1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC

129 453 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Ủy ban nhân dân các cấp được giao các nhiệm vụ

Trang 1

TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC

Hà Nội, 26/3/2015

Trang 3

CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO

Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng ở Việt Nam và kinh nghiệm của Đức

Th ời gian: 26/03/2014, 8h00 -17h00

Địa điểm: Đại học Luật Hà Nội, Phòng A.402

Viện FES Hà Nội, Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, Chuyên gia về bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam

08h45 – 09h00 Khai mạc - Đại diện Ban giám hiệu Trường Đại học

Luật Hà Nội

- Đại diện viện FES Hà Nội

- Trung tâm Pháp luật Đức

9h00 – 10h00 GS Juergen Kessler –

Đại học Kỹ thuật và Kinh

t ế Berlin

Tổng quan pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

và thực trạng năng lực các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Cộng hòa liên bang Đức

10h00 – 10h05 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

10h25 – 11h05 Ths Hoàng Minh Chiến –

11h05- 11h10 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

Trang 4

13h30 – 13h35 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

13h35 – 14h05 TS Nguyễn Thị Vân Anh –

Tr ường Đại học Luật Hà

N ội

Đánh giá thực trạng năng lực của các tổ chức

xã hội trong thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

14h05 – 14h10 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

14h40 – 14h45 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

15h00 – 15h30 TS V ũ Thị Lan Anh -

Tr ường Đại học Luật

Đánh giá thực trạng năng lực của hệ thống tòa

án trong thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

15h30 – 15h35 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

15h35 – 16h05 GS Juergen Kessler - Đại

h ọc Kỹ thuật và Kinh tế

Berlin

Kinh nghiệm tăng cường năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Đức

16h05 – 16h10 Bình luận của các đại biểu tham gia Hội thảo

16h45 – 17h00 Bế mạc - Đại diện ban tổ chức

- Trung tâm pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trang 5

MỤC LỤC

Chuyên đề 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC 1

GS Juergen Erich Kessler

Chuyên đề 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 5

ThS Hoàng Minh Chiến, ThS Nguyễn Ngọc Quyên, ThS Phạm Phương Thảo

Chuyên đề 3: TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NĂNG LỰC CỦA CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CỦA CÁC THIẾT CHẾ ĐÓ 31

Ngô Vĩnh Bạch Dương

Chuyên đề 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM 48

PGS TS Nguyễn Thị Vân Anh

Chuyên đề 5: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM 62

ThS Nguyễn Văn Thành

Chuyên đề 6: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 93

TS Vũ Thị Lan Anh, Ths Trần Quỳnh Anh

HIỆP HỘI BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG, CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC 105

Trang 7

Chuyên đề 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÁC THIẾT CHẾ BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC

GS Juergen Erich Kessler Trường Đại học Kỹ thuật và Kinh tế Berlin

1 Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng

Trong luật pháp Đức không có một “Luật Bảo vệ người tiêu dùng” riêng chế định tất cả các vấn đề về quyền của người tiêu dùng Các quy phạm pháp luật nhằm chủ yếu hoặc đồng thời cũng nhằm mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng nằm ở trong rất nhiều đạo luật riêng rẽ Thường thường có sự giao thoa giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng với các mục tiêu khác Lý do là chỉ trong những mối quan hệ xã hội nhất định thì người tiêu dùng mới được xem là

“người tiêu dùng” Cũng những người nhất định có thể phải chịu cùng một mối

đe dọa cả trong một mối liên quan khác, chẳng hạn như với tư cách là người lao động Một quy định về cách thức sử dụng bảo quản một hóa chất vì thế có thể nhằm mục đích bảo đảm an toàn lao động cũng như bảo vệ người tiêu dùng và cũng có thể cả mục đích bảo vệ môi trường Không thể phân định rạch ròi một lĩnh vực luật pháp về bảo vệ người tiêu dùng Vì vậy, danh mục liệt kê các quy định về bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật của Đức dưới đây không phải đã bao gồm tất cả và trong pháp luật công đặc biệt bao gồm cả những quy phạm vừa phục vụ những mục tiêu khác nữa

- Trong Bộ luật Dân sự có các chế định về thực hiện lao vụ không có đặt hàng (Điều 241a), các quy định về những nguyên tắc trong các hợp đồng với người tiêu dùng và các hình thức bán hàng đặc biệt (các điều 312 đến 312k), các chế định về quyền hủy bỏ trong các hợp đồng với người tiêu dùng (các điều 355 đến 361), các quy định về mua hàng tiêu dùng (các điều 474 đến 479), về các hợp đồng chia sẻ thời gian ở, các hợp đồng về các sản phẩm kỳ nghỉ dài hạn, các hợp đồng môi giới và các hợp đồng hệ thống trao đổi (các điều 481 đến 487), về

Trang 8

về hỗ trợ tài chính giữa một doanh nhân và một người tiêu dùng (các điều 506 đến 509) và về các hợp đồng cung ứng trả góp (Điều 510), cũng như các quy định về bản chất bắt buộc và áp dụng đối với những người khởi sự doanh nghiệp (các điều 511 đến 512), các chế định về việc môi giới các hợp đồng cho vay tiều dùng (các điều 655a đên 655e), về các cam kết giải thưởng (Điều 661a), về ngày ghi giá trị và tính khả dụng của khoản tiền (Điều 675t) Thậm chí các quy định

về tiền thuê chỗ ở (các điều 549 đến 577a) cũng được tính vào pháp luật bảo vệ người tiêu dùng theo nghĩa rộng Nhiều quy định khác trong pháp luật dân sự không quy được một cách rõ ràng vào lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, bởi vì những quy định đó nhằm cân bằng những đối ngược lợi ích mang tính đặc trưng giữa các bên hợp đồng và như vậy không chỉ là những quy phạm bảo vệ có lợi cho người tiêu dùng, mà bảo vệ các đối tác hợp đồng nói chung Trong số các quy định như vậy chẳng hạn có các quy định về Các điều kiện kinh doanh chung (các điều 305 đến 310)

- Nhiều quy định về thể thức cũng mang động cơ bảo vệ người tiêu dùng,

ví dụ như bắt buộc phải để công chứng viên lập văn bằng hợp đồng mua bán đất (Điều 311b Khoản 1 Bộ luật Dân sự Qua đó sẽ đảm bảo được sự tư vấn chuyên môn thông qua công chứng viên lập văn bằng đối với những hợp đồng được ký kết với những khoản giá trị lớn và với ý định mua tài sản mang tính chất lâu dài Bên cạnh đó còn có những quy định về thể thức có thể quy rõ ràng vào pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, chẳng hạn như hình thức văn bản đối với các hợp đồng chia sẻ thời gian ở và các hợp đồng cho vay tiêu dùng cũng như hình thức văn bản đối với các động tác giải thích trước cho người tiêu dùng về quyền hủy bỏ đối với những loại hợp đồng nhất định (hợp đồng cho vay tiêu dùng, hợp đồng chia sẻ thời gian ở) cũng như những phương thức bán hàng nhất định (bán hàng trước cửa nhà, hợp đồng tiêu thụ từ xa)

- Nhiều quy định trong pháp luật công nằm rải rác ở nhiều luật khác nhau,

có mục đích bảo vệ người tiêu dùng (thường là liên quan đến sức khỏe) Những luật này thường quy định nghĩa vụ của nhà sản xuất và người buôn bán hàng hóa phải tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu nhất định liên quan đến nguyên liệu, các

