên, cũng cần phải dựa vào hoàn cảnh kinh tế của từng quốc gia để có những quy định cụ thể cho Luật Phá sản Chẳng hạn đối với một số nước tiến bộ, nếu một doanh nghiệp phá sản vì họ vay tiền ngân hàng nhưng không trả được nợ thì không có nghĩa là con nợ đó sẽ bị ngân hàng đuổi ra khỏi nhà mà ngân hàng sẽ có cách giải quyết khác ổn thỏa hơn Phải thừa nhận rằng để giải quyết được theo cách này còn phụ thuộc vào nền kinh tế của họ Cùng trường hợp như vậy ở Việt Nam thì lại không giải quyết theo cách đó vì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới ngân hàng, đồng nghĩa với tác động lên nền kinh tế
Ngoài ra, quá trình xử lý các trường hợp phá sản ở các nước tiên tiến minh bạch,
rõ ràng hơn Việt Nam
Trang 8Phần 2 Luật sáp nhập doanh nghiệp
1 Định nghĩa
Theo khoản 1 Điều 152 Luật Doanh nghiệp 2005 thì sáp nhập doanh nghiệp là:
“Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.”
Theo khoản 1 Điều 17 Luận Cạnh tranh về sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp và liên doanh giữa các doanh nghiệp: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.”
2 Thủ tục sáp nhập doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật, hồ sơ sáp nhập Doanh nghiệp bao gồm những giấy
tờ tài liệu sau đây:
Về hồ sơ đăng ký sáp nhập doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật, hồ sơ sáp nhập Doanh nghiệp bao gồm những giấy
tờ tài liệu sau đây:
− Hợp đông sáp nhập: có sự thông qua của các thành viên/chủ sở hữu công ty/các cổ đông sáng lập của các công ty liên quan:
− Biên bản họp Hội đồng thành viên đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc biên bản họp Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
− Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty nhận sáp nhập và Công
ty bị sáp nhập;
− Biên bản họp;
− Đơn đăng ký sáp nhập;
− Danh sách thành viên;
− Các tài liệu cần thiết khác;
Về thủ tục sáp nhập
− Các thành viên/chủ sở hữu công ty/các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập Điều lệ công ty nhận sáp nhập
− Tiến hành đăng ký kinh doanh Công ty nhận sáp nhập theo qui định của pháp luật
Trang 9− Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập (công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan không được tiến hành nhận sáp nhập)
Về thời gian thực hiện thủ tục sáp nhập doanh nghiệp
Thời gian thực hiện thủ tục sáp nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào hai khoảng thời gian sau đây:
− Thời gian soạn thảo hợp đồng sáp nhập và điều lệ của doanh nghiệp sáp nhập
− Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký sáp nhập doanh nghiệp: thời gian luật định đối với thực hiện hoạt động đăng ký sáp nhập doanh nghiệp là 10 ngày làm việc (kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp)
3 Sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới
Hiện nay trên thế giới người ta thường nhắc đến thuật ngữ M&A (viết tắt của cụm
từ tiếng Anh mergers and acquisitions có nghĩa là mua bán và sáp nhập) là việc mua bán
và sáp nhập các doanh nghiệp trên thị trường
Các vụ sáp nhập doanh nghiệp hiện nay đã trở thành một hình thức đầu tư thông dụng của các công ty muốn bảo vệ, củng cố và thúc đẩy vị trí của mình bằng cách sáp nhập công ty khác từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của mình Ngoài ra, yêu cầu giảm bớt các chi phí tăng cao của hoạt động nghiên cứu và phát triển trên một khu vực địa lý rộng hơn và việc mở ra các thị trường mới cho cạnh tranh đã thúc đẩy tốc độ của các vụ sáp nhập doanh nghiệp trong quá trình tổng thể của cả đầu tư trong nước và nước ngoài
