1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam

100 2K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Vấn Đề Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Ở Việt Nam
Tác giả Lê Diệu Ly
Người hướng dẫn ThS. Trần Hồng Ngân
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 737,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ NTD 1999 quy định “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân, gia đình và tổ chức.” Cụ thể hơn, Điều 2 và Điều 3 Nghị định 69

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Lê Diệu Ly

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Hồng Ngân

Hà Nội - 05/2010

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG, BIỂU, TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 4

1 Khái niệm NTD và vai trò của NTD đối với nền kinh tế 4

1.1 Khái niệm NTD 4

1.2 Vai trò của NTD đối với nền kinh tế 6

2 Quyền lợi và trách nhiệm của NTD 9

2.1 Quyền lợi của NTD 9

2.1.1 Theo quy định của Liên hiệp quốc 9

2.1.2 Theo quy định tại Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam 12

2.2 Trách nhiệm của NTD 13

3 Bảo vệ quyền lợi NTD và ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi NTD 14

3.1 Bảo vệ quyền lợi NTD 14

3.1.1 Các nhân tố tham gia bảo vệ quyền lợi NTD 14

3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền lợi NTD 17

3.2 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi NTD 18

3.2.1 Đối với chính trị - xã hội 18

3.2.2 Đối với kinh tế 19

4 Tổ chức Quốc tế NTD và hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD 20

4.1 Tổ chức Quốc tế NTD - Consumers International 20

4.2 Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD 22

4.2.1 Giới thiệu 22

4.2.2 Mục tiêu 23

4.2.3 Nguyên tắc chung 23

Trang 3

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU

DÙNG Ở VIỆT NAM 25

1 Tình hình vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam 25

1.1 Thực trạng vấn đề vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam 25

1.1.1 Sự xuất hiện ngày càng nhiều các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD 25

1.1.1.1 Vấn đề độc quyền 25

1.1.1.2 Tình trạng liên kết làm giá 28

1.1.1.3 Vấn đề bán hàng đa cấp 29

1.1.1.4 Vấn đề đầu cơ găm hàng, nói thách, nâng giá tùy tiện .29

1.1.2 Vấn đề an toàn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ 30

1.1.2.1 Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm 30

1.1.2.2 Vấn đề hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng 32

1.1.3 Vấn đề cung cấp thông tin cho NTD 38

1.1.3.1 Vấn đề nhãn hàng 38

1.1.3.2 Vấn đề về thông tin quảng cáo, khuyến mại 41

1.1.4 Vấn đề xâm phạm quyền và lợi ích kinh tế của NTD 44

1.1.4.1 Vấn đề giá cả hàng hóa 44

1.1.4.2 Vấn đề đo lường hàng hóa 45

1.1.5 Vấn đề khiếu nại và bồi thường thiệt hại cho NTD 46

1.1.6 Vấn đề nhận thức của NTD và doanh nghiệp về các quyền và trách nhiệm của mình 48

1.1.7 Vấn đề tiêu dùng bền vững 49

1.2 Đánh giá thực trạng tình hình vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam 50

2 Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam 51

2.1 Hệ thống Pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam 51

2.1.1.1 Pháp lệnh Bảo vệ NTD 51

Trang 4

2.1.1.3 Các văn bản liên quan 55

2.1.1.4 Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 55

2.1.1.5 Đánh giá về hệ thống pháp luật về bảo vệ NTD ở Việt Nam 59

2.2 Tình hình hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước 61

2.2.1 Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam61 2.2.2 Tình hình một số hoạt động của các cơ quan chức năng chuyên ngành ở Việt Nam 63

2.2.2.1 Hoạt động quản lý ATVSTP 63

2.2.2.2 Hoạt động quản lý nhãn hàng 64

2.2.2.3 Hoạt động tiêu chuẩn hoá 65

2.2.2.4 Hoạt động đấu tranh chống hàng nhái hàng giả và quản lý đo lường 67

2.3 Thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam 68

2.3.1 Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam - VINASTAS 68

2.3.2 Các hoạt động của VINASTAS 69

2.4 Đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD 71

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM .74

1 Kinh nghiệm bảo vệ NTD của một số nước .74

1.1 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi NTD của Pháp 74

1.2 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi NTD của Trung Quốc 75

1.3 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi NTD của Mỹ 76

1.4 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi NTD của Thái Lan 77

1.5 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi NTD của Canada 78

1.6 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi NTD của Ấn Độ 79

Trang 5

2 Một số giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam 82

2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 82

2.1.1 Tăng cường và hoàn thiện pháp luật bảo vệ NTD và tòa án bảo vệ NTD .82

2.1.2 Tuyên truyền giáo dục, nâng cao khả năng tự bảo vệ của NTD 82

2.1.3 Nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi NTD của doanh nghiệp 83

2.1.4 Cải thiện hoạt động của thị trường 84

2.2 Giải pháp từ phía các cơ quan tổ chức 85

2.2.1 Tăng nguồn kinh phí và xây dựng cơ sở hạ tầng 85

2.2.2 Xây dựng nguồn nhân lực 85

2.2.3 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức 86

2.2.4 Tăng cường sự liên hệ với NTD 86

2.3 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp 87

2.3.1 Nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh 87

2.3.2 Cung cấp những thông tin trung thực về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp 88

2.3.3 Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm chiếm được lòng tin của NTD .88

2.4 Giải pháp từ phía NTD 88

2.4.1 Tìm hiểu kỹ thông tin trước khi mua hàng 89

2.4.2 Mua hàng có nguồn gốc rõ ràng 89

2.4.3 Nâng cao ý thức về ATVSTP 90

2.4.4 Lấy hóa đơn, phiếu bảo hành khi mua hàng 90

2.4.5 Phản ứng mạnh mẽ với những hành vi xâm phạm quyền lợi NTD 91

KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG, BIỂU, TỪ VIẾT TẮT

An toàn vệ sinh thực phẩm World Trade Organization Tổng cục đo lường chất lượng

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG, BIỂU

Hình 1: Thang bậc nhu cầu của con người 3 Bảng 1: Mức độ tăng giá sản xuất một số sản phẩm theo mức tăng giá điện 27-28 Biểu đồ 1: Giá xăng và dầu thô ở Việt Nam từ 11/2007 đến 11/2008

Biểu đồ 2: 10 quốc gia bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ kém nhất thế giới

Biểu đồ 3: Tỷ lệ vị phạm quy chế ghi nhãn hàng trong một số ngành

Biểu đồ 4: Thái độ tiếp nhận khiếu nại của khách hàng

26

38

41

48

Trang 7

Với vai trò quan trọng như vậy, lẽ ra NTD phải được các doanh nghiệp tôn trọng và bảo vệ quyền lợi Tuy nhiên, NTD lại đang là những người phải chịu thiệt thòi khi thực hiện hành vi tiêu dùng So với doanh nghiệp, NTD thường ở vào vị trí bất lợi hơn về thông tin của sản phẩm và do đó, các doanh nghiệp dễ dàng lợi dụng

để kiếm lời bất chính Trên thực tế, những hành vi xâm phạm quyền lợi NTD là rất phổ biến và dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nói riêng Bởi vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là làm thế nào để quyền và lợi ích chính đáng của NTD được bảo vệ cũng như việc nâng cao ý thức của doanh nghiệp, của người dân và toàn xã hội về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD

Ở Việt Nam, với cơ chế quản lý thị trường và hàng hóa còn nhiều hạn chế, NTD còn chưa được đặt đúng vị thế mà đáng lẽ ra họ phải được hưởng Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập toàn cầu một cách

Trang 8

sâu rộng, bên cạnh mặt tốt là thị trường hàng hóa dịch vụ trở nên phong phú đa dạng thì kéo theo đó là sự khó khăn trong việc quản lý hành vi của doanh nghiệp cũng như vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Vi phạm quyền lợi NTD ở nước ta đang là một vấn đề nóng hổi và cần được sự tham gia của các cơ quan chức năng, các hội bảo vệ NTD và dư luận toàn xã hội

Với tư cách là một trong số đông những NTD, em thấy quyền lợi NTD Việt Nam đang bị xâm phạm nghiêm trọng Việc nghiên cứu thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD để tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả trong các hoạt động này là một vấn đề cần kíp Do đó em đã chọn đề tài “Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” để nghiên cứu trong bài khóa luận tốt nghiệp của mình Thông qua bài khóa luận, em hi vọng sẽ mang lại một cái nhìn vừa tổng quát, vừa cụ thể về tình hình bảo vệ quyền lợi NTD

ở nước ta hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam

Bài khóa luận gồm có ba chương:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

Để có thể phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì bên cạnh các chính sách, mục tiêu khác, chúng ta cần phải thực hiện được mục tiêu bảo vệ lợi ích của NTD Để làm được điều này cần có sự góp sức và phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội, trong đó cần có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD,

tổ chức xã hội, doanh nghiệp cũng như chính bản thân NTD

Trong khóa luận này, thực trạng vấn đề bảo vệ NTD không chỉ được nghiên

Trang 9

bao quát nhất Trong bài khóa luận này, em có tham khảo một số văn bản pháp luật, sách và tạp chí hướng dẫn về bảo vệ quyền lợi NTD và thu thập số liệu trên các trang web trên internet Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận này

là phương pháp phân tích sự kiện, thu thập, xử lý, thống kê, phân tích và so sánh số liệu

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn chế, bài khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót Em kính mong nhận được sự góp ý và nhận xét của các thầy cô

để có thể có một cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề bảo vệ NTD ở Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN

LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1 Khái niệm NTD và vai trò của NTD đối với nền kinh tế

xã hội, nhu cầu được tôn trọng, và nhu cầu được thể hiện mình

Hình 1: Thang bậc nhu cầu của con người

(Nguồn: www.ship.edu)

Nhu cầu của con người có thể bắt nguồn từ những tác nhân kích thích nội tại hay bên ngoài Từ đó con người có động cơ hướng vào những đối tượng hàng hóa,

Trang 11

cầu này có những nhu cầu cơ bản như thức ăn, chỗ ở…và những nhu cầu khác cao hơn tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cuộc sống thay đổi

Theo quan điểm cá nhân, NTD có thể hiểu đơn giản là một hay nhiều người dùng hay “tiêu” khoản tiền của mình để mua hàng hóa, dịch vụ nào đó để sử dụng nhằm thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu của họ

Trên thực tế, người ta có thể đưa ra khá nhiều khái niệm về NTD song những khái niệm đó đều có điểm chung nhất định, đó là những người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Theo Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ NTD 1999 quy định “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân, gia đình và tổ chức.” Cụ thể hơn, Điều 2 và Điều 3 Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 của chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh bảo vệ NTD đã chỉ rõ các đối tượng được coi là NTD bao gồm:

- Người mua và là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình;

- Người mua hàng hóa và dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng;

- Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người khác mua hoặc do được tặng, cho;

- Người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 69/2001/NĐ-CP

Như vậy có thể thấy, NTD có thể là người mua và sử dụng, cũng có thể là người chỉ mua hoặc chỉ sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhưng phải thỏa mãn điều kiện

là nhằm mục đích tiêu dùng chứ không phải phục vụ cho sản xuất hay mua bán trao đổi với mục tiêu lợi nhuận

Thông thường hai khái niệm NTD (consumer) và khái niệm “khách hàng” (customer) rất dễ bị nhầm lẫn Tuy nhiên, thông qua đặc điểm về NTD được cụ thể hóa ở trên, ta có thể dễ dàng phân biệt hai khái niệm này Một người tiến hành mua

Trang 12

một sản phẩm không phải luôn luôn là người sử dụng hoặc là người sử dụng duy nhất của sản phẩm Trong khi NTD mua hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sử dụng sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân thì “khách hàng” là người mua hàng hóa, dịch vụ có thể cho mục đích cá nhân hoặc làm yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh Từ đó ta có thể thấy khái niệm “khách hàng” có phạm vi đối tượng rộng hơn, có khách hàng không phải là NTD bởi vì họ không sử dụng hàng hóa dịch vụ vào mục đích tiêu dùng phục vụ nhu cầu bản thân

Thị trường NTD mua hàng hóa và dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân Nó là thị trường cuối cùng mà hoạt động kinh tế được tổ chức ra để phục vụ nó Do đó, NTD cũng có thể được hiểu thông qua thuật ngữ “người sử dụng cuối cùng” Điều này có nghĩa là họ là những người mua hàng hóa, dịch vụ dưới dạng thành phẩm ở khâu sản xuất cuối cùng, được bán ra trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sử dụng của bản thân, của gia đình hay phục vụ cho hoạt động của một tổ chức

1.2 Vai trò của NTD đối với nền kinh tế

Tổng thống Mỹ J.Kennedy nói trong tuyên bố ngày 13/03/1962 trước Quốc hội Mỹ: “Theo định nghĩa, NTD gồm tất cả chúng ta Họ là nhóm kinh tế lớn nhất, ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi gần như tất cả các quyết định kinh tế công cũng như tư ”

Ta có thể thấy, NTD có thể là bất cứ ai Họ tồn tại trong xã hội và tham gia vào nền kinh tế với vai trò là người dẫn dắt nền kinh tế Bởi vậy, NTD có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như các mặt văn hóa, chính trị, xã hội của một đất nước Việc tìm hiểu vai trò của NTD là rất cần thiết bởi từ đó giúp ta nhận thức được tầm quan trọng của NTD đối với nền kinh tế nói riêng và đưa ra những cách thức để củng cố vai trò của NTD nhằm điều chỉnh, củng cố và phát triển nền kinh tế của cả quốc gia

Thứ nhất, NTD là điều kiện cần và là cơ sở cho sự tồn tại của nền kinh tế

Nền kinh tế được tạo ra bởi hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung ứng hàng hóa dịch vụ Cung và cầu tạo ra thị trường NTD là một tập hợp lớn trong thị trường ấy

Trang 13

và là cơ sở, là điều kiện cần thiết để nền kinh tế có thể tồn tại và phát triển Hoạt động lao động và sản xuất từ xa xưa đã gắn với sự ra đời của con người bởi vì khi

đó, con người đã có những nhu cầu cơ bản nhất để sinh tồn Tuy nhiên, chỉ đến khi trình độ của con người đạt đến một mức độ nhất định, theo đó là nhu cầu cũng dần được nâng lên thì mới xuất hiện hoạt động sản xuất hàng hóa, và nền kinh tế ra đời

Từ đó cho đến nay, mỗi hoạt động sản xuất muốn tồn tại được đều phải gắn với nhu cầu của con người và được thực hiện hóa bằng việc tiêu dùng Chỉ có như thế, nhà sản xuất mới có thể tiêu thụ được sản phẩm, thu hồi vốn, tạo được lợi nhuận, tái sản xuất cũng như mở rộng quy mô sản xuất Đồng thời, những hoạt động kinh tế khác liên quan đến tiêu dùng sản phẩm đó cũng mới có thể tồn tại được Ngược lại, khi sản xuất không gắn với tiêu dùng, hoạt động sản xuất đó sẽ nhanh chóng bị đào thải Trên quy mô của cả nền kinh tế, quy luật đó không hề thay đổi

Thứ hai, NTD là mục tiêu và là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh

NTD không chỉ là cơ sở của sự tồn tại một nền kinh tế mà còn là mục tiêu và động lực của nền kinh tế đó Hành vi của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố chủ yếu: văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý Do đó việc tìm hiểu về hành vi, thái độ

và quá trình ra quyết định của NTD rất cần được chú trọng Các nhà sản xuất kinh doanh luôn phải hướng tới NTD để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của họ Để tồn tại, các hoạt động sản xuất kinh doanh phải được gắn với việc tiêu dùng Trong khi đó, tiêu dùng lại phụ thuộc vào nhu cầu của con người mà những nhu cầu đó thì luôn thay đổi, kéo theo đó các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ cũng phải thay đổi theo sao cho phù hợp Suy cho cùng, các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo

ra hàng hóa, dịch vụ thì cần phải có người tiêu dùng chúng hay mục tiêu mà chúng hướng tới chính là những NTD NTD sẽ là những người tiêu thụ, sử dụng và đánh giá chất lượng cũng như giá trị của những sản phẩm đó Muốn đáp ứng nhu cầu và

độ thỏa dụng ngày càng cao của NTD, các nhà sản xuất kinh doanh phải luôn không ngừng tìm tòi, sáng tạo và phát triển sản phẩm của mình Khi đó, NTD sẽ thỏa mãn hơn với những tính năng và chất lượng của sản phẩm mà mình sử dụng Nhu cầu thỏa mãn cao hơn của NTD sẽ mang lại cho các nhà sản xuất kinh doanh động lực

Trang 14

Thứ ba, NTD góp phần dẫn dắt nền kinh tế phát triển Cũng chính vì NTD là

mục tiêu và là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh nên họ cũng chính là bộ phận góp phần dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế Tính dẫn dắt nền kinh tế của NTD được thể hiện qua tác dụng gợi mở phương hướng thay đổi, phát triển cho hoạt động sản xuất và cung ứng hàng hóa dịch vụ Xu hướng thay đổi của NTD là ngày càng đòi hỏi sản phẩm dịch vụ mang lại nhiều lợi ích và độ thỏa mãn cao hơn Điều đó đòi hỏi các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ phải sáng tạo, tìm tòi nhiều hơn để đáp ứng được nhu cầu của NTD Không những vậy, để tăng cường khả năng cạnh tranh, thu hút NTD, các nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ cũng phải tích cực nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới không chỉ để thỏa mãn trước những nhu cầu sẽ xuất hiện mà còn để NTD hài lòng hơn với những nhu cầu hiện tại Nhờ vậy, nền kinh tế sẽ không ngừng phát triển và đó cũng chính là sự tác động qua lại giữa nhu cầu và sản xuất

Tóm lại, NTD có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Không có

NTD, nền kinh tế không thể tồn tại và phát triển Trong chính sách kinh tế của quốc gia, “kích cầu” là một biện pháp mà các chính phủ thường sử dụng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng bởi vì nó có tác dụng kích thích tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, giúp lưu thông nền kinh tế và làm cho nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng trì trệ Đồng thời, NTD là một mục tiêu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạch định chiến lược của các doanh nghiệp nói riêng Bên cạnh đó, khi NTD có tác động lớn đến nền kinh tế của một quốc gia thì cũng sẽ có tác động ít nhiều đến cả tổng thể xã hội của quốc gia đó Thực tế cho thấy, khi kinh tế phát triển thì văn hóa, chính trị, xã hội cũng có những sự tiến bộ tương ứng Do đó, việc nghiên cứu về hành vi tiêu dùng và củng cố hơn nữa vai trò của NTD là rất quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của NTD, từ

đó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mình và sự thịnh vượng cho nền kinh tế

Trang 15

2 Quyền lợi và trách nhiệm của NTD

2.1 Quyền lợi của NTD

2.1.1 Theo quy định của Liên hiệp quốc

Trong nghị quyết 39/948 với tên gọi “Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ NTD” được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9/05/1985, Liên hợp quốc đã chỉ

ra 8 quyền cơ bản của NTD, bao gồm:

- Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản

Con người được tạo ra bởi các yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội Các nhu cầu cần thiết để duy trì các yếu tố tạo ra con người gọi là nhu cầu cơ bản hay còn gọi là các nhu cầu để tồn tại và phát triển của con người Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nghĩa là NTD có quyền có được những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tối thiểu để con người có thể tồn tại được… Trên thực tế, tuy những nhu cầu cơ bản là giống nhau nhưng tùy theo từng người, từng hoàn cảnh, từng điều kiện kinh tế lại có mức độ lại khác nhau Trong xã hội hiện đại

và phát triển, nhu cầu cơ bản cũng thay đổi, tương ứng với trình độ phát triển của xã hội Khi đó, nhu cầu cơ bản không chỉ là nhu cầu vật chất tối thiểu để tồn tại mà còn bao gồm những nhu cầu về tinh thần như giao tiếp, học hành, chăm sóc sức khỏe, đi lại… để cho con người có thể tồn tại và phát triển

- Quyền được an toàn

Nhu cầu về an toàn là nhu cầu được xếp ưu tiên sau nhu cầu cơ bản về thể chất

và sinh lý An toàn về tính mạng nghĩa là bảo vệ cho con người tránh được các nguy

cơ đe dọa cuộc sống và an toàn về tinh thần là tránh được mọi sự sợ hãi, lo lắng Tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu nhưng vấn đề an toàn thì nhất thiết cần được đảm bảo NTD được quyền bảo vệ tránh khỏi những hàng hóa dịch vụ có hại cho thể chất, sức khỏe và tinh thần để NTD có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe Quyền về an toàn ở đây không chỉ liên quan đến hàng hóa, dịch vụ cuối cùng mà còn liên quan đến cả quá trình sản xuất hàng hóa đó

Trang 16

- Quyền được thông tin

Đối với NTD nói chung, thông tin về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ mà họ sử dụng là rất cần thiết Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhà sản xuất kinh doanh cũng cung cấp đúng và đầy đủ thông tin, thậm chí đôi khi vì lợi nhuận còn cố tình nói sai lệch về những sản phẩm của mình gây nhầm lẫn trong quá trình lựa chọn hàng hóa của NTD Điều đó đã vi phạm quyền được thông tin của NTD Theo quy định, NTD có quyền được cung cấp đầy đủ thông tin xác thực và tin cậy về chất lượng, giá thành cũng như tính năng sử dụng của hàng hóa đó để từ đó họ có thể đưa ra quyết định tiêu dùng Bất cứ nội dung gì liên quan đến hàng hóa, dịch vụ cũng cần phải được thông tin cho NTD biết Nội dung thông tin cho NTD có thể được thực hiện thông qua việc ghi nhãn mác, hướng dẫn sử dụng hay qua quảng cáo giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Quyền được lựa chọn

NTD có quyền lựa chọn hang hóa, dịch vụ sao cho phù hợp với nhu cầu và đáp ứng độ thỏa dụng của chính mình Họ được toàn quyền quyết định trong việc có nên tiêu dùng hay không để đảm bảo quyền được thỏa mãn và an toàn NTD cần phải tự mình quyết định trong việc tiêu dùng của mình Bất cứ hành vi gò ép, dụ dỗ, mồi chài nào đối với NTD đều không được chấp nhận, thậm chí ngay cả khi dựa vào vị thế độc quyền trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ

- Quyền được lắng nghe

Ngoài quyền được nghe hay được thông tin, NTD còn được quyền lắng nghe bởi các nhà sản xuất kinh doanh và các cơ quan chức năng có liên quan Họ được quyền liên hệ, bày tỏ ý kiến với nhà sản xuất kinh doanh về các loại hàng hóa, dịch

vụ do họ cung ứng cũng như góp ý với nhà nước, các cơ quan, tổ chức có liên quan đến những vấn đề của họ NTD có thể trực tiếp đề xuất ý kiến của mình hoặc thông qua các cơ quan chức năng, hội NTD, hay thông qua đại diện của mình để bày tỏ ý kiến NTD cần được giải đáp những thắc mắc trong quá trình tiêu dùng một cách rõ ràng và nhanh chóng Những hành vi không tôn trọng, phớt lờ hoặc đàn áp ý kiến NTD đều là vi phạm quyền được lắng nghe của NTD Tôn trọng quyền được lắng

Trang 17

nghe của NTD không chỉ là nghĩa vụ, quyền lợi của các nhà sản xuất kinh doanh mà con là bí quyết giúp các nhà sản xuất kinh doanh củng cố và phát triển vị thế của mình hay có được niềm tin của khách hàng bởi khi đó họ sẽ hiểu NTD cần gì hơn nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại hay tạo ra những nguồn cung mới trong tương lai Tôn trọng quyền được lắng nghe của NTD không chỉ là nghĩa vụ, quyền lợi của các nhà sản xuất kinh doanh mà con là bí quyết giúp các nhà sản xuất kinh doanh củng

cố và phát triển vị thế của mình hay có được niềm tin của NTD – mấu chốt để doanh nghiệp tồn tại và phát triển bởi khi đó họ sẽ hiểu NTD cần gì hơn nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại hay tạo ra những nguồn cung mới trong tương lai

