1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tiểu luận môn pháp luật đại cương : Quan điểm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.

13 99 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 36,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận sẽ làm rõ quan điểm lập pháp ở một số quốc gia trên thế giới về chế độ tài sản ước định trên một số phương diện cơ bản như: Nội dung, quy định về sửa đổi, thay đổi, hiệu lực của hợp đồng.

Trang 1

Đề tài: Quan điểm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.

Nhóm 1 - Anh 03 - KTQT

Thành viên:

Nguyễn Tiến Đức - 2014410020

Nguyễn Thị Ngọc Anh - 2014410007

Tạ Khắc Cường - 2014410017

Hoàng Thị Ngọc Ánh - 2014410011

Bùi Thị Thục Anh - 2014410002

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 2

I Giới thiệu đề tài: 2

II Mục tiêu nghiên cứu: 2

B PHẦN NỘI DUNG 3

I Cơ sở lí luận về chế độ tài sản vợ chồng 3

1 Khái niệm về chế độ tài sản vợ chồng 3

2 Đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng 3

3 Vai trò của chế độ tài sản vợ chồng 3

4 Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận - Chế độ tài sản ước định 4

II Liên hệ vận dụng 4

1 Chế độ tài sản ước định trong pháp luật Việt Nam 4

2 Chế độ tài sản ước định của một số nước trên thế giới 6

2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển 6

2.2 Chế độ tài sản ước định của vợ chồng ở một số quốc gia 7

2.2.1 Thái Lan 7

2.2.2 Cộng hòa liên bang Đức 8

2.2.3 Cộng hòa Pháp 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Giới thiệu đề tài:

Kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đó phản ánh sự chung sống của hai

vợ chồng và con cái (nếu có) Như là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy chế được gọi là Chế độ tài sản của vợ chồng Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được quy định gắn liền với các điều kiện kinh tế

- xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân…Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) Trong phạm vi bài tiểu luận này, người viết xin trình bày về quan điểm lập pháp ở một số quốc gia về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận - chế độ tài sản ước định

II Mục tiêu nghiên cứu:

Bài tiểu luận sẽ làm rõ quan điểm lập pháp ở một số quốc gia trên thế giới về chế độ tài sản ước định trên một số phương diện cơ bản như: Nội dung, quy định về sửa đổi, thay đổi, hiệu lực của hợp đồng

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận về chế độ tài sản vợ chồng

1 Khái niệm về chế độ tài sản vợ chồng

Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định

2 Đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng

Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu của vợ chồng Vợ, chồng với

tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình tham gia các giao dịch dân

sự Chế độ tài sản của vợ chồng có một số đặc điểm sau:

Một là, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, thì các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Hai là, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài sản của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền

và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng

Ba là, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân

3 Vai trò của chế độ tài sản vợ chồng

Một là, chế độ tài sản được pháp luật ghi nhận (dù là chế độ tài sản theo thỏa thuận – chế độ tài sản ước định, hay theo căn cứ của pháp luật – chế độ tài sản pháp định)

Trang 4

nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ, chồng có những cách “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội

Hai là, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng và giữa các thành viên của gia đình với nhau

Ba là, chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phải ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với người khác, nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng, các giao dịch đó được đảm bảo thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của người tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ

4 Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận - Chế độ tài sản ước định

Chế độ tài sản theo thỏa thuận vợ chồng là thỏa thuận bằng văn bản được vợ chồng xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện trước khi kết hôn để quy định về chế độ tài sản của vợ chồng Nội dung của thỏa thuận sẽ do vợ chồng cùng thảo luận, bàn bạc và thống nhất với nhau về các vấn dề xoay quanh tài sản của họ trong thời kì hôn nhân, bao gồm căn cứ xác lập tài sản; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; và các trường hợp cũng như nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng Thỏa thuận này sau khi được xác lập sẽ là căn cứ pháp lý để điều chỉnh quyền

và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản của họ trong suốt thời kì hôn nhân

II Liên hệ vận dụng

1 Chế độ tài sản ước định trong pháp luật Việt Nam

Nội dung

Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định khá chi tiết về những nội dung cơ bản phái được nêu trong thóa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, cụ thế:

- Những tài sản nào được xác định là tài sản chung và tài sản riêng;

- Quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

- Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

Trang 5

- Và những nội dung liên quan khác tùy theo thỏa thuận của vợ và chồng.

Theo đó, thỏa thuận về tài sản của vợ và chồng có những điểm đáng lưu ý về nội dung như sau:

Thứ nhất, xác định quyền sở hữu đối với tài sản Vợ chồng cần xác định rõ tài sản nào

là tài sản riêng của mỗi bên, tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng đế xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với tài sản đó Vợ và chồng có thể thỏa thuận phương pháp xác định tài sản theo một trong những phương án sau:

- Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sán chung và tài sán riêng của vợ, chồng;

- Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do

vợ, chồng Có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

- Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó; hoặc

- Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng

Trong trường hợp vợ và chồng thỏa thuận các tài sán chung và riêng theo phương liệt

kê thì cần lưu ý rằng nếu trong thỏa thuận không có đề cập đến quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ; tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riệng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác hoặc khoản trợ cấp, ưu đãi

mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhẫn thân của vợ, chồng; thì những tài sản này

sẽ được xác định là tài sản riêng của vợ/ chồng

Thứ hai, nội dung của thỏa thuận vợ chồng về tài sán cần đáp ứng các nguyên tắc

chung về chế độ tài sản của vợ chồng, cụ thế:

- Vợ, chồng bình đăng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập;

- Vợ, chồng có nghĩa vụ báo đám điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

Trang 6

- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sán của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phái bồi thường

Thứ ba, đối với tài sản là nhà ở duy nhất của vợ và chồng thì việc xác lập, thực hiện,

chấm dứt các giao dịch liên quan đến loại tài sản này cần phải có sự thỏa thuận của vợ

và chồng Trong trường hợp nhà ở duy nhất này là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì người có quyền sở hữu tài sản này có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản nhưng phải đảm bảo chỗ ở cho người còn lại

Thứ tư, ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, vợ chồng còn có thể thỏa thuận những

nội dung khác (vấn đề cấp dưỡng cho cha, mẹ, con ) liên quan đến chế độ tài sản của

vợ chồng phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi bên

Thứ năm, đối với những nội dung chưa được ghi nhận trong thỏa thuận về tài sản của

vợ chồng hoặc có quy định nhưng chưa rõ ràng thì sẽ được giải quyết theo nguyên tắc chung và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định

Quy định về thay đổi, sửa đổi hôn ước

Nội dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng có thể được sửa đổi, bổ sung một phần hay toàn bộ bắng văn bản có công chứng hoặc chứng thực (Điều 47 và 49 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014)

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam vẫn cho phép vợ, chồng thay đổi chế độ tài sản và áp dụng chế độ tài sản theo luật định trong thời kỳ hôn nhân mặc dù trước đó đã áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận Quy định này của Luật Hôn Nhân Gia Đình Việt Nam khá khác biệt so với quy định về chế độ tài sán trong BLDS và Thương Mại Thái Lan Theo quy định của BLDS và Thương Mại Thái Lan thì việc thay đối thóa thuận tiền hôn nhân sau khi kết hôn chỉ được thực hiện bởi Tòa án có thẩm quyền Như vậy, có thể thấy quy định về việc thay đổi chế độ tài sản của pháp luật Việt Nam có sự linh hoạt và tào điều kiện thuận lợi hơn cho các cặp vợ chồng

2 Chế độ tài sản ước định của một số nước trên thế giới.

2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển

Chế độ tài sản theo thỏa thuận không còn là điều mới lạ với nhiều nước trên thế giới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm Theo hình thái hôn nhân cổ xưa Manus, người phụ

nữ phải lệ thuộc vào uy quyền của người chồng đã được bãi bỏ một cách rộng khắp

Trang 7

vào thời kỳ đế quốc và một người phụ nữ đã lập gia đình có quyền giữ lại quyền sở hữu với bất kỳ của hồi môn nào mà họ sở hữu Về mặt pháp lý, khi kết hôn thường tự lập thỏa thuận trong đó ghi xác định trước quan hệ tài sản giữa họ với nhau trong cuộc sống tương lai đồng thời cũng nêu rõ những điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ (chồng) chết Việc thỏa thuận như vậy thể hiện sự độc lập và không vụ lợi trong quan

hệ tài sản của các bên nam nữ khi tiến tới hôn nhân nhưng họ vẫn nằm dưới thẩm quyền pháp lý của người cha, bất kể là họ đã đi lấy chồng chăng nữa và chỉ khi nào người cha qua đời, họ mới được tự do về mặt pháp lý Nhiều nước trên thế giới ghi nhận sự thỏa thuận này trong pháp luật quốc gia mình, tuy nhiên mỗi quốc gia lại có thuật ngữ, quy định quá trình tạo lập cũng như công nhận sự thỏa thuận này không giống nhau Trong đó, thuật ngữ “hôn ước” được sử dụng khá phổ biến, thuật ngữ này được hiểu: là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức nhất định Đây là chế độ tài sản ước định, còn gọi là thỏa thuận tiền hôn nhân về tài sản Trong

đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng được áp dụng trong thời

kỳ hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân

2.2 Chế độ tài sản ước định của vợ chồng ở một số quốc gia

2.2.1 Thái Lan

Nội dung

Do ảnh hưởng từ pháp luật các nước phương Tây, Bộ luật dân sự và thương mại năm

1925, sửa đổi năm 2009 của Thái Lan đã bổ sung các quy định về chế độ chia tài sản

vợ chồng theo thỏa thuận với tên gọi “Hôn ước” Theo quy định của bộ luật này, trường hợp trước khi kết hôn, nếu vợ chồng không ký kết với nhau một thỏa thuận đặc biệt liên quan đến quan hệ tài sản giữa họ, thì mối quan hệ giữa họ liên quan đến tài sản sẽ được điều chỉnh bởi các quy định của Bộ luật này

Với quy định này, Bộ luật đã cho phép vợ chồng có thể xây dựng cho riêng họ các thỏa thuận tiền hôn nhân nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản và có quy định khá chi tiết

về các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận tiền hôn nhân Về mặt hình thức, thỏa thuận phải đầy đủ các điều kiện sau mới được coi là có giá trị pháp lí:

- Phải được thực hiện bằng văn bản, có chữ kí của cả hai vợ chồng và có ít nhất 2 người làm chứng

- Phải xuất trình với cơ quan đăng kí kết hôn ngay tại thời điểm đăng kí kết hôn

Trang 8

- Phải đưa vào đăng kí kết hôn với tư cách là một phần phụ lục của đăng kí kết hôn

Về mặt nội dung, các quy định về nội dung trong văn bản thỏa thuận còn chưa cụ thể,

có chăng cũng chỉ là quy định về trường hợp hôn ước bị vô hiệu như:

- Thỏa thuận trái với trật tự công cộng hoặc phong tục đạo đức tốt đẹp của xã hội

- Chỉ ra rằng mối quan hệ tài sản của vợ chồng được điều chỉnh bởi pháp luật nước ngoài

Quy định về việc thay đổi, sửa đổi hôn ước

Việc thay đổi chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng được Bộ luật quy định: “Sau khi kết hôn, thỏa thuận tiền hôn nhân không thể bị thay đổi, ngoại trừ bởi thẩm quyền của Tòa án” Khi có phán quyết cuối cùng của Tòa án để thực hiện việc thay đổi, hủy

bỏ thỏa thuận tiền hôn nhân, Tòa án phải thông báo vấn đề sửa đổi hoặc hủy bỏ này đến cơ quan đăng ký kết hôn để cơ quan này đưa nội dung đó vào đăng ký kết hôn Ngoài các điều khoản trong thỏa thuận tiền hôn nhân sẽ không có hiệu lực trong trường hợp tác động đến các quyền của người thứ ba ngay tình cho dù chúng được thay đổi hoặc hủy bỏ theo lệnh của Tòa án Và bất kỳ thỏa thuận được ký kết giữa vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được hủy bỏ bởi mỗi bên tại bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ hôn nhân hoặc trong vòng một năm kể từ ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân; với điều kiện là sự hủy bỏ này không ảnh hưởng đến quyền của người thứ ba ngay tình

Như vậy, Thái Lan chưa có quy định cụ thể về điều kiện về thời gian cũng như trình tự thủ tục cụ thể cho việc thay đổi văn bản thỏa thuận đã xác lập trước đó, việc sửa đổi ngoài việc tuân thủ điều kiện về thời gian thì vẫn phải tuân thủ điều kiện về thể thức và thủ tục xác nhận như đã làm với bản hôn ước ban đầu

2.2.2 Cộng hòa liên bang Đức

Nội dung

Những thỏa thuận cần thiết trong hợp đồng hôn nhân về vấn đề tài sản:

- Đa số các hợp đồng hôn nhân quy định cách chia tài sản theo phương pháp

Gütertrennung, nghĩa là trong thời gian chung sống hôn nhân, tài sản của ai làm ra sẽ của người đó nếu ly hôn Không có điều khoản này, tài sản sẽ bị chia theo phương thức cân đối công bằng do luật pháp quy định

Trang 9

- Vấn đề đóng góp nuôi vợ (thường người vợ thu nhập thấp hơn hoặc không có do ở nhà lo nội trợ) cũng có thể được thỏa thuận tại hợp đồng hôn nhân, ví dụ cho một khoảng thời gian nhất định, hoặc thay vì hàng tháng nhận tiền, người có quyền yêu cầu (vợ) nhận một khoản “bồi thường” lớn

- Các hợp đồng hôn nhân có thể bị tòa án đánh giá không có hiệu lực, nếu như có nội dung vi phạm phong tục tập quán (sittenwidrig) Ở đây các tòa dân sự xử ly hôn sẽ kiểm tra tính hiệu lực của hợp đồng hôn nhân

- Hợp đồng hôn nhân có hiệu lực vô thời hạn, tuy nhiên các bên tham gia cần cho kiểm tra lại sau một thời gian, để phù hợp với tình hình cá nhân, cần thiết có thể thay đổi

- Hợp đồng hôn nhân thường do các luật sư dân sự thảo cho thân chủ, được ký kết tại công chứng Phí hợp đồng phụ thuộc vào tài sản và thu nhập các bên đương sự

Để hợp đồng hôn nhân hữu ích:

Những cặp vợ chồng kết hôn trước 2008 có thể thỏa thuận miệng hoặc dưới dạng văn bản về vấn đề chi phí Unterhalt cho vợ (hay chồng) khi ly dị và các thỏa thuận đó có giá trị trước pháp lý

Theo luật mới hiệu lực từ 01.01.2008, các thỏa thuận kiểu như trên cần phải được công chứng nhà nước, mới có hiệu lực pháp lý Các đòi hỏi của người vợ đối với người chồng đưa ra trước khi ly hôn, sẽ không tự động có hiệu lực sau khi ly hôn nếu điều đó không được công chứng Chính vì lẽ này mà các công chứng viên khuyên thân chủ nên

có hợp đồng hôn nhân (Ehevertrag): Trong hợp đồng được công chứng này, người vợ

và người chồng có thể thỏa thuận trước các điều khoản về vấn đề đóng góp tài chính khi ly hôn, các thoả thuận đó không nhất thiết phải theo luật định chung Một ví dụ đơn giản nhất là người sẽ nuôi con (thường là mẹ) có thể sẽ thỏa thuận được các khoản hợp lý và có lợi hơn cho mình, nếu so sánh với các quy định chung của nhà nước

Trường hợp hợp đồng hôn nhân bị coi là không có giá trị

Theo luật pháp quy định, người vợ và người chồng có thể thảo hợp đồng tự do theo ý của mình Mặc dù vậy tòa án tối cao liên bang (BGH) ở Karlsruhe năm 2004 đã có quyết định, lúc nào thì một bản hợp đồng hôn nhân bị coi là không có giá trị (án quyết

số Az.:XII ZR 265/02) Bản hợp đồng đó khi đưa ra xét xử sẽ được tòa án kiểm tra trong hai bước:

Trang 10

Bước một, kiểm tra giá trị pháp lý: tòa án sẽ xem xét thời điểm ký hợp đồng, kiểm tra nội dung hợp đồng về các tiêu chí sau: A: Liệu hợp đồng có hoàn toàn đứng về một phía và người kia có quá nhiều bất lợi khi chia tay B: Liệu bản hợp đồng này có vi phạm phong tục tập quán (các vấn đề chắc chắn phải được đem ra giải quyết khi hôn nhân), nếu như nó xác định trước một bên sẽ không chấp thuận các yêu cầu của bên kia như: Trả tiền nuôi con, tiền cân đối hưu trí, tiền nuôi dưỡng trong trường hợp người kia ốm đau Kết quả kiểm tra này hoàn toàn thuộc về phạm vi quyết định của tòa

án Ví dụ như điều khoản không trả tiền nuôi con được coi là hợp pháp nếu như đôi vợ chồng này không có kế hoạch sinh con

Bước hai, tòa án sẽ kiểm tra việc thi hành trên thực tế có đúng với bản hợp đồng hay không Thi hành sai cùng nghĩa với việc hợp đồng mất giá trị Ví dụ: Hợp đồng quy định chồng không trả tiền chăm sóc con cho vợ vì họ không có ý định có con Tuy nhiên, nếu người vợ có mang thai ngoài ý muốn và sinh con (sai hợp đồng), tòa có thể

sẽ quyết định người chồng phải trả tiền chăm sóc con cho vợ, mặc dù điều này hợp đồng đã loại bỏ

2.2.3 Cộng hòa Pháp

Nội dung

Về cơ bản, BLDS Pháp đề xuất ba mô hình quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cho chế

độ tài sản thỏa thuận Và một thực tế được nhiều học giả đồng tình là các mô hình đề xuất này đều dựa trên chế độ tài sản luật định

Một là, mô hình quan hệ tài sản chung theo thỏa thuận Đây là mô hình thể hiện rõ

nhất của quan điểm rằng chế độ tài sản thỏa thuận theo hợp đồng hôn nhân là sự mô phỏng có điều chỉnh chế độ tài sản luật định Với mô hình quan hệ tài sản này, người

ta đã thống kê có sáu bổ sung có thể xoay quanh chế độ tài sản luật định Sáu bổ sung

mà vợ chồng có thể đưa vào hợp đồng hôn nhân của mình trong chế độ tài sản chung theo thỏa thuận lần lượt có ý nghĩa như sau:

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 1497 BLDS Pháp: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm các động sản và những tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân” Theo giải thích tại Điều 1498 BLDS Pháp: “Nếu vợ chồng thỏa thuận rằng động sản và những tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của họ thì các tài sản chung sẽ bao gồm những tài sản chung thông thường theo chế độ tài sản luật định, các tài sản là

Ngày đăng: 16/09/2021, 19:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w