Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách về CTCS từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các chủ thể chính sách; đường lối, chủ trương, chính sách
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH TÚ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH TÚ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS VÕ KHÁNH VINH
Hà Nội, 2016
Trang 3Hoàn thành bản Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” Ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, trong thời gian tôi đã sưu tầm tư liệu cho bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Học viện, các Thầy, Cô giáo khoa Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội đã truyền đạt cũng như trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành bổ ích trong suốt quá trình học tập tại học viện khoa học xã hội
Tôi cũng xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy giáo người hướng dẫn khoa học GS.TS Võ Khánh Vinh, đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, k nh mong nhận được sự đóng góp của qu thầy cô và các bạn
Trân trọng cảm ơn!
i th ng 06 năm 2016
Học viên
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Ch nh sách công về “Thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt
Nam giai đoạn hiện nay” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác trong cùng lĩnh vực Trong công trình nghiên cứu này không hề có bất kỳ sự sao chép nào mà không có tr ch dẫn nguồn, tác giả
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình
i th ng 6 năm 2016
Học viên
Trần Thanh Tú
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 6
1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6
1.2 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 12
1.3 Các bước thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 16
1.4 Hình thức thực hiện ch nh sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 22
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở một số nước trên thế giới 24
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 28
2.1 Tổng quan về chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay 28
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 36
2.3 Đánh giá thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 62
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM 67
3.1 Phương hướng tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 67
3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6Kinh tế quốc tế Kinh tế thị trường
KT – XH
HĐH
Kinh tế xã hội Hiện đại hóa HĐTM
MTTQ
NTD
QLCT
Hợp đồng theo mẫu Mặt trận tổ quốc Người tiêu dùng Quản l cạnh tranh QPPL
THCS
TW
Quy phạm pháp luật Thực hiện ch nh sách Trung ương
Trang 7Trang
Hình 2.1: Hệ thống cơ quan quản l nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 29
Hình 2.2: Quá trình xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật bảo vệ người tiêu dùng 33
Hình 2.3: Công tác tuyên truyền, phổ biến ch nh sách bảo vệ người tiêu dùng 47
Hình 2.4: Số lượng giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tiêu dùng tại Bộ Công thương 55
Hình 2.5: Số lượng giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tiêu dùng tại các Sở Công thương và UBND cấp huyện trên toàn quốc 56
Hình 2.6: Tỷ lệ khiếu nại của người tiêu dùng qua các phương thức năm 2015 56
Hình 2.7: Tỷ lệ các ngành hàng hóa, dịch vụ trong khiếu nại của người tiêu dùng năm 2015 57
Hình 2.8: Số lượng hồ sơ đăng k hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung 59
Bảng 2.1: Chủ thể chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 29
Bảng 2.2: Thể chế chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 32
Bảng 2.3: Kế hoạch thực hiện ch nh sách bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam 37
Bảng 2.4: Văn bản pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 43
Bảng 2.5: Hoạt động tuyên truyền ch nh sách trên cả nước năm 2015 48
Bảng 2.6: Phân công, phối hợp thực hiện ch nh sách bảo vệ người tiêu dùng 50
Bảng 2.7: Số vụ thu hồi sản phẩm khuyết tật 58
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong chính sách kinh tế của quốc gia, “k ch cầu” là một biện pháp mà các chính phủ thường sử dụng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng bởi vì nó có tác dụng kích thích tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, giúp lưu thông nền kinh tế và làm cho nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng trì trệ Đồng thời, NTD là một mục tiêu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạch định chiến lược của các doanh nghiệp nói riêng Bên cạnh đó, khi NTD có tác động lớn đến nền kinh tế của một quốc gia thì cũng sẽ có tác động ít nhiều đến cả tổng thể xã hội của quốc gia đó Thực tế cho thấy, khi kinh tế phát triển thì văn hóa, ch nh trị, xã hội cũng có những sự tiến bộ tương ứng Do đó, việc nghiên cứu về hành vi tiêu dùng và củng
cố hơn nữa vai trò của NTD là rất quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của NTD, từ đó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mình
và sự thịnh vượng cho nền kinh tế
Tuy nhiên, cùng với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập KTQT và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhiều phương thức kinh doanh hiện đại đã ra đời, phát triển và du nhập vào Việt Nam, mặt trái của nền KTTT ở Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp làm
ăn không chân chính, họ sử dụng những phương tiện tinh vi hơn để thực hiện các hành vi buôn bán gian dối, không trung thực Những hành vi như vậy không chỉ gây thiệt hại cho NTD mà còn có thể gây ảnh hưởng xấu đối với xã hội nói chung Những hiện tượng sản xuất, kinh doanh hàng cấm, hàng giả; sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ gây
ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người, trái với thuần phong mỹ tục; thông tin, quảng cáo sai sự thật; các vi phạm, thủ đoạn tinh vi nhằm lừa dối NTD đã và đang xảy ra ngày càng phổ biến trong đời sống kinh doanh nói riêng và trong phạm vi toàn xã hội nói chung với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng
Trong khi đó, pháp luật về bảo vệ NTD ở nước ta còn nhiều bất cập cả về phương diện quy định và công tác tổ chức thực thi Trong pháp luật Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của NTD được bảo vệ bằng nhiều cách thức khác nhau, bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như:
Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật chất lượng sản phẩm hàng hoá năm 2007, Pháp lệnh về quảng cáo… và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngày 17/11/2010, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
Trang 9thông qua Luật BVQLNTD và đã được Chủ tịch nước công bố tại Lệnh số 16/2010/L-CTN ngày 30/11/2010 Luật BVQLNTD được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 17/11/2010 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 Luật BVQLNTD đã góp phần xây dựng một môi trường tiêu dùng lành mạnh, bảo vệ tốt quyền và lợi ch ch nh đáng của các chủ thể có liên quan, trong đó trọng tâm là quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Nhưng sau vài năm thực hiện trên toàn quốc, mỗi năm vẫn còn hàng chục nghìn vụ quyền lợi của NTD
bị vi phạm, số vụ vi phạm có xu hướng năm sau lại cao hơn năm trước
Có thể thấy, tình trạng vi phạm quyền lợi của NTD hiện nay vẫn là một vấn đề bức xúc, cần được quan tâm giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình thực hiện CS BVQLNTD ở Việt Nam hiện nay để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm thực hiện có hiệu quả CS BVQLNTD ở Việt Nam vừa có nghĩa l luận cơ bản, vừa
là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những lý do này, tác giả chọn đề tài: "Thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay" làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành CSC sẽ có nghĩa l luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quyền lợi của NTD ở các góc độ khác nhau Vấn đề bảo vệ NTD hay trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp luôn được coi là vấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới Sau đây là một số bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này:
- “Products Liability - Why the EU does not need the restatement (third) (Chế định trách nhiệm sản phẩm - Vì sao Cộng đồng Châu Âu không cần theo mô hình của Hoa Kỳ)” của Giáo sư Rebekah Rollo (Đại học Maryland - Đức) trong bài viết đăng trên tạp chí
“Brooklyn Law Review, Spring, 2004” đã nghiên cứu chế độ trách nhiệm sản phẩm theo quy định của Cộng đồng Châu Âu (EU) và tác động của những thay đổi trong chính sách trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ tới chính sách tương tự của Cộng đồng Châu Âu
- Chuyên khảo “Products liability” của giáo sư D.Cray, trường đại học Carleton, Otawa, Canada, đã xem xét vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật của các quốc gia dưới cách nhìn luật học so sánh
- Sách “Tìm hiểu Luật bảo vệ NTD c c nước và vấn đề bảo vệ NTD ở Việt Nam” của
Viện Nhà nước và Pháp luật biên soạn, Nxb Lao động, 1999 Cuốn sách đã nêu bật được vấn
Trang 10đề khó khăn của NTD Việt Nam trước “cơn lốc” của KTTT và sự “đổ bộ” ồ ạt của hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa kém chất lượng, thực phẩm ô nhiễm