Trang 9

loại vật liệu ban đầu khác cũng như các chất phụ gia hoặc cũng liên quan đến công nghệ sản xuất hoặc bao gói Trong pháp luật của Đức, quy phạm quan trọng nhất trong số này là Luật về việc lưu thông lương thực thực phẩm, các sản phẩm thuốc lá, mỹ phẩm và các nhu yếu phẩm khác và chế định kế tục luật này

là Luật Lương thực thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi Trên cơ sở luật này, một loạt các nghị định với những quy định rất chi tiết đã được ban hành, ví dụ như Nghị định về Mỹ phẩm Một số luật quan trọng khác từ lĩnh vực này ví dụ như

là Luật Vệ sinh thực phẩm thịt (nay đã bỏ) và Luật Dược phẩm

- Kể từ khi Luật Phá sản có hiệu lực vào đầu năm 1999, có thể có việc giải tỏa nghĩa vụ thanh toán (Miễn khoản nợ còn lại theo các điều từ 286 Luật Phá sản) theo quyết định của tòa án đối với người tiêu dùng vỡ nợ sau khi kết thúc một thủ tục phá sản đối với người tiêu dùng kéo dài ít nhất 6 năm

- Pháp luật cạnh tranh (được điều chỉnh trước hết là trong Luật chống cạnh tranh không lành mạnh), trước đây chỉ nhằm bảo vệ các đối thủ cạnh trạnh với nhau và chỉ gián tiếp đề cập đến lợi ích người tiêu dùng, theo tình hình pháp lý hiện hành cũng đã có nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng (ghi rõ trong Điều 1 của luật này)

2 Các hoạt động

Trong những năm vừa qua, nhận thức về bảo vệ người tiêu dùng trong công chúng đã tăng lên nhiều Những vụ tai tiếng về thực phẩm, các đồ gia dụng nguy hiểm, việc giảm điều tiết các độc quyền nhà nước trước đây (như bưu chính, điện thoại, đường sắt) cũng như các thông đồng hạn chế cạnh tranh theo lĩnh vực (ví dụ điện lực), những hình thức hợp đồng mới (như các hợp đồng thuê bao điện thoại di động) là những thách thức mới đối với người tiêu dùng Các cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp của EU, Liên bang và các bang ngày càng chú trọng đến chủ đề này Trong quá trình xảy ra những vụ tai tiếng về thực phẩm, chẳng hạn Bộ Lương thực thực phẩm, Nông nghiệp và Lâm nghiệp Liên bang năm 2001 được đổi tên thành Bộ Bảo vệ người tiêu dùng, Lương thực thực phẩm và Nông nghiệp Liên bang Trong những năm vừa rồi đặc biệt

là cả các hành vi kinh doanh phần nào không nghiêm chỉnh của các doanh

Trang 10

nghiệp viễn thông trở thành một chủ đề trọng tâm trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng

Tại Berlin từ năm 2002, một sở của Bang trong tên gọi có khái niệm bảo vệ

phố này được tập hợp trong một mạng lưới bảo vệ người tiêu dùng và được giới

thiệu trong một cuốn sách chỉ dẫn cho người tiêu dùng, một kiểu Những trang

vàng trên internet Một Đêm dài để bảo vệ người tiêu dùng, một sự kiện được

hàng nghìn người tham dự, đã đánh dấu sự khởi đầu Kể từ đó, sở của bang phụ trách việc bảo vệ người tiêu dùng tổ chức đều đặn các chợ cho người tiêu dùng nhân Ngày quốc tế người tiêu dùng, lần đầu tiên đã tổ chức khắp nước Đức

nghiệp cao và tỷ lệ người có nguồn gốc nhập cư cao và với Lễ hội người tiêu

trợ cho người tiêu dùng dưới dạng lễ hội đường phố ở đường Kurfürstendamm, khu tập trung mua sắm của Berlin

Về mặt khoa học, bảo vệ người tiêu dùng đến nay đã thành một bộ môn ở

các trường đại học khác nhau Bộ môn giảng dạy này (kết hợp với môn luật ngân hàng và luật thị trường vốn) lần đầu tiên được lập vào năm 2008 tại Đại học Hamburg Năm 2010, Đại học Bayreuth đã cho thành hình một bộ môn giảng dạy về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, do Bộ Lương thực thực phẩm, Nông nghiệp và Bảo vệ người tiêu dùng Liên bang tài trợ Tại Đại học Tổng hợp Humboldt Berlin, từ năm 2010 có một chức danh giáo sư trẻ về luật dân sự và luật tư châu Âu với sự chú ý đặc biệt đến pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và pháp luật về cạnh tranh

Trang 11

Chuyên đề 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

ThS Hoàng Minh Chiến ThS Nguyễn Ngọc Quyên ThS Phạm Phương Thảo Trường Đại học Luật Hà Nội

1 Khái quát quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) và các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quan trọng nhất hiện đang tồn tại ở Việt

Nam, bao gồm:

- Các tổ chức xã hội về bảo vệ người tiêu dùng (chủ yếu bao gồm Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam và các Hội bảo vệ người tiêu dùng ở các tỉnh)

có tính nòng cốt

1 Bao gồm các cơ quan sau: Cục quản lí cạnh tranh (Bộ công thương); Cục quản lí thị trường (Bộ công thương); Các chi cục, đội quản lí thị trường ở các địa phương; Cục an toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ y tế); Cục khám chữa bệnh; Tổng cục tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng (Bộ khoa học và công nghệ); Các chi cục tiêu chuẩn đo

Trang 12

Theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,

Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Công Thương được Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trao cho các nhiệm

vụ, bao gồm:

tiêu dùng

Cụ thể hơn, theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, Bộ Công thương chịu trách nhiệm tiếp nhận, đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh trở lên

Ngoài quy định kể trên, tại Điều 22 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) có quy định Bộ Công Thương cũng là cơ quan tiếp nhận việc báo cáo kết quả thu hồi hàng hóa có khuyết tật của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa trong trường hợp việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên

2 Điều 48 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010

Trang 13

Bộ Công thương được Chính phủ giao trách nhiệm như vậy trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bởi vì Bộ Công thương có những nhiệm vụ, quyền hạn khác liên quan trực tiếp đến vấn đề này Cụ thể, theo Điều 64 Luật an toàn thực phẩm (17/6/2010), Bộ Công Thương cũng là đơn vị được giao nhiệm

vụ quan trọng liên quan tới công tác bảo đảm an toàn thực phẩm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan giúp Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Cục Quản lý Cạnh tranh là đơn vị có tư cách pháp nhân, được thành lập trong cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương (trước đây là Bộ Thương mại) từ năm 2004 Theo Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9/1/2006 và Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05/02/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh thì Phòng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Phòng kiểm soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung chính

là đơn vị trực tiếp phụ trách về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng

Trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cục Quản lý cạnh tranh

có những nhiệm vụ và quyền hạn, bao gồm:

a Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

b Hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng;

c Phát hiện và đề xuất Cục trưởng kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý những quy định không phù hợp với pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

d Chủ trì và phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hưởng dẫn các Sở Thương mại/Sở Thương mại Du lịch thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương;