Theo kết quả của cuộc điều tra do hãng Kiểm toán PricewaterhouseCoopers’ (PwC) khoảng 45% các doanh nghiệp đang có ý định tiến hành các thương vụ mua bán sáp nhập xuyên quốc gia trong năm 2012 để tiếp tục tăng trưởng và mở rộng hoạt động kinh doanh Khu vực châu Á – Thái Bình Dương được nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọn để tính chuyện tiến hành các thương vụ mua bán sáp nhập xuyên quốc gia trong năm 2012 nhất Tiếp đó là khu vực Tây Âu, Đông Âu và Mỹ Latin
Hewitt Associates (Hewitt), một công ty tư vấn nguồn nhân lực toàn cầu đã tiến hành chương trình nghiên cứu hoạt động sáp nhập, mua lại giữa 73 công ty quy mô lớn của 11 khu vực châu Á – Thái Bình Dương Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động liên kết sáp nhập ở Châu Á sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, với 59% số người
Trang 10được hỏi cho biết trong tương lai gần họ thích đầu tư vào châu Á hơn các khu vực khác, còn 44% rất lạc quan về hoạt động liên kết sáp nhập ở châu Á trong những năm tới
Trên thế giới hiện nay cũng đang phổ biến phương pháp sáp nhập ngược Sáp nhập ngược là phương pháp để công ty cổ phần nội bộ có thể trở thành một công ty cổ phần đại chúng, niêm yết trên thị trường chứng khoán Trong đó, công ty cổ phần nội sẽ sáp nhập hoặc thâu tóm một công ty không có tài sản, không có nợ đã niêm yết trên thị trường chứng khoán (công ty loại này ở Mỹ khá nhiều) Quá trình sáp nhập ngược được diễn ra theo cách công ty vỏ bọc phát hành cổ phần mới cho công ty cổ phần nội bộ với
số lượng lớn đến nổi cuối cùng công ty cổ phần nội bộ lại trở thành cổ đông đa số, sở hữu phần lớn cổ phiếu (thường trên 80%) của công ty cổ phần đại chúng Với tư cách là chủ
sở hữu mới, công ty cổ phần nội bộ thường sẽ đổi tên, mã cổ phiếu giao dịch của công ty
cổ phần đại chúng và sẽ bổ nhiệm, bầu ra Ban lãnh đạo công ty, Hội đồng quản trị cho phù hợp với nhu cầu của các chủ sở hữu mới Có thể thấy những lợi ích vượt trội của sáp nhập ngược đó là nó không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện thị trường, giảm chi phí, tốn ít thời gian vì thủ tục đơn giản hơn rất nhiều, đồng thời có thêm nhiều kênh huy động vốn khác Các doanh nghiệp Trung Quốc đã áp dụng thành công phương pháp này Đây cũng là con đường cho các doanh nghiệp đã cổ phần Việt Nam trở thành công ty đại chúng, đặc biệt là các công ty mong muốn niêm yết trên thị trường nước ngoài
Xem xét các vụ sáp nhập trên thế giới, điển hình như vụ sáp nhập giữa đại gia thép của Pháp Arcelor và đối thử Mital, vụ sáp nhập giữa tập đoàn Endesa của Tây Ban Nha với tập đoàn năng lượng E.ON của Đức, vụ sáp nhập diễn ra giữa tập đoàn viễn thông AT&T với đối thử BellSouth, … ta thấy:
• Hầu hết các thương vụ sáp nhập đều diễn ra giữa các công ty của các nước phát triển
• Các vụ sáp nhập chủ yếu diễn ra trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, công nghiệp dầu khí, công nghiệp thực phẩm,…
• Sự ghi nhận về sáp nhập không phải lúc nào cũng tích cực Nghiên cứu cho thấy hầu hết các vụ sáp nhập doanh nghiệp không đạt được lợi ích của chúng, chỉ khoản 15% cả vụ sáp nhập đạt được các mục tiêu hợp lực của chúng, 15% các vụ sáp nhập khác dẫn đến kết quả bi thảm, 70% còn lại ảnh hưởng không rõ rệt
Tuy nhiên, hiện nay sáp nhập doanh nghiệp vẫn đang lên “cơn sốt” trên thế giới và
có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam
4 Sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam