1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa (luận văn thạc sỹ luật)

78 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa
Tác giả Huỳnh Như
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN (15)
    • 1.1. Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong (15)
      • 1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng (15)
      • 1.1.2. Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng (17)
        • 1.1.2.1. Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam (17)
        • 1.1.2.2. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (18)
        • 1.1.2.3. Các quyền cơ bản của người tiêu dùng (20)
      • 1.1.3. Khái niệm, đặc điểm về giao dịch mua sắm trực tuyến (22)
    • 1.2. Khái quát chung về hợp đồng giao kết từ xa (24)
      • 1.2.1. Khái niệm hợp đồng giao kết từ xa (24)
      • 1.2.2. Những đặc trưng của hợp đồng giao kết từ xa (25)
        • 1.2.2.1. Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng (26)
        • 1.2.2.2. Đối tượng, hình thức hợp đồng, phương tiện giao kết hợp đồng (26)
        • 1.2.2.3. Trình tự giao kết hợp đồng (27)
    • 1.3. Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa (32)
    • 1.4. Một số quy định của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa (33)
    • 2.1. Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa theo pháp luật Việt Nam (40)
      • 2.1.1. Biện pháp phòng ngừa (41)
        • 2.1.1.1. Vấn đề cung cấp thông tin (41)
        • 2.1.1.2. Hình thức hợp đồng giao kết từ xa (43)
      • 2.1.2. Biện pháp khắc phục (44)
        • 2.1.2.1. Quyền thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng của người tiêu dùng (45)
        • 2.1.2.2. Quyền rút lui khỏi hợp đồng của người tiêu dùng (46)
        • 2.1.2.3. Bảo vệ quyền lời người tiêu dùng khi người tiêu dùng phát hiện hàng hóa bị khuyết tật, hàng hóa không đảm bảo chất lượng sau khi đã sử dụng (49)
      • 2.1.3. Thực trạng chế tài xử lý hành vi vi phạm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến (52)
        • 2.1.3.1. Chế tài hành chính (52)
        • 2.1.3.2. Chế tài hình sự (56)
        • 2.1.3.3. Chế tài dân sự (57)
      • 2.1.4. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng (59)
    • 2.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong (67)
      • 2.2.1. Định hướng chung trong hoàn thiện pháp luật (67)
        • 2.2.1.2. Tăng cường nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với giao dịch mua sắm trực tuyến (68)
      • 2.2.2. Kiến nghị cụ thể đối với các quy định pháp luật (69)
        • 2.2.2.1. Mở rộng phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng để bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến xuyên biên giới (69)
        • 2.2.2.2. Tăng cường chế tài xử lý vi phạm nhằm đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa (70)
        • 2.2.2.3. Quy định về trách nhiệm của sàn thương mại điện tử trong việc thực hiện giao dịch mua sắm trực tuyến (71)
        • 2.2.2.4. Về quyền rút lui khỏi hợp đồng của người tiêu dùng (71)
        • 2.2.2.5. Về quy trình thủ tục rút gọn (72)
  • KẾT LUẬN (39)

Nội dung

MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN

Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong

Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng, là động lực phát triển sản xuất và kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng có tác động lớn đến sự vận hành của thị trường, đặc biệt trong giao dịch mua sắm trực tuyến hiện nay.

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, "người tiêu dùng" được định nghĩa là chủ thể trong quan hệ pháp luật, liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của họ Ngược lại, trong kinh tế học, thuật ngữ này chỉ những cá nhân tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ được sản xuất bởi nền kinh tế Tại Việt Nam, khái niệm "người tiêu dùng" lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Điều 1 của Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Người tiêu dùng, theo định nghĩa từ năm 1999, là những cá nhân hoặc tổ chức mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình Đến năm 2010, khái niệm này được mở rộng và phát triển hơn nữa để phù hợp với sự thay đổi trong thị trường và nhu cầu tiêu dùng.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) được ban hành thay thế Pháp lệnh trước đó, và khái niệm người tiêu dùng (NTD) vẫn được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 3 mà không có sự thay đổi Theo quy định của Luật BVQLNTD năm 2010, NTD không chỉ bao gồm cá nhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn cả các tổ chức như doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội và đoàn thể, những đối tượng này tiến hành mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng và sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức của họ.