đ Kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đề xuất Cục trưởng xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý

vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

Trang 14

e Thụ lý khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng;

g Đề xuất Cục trưởng giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật

h Kiến nghị Cục trưởng về việc sử dụng tư vấn trong và ngoài nước trong trường hợp cần thiết theo yêu cầu của công việc và theo quy định của pháp luật;

i Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

và theo sự phân công của Cục trưởng

Mặc dù được thành lập chưa lâu, tuy nhiên những thành quả mà Cục quản lý cạnh tranh, cụ thể là Phòng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Phòng kiểm soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đạt được rất đáng ghi nhận: (i) Với tư cách là đơn vị được giao chủ trì xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cục QLCT đã chắp bút soạn thảo các văn bản như: Nghị định số 99/2011/NĐ –CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nghị định số 19/2012/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nghị định này hiện đã được thay thế bởi Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung Việc ban hành các văn bản này không chỉ giúp đưa các quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đi vào cuộc sống mà còn tạo hành lang pháp lý vững chắc trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam

(ii) Để triển khai các quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

và các văn bản hướng dẫn thi hành một cách có hiệu quả, cũng như thiết lập một Trung tâm hỗ trợ người tiêu dùng và các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, Cục QLCT đã xây dựng Trung tâm

Trang 15

hỗ trợ người tiêu dùng qua điện thoại (Call - Center) cũng như xây dựng website

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (http://bvntd.vca.gov.vn)

(iii) Về vấn đề đăng ký hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Cho đến năm 2012, sau một (01) năm triển khai thực hiện quy định mới của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, mới chỉ có 80 hồ sơ đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được đăng ký tại các Sở Công Thương Địa phương tiếp nhận nhiều hồ sơ nhất là Đăklăk, Đăk Nông (6 bộ) còn lại các Sở Công Thương ở địa phương khác mới chỉ tiếp nhận 1-3 bộ hồ sơ, thậm chí có Sở Công Thương còn chưa tiếp nhận được hồ sơ nào như: Lâm

cáo năm 2013 của Cục quản lý cạnh tranh thì trong năm 2013, Cục quản lý cạnh tranh đã tiếp nhận và xử lý 78 bộ hồ sơ đăng kí hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Đối với mỗi bộ hồ sơ đăng kí, Cục đều tiếp nhận và xử lý theo đúng quy định pháp luật, trong đó tập trung loại bỏ các nội dung vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong các hồ sơ đăng kí với Cục

Về Quy trình đăng kí, Cục cũng đã trình lãnh đạo Bộ Công thương ký và ban hành Thông tư số 10/2013/TT – BCT ngày 30/05/2013 về ban hành mẫu đơn đăng kí hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

(iv) Trong công tác thanh tra xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ NTD Chỉ riêng năm 2011, thông qua phản ánh của người tiêu dùng, các cơ quan,

tổ chức và các phương tiện thông tin đại chúng Cục QLCT đã can thiệp, giải quyết nhiều vụ việc liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng trong đó có những

vụ việc có tác động lớn đến xã hội như: vụ thu hồi xe ô tô của Công ty Toyota Việt Nam, vụ thu hồi xe máy Honda Lead của Công ty Honda Việt Nam, vụ thu hồi sản phẩm máy sấy tóc hiệu Philips, Các hoạt động này nhận được sự hưởng ứng, khích lệ của người tiêu dùng và xã hội

Bên cạnh Cục quản lý cạnh tranh, Cục Quản lý Thị trường là cơ quan trực

thuộc Bộ Công Thương, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ

3 Hội thảo“Nhìn lại một năm triển khai thực hiện Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam” tổ chức

Trang 16

Công Thương quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước, từ đó góp phần đảm bảo môi trường lành mạnh cho người tiêu dùng Theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 19/2009/QĐ-TTg ngày 6/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công Thương, Cục Quản lý thị trường có các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Trình Bộ trưởng Bộ Công Thương để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc ban hành dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước

- Trình Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, chiến lược phát triển, chương trình, đề án, dự án, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước; chính sách, chế

độ đối với công chức làm công tác quản lý thị trường các cấp

- Giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước sau khi được phê duyệt; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra, kiểm soát thị trường

- Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp

vụ về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước; các văn bản cá biệt, văn bản quy phạm nội bộ theo quy định của pháp luật

- Xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu về tình hình vi phạm trong hoạt động thương mại, chất lượng hàng công nghiệp của tổ chức, cá nhân kinh doanh; hoạt động kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của

Trang 17

lực lượng quản lý thị trường cả nước Theo dõi, dự báo đề xuất giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn

- Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại và xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

- Làm nhiệm vụ cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại

Khác với Cục quản lý cạnh tranh, Cục quản lý thị trường là cơ quan được thành lập sớm hơn và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ Trung ương tới địa phương, với đội ngũ cán bộ, công chức đông đảo (gần 6.000 cán bộ) Các hoạt động của Cục quản lý thị trường rất đa dạng và phong phú, như kiểm tra xử lý hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng trốn thuế… nhằm tạo dựng một thị trường lành mạnh, góp phần bảo vệ người tiêu dùng

Ngoài Bộ Công thương, khi đánh giá các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chúng ta cũng phải kể đến những cơ quan quản lý ngành khác, đặc biệt là những ngành có liên quan trực tiếp tới vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn… Tuy nhiên, trong phạm vi bài nghiên cứu các tác giả không tỉm hiểu sâu các quy định pháp luật về hệ thống những cơ quan này mà chỉ tập trung phân tích vị trí, chức năng nhiệm quyền hạn của những cơ quan quản lý chuyên trách về bảo vệ người tiêu dùng

Theo quy định tại Điều 47 khoản 4 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương Theo quy định tại Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Ủy ban nhân dân các cấp được giao các nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương

Trang 18

- Quản lý hoạt động về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức xã hội, tổ chức hòa giải tại địa phương

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

tư vấn, hỗ trợ và nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền

Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh

Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại địa phương là cơ quan nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở địa phương Sở Công thương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở địa phương

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương bao gồm:

a) Thực hiện việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan;

b) Thẩm định các đề án, kế hoạch hoạt động của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao thực hiện nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của Nhà nước;

c) Giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ khi giao cho tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng thực hiện;

d) Kiểm tra, giám sát hoạt động hòa giải của tổ chức hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh;

đ) Tạo điều kiện để tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoạt động;

e) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ để cơ quan quản lý nhà nước về bảo

vệ người tiêu dùng cấp huyện thực hiện các nội dung liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

g) Công bố công khai danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Điều 23 Nghị định này;

Trang 19

h) Báo cáo kết quả thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền cấp trên;

i) Kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật;

k) Các trách nhiệm khác quy định tại Điều 49 Luật Bảo vệ quyền lợi người

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 22 của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp tỉnh cũng là cơ quan tiếp nhận báo cáo kết quả thu hồi hàng hóa có khuyết tật của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa

Ủy ban nhân dân cấp huyện

Theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân cấp huyện quyết định đơn vị giúp Ủy ban thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn huyện mình Như vậy, khác với Ủy ban nhân cấp tỉnh, Ủy ban nhân cấp huyện được tự mình chỉ định đơn vị thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng, tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của địa phương mình Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định rất cụ thể trách nhiệm của đơn vị giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

a) Thực hiện việc giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan;

b) Kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoạt động trên địa bàn huyện mình quản lý;

c) Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý theo thẩm quyền đối với các chợ, trung tâm thương mại trên địa bàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ tại các địa điểm này;

Trang 20

d) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ để Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi mua hàng hóa,

sử dụng dịch vụ của các cá nhân hoạt động thương mại ngoài phạm vi chợ, trung tâm thương mại;

đ) Công bố công khai danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Điều 23 Nghị định này;

e) Báo cáo kết quả thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn huyện theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền cấp trên;

g) Các trách nhiệm khác quy định tại Điều 49 Luật Bảo vệ quyền lợi người

Đối với nhiệm vụ thực hiện việc giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo quy định tại Điều 25 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng thì người tiêu dùng, tổ chức xã hội có quyền yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết Người tiêu dùng, tổ chức xã hội có nghĩa vụ cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Việc giải quyết yêu cầu này của người tiêu dùng hoặc của tổ chức xã hội được quy định tại Điều 26 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), bao gồm:

- Khi nhận được yêu cầu của người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu các bên giải trình, cung cấp thông tin, bằng chứng hoặc tự mình xác minh, thu thập thông tin, bằng chứng để xử lý theo quy định của pháp luật

- Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện

có trách nhiệm trả lời bằng văn bản việc giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi

5 Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP

Trang 21

người tiêu dùng; trường hợp xác định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, văn bản trả lời phải có các nội dung sau đây: a) Nội dung vi phạm; b) Biện pháp khắc phục hậu quả (như buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thu hồi, tiêu hủy hàng hóa hoặc ngừng cung cấp hàng hóa, dịch vụ; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh của tổ chức, cá nhân vi phạm; hoặc buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ loại bỏ điều khoản vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ra khỏi hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung); c) Thời hạn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; d) Biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp vi phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính, nếu có

Ngoài các biện pháp khắc phục hậu quả như trên, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tái phạm còn bị đưa vào Danh sách công khai tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng

Ủy ban nhân dân cấp xã

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 99/2011/NĐ –CP, Ủy ban nhân dân cấp xã, trong phạm vi địa bàn mình quản lý, cũng có trách nhiệm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trách nhiệm cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp xã, bao gồm:

1 Kiểm tra, giám sát hoạt động của các Ban quản lý chợ, thương nhân kinh doanh chợ, trung tâm thương mại trên địa bàn trong việc thực hiện nội quy đã được phê duyệt Trong trường hợp không có Ban quản lý chợ, thương nhân kinh doanh chợ, trung tâm thương mại thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi chợ, trung tâm thương mại

2 Quản lý, kiểm tra hoạt động của các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh hoạt động trên địa bàn xã ngoài phạm vi chợ, trung tâm thương mại để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

3 Phối hợp với các cơ quan chức năng cấp huyện, tỉnh về thương mại, quản lý thị trường, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng trong việc quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh của các cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn

Trang 22

4 Xử lý các vi phạm về bảo vệ người tiêu dùng theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật

5 Tuyên truyền, khuyến khích các cá nhân không hoạt động thương mại ngoài phạm vi chợ, trung tâm thương mại; tạo điều kiện để các cá nhân hoạt động kinh doanh trong phạm vi chợ, trung tâm thương mại

1.2 Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Về mặt pháp lý, vai trò của các hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo

vệ NTD đã được công nhận và quy định từ Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 2/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (1999), sau đó được tái ghi nhận trong Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24/4/2008 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (1999)

Để phù hợp với nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng là trách nhiệm của toàn

xã hội, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) khuyến khích mọi tổ chức

xã hội (bao gồm các Hội bảo vệ NTD và cả các tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội phụ nữ, các Hội ngành nghề v.v.) tham gia vào công tác bảo vệ người tiêu dùng Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã xác định rõ các tổ chức xã hội nói chung và hội bảo vệ NTD nói riêng sẽ thực hiện các hoạt động

để giúp NTD bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Theo Điều 28 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu (2010), tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các hoạt động sau đây:

a) Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu;

b) Đại diện người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích

công cộng;

c) Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;

d) Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin,

Trang 23

cảnh báo của mình; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

đ) Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế hoạch và biện pháp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

e) Thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao theo quy định tại Điều

29 Luật này;

g) Tham gia tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng

Có thể nói, quy định tổ chức xã hội được tự mình khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì lợi ích công cộng là một trong những quy định mang tính đột phá của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) Việc tổ chức xã hội có quyền đứng ra tự khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng đã giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn đối với những vụ việc vi phạm làm ảnh hưởng đến số đông người tiêu dùng như vụ việc nước tương có chứa chất gây ung thư 3MCPD, vụ việc sữa nhiễm melanine… Bởi theo pháp luật hiện hành, Việt Nam chưa có quy định về “khởi kiện tập thể” Tại Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự (2004) sửa đổi bổ sung năm 2011, về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước, chỉ quy định “ Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách” Tuy nhiên, để

có thể tự mình đứng ra khởi kiện, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định, bao gồm:

1 Được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật

2 Có tôn chỉ, mục đích hoạt động vì quyền lợi của người tiêu dùng hoặc vì lợi ích công cộng liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng

3 Có thời gian hoạt động tối thiểu là ba (03) năm tính từ ngày tổ chức xã hội được thành lập đến ngày tổ chức xã hội thực hiện quyền tự khởi kiện

Trang 24

Ngoài việc phải đảm bảo quyền lợi của những người tiêu dùng có liên quan đến vụ án, tránh tình trạng lạm dụng quyền khởi kiện, Luật cũng yêu cầu tổ chức

xã hội tham gia khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải chịu các chi phí phát sinh trong quá trình khởi kiện

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) cũng quy định tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể được hưởng hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước hoặc các hỗ trợ khác khi thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao, bao gồm các nhiệm vụ:

(i) Tuyên truyền, phổ biến giáo dục về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

(ii) Hướng dẫn, đào tạo nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng

(iii) Tư vấn, hỗ trợ cho người tiêu dùng

(iv) Thực hiện các nghiên cứu, khảo sát thực tế, tập hợp ý kiến, phản ánh

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là các chủ thể có thẩm quyền quyết định trong việc giao nhiệm vụ cho các

tổ chức xã hội tham gia công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Một trong những nhiệm vụ chính của Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đó là hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng, trở thành cầu nối giúp giải quyết những khó khăn vướng mắc giữa người tiêu dùng và

tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ Vì vậy, có thể thấy việc quy định cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thẩm quyền thành lập các tổ chức hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh

nhiệm, quyền hạn của các tổ chức hòa giải này

Có thể nói, những quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như những văn bản hướng dẫn thi hành đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của các tổ chức xã hội về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

7 Điều 27 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP

8 Điều 31 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP

Trang 25

Trong những năm qua, ở nước ta tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được biết đến trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là Hội Khoa học

và Kỹ thuật về Tiêu chuẩn hóa, Chất lượng và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam (gọi tắt là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, tên giao dịch: Vinastas) Bên cạnh đó, các Hội bảo vệ quyền lợi NTD các tỉnh cũng

có những hoạt động tích cực tham gia bảo vệ quyền lợi NTD Tính đến nay, cả nước có 48 tỉnh có Hội bảo vệ quyền lợi NTD, góp phần giải quyết được khoảng

3000 vụ khiếu nại/năm, tỷ lệ thành công lên đến 80 – 82% Riêng một số hội

ở Hải Phòng, Hà Tĩnh, Kiên Giang, tỷ lệ giải quyết thành công là trên 90% Đặc biệt , 07 Hội bao gồm Hội bảo vệ quyền lợi NTD Bình Dương, Tiền Giang, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Đak Lak, Cà Mau và Bến Tre đã được công nhận là hội đặc thù, được cấp kinh phí thường xuyên để hoạt động Trong năm 2013, 02 Hội mới được thành lập là Hội bảo vệ quyền lợi NTD Lai Châu và Bắc Kạn; 01 Hội chuyển đổi mô hình quản lý trực thuộc Sở Công Thương là Hội bảo vệ quyền lợi NTD Phú Yên Đặc biệt, Hội tiêu chuẩn và BVQLNTD Việt Nam (Vinastas) là Hội hoạt động trên cả nước đã có những hoạt động tích cực trong công tác BVQLNTD Bên cạnh đó, mặc dù nhận thức rõ vai trò của các tổ chức xã hội tham gia và hoạt động BVQLNTD nói chung và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng nói riêng rất quan trọng, nhưng cho đến thời điểm này, việc triển khai các quy định pháp luật nói trên còn nhiều lúng túng và các tổ chức BVQLNTD vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động

1.3 Hệ thống tòa án

Theo quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2002), hệ thống tòa án của Việt Nam được tổ chức thành các cấp, bao gồm Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Tòa án nhân dân tình thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân tối cao Theo đó, chỉ có tòa án nhân dân từ cấp tỉnh trở lên mới chia thành các tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính Các vụ án về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có tòa án chuyên trách riêng để xử lý mà được xếp vào loại vụ kiện dân sự và có thể được giải quyết theo pháp luật hợp đồng hoặc pháp luật

Trang 26

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà Bộ luật dân sự và các văn bản có liên quan đã quy định Trình tự, thủ tục khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được áp dụng theo trình tự chung mà Bộ luật tố tụng dân sự (2004) đã quy định Việc xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy định cụ thể từ Điều 33 đến Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự (2004) sửa đổi bổ sung năm 2011

Cụ thể, người tiêu dùng có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì có quyền tiến hành khởi kiện người có hành vi xâm phạm ra trước tòa án để đòi bồi thường Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng có quyền khởi kiện nếu được người tiêu dùng ủy quyền bằng văn bản Tinh thần này đã được quy định tại Điều 4 và Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự (2004) Trong quá trình giải quyết

vụ kiện, người tiêu dùng và doanh nghiệp bị kiện bình đẳng với nhau trước tòa

án (Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự) có quyền thỏa thuận, hòa giải với nhau về việc giải quyết vụ kiện (Điều 5 và Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự) Cả hai bên đương sự, khi khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người tiêu dùng, người bị kiện phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu của mình tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp Bộ luật tố tụng dân sự có quy định (Điều 6, Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự) Việc xét xử cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, như: tòa án xét xử tập thể, công khai, thực hiện chế độ hai cấp xét xử…

Như vậy, tòa án với vai trò là cơ quan tư pháp, có vị trí quan trọng trong hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam Vì vậy, để thúc đẩy và tăng cường hơn nữa vai trò của cơ quan này, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) đã có một số quy định quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người tiêu dùng thực hiện quyền khởi kiện của mình để bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng của họ, cụ thể:

Theo quy định tại Điều 41 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), trong một số trường hợp nhất định, người tiêu dùng là cá nhân có thể tiến hành khởi kiện theo thủ tục đơn giản để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Để khởi kiện theo thủ tục đơn giản cần thỏa mãn ba điều kiện sau:

Trang 27

- Nguyên đơn là cá nhân người tiêu dùng và bị đơn là tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nguyên đơn;

- Vụ án đơn giản có chứng cứ rõ ràng;

- Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã chuyển một phần gánh nặng chứng minh từ phía người tiêu dùng (nguyên đơn) sang phía tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (bị đơn) so với các vụ kiện dân sự thông thường Theo Điều 42 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại (đảo ngược nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hang hóa, dịch vụ)

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) cũng đã miễn nghĩa vụ tạm ứng án phí của người tiêu dùng khi người tiêu dùng khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 43) Tuy nhiên, cần lưu ý, việc miễn tạm ứng án phí không đồng nghĩa với việc miễn án phí Trường hợp người tiêu dùng thua kiện, họ vẫn phải chịu án phí như quy định trong pháp luật về án phí, lệ phí tòa án

Khi đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của Chính phủ, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) cũng trao cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ lợi ích công cộng Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quyền khởi kiện dưới một trong hai hình thức: khởi kiện theo sự ủy quyền của người tiêu dùng hoặc khởi kiện không cần ủy quyền của người tiêu dùng nhằm bảo vệ lợi ích công cộng (Điều 28 khoản 1b) Theo quy định tại Điều 44 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), khi tổ chức xã hội nói trên tiến hành khởi kiện vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức này phải tiến hành thông báo về hoạt động này để giúp các tổ chức, cá nhân có liên quan (nhất là người tiêu dùng) được biết Cụ thể, Điều 44 khoản 1 Luật này quy định “Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có trách nhiệm thông báo công khai bằng hình thức phù hợp về việc

Trang 28

khởi kiện và chịu trách nhiệm về thông tin do mình công bố, bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.” Các nội dung thông báo này bao gồm: a) Tổ chức xã hội tham gia bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện; b) Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện; c) Nội dung khởi kiện; d) Thủ tục và thời hạn đăng ký tham gia vụ án tòa án có trách nhiệm niêm yết công khai tại trụ sở tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Điều 45 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) quy định: “Bản án, quyết định của tòa án giải quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở tòa án

và công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng bằng hình thức thích hợp”

Tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện vì lợi ích công cộng được thực hiện theo bản án, quyết định của tòa án (Điều 46 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng)

2 Một số điểm hạn chế trong quy định pháp luật Việt Nam hiện hành

về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

2.1 Các quy định pháp luật về cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam được tổ chức theo mô hình phi tập trung Bên cạnh ưu điểm của mô hình này là tạo ra được khả năng huy động lực lượng đông đảo để thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì nhược điểm lớn nhất của mô hình phi tập trung lại tạo ra sự chồng chéo về thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ chung nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010) thì “Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản

Trang 29

lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi cả nước” Điều

68 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2007) quy định: “Bộ Khoa học và

(2010) quy định “Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý

trong thực tế, khả năng các cơ quan tham gia công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ bị mâu thuẫn, chồng chéo đến mức nào Vì thế, không phải ngẫu nhiên khi Cục Quản lý thị trường - Bộ Công Thương đã từng phản ánh rằng:

“Hiện nay, trong lĩnh vực kiểm tra, kiểm soát hàng hóa lưu thông trên thị

trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng đã có hàng chục cơ quan khác nhau”

Ở cấp Trung Ương, Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương là cơ quan quản lý chuyên trách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tuy nhiên, đơn vị này phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khác, như: quản lý cạnh tranh và phòng

vệ thương mại… Vì vậy, công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giao cho Phòng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong Cục, với cơ sở vật chất và nhân lực rất hạn chế

Ở cấp địa phương, Sở Công thương là đơn vị giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tuy nhiên, theo phản ánh tại rất nhiều đại phương, mặc dù được giao nhiệm vụ như vậy, nhưng hầu như chưa Sở Công thương nào có chuyên viên chuyên trách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Các chuyên viên của Sở cũng chưa được tập huấn các kĩ năng chuyên môn cần thiết để thực thi nhiệm vụ trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đặc biệt, theo quy định pháp luật hiện hành thì Ủy ban nhân cấp huyện tự quyết định đơn vị giúp Ủy ban thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn huyện mình Vì vậy, việc giao chức năng quản lý nhà nước về quyền lợi người tiêu dùng cho các đơn vị chuyên môn tại mỗi địa phương có nhiều điểm khác nhau Có nơi giao cho Chi