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ Bộ Thương mại, “Hoàn thiện pháp luật BVQLNTD ở Việt
Nam trong bối cảnh h i nhập KTQT”, do TS Đinh Thị Mỹ Loan chủ nhiệm năm 2006
Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam, đề tài đã đưa ra nhiều kiến nghị về phương hướng và giải pháp rất có giá trị cho việc xây dựng Luật BVQLNTD
Ở Việt Nam, kể từ khi Luật bảo vệ NTD năm 2010 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2011) ra đời, mặc dù đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ NTD được tốt hơn so với trước đây, nhưng tình trạng xâm phạm quyền lợi NTD, khó khăn trong việc áp dụng luật vẫn là vấn đề rất phức tạp Bên cạnh đó, các quy định vẫn còn chưa bắt kịp với sự phát triển của xã hội và còn chưa phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong điều kiện hội nhập KTQT hiện nay Chính vì vậy, việc nghiên cứu các chính sách bảo vệ NTD hiện nay để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ NTD cũng như phương thức thực hiện pháp luật là vấn đề cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đ ch nghiên cứu
Trên cơ sở l luận về thực hiện CS BVQLNTD và khảo sát thực trạng thực hiện CS BVQLNTD ở Việt Nam, luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách này ở Việt Nam đến năm 2020
Để thực hiện mục đ ch nêu trên, luận văn có các trách nhiệm sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về CS BVQLNTD và thực hiện CS BVQLNTD
- Phân tích thực trạng thực hiện CS BVQLNTD ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện CS BVQLNTD của Việt Nam từ 2010
- nay
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu khả thi nhằm thực hiện có hiệu quả CS BVQLNTD
ở Việt Nam đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 114.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện CS BVQLNTD ở Việt Nam giai đoạn hiện nay,
cụ thể là nghiên cứu vấn đề, mục tiêu, giải pháp và công cụ CS BVQLNTD dưới góc độ khoa học CSC
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện CS BVQLNTD trên phạm vi cả nước Việt Nam Thời gian nghiên cứu: Từ 2010 - 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và luận văn triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách về CTCS từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các chủ thể chính sách; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền lợi của NTD trong thời kỳ đổi mới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Phân t ch và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân t ch và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở TW và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của ch nh quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề CS BVQLNTD ở nước ta Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa l luận
- Đề tài này có nghĩa về mặt l luận, người học nghiên cứu và vận dụng các l thuyết về CSC Hệ thống hóa những vấn đề l luận về NTD, quyền lợi của NTD và công tác bảo vệ quyền lợi của NTD, những chủ trương, quy trình và kết quả thực hiện CS BVQLNTD ở Việt Nam, từ đó đóng góp thêm những cơ sở khoa học cho đội ngũ cán bộ và nhân dân trong việc thực hiện CS BVQLNTD đạt kết quả cao hơn
Trang 12- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên quan đến CSC, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp một cách khách quan, toàn diện về thực trạng thực hiện CS BVQLNTD ở Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu cho các cấp cán bộ tham
khảo, vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo công tác thực hiện CS BVQLNTD trong thời gian tới Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu vấn đề thực hiện CS BVQLNTD ở các giai đoạn sau và cho những ai quan tâm đến vấn đề này
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong quá trình hoạch định và thực hiện CS một cách hiệu quả trong công cuộc phát triển đất nước
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo, luận văn được cơ cấu theo ba chương sau:
Chương 1: Những vấn đề l luận về thực hiện ch nh sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường thực hiện ch nh sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.1 Khái niệm chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.1.1 Khái niệm ch nh sách công
Trong hệ thống các công cụ quản l được nhà nước dùng để điều hành hoạt động KT
- XH thì chính sách được coi là công cụ nền tảng định hướng cho các công cụ khác CSC có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển xã hội và quản l phát triển xã hội Chính sách được dùng để định hướng phát triển, là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển trong
xã hội; đồng thời phát huy các mặt t ch cực, hạn chế các mặt tiêu cực trong xã hội, nâng cao chất lượng phát triển xã hội và quản l phát triển xã hội Ngoài ra, CSC còn có vai trò tạo lập
sự cân đối hài hòa, bền vững trong phát triển PGS.TS Đỗ Phú Hải - Học viện KHXH đã
đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về CSC như sau: “CSC l m t tập hợp c c quyết
định chính trị có liên quan của nh nước nhằm lựa chọn c c mục tiêu cụ thể với giải ph p
v công cụ thực hiện giải quyết c c vấn đề của xã h i theo mục tiêu đã x c định của đảng chính trị cầm quyền” [17, tr.37] Như vậy, CSC là thể hiện cụ thể của những chủ trương,
quan điểm, định hướng của nhà nước và đảng cầm quyền về phát triển KT - XH của đất nước; có những chủ trương, định hướng phát triển chung và những chủ trương định hướng cho từng ngành và lĩnh vực cụ thể CSC tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống KT - XH theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan
hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách
1.1.1.2 Khái niệm người tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng
Về tiếp cận khái niệm NTD, trước tiên ta hiểu “Tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất” [6, tr.1640] Tiêu dùng là một trong những hoạt động
cơ bản và tự nhiên của con người, “Tiêu dùng là một hoạt động tác động đến một vật bằng cách sử dụng nó, là việc sử dụng một vật bằng cách làm cạn kiệt vật đó” [33, tr.312] Như vậy, tiêu dùng gồm hai loại, tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống NTD là khái niệm khá rộng và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau và không đồng nhất
Trang 14- Dưới góc đ kinh tế: NTD là phạm trù chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải, vật chất
được tạo ra bởi nền kinh tế Như vậy, NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua quá trình sử dụng chúng [25, tr.7] Có thể nói, trong mọi nền sản xuất của tất cả các quốc gia, NTD là đối tượng được hướng tới của mọi doanh nghiệp NTD quyết định nhóm ngành, hàng được sản xuất, định hướng đầu tư và phát triển cho các doanh nghiệp trong thị trường
- Dưới góc đ pháp lý: Thuật ngữ NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật
khi lĩnh vực pháp luật về BVQLNTD ra đời Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, NTD là đối tượng được bảo vệ theo luật bảo vệ NTD [25, tr.14]
NTD là khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam và trong cả khoa học pháp lý, sự tồn tại của khái niệm này chỉ thật sự được quan tâm và biết tới khi nền KTTT hình thành và phát
triển Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh BVQLNTD ngày 27/4/1999 thì " TD l người
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của c nhân gia đình v
tổ chức" Luật BVQLNTD 2010 ra đời thay thế Pháp lệnh BVQLNTD 1999 có nhiều quy
định mới so với Pháp lệnh BVQLNTD, tuy nhiên, nội hàm khái niệm NTD vẫn không thay
đổi “ gười tiêu dùng l người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh
hoạt của c nhân gia đình tổ chức” [20, Điều 3]
Trong nghị quyết 39/948 với tên gọi “Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ NTD” được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9/05/1985, Liên hợp quốc đã chỉ ra 8 quyền cơ
bản của NTD, bao gồm: Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được an
toàn; Quyền được thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe; Quyền được bồi thường; Quyền được gi o dục về tiêu dùng; Quyền được có m t môi trường l nh mạnh v bền vững
1.1.1.3 Khái niệm chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Nền kinh tế phát triển thì sản xuất kinh doanh phải diễn ra suôn sẻ Mặt khác, sản xuất kinh doanh lại gắn liền với tiêu dùng Do đó, muốn nền kinh tế phát triển thì phải kích
th ch được tiêu dùng và đảm bảo nhu cầu của NTD phải được đáp ứng Vấn đề BVQLNTD luôn là vấn đề trọng tâm được nhiều các ngành, các cấp quan tâm
Như vậy có thể thấy vấn đề BVQLNTD không nằm ngoài phạm vi nêu trong khái
niệm CSC, và về tổng quan, có thể hiểu rằng: Chính sách BVQLNTD là CSC, là m t tập
hợp các quyết định chính trị có liên quan của nh nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể
Trang 15với giải pháp và công cụ thực hiện để giải quyết vấn đề BVQLNTD khi sử dụng dịch vụ hàng ho ; ngăn chặn những nhà sản xuất có hành vi gian lận, lừa dối để thu lợi bất chính, bao gồm các biện pháp pháp luật, kinh tế văn ho xã h i theo mục tiêu đã x c định của Đảng cầm quyền Trong thực tiễn nước ta hiện nay, khái niệm CS BVQLNTD như vậy hàm
chứa một số lưu cụ thể như sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành CS BVQLNTD là nhà nước nên có thể coi CS
BVQLNTD là chính sách của nhà nước Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các Bộ, ch nh quyền địa phương các cấp
Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao
gồm cả những hành vi thực tiễn CS BVQLNTD không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về vấn đề BVQLNTD, mà còn bao gồm những hành vi thực hiện các dự định đó nhằm đưa lại những kết quả thực tế Nhiều người thường hiểu CS BVQLNTD một cách đơn giản là những chủ trương của nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ Nếu không có việc THCS để đạt được những kết quả nhất định trong BVQLNTD thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi
Thứ ba, CS BVQLNTD tập trung giải quyết các vấn đề về NTD nói chung và
BVQLNTD nói riêng đang đặt ra trong đời sống KT - XH theo những mục tiêu xác định
CS BVQLNTD chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại vấn đề về quyền lợi NTD cần giải quyết Có thể nói, vấn đề chính sách về BVQLNTD là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách (bao gồm các giai đoạn hoạch định, thực hiện và đánh giá chính sách)
Thứ tư, CS BVQLNTD gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Chúng ta
không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với các quyết định hành ch nh, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản QPPL của nhà nước Khái niệm quyết định ở đây có nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của nhà nước Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm ch cả chương trình dự án là giải pháp cho vấn đề BVQLNTD
Do là CSC nên CS BVQLNTD gồm có các bộ phận hợp thành quan trọng là: những đường hướng, hành động hay còn gọi là những quan điểm, định hướng, mục tiêu và biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo nguồn lực cho BVQLNTD cả về số lượng
và chất lượng, thực hiện định hướng phát triển đã xác định Đây là hạt nhân xuyên suốt toàn
Trang 16bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân t ch, soạn thảo ban hành, thực hiện và đánh giá chính sách
1.1.2 Vấn đề của chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây dựng CSC Những vấn đề đó thường là những mâu thuẫn trong xã hội, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển hoặc là nhu cầu phát triển ở mức độ cao hơn Vì vậy vấn đề của chính sách luôn luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội Theo PGS.TS Đỗ Phú Hải, Học
Viện KHXH, “Việc x c định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn đề so với
cấu trúc vấn đề đó l cảm nhận về c c trở ngại khó khăn vướng mắc trong xã h i cần được giải quyết bằng chính sách hoặc c c bất hợp lý gây mâu thuẫn mất cân bằng mất ổn định về kinh tế xã h i cản trở tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính sách” [17, tr.39] Theo quy luật vận động, vấn đề chính sách mang cả
t nh hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai
Trong nền KTTT, nếu không có “Cầu” thì cũng sẽ chẳng có “Cung” Nền kinh thế thị trường, thị trường chủ yếu do NTD điều tiết, bởi vì cầu có trước, cung có sau, cung luôn chạy theo cầu Vì vậy, NTD quyết định hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân sẽ sản xuất, kinh doanh vì NTD góp phần quyết định giá cả, số lượng, chất lượng hàng hoá Có thể nói, NTD có ảnh hưởng lớn đến những quyết sách về kinh tế, dù là của khu vực nhà nước hay của khu vực tư nhân, NTD tạo ra nền KTTT và quyết định sự phát triển của nó Thiết lập cơ chế chính sách bảo đảm sự an toàn đối với NTD trong việc thực tế sử dụng hàng hóa, dịch
vụ cũng như trong tâm l của họ là nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia hiện đại trong việc bảo vệ và phát triển các giá trị nhân quyền, nhân văn
Từ khi Đảng và Nhà nước ta THCS đổi mới Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến việc bảo vệ NTD, trong đó quan trọng nhất là Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999 và Nghị định số 69/2001/CP năm 2001 của Ch nh phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh BVQLNTD Ngoài ra, liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nhà nước quản l bằng Pháp lệnh chất lượng hàng hoá Các cơ quan quản l nhà nước và bảo vệ pháp luật như Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài ch nh đã phối hợp ra Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, ngày 27/04/2000 nhằm chống lại các hoạt động làm, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng giả, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi của NTD
Trang 17nước ta Với mỗi thời kỳ, tuỳ vào điệu kiện hoàn cảnh cụ thể, vấn đề CS BVQLNTD lại được thể hiện qua những chiều cạnh khác nhau Tựu chung lại, một cách tổng quát, có thể xác định được những vấn đề nổi cộm mà CS BVQLNTD cần giải quyết như sau:
- Từ góc độ pháp luật và trách nhiệm các cơ quan nhà nước
Mặc dù đã có những cố gắng nhất định về lập pháp và thực hiện các quy định nhằm bảo vệ NTD nhưng nhìn chung, quyền của NTD Việt Nam cũng như các nước trên thế giới vẫn đã và đang bị xâm hại nghiêm trọng Các sản phẩm được đóng gói không đúng trọng lượng, ghi nhãn sai quy định nhằm lừa dối NTD Vấn đề an toàn thực phẩm, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, việc gian dối của các doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ kém đã
và đang gây ra nhiều bức xúc trong cộng đồng xã hội Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, trên thị trường cũng đang xuất hiện nhiều phương thức kinh doanh mới như bán hàng qua mạng, qua điện thoạigiao dịch điện tử để đặt mua hàng hoá, dịch vụ từ một nước khác cũng đang phát triển Những phương tiện giao dịch hiện đại tạo sự thuận tiện cho các bên nhưng bên cạnh những tiện ch thì đây cũng là môi trường làm phát sinh những hành vi
vi phạm quyền lợi NTD ngày một tinh vi và phức tạp hơn
Quyền của NTD trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng còn bị xâm hại từ chính hoạt động của các cơ quan nhà nước Khẩu hiệu được các cơ quan này đưa ra thường là
“Hãy trở thành NTD thông thái” Thực tế, khẩu hiệu này chỉ đúng một phần rất nhỏ NTD vốn dĩ không thể nhận biết được sản phẩm có chất cấm, chất gay ung thư hay không; không phân biệt giữa hàng thật và hàng giả khi thấy chúng y chang như nhau,… Vậy ai phải giúp NTD? Đó ch nh là các cơ quan có chức năng của nhà nước Các cơ quan này có trình độ, có phương tiện và có nguồn tài ch nh để giúp NTD trong toàn xã hội Cơ quan nhà nước chuyên trách đương nhiên phải thông thái hơn NTD Nhưng một câu hỏi đặt ra: tại sao NTD
cứ bi thiệt hại trước, thấy được hậu quả thì sau đó cơ quan nhà nước mới nhảy vào cuộc?
- Từ góc độ người tiêu dùng
Về phương thức trực tiếp khiếu nại: Thực tế cho thấy NTD thấp cổ, bé họng nên t
trường hợp khiếu nại vì nghĩ rằng có khiếu nại cũng không được giải quyết Với rất nhiều hành vi xâm hại đến quyền lợi của mình nhưng thực tế phần lớn khách hàng không khiếu nại
về những điều mình không hài lòng, bởi tâm l ngại va chạm hay mất thời gian cho các thủ tục hành ch nh giải quyết khiếu kiện
Trang 18Ở các địa phương của Việt Nam đã có tổ chức NTD Đây là các tổ chức phi ch nh phủ, mang t nh xã hội hoá cao Các tổ chức này đã t ch cực đẩy mạnh các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lường chất lượng và bảo vệ NTD trong cả nước Tuy nhiên cũng phải thấy một thực tế là: các tổ chức hội bảo vệ NTD chưa thực sự là hội theo đúng nghĩa Rất khó có thể có hội bảo vệ NTD do ch nh những NTD lập ra một cách tự nguyện vì NTD là tất cả chúng ta và cũng rất khó tập hợp NTD thành các hội Các cấp hội bảo vệ NTD được thành lập do nhu cầu của cơ cấu, cơ chế nên không đủ mạnh để bảo vệ NTD
1.1.3 Giải pháp và công cụ chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.3.1 Giải pháp chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Việc xác định giải pháp CS BVQLNTD là việc tìm giải pháp cho các nguyên nhân của vấn đề chính sách Việc này đòi hỏi t nh đồng bộ cao, cần dựa trên nguyên nhân cốt lõi, bao gồm cả việc đo lường các nguyên nhân theo mức độ nghiêm trọng, tần suất xuất hiện, quy mô BVQLNTD hiện nay được xem là vấn đề quan trọng và nóng bỏng trên con đường hội nhập KTQT Qua các thời kỳ, khi hoạch định, xây dựng CS BVQLNTD, các chủ thể chính sách đã tập trung vào một số giải pháp đồng bộ như sau:
- Cần coi việc thực hiện CS BVQLNTD là một trong những nội dung chiến lược phát triển bền vững của quốc gia Đồng thời khắc phục những tư tưởng chỉ đạo lệch lạc bằng việc coi trọng sự phát triển kinh tế, đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các doanh nghiệp
mà không coi trọng đúng mức công tác BVQLNTD
- Thực hiện CS BVQLNTD là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước hữu quan, của các doanh nghiệp trong nước, của các hiệp hội doanh nghiệp và của tất cả mọi cá nhân, hộ gia đình
- Để hiệu CS thực sự có hiệu quả, cần thực hiện một cách thường xuyên và liên tục, quán triệt quan niệm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” trong công tác thực hiện CS BVQLNTD
- Hoàn thiện cơ chế pháp l BVQLNTD nhìn từ góc độ quản l nhà nước, kiện toàn
bộ máy từ cấp TW đến địa phương, bao gồm các bộ ngành liên quan Bên cạnh đó thiết lập mối quan hệ gắn kết giữa các cơ quan bởi công tác BVQLNTD đòi hỏi sự phối hợp liên ngành do liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau
- Nâng cao vai trò của các cơ quan BVQLNTD, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động quản l chất lượng hàng hóa, dịch vụ, chống lại vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng hay các hành vi chiếm đoạt lừa đảo,…
Trang 19- T ch cực, chủ động hội nhập quốc tế về CS BVQLNTD Đào tạo nguồn nhân lực
và xây dựng cở sở vật chất cũng như kinh ph hoạt động th ch đáng cho việc THCS đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm trong hội nhập KTQT và thời buổi thương mại điện tử phát triển cao
- Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và quyền lợi của NTD trong nền kinh tế
1.1.3.2 Công cụ chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Công cụ chính sách được hiểu là những cách thức mà chủ thể sử dụng để tổ chức triển khai THCS Mỗi công cụ đều có những t nh năng, tác dụng nhất định Khi THCS, chủ thể chính sách đã sử dụng kết hợp nhiều công cụ và mang lại kết quả tốt như công cụ dựa vào tổ chức, công cụ dựa vào quyền lực, công cụ tài ch nh và công cụ thông tin, cụ thể:
- Công cụ dựa vào tổ chức: là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được phân công nhằm đạt được mục tiêu dự kiến
- Công cụ dựa vào quyền lực: là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng quyền lực nhằm đạt được mục tiêu dự kiến
- Công cụ tài ch nh: Công cụ dựa vào tài ch nh được các chủ thể sử dụng phổ biến khi triển khai thực hiện CS BVQLNTD Đây là công cụ dùng lợi ch vật chất và tinh thần để điều chỉnh các hoạt động THCS
- Công cụ thông tin: Một trong những công cụ được sử dụng trong thực hiện CS BVQLNTD là công cụ thông tin (tuyên truyền, thuyết phục) Đây là công cụ nhằm tạo ra trong bản thân các đối tượng quản l nhà nước về “nội lực tự thân vận động” trên cơ sở nhận thức về t nh tất yếu khách quan, sự ch nh đáng của hướng hành động, từ đó mà hành động không vì cưỡng chế hay sự vụ lợi nào Trong hoạt động BVQLNTD, sự nhận thức này vô cùng cần thiết, bởi vì nếu cưỡng chế (công cụ quyền lực) hay khuyến kh ch vật chất (công cụ tài ch nh) trong nhiều trường hợp sẽ không đủ động lực để thúc đẩy các nhà khoa học, nhà quản l hiến dâng sức lực và tr tuệ cho một sự nghiệp khoa học vĩ đại
Như vậy, trong triển khai thực hiện CS BVQLNTD hiện nay, các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đã sử dụng phong phú, linh hoạt các loại công cụ nêu trên nhằm thực hiện tốt nhất các giải pháp đã đặt ra cho công cuộc BVQLNTD
1.2 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.1 Thực hiện chính sách công trong chu trình chính sách công
Trang 20Một chính sách khi được hoạch định bao giờ cũng hướng tới giải quyết một vấn đề nào đó đang phát sinh trong đời sống xã hội để đạt được những giá trị nhất định, vừa phù hợp với ch của nhà nước vừa phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân Trong CTCS, tổ chức THCS là một khâu hợp thành CTCS là trung tâm kết nối các bước của CTCS, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội và như vậy nếu thiếu giai đoạn này thì việc hoạch định ra chính sách sẽ trở nên vô nghĩa
Thực hiện CSC là toàn bộ quá trình chuyển hóa ch của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong CTCS: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Chất lượng, hiệu quả THCS phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán
bộ, công chức trong THCS Thực trạng năng lực thực hiện CSC ở nước ta cho thấy, bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Do đó, nghiên cứu vấn đề l luận và thực tiễn năng lực THCS có nghĩa khoa học, thiết thực và cấp bách hiện nay Từ những luận giải trên đây có thể đi đến một khái niệm cơ bản về thực hiện CS BVQLNTD như sau:
Thực hiện CS BVQLNTD l to n b quá trình đưa chính sách v o đời sống xã h i theo m t quy trình thủ tục chặt chẽ v thống nhất nhằm giải quyết vấn đề quyền lợi của TD bị xâm phạm đang diễn ra đối với những đối tượng cụ thể trong m t phạm vi không gian v thời gian nhất định
Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy t n của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước gây bất lợi về mặt
ch nh trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản l Thực tiễn là chân l , kết quả THCS là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách ch nh xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức THCS có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong THCS
1.2.2 Những yêu cầu và điều kiện căn bản của thực hiện chính sách công
- Yêu cầu thực hiện mục tiêu:
Trang 21Thực hiện chính sách là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước
và các đối tượng chính sách nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp.Tổng hợp kết quả thực hiện mục tiêu của các chương trình, dự án và các hoạt động thực hiện khác thành mục tiêu chung của chính sách Theo nguyên lý vận động đó, muốn thực hiện thành công các chính sách, nhà nước phải xác định mục tiêu của từng chính sách thật cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác Đồng thời các cơ quan chuyên trách phải triển khai được mục tiêu chính sách thành những kế
hoạch và chương trình cụ thể
- Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống:
Tổ chức THCS là một bộ phận cấu thành của CTCS, kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất Vì vậy yêu cầu phải đảm bảo tính hệ thống trong mỗi quá trình Nội dung của tính hệ thống bao gồm: Hệ thống mục tiêu
và biện pháp của chính sách; Hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức THCS; Hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; Hệ thống trong sử dụng công cụ chính sách với các công cụ quản lý khác của nhà nước
- Yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý và pháp lý trong
tổ chức thực hiện CSC:
Tính khoa học thể hiện trong quy trình tổ chức THCS là việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách Tính khoa học của quá trình tổ chức THCS phải thể hiện được sức sống để tồn tại trong thực tế như: mục tiêu cụ thể của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương trong từng thời kỳ; các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách phải tương ứng với trình độ nhận thức và tài nguyên của vùng hay địa phương Tùy vào tình hình thực tế mà lựa chọn cách THCS cho phù hợp Quá trình vận dụng phải tuân theo các nguyên tắc pháp lý như: trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao thực thi, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong THCS, cưỡng chế THCS trong những trường hợp cần thiết
- Yêu cầu đảm bảo lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng:
Trong xã hội thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích, các nhóm lợi ích lại biến động theo
không gian và thời gian Tùy theo tính chất của mỗi chế độ xã hội, mà các nhóm lợi ích sẽ được hưởng thụ khác nhau Dưới chế độ xã hội Tư bản, nhóm lợi ích thuộc nhóm giai cấp tư
Trang 22sản thường được quan tâm bảo vệ và được đối xử ưu ái hơn nhiều so với các tầng lớp lao động
Nhà nước thường ra tay bảo vệ và chuyển lợi ch đến các đối tượng thụ hưởng trong
xã hội bằng chính sách Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hưởng ứng thực hiện một cách tự giác trên cơ sở lòng tin của dân chúng vào chính sách của nhà nước Kết quả trên có được chỉ khi chính sách thật sự mang lại lợi ích cho mỗi đối tượng thực hiện và toàn xã hội
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách công
Trong quá trình THCS sẽ có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân vì thế kết quả tổ chức THCS cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố chủ quan và khách quan Cụ thể:
- Yếu tố khách quan: là các yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức THCS từ bên
ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý, các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan nên ít tạo sự biến đổi do đó cũng khó gây sự chú ý của các nhà quản l nhưng lại tác động lớn đến quá trình THCS, đó là các yếu tố:
+ Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách nó có tác động trực tiếp đến hoạch định và THCS có nghĩa là nếu vấn đề chính sách đơn giản liên quan đến t đối tượng thì thực hiện sẽ dễ dàng và đơn giản hơn Như vậy, tính chất của vấn
đề có ảnh hưởng khách quan đến việc tổ chức THCS nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn
+ Môi trường THCS là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, an ninh quốc phòng, điều này nói lên rằng một môi trường ổn định ít biến đổi về chính trị sẽ đưa tới sự ổn định về hệ thống chính sách và thực hiện thuận lợi Nếu các bộ phận của môi trường ổn định thì nó sẽ tạo cho các hoạt động thực hiện dễ dàng
+ Mối quan hệ giữa các đối tượng THCS là sự thể hiện thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Nếu mối quan hệ này có mâu thuẫn thì sẽ ảnh hưởng đến công tác tổ chức Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách được hiểu là thực lực và tiềm năng của các nhóm trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực này thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội Đặc tính của đối tượng chính sách là những tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên, các đặc t nh như t nh tự giác, kỷ luật, sáng
Trang 23tạo, gắn liền với mỗi đối tượng THCS do đó cần biết cách khơi dậy hay kiềm chế nó để có kết quả tốt nhất cho quá trình THCS
- Yếu tố chủ quan: là các yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, do cán bộ công chức
chủ động chi phối đến quá trình THCS nên nó có ảnh hưởng lớn đến việc thực thi Thực hiện đúng đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức THCS, các bước này được coi là nguyên
lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, việc tuân thủ quy trình là một nguyên tắc quản l Năng lực THCS của cán bộ công chức trong bộ máy quản l nhà nước là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện CSC Năng lực thực hiện của cán
bộ, công chức là các tiêu chí về đạo đức, công cụ, năng lực nếu thiếu các điều kiện này thì việc thực hiện sẽ không hiệu quả Còn nếu các cán bộ, công chức có năng lực mà kết hợp với các yếu tố khác thuận lợi sẽ mang lại một kết quả thực sự
+ Điều kiện vật chất cần cho quá trình THCS là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng
để cùng yếu tố nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách Các điều kiện vật chất này là các trang thiết bị nhà nước đầu tư cho quá trình quản lý và khi THCS thì họ dùng
để tuyên truyền, phổ biến các chính sách
+ Sự đồng tình ủng hộ của nhân dân là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của một chính sách Các chính sách là những vấn đề lớn lao, do đó cần có
sự đóng góp sức người, sức của trong suốt quá trình thực thi
Vậy trong hai yếu tố ảnh hưởng đến quá trình THCS thì yếu tố chủ quan là quan trọng hơn cả vì nó quyết định sự thành bại của chính sách, vì trong yếu tố này nó có các nhân
tố quan trọng như nhân sự, và sự ủng hộ của người dân là 2 nhân tố cần cho việc thực hiện CSC
1.3 Các bước thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thực hiện CS BVQLNTD đóng vai trò vô cùng quan trọng trong CTCS Nếu hoạch định CSC đã làm tốt rồi thì việc tiếp theo là phải làm tốt giai đoạn THCS mới góp phần làm cho chính sách đạt kết quả Để làm tốt thực hiện CS BVQLNTD đòi hỏi phải tuân thủ các bước sau đây:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện CS BVQLNTD
gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ TW đến địa
Trang 24phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Kế hoạch tổ chức, điều hành Kế hoạch này bao gồm những dự kiến về: Hệ thống tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực để tham gia thực thi chính sách; Những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản l và công chức thực thi; Cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách
- Kế hoạch dự kiến các nguồn lực Kế hoạch này gồm: Dự kiến về các cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi
ch nh sách; Các nguồn lực tài ch nh, các vật tư, văn phòng phẩm,…
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện: Là dự kiến về thời gian duy trì ch nh sách;
dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền ch nh sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu Có thể dự kiến mỗi bước cho phù hợp với một chương trình cụ thể của ch nh sách
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi ch nh sách công: những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương thức kiểm tra giám sát tổ chức thực thi ch nh sách: Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành hệ thống tham gia THCS; Dự kiến về trách nhiệm, nhiệm
vụ, và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành ch nh sách; Dự kiến về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong thực thi ch nh sách; Dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem thông qua Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực thi ch nh sách mang giá trị pháp l , được mọi người chấp hành thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua
kế hoạch quyết định
Bước 2: Phổ biến tuyên truyền CS BVQLNTD
Đây là một hoạt động quan trọng, có nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi ch nh sách Phổ biến, tuyên truyền ch nh sách tốt giúp cho các đối tượng ch nh sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đ ch, yêu cầu của ch nh sách; về t nh đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về t nh khả thi của ch nh sách Qua đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản l của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ t nh chất,
Trang 25trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động t ch cực tìm kiếm các giải pháp th ch hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao Việc làm này cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất ch nh trị, về trang thiết bị kỹ thuật, nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền vận động Trong thực tế có không t cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho ch nh sách bị biến dạng, làm cho lòng tin của dân chúng vào nhà nước bị giảm sút Để tham gia quá trình phổ biến, tuyên truyền chính sách là
sự tham gia của các nhân tố, yếu tố cấu thành gồm:
- Chủ thể phổ biến, tuyên truyền CS BVQLNTD bao gồm đội ngũ cán bộ trong bộ máy cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ Chủ thể phải được đào tạo phải có đủ trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách chính sách khi được phổ biến, tuyên truyền phải đảm bảo t nh trung thực những nội dung đã được hoạch định Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách phải có thái độ công tâm, khách quan khi thực hiện công việc này
- Đối tượng phổ biến, tuyên truyền CS BVQLNTD bao gồm: Những công dân được CSC tác động trực tiếp, đây là đối tượng thụ hưởng chính sách; Những công dân, tổ chức bị tác động gián tiếp bởi chính sách, đây là những nhân tố góp phần làm cho chính sách đạt hiệu quả; Những đối tượng tham gia thực thi, triển khai chính sách
- Phương tiện và cách thức tuyên truyền: Mục tiêu tối hậu của tuyên truyền hiện đại không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng Tuyên truyền được dùng trong những mục đ ch nâng cao ủng hộ của quần chúng Đối tượng của tuyên truyền là quần chúng, nhưng phải là quần chúng có văn hóa và khả năng suy diễn Tuyên truyền sẽ không có hiệu nghiệm nếu đối tượng thiếu học thức Những phương tiện tuyên truyền gồm có: Truyền đơn; B ch chương và những biểu tượng nơi công cộng; Tuyên truyền bằng cách lặp đi lặp lại các khẩu hiệu; Diễn văn, tập hợp đông đảo dân chúng vào một khu công cộng để nghe tuyên truyền; Báo chí, TV, Radio, Internet… Tuyên truyền, vận động thực thi ch nh sách được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành, để mọi đối tượng cần tuyên truyển luôn được củng cố lòng tin vào ch nh sách và t ch cực thực thi ch nh sách
Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện CS BVQLNTD
Trang 26Phân công, phối hợp các cơ quan, ch nh quyền điều hành: là phân công, phối hợp các
cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện ch nh sách theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Ch nh sách được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi
ch nh sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của ch nh sách công, công dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của ch nh sách diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian Chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi ch nh sách công có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản l ngành, các cấp ch nh quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi
ch nh sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu ch nh sách
Phân công, phối hợp các đối tượng thực hiện: Ch nh sách khi thực hiện có thể tác động đến lợi ch của các bộ phận dân cư theo các hướng khác nhau Có bộ phận được hưởng lợi nhiều, có bộ phận được hưởng lợi t, có bộ phận không được hưởng lợi, thậm ch còn bị tác động tiêu cực Việc thành công của chính sách do nhiều yếu tố cấu thành, nhân tố cấu thành Do đó, để cho việc THCS thực hiện được đúng mục tiêu quản l thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện ch nh sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì ch nh sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả ch nh sách Việc phân công, phối hợp phải đảm bảo phát huy được t nh năng động, sáng tạo của các yếu tố cấu thành và tác động
Bước 4: Duy trì CS BVQLNTD
Duy trì chính sách là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống ch nh trị xã hội Để thực hiện tốt việc duy trì chính sách cần phải đảm bảo một số nội dung sau: Cụ thể hóa nội dung triển khai bằng các văn bản mang t nh pháp l – quy định rành mạch, hợp l trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể thực hiện; Tổ chức phối hợp thống nhất, hiệu quả, đồng bộ (giữa cơ quan chủ trì với cơ quan khác; giữa cơ quan nhà nước với nhân dân); Đảm bảo các điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực và các phương tiện
kỹ thuật hỗ trợ; Đảm bảo kế hoạch hóa về thời gian và quy trình thủ tục thực hiện; Đảm bảo thông suốt về thông tin (mệnh lệnh và phản hồi) trong quá trình thực hiện, triển khai, duy trì chính sách; Đảm bảo sự thống nhất giữa việc kiên trì mục tiêu chính sách với việc sáng tạo trong khi sử dụng các biện pháp, hình thức, chương trình hành động cụ thể th ch hợp với
Trang 27điều kiện cụ thể của địa phương, ngành; Đấu tranh chống bệnh quan liêu, phô trương hình thức trong quá trình triển khai THCS
Duy trì CSC là làm cho ch nh sách tồn tại và phát huy hết tác dụng trong môi trường thực tế Muốn cho ch nh sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất tr và quyết tâm cao của các người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Đối với các cơ quan nhà nước – người chủ động tổ chức thực thi ch nh sách – phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội t ch cực tham gia thực hiện chính sách Nếu việc thực hiện chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các
cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản l tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách Đồng thời chủ động điều chỉnh ch nh sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ch chung của NTD, các
cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành ch nh để duy trì chính sách
Bước 5: Điều chỉnh CS BVQLNTD
Việc điều chỉnh CS BVQLNTD để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Trong quá trình THCS nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không phù hợp với thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu và phù hợp với tình hình thực tế Điều chỉnh các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được thực hiện
có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại Thẩm quyền điều chỉnh bổ sung CS BVQLNTD thuộc thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức ban hành chính sách này nhưng việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế THCS diễn ra linh hoạt trong quá trình THCS
Để điều chỉnh chính sách hợp l đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức THCS cần phải
có năng lực và kiến thức, kỹ năng đề xuất các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đề ra Cán bộ, công chức THCS phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ THCS, đồng thời phải có kiến thức, kỹ năng phân t ch các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong THCS để có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách Đồng thời, phải để cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách, phải tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách CS BVQLNTD hiện nay có
Trang 28cần phải điều chỉnh hay không hoặc điều chỉnh nhiều hay ít phụ thuộc vào tính hợp lý của chính sách và các vấn đề phát sinh cần điều chỉnh trong quá trình THCS này trên thực tế
Bước 6: Theo dõi đôn đốc kiểm tra thực hiện CS BVQLNTD
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện CS BVQLNTD giúp kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức THCS, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, là một khâu quan trọng trong THCS Để theo dõi, kiểm tra, đốn đốc việc thực hiện CS BVQLNTD cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp THCS Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch THCS, quy chế và nội quy THCS
Muốn theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện CS BVQLNTD cần thu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai và kết quả THCS từ các cơ quan, tổ chức hữu quan trong và ngoài ngành Trên cơ sở đó, xử lý phân t ch thông tin, đối chiếu so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong
kế hoạch, trong quy chế, nội quy THCS để có cơ sở phát hiện phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có), phát hiện sơ hở trong quản lý, trong tổ chức thực hiện, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả chính sách
Bước 7: Tổng kết đ nh gi rút kinh nghiệm thực CS BVQLNTD:
thiết và là một khâu, một nhiệm vụ rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình THCS này Đánh giá, tổng kết THCS là quá trình xem xét kết luận về sự chỉ đạo, điều hành
tổ chức THCS của chủ thể THCS và việc chấp hành, thực hiện của NTD là đối tượng thụ hưởng chính sách Để đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách một cách chính xác cần phải căn cứ vào các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định Cơ sở để xây dựng tiêu
ch đánh giá công tác chỉ đạo điều hành THCS là kế hoạch và các quy định, quy chế kèm theo Ngoài ra, còn phải sử dụng các văn bản liên tịch giữa các cơ quan trong và ngoài ngành, các văn bản QPPL, các báo cáo kết quả THCS của các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan Để tổng kết, đánh giá ch nh xác, ngoài các tiêu ch ra còn phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan Các nguyên tắc
Trang 29đó là toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm phải chỉ
ra được ch nh xác các ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm THCS
Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành thực hiện của các cơ quan chủ trì THCS, còn phải xem xét, đánh giá kết quả thực hiện của đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách là NTD và các đối tượng thụ hưởng gián tiếp của chính sách Thước
đo, căn cứ để đánh giá kết quả thực hiện CS BVQLNTD là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu của chính sách, ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan chủ trì THCS ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách và các quy định cụ thể của chính sách
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm THCS nói chung và CS BVQLNTD nói riêng là công việc khó, phức tạp trong quá trình THCS Điều đó đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, đơn vị tham gia vào công việc này phải có trình độ năng lực, kiến thức và kỹ năng nhất định, nếu không khó có thể đánh giá được chính xác kết quả THCS, khó có thể rút ra được bài học kinh nghiệm trong THCS này
1.4 Hình thức thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Cùng với những dự kiến về các bước và chuẩn bị đầy đủ điều kiện để thực hiện CS BVQLNTD, các cơ quan nhà nước các cấp cần nghiên cứu lựa chọn hình thức triển khai
THCS cho phù hợp với điều kiện thực tế Hình thức triển khai THCS được hiểu là c ch thức
tổ chức để đưa chính sách v o đời sống xã h i nhằm giải quyết bị xâm phạm quyền lợi cho
c c đối tượng chính sách theo yêu cầu của quản lý Trong thực tế để triển khai thực hiện CS
BVQLNTD có nhiều hình thức triển khai, song tựu trung lại có một số hình thức chủ yếu sau:
- Hình thức thực hiện chính sách từ trên xuống
Khi CS BVQLNTD được nhà nước ban hành, trước khi tiến hành triển khai, nhà nước chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện về vật chất, kỹ thuật và nhân sự
để THCS Trong quá trình THCS, nhà nước chủ động kiểm tra, đôn đốc bằng các phương tiện kỹ thuật hiện có hay bằng đội ngũ cán bộ, công chức của mình Khi phát hiện những sai lệch về nội dung chính sách, kế hoạch tổ chức thực hiện và công tác triển khai thực hiện, nhà nước kịp thời điều chỉnh, bổ sung làm cho hoạt động THCS diễn ra đúng như định hướng Nếu việc điều chỉnh, bổ sung có gặp khó khăn từ ph a các đối tượng chính sách, thì nhà nước vẫn có thể dùng quyền lực công để thực hiện Cách đó tạo ra sự tập trung, thống nhất cao độ trong quá trình thực hiện CS BVQLNTD
Trang 30Tuy nhiên, cách thức này cũng có những hạn chế nhất định mà chúng ta cần chú khắc phục để phát huy được t nh tập trung trong THCS Mặc dù các cơ quan nhà nước thường xuyên theo dõi việc triển khai THCS, nhưng vẫn có những khoảng cách nhất định với các đối tượng chính sách và môi trường thực tế nơi chính sách đang diễn ra Mặt khác mỗi địa phương sẽ có những điều kiện kinh tế, ch nh trị, xã hội, môi trường khác nhau, nên việc tổ chức triển khai THCS cũng phải khác nhau Những hạn chế này dễ làm cho cán bộ, công chức nhà nước trở thành quan liêu
Ngoài ra, cách thức triển khai này chỉ thiên về ch của cấp điều hành, mà t quan tâm đến nguyện vọng của đối tượng chính sách, nên thường có hiện tượng dồn ép bằng mệnh lệnh trong THCS, làm cho quá trình THCS t thiết thực, mang nặng t nh phong trào, thậm ch chồng chéo trong công tác điều hành, gây lãng ph các nguồn lực cho THCS
- Hình thức thực hiện từ dưới lên
Để khắc phục những nhược điểm của hình thức triển khai thực hiện CS BVQLNTD
từ trên xuống, còn có hình thức thực hiện từ dưới lên Với hình thức này, sau khi chính sách được ban hành, các cấp ch nh quyền ở địa phương (tỉnh, huyện, xã trong đó đặc biệt là ở cấp xã) sẽ căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để chủ động triển khai đưa chính sách vào thực tế theo yêu cầu phát triển của địa phương mình Các bước tổ chức thực hiện cũng được tiến hành theo nguyên l chung, khoa học từ xây dựng kế hoạch thực hiện đến đánh giá tổng kết việc thực hiện CS BVQLNTD Khi THCS theo hình thức này, các địa phương chủ động triển khai thực hiện CS BVQLNTD bằng những điều kiện hiện có, nhằm đạt mục tiêu phát triển của địa phương mình trong từng thời kỳ Bằng cách đó các địa phương chủ động tìm kiếm các giải pháp tổ chức THCS có hiệu quả nhất Thường xuyên nắm bắt những biến đổi trong thực tế và nguyện vọng của các đối tượng chính sách để đề đạt với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều chỉnh bổ sung cho phù hợp chính sách do chính quyền địa phương chủ động triển khai thực hiện thường mang lại lợi ch thiết thực hơn cho các đối tượng chính sách, vì ngoài sự nỗ lực của các đối tượng, còn làm cho các cách thức tổ chức thực hiện phù hợp hơn với những điều kiện KT - XH ở địa bàn thực hiện và phù hợp hơn với điều kiện của ch nh các đối tượng chính sách
- Hình thức kết hợp
Từ những ưu, nhược điểm của hai hình thức thực hiện CS BVQLNTD từ trên xuống
và hình thức thực hiện CS BVQLNTD từ dưới lên trên, trong thực tiễn thực hiện CS
Trang 31BVQLNTD ở nước ta hiện nay còn có hình thức thứ ba là hình thức kết hợp Đó là sự kết hợp của hình thức THCS từ trên xuống và từ dưới lên nhằm làm cho quá trình chính sách vừa đảm bảo được các yếu tố l quản l , điều hành được thông suốt từ trên xuống, vừa làm cho quá trình thực hiện CS BVQLNTD phù hợp với những điều kiện khách quan và chủ quan của địa phương nơi tổ chức THCS
Khi sử dụng hình thức kết hợp cần chú những nội dung kết nối giữa các cấp chính quyền từ TW đến cấp huyện với người dân và ch nh quyền cấp xã trong việc xác định nhu cầu, khả năng, điều kiện để tạo ra sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện CS BVQLNTD nhằm huy động tối đa sự tham gia của các đối tượng chính sách, và nguồn lực tại chỗ qua đó làm cho quá trình THCS phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh thực tế ở địa bàn THCS trên
cơ sở có sự bàn bạc thống nhất và đồng thuận giữa ch nh quyền các cấp với nhau và giữa
ch nh quyền với NTD trong quá trình thực hiện Trên thực tế phần kết nối đáng quan tâm nhất là kiểm tra, đôn đốc của cấp trên với việc triển khai tổ chức thực hiện và duy trì chính sách của cấp dưới, hoạt động điều chỉnh, bổ sung và đáp ứng các yêu cầu của cấp dưới
Những nội dung kết nối trên được đảm bảo tốt sẽ tạo thành một hệ thống thông suốt
về các mối quan hệ trong quá trình tổ chức thực hiện CS BVQLNTD giữa các cấp chính quyền với đối tượng chính sách là NTD Để thực hiện có hiệu quả hình thức triển khai này cần có nhiều điều kiện, trong đó có điều kiện tiên quyết là trình độ, năng lực của đội ngũ cán
bộ công chức cấp cơ sở phải đáp ứng những yêu cầu nhất định và sự tham gia t ch cực, chủ động và có hiệu quả của ch nh các đối tượng chính sách
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở một
số nước trên thế giới
(Xem phụ lục số 1 và phụ lục số 2)
1.5.1 Chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Nhật Bản
Phần II Luật Bảo vệ NTD Nhật Bản quy định về các biện pháp liên quan đến việc bảo vệ NTD Theo đó, Luật đưa ra một số biện pháp như: phòng ngừa nguy hiểm; đảm bảo cân đo ch nh xác; xây dựng các tiêu chuẩn th ch hợp; việc ghi nhãn hợp l ; đảm bảo cạnh tranh đúng đắn và tự do; đẩy mạnh các chương trình giáo dục và thông tin; phản ánh quan điểm của NTD; thiết lập các phương tiện thử nghiệm và thanh tra; thiết lập hệ thống xử l khiếu nại Như vậy, Luật Bảo vệ NTD Nhật Bản tiếp cận các biện pháp bảo vệ NTD dưới dạng các chính sách, hay nói đúng hơn là các biện pháp bảo vệ NTD được thực hiện thông
Trang 32qua các hoạt động trong các lĩnh vực như: tiêu chuẩn, đo lường; nhãn hàng hóa; cạnh tranh; thông tin; thiết lập phòng thử nghiện; giải quyết khiếu nại Đây là những biện pháp bảo vệ NTD một cách toàn diện và hữu hiệu
1.5.2 Chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan
Điều 3 Luật Bảo vệ NTD Đài Loan quy định: “Ch nh phủ quy định các biện pháp dưới đây và tiến hành rà soát định kỳ, đồng bộ, hoàn thiện pháp luật và các quy định liên quan đến các biện pháp đó và việc thực hiện chúng để đạt được mục đ ch của Luật này: Bảo đảm chất lượng, độ an toàn và vệ sinh của hàng hóa, dịch vụ; Ngăn chặn hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe, tài sản và các lợi ích khác của NTD; Đảm bảo hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được dán nhãn đáp ứng các quy định pháp luật; Đảm bảo hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo phù hợp với quy định pháp luật; Đảm bảo k ch thước và trọng lượng của hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các quy định pháp luật; Xúc tiến duy trì giá cả hợp lý của hàng hóa và dịch vụ; Xúc tiến đóng gói hàng hóa hợp lý; Thúc đẩy thương mại lành mạnh đối với hàng hóa hoặc dịch vụ; Tạo Điều kiện thuận lợi và động viên tổ chức BVQLNTD; Đồng bộ việc xử lý các tranh chấp trong tiêu dùng; Xúc tiến đào tạo NTD; Quản lý các dịch vụ tư vấn tiêu dùng; Các biện pháp bảo vệ NTD cần thiết đối với sự phát triển của đời sống tiêu dùng”
Như vậy, Luật Bảo vệ NTD của Đài Loan cũng tiếp cận các biện pháp bảo vệ NTD tương tự cách tiếp cận của Nhật Bản Với quan điểm bảo vệ NTD cần phải sử dụng đến một
hệ thống các QPPL điều chỉnh ở những lĩnh vực khác nhau, Luật Bảo vệ NTD Đài Loan đưa
ra một loạt các biện pháp bảo vệ NTD trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Có thể nói đây là một cách làm mang t nh truyền thống và là yêu cầu bắt buộc trong công tác bảo vệ NTD
1.5.3 Đánh giá kinh nghiệm của các nước
Như trên đã nói, hoạt động bảo vệ NTD cần phải có những biện pháp mang t nh tổng hợp trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến NTD Bởi vì không có bất kỳ lĩnh vực nào đảm bảo rằng quyền lợi của NTD không có khả năng bị xâm hại Một trong những kinh nghiệm của Nhật Bản trong các CS BVQLNTD mà Việt Nam cần có những nghiên cứu để có thể áp
dụng đó ch nh là chính sách “thiết lập các hệ thống xử lý khiếu nại”, Luật BVQLNTD Nhật Bản quy định: “ h sản xuất, kinh doanh cần phải cố gắng thiết lập m t hệ thống cần thiết
để giải quyết m t cách nhanh chóng và hợp lý hợp tình các khiếu nại có thể nảy sinh trong
Trang 33quá trình giao dịch kinh doanh giữa họ và NTD Các thành phố, thị xã và làng mạc cần cố gắng sử dụng các trụ sở giao dịch h ng hóa để giải quyết các khiếu nại nảy sinh trong quá trình giao dịch kinh doanh giữa người sản xuất kinh doanh và NTD” Quá trình khiếu nại
của NTD thường bị cản trở bời những thủ tục tố tụng hết sức phức tạp, điều này có thể dẫn đến sự chán nản của NTD cũng như những thiệt hại không đáng có mà cả NTD và tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải gánh chịu do quá trình tố tụng gây ra Bản chất quan hệ giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và NTD là quan hệ dân sự
Ch nh vì vậy cần để các bên tự dàn xếp thỏa thuận giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình giao dịch trước khi sử dụng thủ tục tố tụng tại tòa án theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, việc buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại của NTD cũng nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo các quyền và lợi ch hợp pháp của NTD Đây thực sự là một biện pháp rất có hiệu quả nhằm giải quyết một cách nhanh chóng, triệt để các khiếu nại của NTD bên cạnh những biện pháp khác mà Việt Nam cần nghiên cứu, áp dụng
Kinh nghiệm hoạt động xây dựng và thực hiện CS BVQLNTD trên thế giới cho thấy, không thể đưa tất cả các vấn đề thuộc những lĩnh vực khác nhau vào cùng một đạo luật
về bảo vệ NTD Vì lẽ đó, Luật BVQLNTD chỉ quy định trách nhiệm pháp lý và một số chế định đặc thù của pháp luật bảo vệ NTD Những quy định khác liên quan đến bảo vệ NTD
mà không được quy định trong Luật BVQLNTD sẽ được dẫn chiếu đến các quy định của pháp luật về cạnh tranh, quảng cáo, chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đây là xu hướng làm luật của đa số các quốc gia trên thế giới, trong
Trang 34Thực tế hiện nay cho thấy, rất nhiều cơ quan thường “đẩy” những trách nhiệm BVQLNTD của mình sang cho cơ quan có chức năng “ch nh thức” về BVQLNTD Cơ quan này lại không có thẩm quyền xử l các vi phạm cụ thể trong các lĩnh vực cụ thể Vấn
đề càng trở nên nghiêm trọng hơn khi sự phối hợp giữa cơ quan này với các cơ quan quản l chuyên ngành còn chưa chặt chẽ dẫn đến quyền lợi của NTD còn bị bỏ rơi Tuy vậy, việc quy định các biện pháp bảo vệ NTD này chủ yếu mang t nh nguyên tắc
Kết luận Chương 1
Từ những phân t ch nêu trên có thể thấy khái niệm CS BVQLNTD không nằm ngoài phạm vi khái niệm CSC và CS BVQLNTD mang đầy đủ các t nh chất, thành phần của CSC Tuy nhiên, khi tiếp cận l luận về CS BVQLNTD cần lưu là các yếu tố như vấn đề, mục tiêu, giải pháp, công cụ, chủ thể, thể chế chính sách đều có những đặc điểm riêng biệt Những đặc điểm riêng này có vai trò quyết định trong công tác hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá CS BVQLNTD Bên cạnh đó, các yếu tố tác động đến thực hiện CSC cũng
có ảnh hưởng lớn, có khả năng làm thay đổi kết quả của các bước THCS này Đối với CS BVQLNTD, các yếu tố tác động ch nh cần phân t ch gồm ch nh trị, pháp luật, nguồn lực, văn hoá – xã hội Song song với tiếp cận l luận thực hiện CS BVQLNTD, việc tham khảo kinh nghiệm ở các quốc gia khác cũng rất cần thiết cho mục tiêu xây dựng được hệ thống chính sách phù hợp, tiến bộ Trong Chương 1, các vấn đề thực tế của Nhật Bản và Đài Loan
đã được phân t ch để có thể trở thành bài học kinh nghiệm cho CS BVQLNTD ở Việt Nam Trên cơ sở đó có cái nhìn tổng thể, bao quát nhằm xác lập cách thức, định hướng hoàn thiện
hệ thống CS BVQLNTD của Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, kỷ nguyên của hội nhập KTQT
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Tổng quan về chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Các bên tham gia thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Chính sách BVQLNTD tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người, có liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau trong XH Ch nh vì vậy, trong quá trình tổ chức triển khai THCS, cần huy động sự tham gia của các bên vào quá trình THCS Các bên tham gia vào quá trình THCS bao gồm: các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các tổ chức
Ch nh trị, tổ chức Ch nh trị - xã hội, các tổ chức đoàn thể nhân dân, các cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các đối tượng của chính sách và các cá nhân, công dân trong xã hội nhằm đưa chính sách vào thực tế để giải quyết vấn đề quyền lợi của NTD bị xâm hại 2.1.1.1 Chủ thể thực hiện chính sách
Chính sách công là một trong những công cụ quản l được nhà nước dùng để điều hành hoạt động KT - XH Vì vậy chủ thể ban hành CSC là nhà nước, cụ thể là các cơ quan
có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Theo Luật BVQLNTD thì trách nhiệm quản l nhà nước về BVQLNTD thuộc về cơ quan hành pháp
Ở nước ta, chủ thể ban hành CS BVQLNTD gồm có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội; Ch nh Phủ; Bộ Công thương và các Bộ có liên quan như Bộ Y tế, Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục & Đào tạo,
Bộ Lao động Thương binh & xã hội, Bộ Thông tin & Truyền thông, Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thương mại, Bộ Nội vụ …; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; các sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc TW Ch nh phủ thống nhất quản l nhà nước về BVQLNTD; Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Ch nh Phủ thực hiện quản l nhà nước về BVQLNTD; Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương thực hiện quản l nhà nước về BVQLNTD; UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản
l nhà nước về BVQLNTD tại địa phương Dưới đây là sơ đồ hệ thống cơ quan quản l nhà nước về BVQLNTD ở Việt Nam:
Trang 36Hình 2.1: Hệ thống cơ quan quản l nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
(Nguồn: Phòng BVQLNTD, Cục QLCT, Bộ Công thương) Mỗi chủ thể THCS lại có những chức năng, nhiệm vụ, vai trò, động cơ, thái độ khác nhau đối với CS BVQLNTD; cụ thể được trình bày ở bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 2.1: Chủ thể chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hệ thống
tổ chức
Các bên tham gia
Thẩm tra, Giám sát
Quan tâm,
Hỗ trợ
Ch nh Phủ
Thống nhất quản l nhà nước BVQLNTD trong phạm vi cả nước; ban hành văn bản QPPL, cơ chế, chính sách cụ thể để BVQLNTD là quốc sách hàng đầu
trong phạm vi
Tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ
Vô tư
Trang 37Quản l nhà
BVQLNTD theo ngành, lĩnh vực
cấp tỉnh, thành phố
Ảnh hưởng
Tham mưu,
cấp tỉnh
Ảnh hưởng
2.1.1.2 Chủ thể tham gia phối hợp THCS
Chủ thể tham gia phối hợp thực hiện CS BVQLNTD rất đa dạng, phong phú, có thể
là các tổ chức, cá nhân trong xã hội Ở nước ta hiện nay, các tổ chức tham gia phối hợp THCS bao gồm:
Thứ nhất, các tổ chức Ch nh trị - xã hội Khi thực hiện nhiệm vụ được cơ quan Nhà
nước giao, tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD (v dụ như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam (VINASTAS) và các Hội địa phương) được Nhà nước hỗ trợ kinh ph và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật
Thứ hai các hiệp hội nghề nghiệp - xã hội ở TW và địa phương, các hiệp hội chất
lượng sản phẩm
Thứ ba, các tổ chức phi Ch nh phủ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Trong số các tổ chức nói trên, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam giữ vai trò trung tâm trong quá trình phối kết hợp thực hiện CS BVQLNTD Với tư cách là tổ chức liên minh
ch nh trị, liên hiệp một cách tự nguyện, rộng rãi của các tổ chức ch nh trị, các tổ chức ch nh trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, để
Trang 38kêu gọi, thu hút các tầng lớp dân cư vào quá trình triển khai thực hiện CS BVQLNTD cũng như bảo vệ quyền lợi ch nh đáng của các nhóm đối tượng khác nhau trong quá trình thực hiện
Ngoài ra, các cá nhân trong xã hội như các nhà khoa học, các học giả, chuyên gia chính sách trên các lĩnh vực, các doanh nghiệp cũng sẽ là các chủ thể phối hợp thực hiện CS BVQLNTD Các cá nhân này dựa trên tri thức, sự hiểu biết của mình về chính sách cũng như kinh nghiệm thực tế sẽ là những nhà tư vấn chính sách cho nhà nước, đưa ra các sáng kiến, giải pháp chính sách phù hợp nhằm rút ngắn thời gian, tiến độ triển khai THCS trong thực tế Họ cũng là bên trung gian, đưa ra các kiến phản biện cho các cơ quan nhà nước cũng như nhân dân khi tham gia vào quá trình triển khai thực hiện CS BVQLNTD
2.1.1.3 Đối tượng thực hiện ch nh sách
Đối tượng THCS là những đối tượng, nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp hay tác
động gián tiếp của chính sách, bao gồm: Thứ nhất, đối tượng chịu tác động trực tiếp của CS
BVQLNTD Đối tượng chịu tác động trực tiếp của CS BVQLNTD là toàn bộ những NTD trong xã hội, các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ tại Việt Nam Đây là nhóm đối tượng ch nh của CS BVQLNTD Thông thường, nếu chính sách khi thực hiện, tác động tới nhóm đối tượng này theo hướng có lợi và phù hợp với điều kiện thực tiễn của họ, thì họ sẽ t ch cực tham gia và ngược lại Vì vậy, khi tổ chức thực hiện CS BVQLNTD, cần
phải có các phương án nhằm thu hút họ tham gia vào quá trình THCS Thứ hai, đối tượng
chịu sự tác động gián tiếp của CS BVQLNTD như các NTD ở nước khác khi sử dụng sản phẩm có xuất xứ Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu sản phẩm vào Việt Nam, những cá nhân, tổ chức không phải là NTD trực tiếp hoặc sản xuất cung ứng sản phẩm, dịch vụ trực tiếp Đây là những đối tượng mà khi chính sách được triển khai không chịu tác động một cách trực tiếp nhưng t nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình này
2.1.2 Thể chế chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thể chế giúp cho mọi hoạt động của đời sống xã hội diễn ra có trật tự theo một hệ thống nhất định Vì vậy CS BVQLNTD cũng phải có hệ thống thể chế thống nhất từ TW đến địa phương Hệ thống thể chế CS BVQLNTD phải tuân thủ thể chế chung về quy trình ban hành văn bản QPPL Quá trình thẩm định, phê chuẩn và ban hành phải tuân theo luật định Thể chế CS BVQLNTD có nhiều loại khác nhau và được nhiều cơ quan quản l nhà nước ban hành theo thẩm quyền: Thể chế do cấp Trung ương quản l bao gồm các văn bản
Trang 39Luật do Quốc hội ban hành, các văn bản pháp quy do Ch nh phủ và các Bộ ngành ở Trung ương ban hành; Thể chế do ch nh quyền địa phương quản l bao gồm các văn bản quy phạm
do Hội đồng nhân dân, UBND và các cơ quan chức năng các cấp ở địa phương ban hành Bảng 1.2 dưới đây sẽ trình bày mối quan hệ giữa hệ thống thể chế, chủ thể ban hành chính sách và thẩm quyền của các chủ thể:
Bảng 2.2: Thể chế ch nh sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hệ thống thể chế Chủ thể ban hành Thẩm quyền ban hành
thuộc Ch nh phủ có liên quan
- Quyết định; Chỉ thị
- Thông tư; TT liên tịch
Cấp địa phương
HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW - Nghị quyết
Có thể nói, thể chế CS BVQLNTD là một trong những chế định có nội hàm rộng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam Ch nh vì điều đó mà hệ thống văn bản các QPPL về BVQLNTD cũng rất phong phú và nằm trong nhiều ngành luật, nhiều lĩnh vực khác nhau
Có thể phân chia thể chế CS BVQLNTD thành hai nhóm: nhóm các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp vấn đề BVQLNTD và nhóm các văn bản gián tiếp điều chỉnh vấn đề này
- Nhóm văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp vấn đề BVQLNTD:
Tại Việt Nam, ngay từ năm 1999, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh BVQLNTD Trải qua hơn 10 năm thực thi, Pháp lệnh đã thể hiện nhiều bất cập và không điều chỉnh kịp theo
sự thay đổi của hoạt động BVQLNTD Chính vì vậy, năm 2010 Quốc hội đã ban hành Luật BVQLNTD nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này Trong thời gian từ 2010 đến nay, Quốc hội và Ch nh phủ đã nhanh chóng hoàn thiện và ban hành đồng bộ các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động BVQLNTD
Trang 40Hình 2.2: Quá trình xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
(Nguồn: Phòng BVQLNTD, Cục QLCT, Bộ Công thương) Theo đó, năm 2010 Quốc hội đã ban hành Luật BVQLNTD, năm 2011, Ch nh Phủ ban hành Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVQLNTD Tiếp đó, năm 2012, Ch nh phủ cũng ban hành Quyết định 02/2012/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng k HĐTM, ĐKGDC
Năm 2013, Bộ Công thương ban hành Thông tư 10/2013/TT-BCT về mẫu đơn đăng
ký HĐTM, ĐKGDC Ch nh phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 08/2013/NĐ-CP về xử phạt
vi phạm hành ch nh đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; Nghị định
185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành ch nh trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và BVQLNTD
Năm 2015, Thủ tướng Ch nh phủ ban hành Quyết định số 1035/QĐ-TTg về Ngày Quyền của NTD Việt Nam; Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng k HĐTM, ĐKGDC; Nghị định số 124/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và BVQLNTD Bộ Công thương và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BCT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