7 Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Đại học Luật Hà Nội (2014), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội (tr.7)

Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương đã phát hành tài liệu Hỏi đáp về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho người tiêu dùng Tài liệu này, xuất bản bởi Nhà xuất bản Hồng Đức tại Hà Nội, chứa đựng những quy định và hướng dẫn quan trọng về quyền lợi của người tiêu dùng, giúp nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

Theo quan niệm của Liên minh Châu Âu (EU) về khái niệm “người tiêu dùng” thì tại Chỉ thị số 2011/83/EC 9 ngày 25 tháng 20 năm 2011 có quy định:

Người tiêu dùng được định nghĩa là cá nhân tham gia các hợp đồng không liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp của mình, theo quy định của Liên minh Châu Âu Quan điểm này cũng tương đồng với nhiều quốc gia khác như Đức, Nhật Bản và Trung Quốc Cụ thể, Bộ luật dân sự Đức năm 2002 xác định người tiêu dùng là cá nhân tham gia giao dịch ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh Tương tự, Luật về Hợp đồng tiêu dùng Nhật Bản năm 2000 cũng khẳng định người tiêu dùng là cá nhân, nhưng không bao gồm những trường hợp tham gia hợp đồng với mục đích kinh doanh.

Các quốc gia đều thống nhất quan điểm rằng người tiêu dùng (NTD) bao gồm cá nhân, không tính đến các tổ chức Quan điểm này nhằm bảo vệ NTD, coi họ là bên yếu thế trong mối quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ, do sự mất cân bằng về khả năng tiếp cận thông tin và điều kiện kinh tế giữa cá nhân và tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp.

Trên toàn cầu, các quốc gia thường xác định người tiêu dùng (NTD) dựa trên ba tiêu chí chính: (i) NTD có thể là cá nhân hoặc tổ chức; (ii) Đối tượng giao dịch bao gồm hàng hóa và dịch vụ; (iii) Sự tham gia vào quan hệ này không nhằm mục đích kinh doanh Theo các tiêu chí này, NTD là những cá nhân mua hàng hóa và dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của bản thân hoặc gia đình, không nhằm mục đích kiếm lợi nhuận từ việc cung cấp lại hàng hóa hoặc dịch vụ Quan hệ tiêu dùng được hình thành thông qua hợp đồng mua bán hoặc cung ứng dịch vụ.

Chỉ thị 2011/83/EU của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng ngày 25 tháng 10 năm 2011 quy định về quyền của người tiêu dùng trong việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ Quan niệm về quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) theo pháp luật Việt Nam hiện nay khá tương đồng với quan niệm của nhiều quốc gia trên thế giới.

1.1.2 Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng

1.1.2.1 Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam

Kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội đáng kể, đồng thời nâng cao vai trò của người tiêu dùng (NTD) Công tác bảo vệ quyền lợi NTD đã được xác định và quy định bởi pháp luật Trước năm 1986, Việt Nam hầu như không có văn bản pháp lý nào liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD Sau năm 1986, các quy định này bắt đầu xuất hiện rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Đặc biệt, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 lần đầu tiên quy định bảo vệ quyền lợi NTD tại Điều 28.

1992 quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và quyền lợi của người tiêu dùng”

Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) tại Việt Nam Văn bản pháp lý này quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của NTD, cũng như trách nhiệm của các cơ quan chính quyền và doanh nghiệp đối với quyền lợi của NTD Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế thị trường phát triển, Pháp lệnh này vẫn chưa đủ để tạo ra hành lang pháp lý hoàn chỉnh Do đó, vào ngày 17/11/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12, bổ sung nhiều quy định quan trọng nhằm bảo vệ thông tin và quyền lợi của NTD.

Vào ngày 06/07/1990, Pháp lệnh đo lường được ban hành, tiếp theo là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Nghị định số 140/HBT ngày 25/04/1991 quy định về kiểm tra và xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, cùng với Bộ luật dân sự năm Những văn bản này góp phần quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như duy trì trật tự xã hội.

Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, bắt đầu với Luật Thương mại ngày 10/5/1997 và Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa Đặc biệt, Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng được ban hành năm 1999 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do hàng hóa khuyết tật gây ra và quản lý hợp đồng giao kết với người tiêu dùng So với các nước trong khu vực, Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) được Quốc hội khóa 12 thông qua vào ngày 17 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Sự ra đời của luật này không chỉ đánh dấu một giai đoạn phát triển mới mà còn mang ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nền tảng hoạt động và thúc đẩy hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng tại Việt Nam.

1.1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) là tư tưởng cốt lõi trong các hoạt động bảo vệ NTD Theo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, việc bảo vệ quyền lợi của NTD phải tuân thủ các nguyên tắc cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và chính đáng của họ.

Khái quát chung về hợp đồng giao kết từ xa

Trong hơn một thập kỷ qua, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng internet đã tạo ra phương thức giao dịch mới qua internet và điện thoại, với nhiều ưu điểm như chi phí thấp, tốc độ nhanh và khả năng chuyển tải thông tin đa dạng Điều này đã khiến phương thức giao dịch này trở nên phổ biến, được nhiều tổ chức và cá nhân kinh doanh áp dụng, thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng Từ đó, hình thức hợp đồng giao kết từ xa đã dần hình thành và phát triển.

1.2.1 Khái niệm hợp đồng giao kết từ xa

Hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng được luật pháp công nhận, ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng có giá trị pháp lý và cần tuân thủ các quy định hiện hành để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên.

Hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, tạo ra quyền lợi cho các bên tham gia Tại Việt Nam, hợp đồng giao kết từ xa được quy định trong Nghị định 99/2011/NĐ-CP, trong đó định nghĩa hợp đồng này là sự ký kết giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại.

Hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) là thỏa thuận tự nguyện giữa các bên thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại HĐGKTX được thực hiện giữa người tiêu dùng (NTD) và tổ chức hoặc cá nhân, giúp đơn giản hóa quá trình ký kết hợp đồng mà không cần gặp mặt trực tiếp.

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định về hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX), cho phép các bên ký hợp đồng mà không cần gặp mặt trực tiếp như hợp đồng truyền thống HĐGKTX có thể là hợp đồng dân sự hoặc thương mại, với một bên là người tiêu dùng (NTD) không vì mục đích lợi nhuận và bên còn lại là tổ chức, cá nhân kinh doanh vì lợi nhuận Về mặt chức năng, nội dung và giá trị pháp lý, HĐGKTX tương tự hợp đồng thương mại truyền thống, do đó cần tuân thủ các nguyên tắc hợp đồng dân sự theo Bộ luật Dân sự Luận văn sẽ phân tích HĐGKTX dưới góc độ hợp đồng tiêu dùng, nhấn mạnh rằng NTD thường là bên yếu thế với hạn chế về năng lực đàm phán và thông tin Điểm khác biệt của HĐGKTX nằm ở hình thức ký kết và thực hiện, cho phép giao kết từ xa qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại, trong quá trình mua bán hàng hóa giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh.

1.2.2 Những đặc trưng của hợp đồng giao kết từ xa

HĐGKTX, hay hợp đồng giao kết từ xa, là loại hợp đồng được thực hiện qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại, khác với các hợp đồng giao dịch trực tiếp Về bản chất, HĐGKTX chứa nội dung tương tự như hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, nhưng phải tuân theo các quy định cụ thể liên quan đến giao dịch từ xa, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và an toàn trong quá trình giao dịch.

Theo Điều 3 của Luật Kế toán năm 2015, phương tiện điện tử được định nghĩa là các công cụ hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số và các công nghệ tương tự Hai đặc trưng quan trọng của phương tiện điện tử là hợp đồng được giao kết từ xa và việc giao kết thông qua các phương tiện điện tử hoặc điện thoại.

1.2.2.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng

Theo Khoản 1, Điều 3 của Nghị định 99/2011/NĐ-CP, hợp đồng giao kết thương mại (HĐGKTX) được ký kết giữa người tiêu dùng (NTD) và tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Do đó, các bên tham gia trong HĐGKTX bao gồm NTD và tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Trong quan hệ hợp đồng giao dịch thương mại điện tử, các chủ thể được chia thành hai nhóm: bên mua và bên bán Bên mua bao gồm người tiêu dùng (NTD), là cá nhân hoặc tổ chức không tham gia vào giao dịch với mục đích thương mại, mà chỉ mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân, gia đình hoặc tổ chức của họ Bên bán là các tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.

1.2.2.2 Đối tượng, hình thức hợp đồng, phương tiện giao kết hợp đồng a) Đối tượng của hợp đồng:

Trong hợp đồng giao kết thương mại (HĐGKTX), đối tượng giao dịch bao gồm các hàng hóa và dịch vụ hợp pháp, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (NTD) Hình thức của hợp đồng cần tuân thủ các quy định hiện hành để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của giao dịch.

Liên quan đến hình thức của hợp đồng được giao kết với NTD thì tại Khoản

1, Điều 14, Luật BVQLNTD năm 2010 có quy định: “Hình thức hợp đồng giao kết với người tiêu dùng được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự”

HĐGKTX là hợp đồng giữa các bên, có thể được lập bằng văn bản hoặc lời nói Hình thức của hợp đồng này phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, thể hiện qua các hình thức giao tiếp khác nhau.

Theo Khoản 2, Điều 3 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được định nghĩa là những người thực hiện các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm mục đích sinh lợi Điều này bao gồm thương nhân theo quy định của Luật thương mại và cá nhân hoạt động thương mại độc lập mà không cần đăng ký kinh doanh Hợp đồng giao kết qua điện thoại cũng được coi là hợp đồng hình thành bằng hình thức giao kết bằng lời nói.

Hiện nay, hợp đồng giao kết qua công nghệ (HĐGKTX) chủ yếu được thiết lập dưới dạng thông tin điện tử, bao gồm việc tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ thông tin thông qua các công nghệ như điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học và điện từ.

Theo Nghị định 99/2011/NĐ-CP, hợp đồng giao kết qua điện tử được chia thành hai loại: hợp đồng giao kết bằng phương tiện điện tử và hợp đồng giao kết bằng lời nói qua điện thoại Hiện nay, hai phương thức giao kết phổ biến bao gồm việc giao kết thông qua website thương mại điện tử và gọi điện trực tiếp đến tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh để mua hàng hoặc yêu cầu cung ứng dịch vụ.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, có hai phương tiện giao kết hợp đồng chính là phương tiện điện tử và điện thoại.

1.2.2.3 Trình tự giao kết hợp đồng

Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa

Sự thành công của hợp đồng giao kết trực tuyến (HĐGKTX) phụ thuộc vào việc xây dựng một môi trường giao dịch an toàn và thu hút cho tất cả các bên tham gia Đặc biệt, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) là yếu tố then chốt để tạo dựng lòng tin và sự tín nhiệm trong giao kết HĐGKTX Với đặc điểm của giao dịch mua sắm trực tuyến, các bên có thể thực hiện giao kết thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại mà không cần gặp mặt trực tiếp.

Người tiêu dùng thường không nắm rõ thông tin về hàng hóa và dịch vụ như bên bán, dẫn đến khả năng chịu rủi ro cao hơn Do đó, cần thiết phải có các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

HĐGKTX là hình thức giao dịch trực tuyến phổ biến, đặc biệt với quy trình tự động hóa được tích hợp trên các website thương mại điện tử, dịch vụ thương mại điện tử và nền tảng đặt hàng qua mạng xã hội.

HĐGKTX giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian và chi phí mua sắm, đồng thời giảm bớt các khoản chi phí như đi lại và đàm phán Nó cũng mang lại lợi ích cho các tổ chức và cá nhân kinh doanh bằng cách tiết kiệm thời gian và chi phí thuê cửa hàng, nhân viên Hình thức giao kết hợp đồng hiện đại này thu hút người tiêu dùng trong và ngoài nước, góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, người tiêu dùng thường ở thế yếu do thiếu thông tin và khả năng kiểm tra thực tế khi mua sắm trực tuyến, như không thể kiểm tra màu sắc, kích cỡ hay chất liệu sản phẩm Khi hợp đồng điện tử chủ yếu là hợp đồng mẫu, vị thế của người tiêu dùng càng yếu hơn vì họ không thể thương lượng hay thỏa thuận.

Trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao dịch điện tử, sự bất bình đẳng giữa người tiêu dùng (NTD) và tổ chức, cá nhân kinh doanh là điều không thể tránh khỏi NTD thường gặp khó khăn trong việc hiểu rõ quyền lợi của mình, dẫn đến rủi ro cao, đặc biệt khi xảy ra tranh chấp về chất lượng hàng hóa và dịch vụ như giao hàng không đúng quảng cáo, hàng kém chất lượng hoặc hàng giả Do đó, việc can thiệp của pháp luật để bảo vệ quyền lợi của NTD, bên yếu thế trong giao dịch, là rất cần thiết.

Một số quy định của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa

Liên minh Châu Âu (EU) đã trở thành đối tác quan trọng của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như hợp tác phát triển, thương mại và đầu tư, góp phần tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Đặc biệt, Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA) đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng cơ hội đầu tư và thương mại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam Ngoài ra, các quy định của pháp luật EU và Việt Nam có sự tương đồng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt trong giao dịch mua sắm trực tuyến.

33 Trần Văn Biên (2010), “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử qua Internet”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (181) - http://lapphap.vn/

Liên minh Châu Âu rất chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD), đặc biệt là trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng giữa thương nhân và NTD Một trong những hình thức hợp đồng được quan tâm là Hợp đồng Giao kết từ xa (Distance Contract), nhằm đảm bảo quyền lợi và sự minh bạch trong giao dịch.

Liên minh Châu Âu (EU) đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực mua sắm trực tuyến Đặc điểm của hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) trong giao dịch trực tuyến tại EU được quy định trong các văn bản pháp lý của Hội đồng Châu Âu Vào ngày 13/6/2014, Chỉ thị 2011/83/EC về quyền lợi người tiêu dùng (CRD) đã được ban hành, thay thế cho Chỉ thị 97/7/EC về bảo vệ người tiêu dùng Chỉ thị mới này đã hợp nhất bốn chỉ thị trước đó thành một quy định thống nhất.

Theo Điều 2.(7) của Chỉ thị 2011/83, hợp đồng giao kết từ xa được định nghĩa là hợp đồng giữa thương nhân và người tiêu dùng, được thực hiện qua chương trình cung cấp dịch vụ hoặc bán hàng từ xa mà không cần sự hiện diện đồng thời của hai bên Hợp đồng này sử dụng một hoặc nhiều phương tiện liên lạc từ xa, bao gồm cả thời gian ký kết hợp đồng.

Hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) trong EU có các đặc trưng cơ bản, bao gồm việc được thiết lập từ xa và sử dụng một hoặc nhiều phương tiện liên lạc từ xa như đặt hàng qua thư, internet, điện thoại hoặc fax trong quá trình ký kết hợp đồng.

Theo quy định của EU, việc xác định hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) phụ thuộc vào địa điểm mà người tiêu dùng (NTD) thương thảo và quyết định ký kết hợp đồng Điều này bao gồm cả các sắp xếp của bên thứ ba mà thương nhân sử dụng, nhưng không bao gồm trường hợp đặt chỗ của NTD để yêu cầu cung cấp dịch vụ Định nghĩa cũng đề cập đến các tình huống mà NTD chỉ đến thăm cơ sở kinh doanh để thu thập thông tin về hàng hóa hoặc dịch vụ, sau đó mới tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng.

Chỉ thị 2011/83/EU, được ban hành bởi Nghị viện Châu Âu và Hội đồng vào ngày 25 tháng 10 năm 2011, quy định về quyền của người tiêu dùng và sửa đổi một số chỉ thị trước đó như 93/13/EEC và 1999/44/EC Đồng thời, chỉ thị này cũng bãi bỏ các quy định cũ như chỉ thị 85/577/EEC và 97/7/EC Trong trường hợp một hợp đồng được thương lượng tại cơ sở kinh doanh của thương nhân và được ký kết bằng phương tiện liên lạc từ xa, hoặc ngược lại, hợp đồng đó sẽ không được xem là hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX).

Hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) được định nghĩa tương tự trong Chỉ thị 2011/83/EC của EU và Nghị định 99/2011/NĐ-CP, đều coi đây là hợp đồng dân sự (hợp đồng tiêu dùng) có thể được ký kết qua nhiều phương tiện như điện tử và điện thoại Tuy nhiên, Nghị định 99/2011/NĐ-CP chỉ quy định về phương tiện giao kết mà chưa làm rõ đặc tính về khoảng cách địa lý của hợp đồng.

Theo Chỉ thị 2011/83/EC của EU, đối tượng của hợp đồng giao dịch tiêu dùng bao gồm hàng hóa, dịch vụ và các nội dung số.

"Nội dung số" 35 là dữ liệu được sản xuất và cung cấp dưới dạng kỹ thuật số, bao gồm chương trình máy tính, ứng dụng, trò chơi, nhạc, video hoặc văn bản Dữ liệu này có thể được truy cập qua tải xuống hoặc phát trực tuyến, từ các phương tiện hữu hình như CD hoặc DVD, và được coi là hàng hóa theo Chỉ thị 2011/83/EC Nội dung số là đối tượng giao dịch đặc biệt, với sự chuyển giao nhanh chóng và không biên giới, gây khó khăn trong việc xác định luật áp dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp.

Pháp luật Việt Nam định nghĩa sản phẩm nội dung số tại Khoản 8, Điều 3, Thông tư 59/2015/TT-BTC là các văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh dưới dạng số, lưu giữ và truyền tải qua môi trường mạng Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, đặc biệt là khái niệm "môi trường mạng" chưa rõ ràng Hiện nay, nội dung số phổ biến trong môi trường điện tử và các phương tiện lưu trữ như CD, DVD.

Chỉ thị 2011/83/EC không định nghĩa rõ ràng các phương thức giao kết trong hợp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX), nhưng có thể hiểu rằng HĐGKTX qua phương tiện liên lạc từ xa bao gồm các phương tiện điện tử như đặt hàng qua thư, internet, điện thoại hoặc fax.

HĐGKTX cần được thực hiện qua các thiết bị điện tử, yêu cầu sử dụng ngôn ngữ, phương thức và chương trình tương thích Theo quy định của EU, chỉ việc sử dụng phương tiện là chưa đủ; cần xem xét cách thức mà các bên thực hiện giao kết hợp đồng.

Theo Điều 3 của Chỉ thị 2011/83/EC, chỉ thị này không áp dụng cho giao dịch từ xa qua máy điện thoại công cộng, máy bán hàng tự động hoặc thương mại tự động Ngoài ra, chỉ thị cũng không áp dụng cho hợp đồng mua hoặc chuyển nhượng bất động sản, các quyền liên quan đến bất động sản, hợp đồng dịch vụ tài chính, và hợp đồng cung cấp thực phẩm, đồ uống hoặc hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng.

Theo Điều 4 của Luật Công nghệ thông tin 2006, môi trường mạng được định nghĩa là không gian trong đó thông tin được cung cấp, truyền tải, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi qua cơ sở hạ tầng thông tin.

Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa theo pháp luật Việt Nam

Trong những năm gần đây, giao dịch mua sắm trực tuyến tại Việt Nam đã trở thành xu hướng phổ biến, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng nhờ vào sự tiện lợi Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, người tiêu dùng cũng thường gặp phải tình trạng không hài lòng với hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến vi phạm quyền lợi trong giao dịch mua sắm trực tuyến Các vấn đề thường gặp bao gồm giao hàng sai sản phẩm, sản phẩm không đúng thông số kỹ thuật như quảng cáo, và vi phạm trách nhiệm liên quan đến bảo hành, giao nhận, đổi trả hàng hóa.

Mua sắm trực tuyến theo hình thức HĐGKTX tiềm ẩn nhiều rủi ro như hàng giả, hàng nhái và hàng kém chất lượng, dễ dẫn đến tình trạng “tiền mất tật mang” cho người tiêu dùng Việc tiếp cận thông tin an toàn và cảnh báo sản phẩm gặp khó khăn hơn so với mua sắm truyền thống, đặc biệt khi người tiêu dùng thường sử dụng thiết bị có màn hình nhỏ như điện thoại thông minh Nhiều khi, người tiêu dùng còn bỏ qua các điều kiện và điều khoản quan trọng liên quan đến đổi – trả sản phẩm, giao nhận và bảo hành do kích thước màn hình hạn chế.

Hiện nay, quy định về hợp đồng giao dịch điện tử (HĐGKTX) tại Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Giao dịch Điện tử năm 2005, và Nghị định số 99/2011/NĐ-CP Mặc dù có nhiều quy định, nhưng chúng chưa liên kết chặt chẽ và chưa điều chỉnh hợp lý các vấn đề phát sinh trong giao dịch mua sắm trực tuyến Luận văn này sẽ tập trung phân tích Nghị định số 99/2011/NĐ-CP vì đây là văn bản pháp luật chính điều chỉnh HĐGKTX, đồng thời sử dụng các văn bản khác để làm rõ và bổ sung thêm Ngoài ra, luận văn cũng sẽ xem xét các vấn đề pháp lý liên quan đến HĐGKTX theo pháp luật Liên minh Châu Âu và so sánh với quy định tại Việt Nam.

Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) và giảm thiểu rủi ro thiệt hại, pháp luật đã thiết lập các quy định nhằm tạo sự bình đẳng trong quan hệ hợp đồng kinh tế Bài viết này sẽ phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh và các quy định liên quan đến hình thức hợp đồng.

2.1.1.1 Vấn đề cung cấp thông tin

Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa, yêu cầu các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp thông tin cơ bản và quan trọng ảnh hưởng đến việc ký kết hợp đồng, theo quy định tại Khoản 1, Điều 17, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP.

Khi giao kết hợp đồng giao kết thương mại điện tử, tổ chức và cá nhân kinh doanh cần cung cấp cho người tiêu dùng các thông tin quan trọng như: tên, số điện thoại, địa chỉ của tổ chức; chất lượng hàng hóa, dịch vụ; chi phí giao hàng; phương thức thanh toán và giao hàng; thời gian hiệu lực và mức giá đề nghị; chi phí sử dụng phương tiện thông tin liên lạc nếu chưa bao gồm trong giá; cùng với các chi tiết về tính năng, công dụng và cách sử dụng hàng hóa, dịch vụ.

Các tổ chức và cá nhân kinh doanh phải cung cấp thông tin quy định tại Điều 17 một cách rõ ràng và dễ hiểu, phù hợp với mục đích thương mại và phương tiện thông tin từ xa Khi giao kết hợp đồng qua điện thoại, cần nêu rõ tên, địa chỉ và mục đích cuộc đàm thoại ngay từ đầu, theo quy định tại Khoản 2, Điều 17, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, đồng thời cung cấp các thông tin khác theo Khoản 1 của Điều này.

So với pháp luật của EU tại Điều 6, Chỉ thị 2011/83/EC, Điều 17, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP còn hạn chế về số lượng thông tin yêu cầu, chưa có sự kết nối với các quy định trong các văn bản pháp luật khác Khoản 1, Điều 17 chỉ liệt kê một danh sách hạn chế, không có nghĩa là bên bán chỉ cần cung cấp các thông tin đã nêu.

Điều 17, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP thiếu dẫn chiếu đến các văn bản pháp luật khác, dẫn đến việc thiếu những yêu cầu quan trọng về thông tin Nếu có dẫn chiếu phù hợp, bên bán có thể cần cung cấp thêm thông tin theo Điều 16, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP So với Điều 6(8), Chỉ thị 2011/83/EC, quy định này có tính khoa học hơn khi yêu cầu bên bán phải tuân thủ không chỉ các quy định thông tin theo Chỉ thị mà còn các quy định khác từ Chỉ thị 2006/123/EC và 2000/31/EC cũng như yêu cầu từ các quốc gia thành viên Đối với hợp đồng giao kết tiêu dùng (HĐGKTX), việc cung cấp thông tin là rất quan trọng, do đó các quy định về HĐGKTX cần chú trọng đến việc điều chỉnh vấn đề này để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD).

Bài viết của Võ Thị Thanh Linh và Đoàn Thanh Hải (2019) tập trung vào các khía cạnh pháp lý của hợp đồng giao kết từ xa bằng phương tiện điện tử, từ góc nhìn pháp luật Châu Âu Tác giả cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong việc áp dụng và phát triển khung pháp lý cho giao dịch điện tử.

Thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu”, 291-

2.1.1.2 Hình thức hợp đồng giao kết từ xa

Theo Điều 14 của Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng năm 2010, hợp đồng với người tiêu dùng phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự Khi giao kết hợp đồng qua phương tiện điện tử, các tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cần đảm bảo rằng người tiêu dùng có cơ hội xem xét toàn bộ nội dung hợp đồng trước khi ký kết Quy định này nhằm bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của người tiêu dùng, giúp họ kiểm tra thông tin và nội dung hợp đồng, từ đó bảo vệ quyền lợi của họ trong bối cảnh thông tin không cân xứng.