Trang 30

cục Quản lý thị trường, có nơi lại giao cho Phòng quản lý Thương mại, Phòng Kinh tế đối ngoại hoặc Phòng Pháp chế… Vì thế, các hoạt động quản lý nhà nước về BVQLNTD chưa được triển khai một cách đồng bộ thường xuyên và nghiêm túc

Mặc dù mới có hiệu lực thi hành được mấy năm, tuy nhiên những nhiệm vụ

đề ra trong công tác thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng rất phức tạp, đòi hỏi sự đầu tư về mặt thời gian, công sức cũng như tài chính Nhìn vào hệ thống quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chúng

ta có thể thấy rõ mong muốn của các nhà làm luật đó là có thể mở rộng hệ thống

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng từ trung ương tới địa phương Tuy nhiên, chính những quy định pháp luật đó lại không phù hợp với

cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng mà chúng ta đang có Sau mấy năm nhìn lại, hoạt động triển khai thực thi luật của các cơ quản quản lý nhà nước còn nhiều bất cập hạn chế, hầu hết các hoạt động mới chỉ tập trung chủ yếu vào việc tổ chức hội nghị, hội thảo mà chưa có những hoạt động cụ thể mang tính thiết thực Mạng lưới cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở cấp tỉnh còn thưa thớt, không đồng bộ giữa các địa phương chưa nói gì tới các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, hay thậm chí là cấp xã

2.2 Các quy định pháp luật về tổ chức xã hội

Các tổ chức xã hội chuyên về bảo vệ người tiêu dùng không được quy định

là hội đặc thù Theo Quyết định số 68/2010/QD-Ttg ngày 1/11/2010 của Thủ

tướng Chính phủ về Hội có tính chất đặc thù thì Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam chưa được xếp vào loại hội có tính chất đặc thù, do Hội mới chỉ đáp ứng 1 tiêu chí của Hội đặc thù là: hoạt động vì mục tiêu xã hội nhân đạo, còn 2 tiêu chí khác là: thành viên của Hội là những người chịu nhiều khó khăn thiệt thòi cần xã hội, nhà nước quan tâm, giúp đỡ và được nhà nước hỗ trợ về

Trang 31

kinh phí trước ngày Nghị định 45/2010/NĐ-CP có hiệu lực Theo quy chế này, Hội gặp khó khăn lớn về nguồn tài chính để hoạt động bởi phải tự trang trải chi phí hoạt động, trong khi Hội bảo vệ NTD không thu phí hoạt động của hội viên

và các nguồn thu khác không lớn Tuy nhiên, hiện nay có một số địa phương đã công nhận Hội bảo vệ người tiêu dùng ở địa phương mình là hội đặc thù, chủ yếu là các Hội phía nam, nơi công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được

thực hiện rất nghiêm túc

Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật quy định khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của Nhà nước về bảo vệ

nhưng những nhiệm vụ này lại được quy định khá chung chung, không có cơ chế rõ ràng để triển khai thực hiện trên thực tế Quy định như vậy sẽ dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật, thiếu tính thống nhất, đồng bộ giữa các địa phương Địa phương có thể trích một phần ngân sách cho hoạt động của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để thực hiện những nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước giao, hoặc có thể không trích tùy thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể có thẩm quyền

Theo quy định pháp luật, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quyền tự mình khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

vì lợi ích công cộng Tuy nhiên, Luật không hề giải thích thế nào là “lợi ích công cộng” Khi nào vụ án về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được cho là xâm phạm tới lợi ích công cộng Chúng ta có thể hiểu lợi ích công cộng là lợi ích của tập thể, lợi ích của nhiều người hay lợi ích chung của toàn xã hội? Làm thế nào

để chứng minh đó là lợi ích chung, chứ không phải lợi ích của một nhóm chủ thể

có quyền và nghĩa vụ liên quan? Vẫn biết việc giải thích pháp luật quá chi tiết đôi khi sẽ làm khó cho các cơ quan thực thi, nhưng nếu quy định chung chung như vậy thì việc áp dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn hơn Bên cạnh đó

Trang 32

việc yêu cầu tổ chức xã hội chịu mọi khoản chi phí phát sinh trong quá trình khởi kiện sẽ khiến tổ chức xã hội không có khả năng để thực hiện tốt vai trò của mình, bởi những khó khăn trong vấn đề tài chính như đã trình bày ở trên Ngoài

ra, theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP khi tổ chức xã hội thực hiện việc khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các tổ chức xã hội liên quan có quyền và nghĩa vụ phối hợp với các tổ chức xã hội đã khởi kiện

để thu thập chứng cứ, cung cấp thông tin và các hoạt động khác liên quan đến quá trình tố tụng Đây cũng là quy định duy nhất về cơ chế phối hợp giữa tổ chức xã hội với các tổ chức xã hội khác trong việc thực hiện nhiệm vụ quyên hạn chủa mình

2.3 Các quy định pháp luật về thiết chế tòa án trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Có thể nói, tòa án là một trong những thiết chế quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bởi tòa án là hệ thống cơ quan tư pháp được hình thành từ trung ương tới địa phương, có khả năng giải quyết với số lượng lớn các

vụ tranh chấp liên quan tới người tiêu dùng Tuy nhiên, một trong những hạn chế lớn nhất khiến người tiêu dùng không muốn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án đó là do tính phức tạp và thời gian kéo dài của phương thức này Chính vì vậy, để tăng cường hơn nữa năng lực của thiết chế tòa án trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) đã có bước đột phá trong quy định về “thủ tục đơn giản”

áp dụng đối với một số vụ tranh chấp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi đáp ứng những điều kiện nhất định Cụ thể, Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) quy định về loại vụ việc được giải quyết theo thủ tục đơn giản (khoản 2 Điều 42) để giải quyết những vụ việc đơn giản về bảo vệ người tiêu dùng Trong khi

đó, lại có sự vênh nhau trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự với Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 Cùng là một thủ tục nhằm giải quyết những vụ việc đơn giản, giá trị tranh chấp không lớn… nhưng Luật bảo vệ

Trang 33

quyền lợi NTD (2010) gọi là “thủ tục đơn giản”, trong khi pháp luật tố tụng dân

sự coi đây là một trong những loại vụ việc được giải quyết theo “thủ tục rút gọn” Và đến thời điểm này, Toà án nhân dân tối cao cũng chưa có bất kỳ hướng dẫn cụ thể nào về trình tự thủ tục giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn Tình hình càng trở nên phức tạp hơn, khi Tòa án nhân dân tối cao vẫn luôn bảo vệ quan điểm của mình và cho rằng với trình độ lập pháp và chấp pháp như hiện nay, Việt Nam chưa thể áp dụng “thủ tục rút gọn” để giải quyết các tranh chấp giữa các bên Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 cũng không có bổ sung bất kỳ quy định gì về “thủ tục rút gọn” hay “thủ tục đơn giản” trong tố tụng dân sự Bởi vậy, thủ tục đơn giản áp dụng đối với một số vụ tranh chấp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi đáp ứng những điều kiện nhất định được quy định tại Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) cũng chỉ tồn tại trên giấy

3 Giải pháp khắc phục những hạn chế của pháp luật Việt Nam về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trên cơ sở những quy định của pháp luật cùng những phân tích, đánh giá hạn chế của pháp luật Việt Nam về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau đây nhằm hoàn thiện pháp luật về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam:

và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ người tiêu dùng Không quy định một cách chung chung, ôm đồm quá nhiều nhiệm vụ,

sẽ dẫn đến tình trạng cơ quan nào cũng có trách nhiệm nhưng không hiểu trách nhiệm của mình đến đâu Ngoài ra, cũng cần có cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để tránh tình trạng chồng chéo về thẩm quyền của các

cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam

dùng cấp huyện

Trang 34

Cần phải có các văn bản hướng dẫn cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn và cách thức tổ chức thực hiện những nhiệm vụ quyền hạn đó, góp phần thực thi luật bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách thống nhất Tránh tình trạng, Luật thì quy định rõ quyền khiếu nại của người tiêu dùng đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng người tiêu dùng lại không biết khiếu nại tới phòng, ban nào của Ủy ban nhân dân cấp huyện để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình, hay tình trạng các phòng, ban đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau, không giải quyết yêu cầu chính đáng của người tiêu dùng, hoặc mỗi địa phương lại có cách thức giải quyết khác nhau Việc thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng cần được áp dụng thống nhất đối với cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cấp tỉnh Theo quy định pháp luật, Sở Công thương là đơn vị giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Sở Công thương phải triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình một cách nghiêm túc, và cần phải

có những chuyên viên chuyên trách thực hiện công tác bảo vệ người tiêu dùng Đương nhiên, để thực hiện được những nhiệm vụ này, vai trò của Cục quản lý cạnh tranh mà cụ thể là Ban bảo vệ người tiêu dùng - Cục quản lý cạnh tranh là rất lớn Cơ quan này phải đóng vai trò chỉ đạo, triển khai thực hiện các chính sách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách nhất quán đối với các địa phương Vì vậy, để đầu tư nguồn nhân lực và vật lực cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta nên tập trung đầu tư vào cho các cơ quan quản lý chuyên trách về bảo vệ người tiêu dùng, mà không nên đầu tư dàn trải Trước mắt, có thể cơ cấu lại Ban bảo vệ người tiêu dùng thành một cơ quan độc lập, trực thuộc Bộ Công thương, từ đó có thể nâng cao vai trò và vị thế của

cơ quan này Nếu tất cả những quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, nhất quán mới có thể tạo thành một hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vững chắc từ Trung ương tới địa phương

quyền lợi người tiêu dùng

Trước tiên, cần quy định lại một cách cụ thể và rõ ràng theo hướng các tổ chức xã hội về bảo vệ người tiêu dùng là các hội đặc thù Việc quy định như vậy

Trang 35

là cơ sở pháp lý quan trọng để các tổ chức xã hội về bảo vệ người tiêu dùng có thể giải quyết khó khăn trong vấn đề tài chính, duy trì hoạt động và phát triển công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

quy định chung về vai trò của các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Vì vậy, rất nhiều các tổ chức xã hội (như các hiệp hội ngành nghề, hay các tổ chức chính trị xã hội) chưa ý thức được về vai trò hay khả năng của mình trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Do đó, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cũng như khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia vào công tác bảo vệ người tiêu dùng là hết sức cần thiết Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao sự hợp tác giữa các Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng với các tổ chức chính trị xã hội của Việt Nam để mở rộng và đẩy mạnh hơn nữa công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

trường hợp nào tổ chức xã hội về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng Đồng thời cần phải bổ sung những quy định pháp luật tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức này khi tham gia khởi kiện vì lợi ích người tiêu dùng Chẳng hạn như quyền yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan, quyền yêu cầu hợp tác từ phía các cơ quan chức năng trong các trường hợp cần thiết

người tiêu dùng đó là bên thứ ba, đứng ra làm trung gian hòa giải cho các tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng Tuy nhiên, các quy định pháp luật chỉ cho phép các tổ chức xã hội có đủ điều kiện mới được phép thành lập tổ chức hòa giải các tranh chấp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Các hòa giải viên phải đáp ứng được các điều kiện nhất định về trình độ, kinh nghiệm… Quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý, tuy nhiên lại chưa có cơ chế triển khai thực hiện trên thực tế Cụ thể, cơ quan nào sẽ có khả năng chứng nhận các hòa giải viên có đủ tư cách tham gia hòa giải trong các tranh chấp về bảo vệ người tiêu dùng? Nếu các bên hòa giải thành thì cơ chế thực thi quyết định hòa giải thành

Trang 36

đó như thế nào? Những vấn đề này cần được quy định trong văn bản luật hay trong Điều lệ hoạt động của các Tổ chức xã hội

Như đã phân tích ở trên, mặc dù Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010)

đã quy định về thủ tục đơn giản đối với một số tranh chấp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhưng pháp luật tố tụng dân sự lại chưa có quy định gì để có thể thực hiện những quy định pháp luật này Vì vậy, cần phải bổ sung trong pháp luật tố tụng dân sự các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết vụ án đơn giản về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Ngoài ra, cần bổ sung và nâng cao trình độ chuyên môn cho các thẩm phán liên quan đến kĩ năng giải quyết các vụ án về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Từ đó mới có thể tăng cường năng lực của cơ quan tư pháp trong vai trò thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

KẾT LUẬN

Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang được các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và người tiêu dùng ngày càng quan tâm trong thời gian gần đây, một phần vì hiện nay số lượng các vụ việc xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng tăng cao, phần nữa là do nhận thức của người dân về pháp luật cũng đã được cải thiện nhiều Để đảm bảo cho quyền lợi của người tiêu dùng cần đến các thiết chế thực thi pháp luật, có thực thi quy định của luật tốt mới xử

lý được những thương nhân vi phạm, tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật cho thương nhân cũng như người tiêu dùng Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng muốn phát huy hết vai trò phải dựa vào quy định của pháp luật để biết được nhiệm vụ, quyền hạn của mình tới đâu trong công tác bảo

vệ người tiêu dùng Do đó, việc đánh giá các quy định pháp luật về thiết chế thực thi luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng để có thể phát hiện những điểm tốt cũng như những điểm còn hạn chế, kịp thời có giải pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cũng như tăng cường khả năng thực thi luật trên thực tế

Trang 37

Chuyên đề 3 TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NĂNG LỰC CỦA CÁC THIẾT CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ CÁC YẾU TỐ

ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CỦA CÁC THIẾT CHẾ ĐÓ

Ngô Vĩnh Bạch Dương Viện Nhà nước và pháp luật

Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là công cụ cần thiết để điều chỉnh thực tế thị trường và để tạo ra cũng như duy trì sự tương tác lành mạnh giữa người tiêu dùng và các doanh nghiệp Sự tồn tại của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng đảm bảo thị trường hoạt động một cách công bằng Các nhà hoạch định chính sách thiết kế các đạo luật bảo vệ người tiêu dùng và giúp các doanh nghiệp chính đáng phát tài hơn bằng cách tạo ra những khó khăn hoặc trừng phạt những kẻ lừa đảo và những doanh nghiệp làm ăn bất chính Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cũng đáp ứng các mục tiêu xã hội khác, chẳng hạn như bảo vệ người tiêu dùng từ các sản phẩm rủi ro, nguy hiểm có thể gây ra thiệt hại và áp đặt chi phí đối với cộng đồng

Tuy nhiên không phải tất cả các quy định đều hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu và định hướng tác động, luôn tồn tại các quy định được thiết

kế kém, thừa hoặc mâu thuẫn, hoặc chưa phù đối với hoạt động kinh doanh, người tiêu dùng và nền kinh tế Thực thi hiệu quả các quy định hiện hành cũng

có thể có nghĩa là bớt đi nhu cầu của việc ban hành thêm các quy định mới Hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật có thể giải quyết một số những vướng mắc, bất cập thông qua việc thực thi hiệu quả và năng động quy định hiện hành chứ không phải lúc nào cũng là việc ban hành những quy định bổ sung Thực thi, vì vậy, là trọng tâm cho sự thành công của quy định, và việc thực hiện các mục tiêu của bất kỳ chương trình quản lý nào

Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, lẽ hiển nhiên không tự thân đi vào cuộc sống, nó phải được thực thi thông qua một hệ thống các thiết chế nhất định Trong việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vấn đề năng

Trang 38

lực của các thiết chế thực thi luôn là một nội dung trọng tâm Từ góc độ xây dựng pháp luật, chúng ta đều thừa nhận việc nhập khẩu luật (legal transplant) những đạo luật tốt của các quốc gia tiên tiến có thể không thành công là do nó không được nội địa hoá hay không được làm phù hợp với điều kiện sở tại Từ góc độ thể chế (tức pháp luật ở trạng thái thực thi), đó là vấn đề của năng lực người chơi trong một cuộc chơi có luật chơi hoàn hảo

Thông thường, hệ thống thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền

có nhiệm vụ tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng

Ở Việt Nam, đó là các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp và tổ chức xã hội mà trong đó các hội bảo vệ người tiêu dùng là trọng tâm Mỗi loại thiết chế

có những đặc thù, không chỉ ở chức năng, thẩm quyền mà còn là phương thức thực thi pháp luật Nếu cơ quan quản lý nhà nước có nhiệm vụ là hướng dẫn, điều hành và xử lý vi phạm, cơ quan tư pháp xét xử, giải quyết tranh chấp thì các tổ chức xã hội chủ yếu làm nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn và hòa giải các tranh chấp các xung đột liên quan đến pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Các tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng, thực tế chỉ là chủ thể có tính chất hỗ trợ cho việc thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng bởi chúng không được quyền quyết định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người tiêu dùng và các bên liên quan

1 Khái niệm năng lực thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Năng lực (capacity) là khả năng các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội có thể thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình – đây là cách hiểu phổ biến

này khá tương đồng với khái niệm năng lực hành vi trong luật học, nó diễn tả khả năng thực tế thực hiện được các hành vi của chủ thể Đặt vấn đề nghiên cứu năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật có nghĩa là xác định chúng có thể thực hiện được các chức năng và nhiệm vụ mà pháp luật quy định hay không Thông qua việc tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật, các thiết chế này, góp phần ổn định trật tự xã hội, tạo lập thói quen tôn trọng pháp luật của các chủ thể

có liên quan

10 Perspectives Note: Enabling Environment for Capacity Development, OECD 2011, trang 2

Trang 39

Từ nhận thức chung nói trên, có thể nhận định một cách vắn tắt năng lực

của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dung là khả năng thực thi

Đánh giá hay xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật là việc xác định năng lực hiện tại của nó trên cơ sở đối chiếu với những mục tiêu hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của chúng có phù hợp hay không Đánh giá năng lực

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó sẽ chỉ ra được cách thức sử dụng và tăng cường khả năng sẵn có của thiết chế để phù hợp với điều kiện tài chính, nhân lực hơn là việc bắt đầu áp dụng một mô hình mới hoàn toàn Việc đánh giá năng lực

là một cuộc thẩm định những khả năng hiện có của thiết chế trong việc thực hiện các chức năng chính và đạt tới những kết quả mong đợi Do đó, đánh giá năng lực luôn phải liên kêt tiềm năng với hiệu suất công việc Trong mọi quá trình cải cách, đánh giá năng lực là một phần không thể thiếu Nó có thể được thực hiện từ bên ngoài bởi một tổ chức đánh giá độc lập hoặc từ bên trong với tư cách là thực hành một tiêu chuẩn quản lý (tự đánh giá) Nó có thể là một sự kiện nhất thời hoặc có thể là một hoạt động có tính thường xuyên trong quá trình quản lý hoặc trong việc lập kế hoạch tổng thể hoạt động của thiết chế đó

2 Các tiêu chí xác định năng lực thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Vấn đề đặt ra đối với mọi hoạt động đánh giá là chúng sẽ dựa trên nhưng thang bảng chỉ số nào Xác định một tổ chức có thể đáp ứng được các đòi hỏi của pháp luật và kỳ vọng của xã hội sẽ thường được tiếp cận dưới các góc độ: tiềm năng và kết quả thực hiện Xác định thiết chế có tiềm năng hay không nói lên tính sẵn sang của nó đối với nhiệm vụ còn việc xác định thiết chế đó

có hiệu quả hay không thì lại phản ánh kết quả hoạt động của chúng khi thực thi nhiệm vụ

Thông lệ về phát triển và đánh giá năng lực của UNDP và các tổ chức quốc

tế cho thấy việc xây dựng các chỉ số xác định năng lực phải được sử dụng để đo lường hai hình thức khả năng và hiện thực của một quá trình Chỉ số năng lực,

Trang 40

do đó, cũng có tính chất và mục đích kép – có thể sử dụng chúng để đánh giá hiện trạng năng lực và kết quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của thiết chế Không thể nói là một tổ chức rất mạnh khi họ có đầy đủ các điều kiện vật chất, nhân sự chất lượng khi kết quả công việc của họ quá kém Khi xảy ra tình huống như vậy, người làm chính sách cần nhìn nhận, tìm hiểu một yếu tố nào đó bên ngoài các điều kiện vật chất, nhân sự đã gây ra hoặc là điều kiện để phát sinh kết quả hoạt động kém, và đó cũng phải là một bộ phận của năng lực

Thông thường, năng lực của một thiết chế thường được xác định trên 3 nhóm chỉ số chính: Những chỉ số năng lực thể chế (institutional capacity indicators); Những chỉ số năng lực tạo lập môi trường thuận lợi (Enabling Environment Capacity Indicators); Những chỉ số kết quả thực hiện (Result

không phải nhằm đánh giá hoạt động nâng cao năng lực thiết chế có đạt kết quả

2.1 Nhóm chỉ số năng lực thể chế

Năng lực thể chế (institutional capacity) làm một khái niệm tương đối mở,

được xác định khá mơ hồ Theo cách hiểu phổ biến nhất là được hiểu là khả

đại lượng bao gồm các yếu tố những chức năng, nhiệm vụ mà thiết chế đó nên

của năng lực thể chế Có thể một tổ chức được xây dựng hoàn hảo theo những

mô hình hiện đại của thế giới nhưng không thể vận hành hiệu quả bởi những yếu

tố pháp luật và thẩm quyền Ngược lại, cũng có thể một hệ thống pháp luật được thiết kế tốt nhưng các thiết chế thực thi không thể được thực hiện tốt nhiệm vụ

11 Xin xem them: UNDP “Measuring Capacities: An Illustrative Catalogue to Benchmarks and Indicators”,

Capacity Development Group 2005, trang 6, 23 và tiếp theo

12 Xin xem thêm: UNDP: Measuring Capacity, 2010 là cuốn sách nhằm hướng dẫn các nhà tư vấn đánh gia

những kết quả tác động của những dự án nâng cao năng lực

13 Xem them: Nguyễn Sĩ Dũng: Năng lực thể chế, Người đại biểu nhân dân, tháng 1/2006

14 M.R Bhagavan and I Virgin, "Generic Aspects of Institutional Capacity, Development in Developing

Countries", Stockholm Environment Institute, Norway 2004, trang 3

Ngày đăng: 21/03/2017, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w