Liên quan đến hình thức hợp đồng, EU áp dụng quy định nghiêm ngặt hơn so với pháp luật Việt Nam, yêu cầu bên bán cung cấp thông tin rõ ràng trước khi xác nhận đặt hàng Các thông tin cần thiết bao gồm: đặc tính chính của hàng hóa hoặc dịch vụ, tổng giá đã bao gồm thuế và các chi phí bổ sung, thời hạn hợp đồng và điều kiện chấm dứt hợp đồng, cũng như nghĩa vụ tối thiểu của người tiêu dùng Những thông tin này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định giao kết hợp đồng của người tiêu dùng Tuy nhiên, với hợp đồng có quá nhiều nội dung trong không gian hạn chế trên phương tiện điện tử, nhiều người tiêu dùng có xu hướng không đọc hết và bỏ sót thông tin quan trọng Do đó, việc giảm yêu cầu thông tin trước khi xác nhận giao kết hợp đồng có thể giúp người tiêu dùng nhận diện các yếu tố quan trọng và đưa ra quyết định chính xác hơn.

Để nâng cao trải nghiệm người tiêu dùng, nút "xác nhận" khi đặt hàng cần được làm nổi bật, thể hiện rõ trách nhiệm thanh toán Trang thương mại điện tử phải hiển thị các phương tiện thanh toán được chấp nhận và hạn chế giao hàng muộn nhất khi bắt đầu đặt hàng Sau khi hợp đồng được ký kết, bên bán phải cung cấp thông báo xác nhận cho bên mua, muộn nhất là khi giao hàng hoặc trước khi thực hiện dịch vụ, bao gồm tất cả thông tin theo Điều 6 (1), Chỉ thị 2011/83/EC Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa phân chia rõ ràng yêu cầu và thông tin theo các giai đoạn giao kết hợp đồng như pháp luật EU.

Theo Khoản 3, Điều 14, Luật BVQLNTD năm 2010, khi giao kết hợp đồng qua phương tiện điện tử, tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải đảm bảo người tiêu dùng có quyền xem xét toàn bộ hợp đồng trước khi quyết định giao kết Điều này cho phép người tiêu dùng kiểm tra thông tin cần thiết trong giao dịch mua sắm trực tuyến, từ đó bảo vệ quyền lợi và đảm bảo sự thống nhất ý chí trong quá trình ký kết hợp đồng.

Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) trước các chính sách bất lợi từ tổ chức, cá nhân kinh doanh, pháp luật quy định NTD có quyền thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng giao kết, và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hàng hóa có khuyết tật gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của họ.

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ thị Thanh Linh, Đoàn Thanh Hải (2019), “Một số khía cạnh pháp lý của hợp đồng giao kết từ ca bằng phương tiện điện tử - Góc nhìn pháp luật Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tham luận Hội Thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu”, 291-302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số khía cạnh pháp lý của hợp đồng giao kết từ ca bằng phương tiện điện tử - Góc nhìn pháp luật Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam"”, Tham luận Hội Thảo quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu
Tác giả: Võ thị Thanh Linh, Đoàn Thanh Hải
Năm: 2019
2. Phạm Ngọc Hân (2018), “Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam”
Tác giả: Phạm Ngọc Hân
Năm: 2018
3. Bùi Thị Phương Loan (2017), “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa”
Tác giả: Bùi Thị Phương Loan
Năm: 2017
4. Nguyễn Bảo Ngọc (2016), “Bảo vệ người tiêu dung đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người tiêu dung đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bảo Ngọc
Năm: 2016
5. Đỗ Thị Huyền Thanh (2014), “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử”
Tác giả: Đỗ Thị Huyền Thanh
Năm: 2014
6. Trần Quốc Việt (2017), “Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc bảo đảm thực thi hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, Số 2, 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền được thông tin của người tiêu dùng và việc bảo đảm thực thi hiện nay
Tác giả: Trần Quốc Việt
Năm: 2017
7. Lê Hương Giang (2013), “Pháp luật của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa trong thương mại và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 2/2013, 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa trong thương mại và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
Tác giả: Lê Hương Giang
Năm: 2013
6. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2011 Khác
7. Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
8. Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
9. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định về thương mại điện tử Khác
10. Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
11. Thông tư số 59/2015/TT-BCT ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Công Thương quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động.II. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w