- Quyền được bồi thường

Trong trường hợp NTD có những điều không vừa ý, bị thiệt thòi, thiệt hại, họ

có quyền khiếu nại Nếu những khiếu nại đó là chính xác và hợp lý, NTD có quyền được bồi thường những thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần do những vấn đề đó gây

ra Các nhà sản xuất kinh doanh phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu sản phẩm của mình gây tổn hại đến NTD Nhà sản xuất kinh doanh phải bồi thường cho NTD nếu sản phẩm dịch vụ do họ cung ứng không đúng với nội dung đã giới thiệu, quảng cáo, giao kết hợp đồng Các khiếu nại của NTD có thể được giải quyết bằng cách hòa giải giữa người cung ứng và NTD thông qua các văn phòng khiếu nại của NTD; bằng cách trực tiếp giữa người cung ứng và NTD hoặc thông qua các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, hoặc trong trường hợp không giải quyết được thì có thể thông qua hệ thống tòa án dân sự Bồi thường thỏa đáng cho những khiếu nại chính đáng của NTD sẽ nâng cao được tín nhiệm của doanh nghiệp, cải thiện được hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt NTD

- Quyền được giáo dục về tiêu dùng

Hành vi tiêu dùng là một hành vi phức tạp và bị chi phối bởi nhiều yếu tố Không phải tiêu dùng nào cũng là tốt NTD có quyền được hướng dẫn, giáo dục những kiến thức và kỹ năng về tiêu dùng Khi kiến thức tiêu dùng được nâng cao, NTD có khả năng tự bảo vệ mình tránh khỏi những thiệt thòi không đáng có Việc giáo dục NTD có thể được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng,

Trang 18

báo chí, hội thảo, triển lãm…Nhiều nước đã đưa giáo dục về tiêu dùng vào các chương trình giáo dục ở các trường học

- Quyền được có một môi trường lành mạnh và bền vững

NTD nào cũng muốn được sống trong một môi trường lành mạnh Các nhà sản xuất kinh doanh không nên vì tối đa hóa lợi nhuận mà làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, gây ô nhiễm không khí, nguồn nước hay khiến nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Ô nhiễm môi trường chắc chắn sẽ không thể đảm bảo một môi trường bền vững Việc bảo vệ và tạo ra một môi trường trong sạch lành mạnh là một công việc rất cần thiết, nếu không, nó có thể ảnh hưởng tới cả những thế hệ tương lai

2.1.2 Theo quy định tại Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam

Bên cạnh việc đương nhiên thừa nhận 8 quyền cơ bản của NTD mà Liên hợp quốc đưa ra, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD số 13/1999/PL-UBTVQH10 của Việt Nam còn quy định một số quyền cụ thể như sau:

- Quyền lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được cung cấp các thông tin trung thực

về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ; được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ và môi trường khi sử dụng hàng hoá, dịch vụ; được hướng dẫn những hiểu biết cần thiết về tiêu dùng

- Quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật đối với việc sản xuất, kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng và việc thông tin, quảng cáo sai sự thật

- Quyền đóng góp ý kiến trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD; yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thực hiện đúng trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi NTD

- Quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập,

Trang 19

bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường và các hàng hoá, dịch vụ khác đã đăng ký, công

bố

- Quyền được thành lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật NTD trực tiếp hoặc thông qua đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Như vậy, bên cạnh quyền được đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của mình, NTD

còn có những quyền và lợi ích chính đáng khác như quyền được an toàn; quyền được cung cấp thông tin đầy đủ chính xác về hàng hóa, dịch vụ; quyền được đóng góp ý kiến; quyền được khiếu nại, bồi thường hợp lý… NTD là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế Để cân bằng vị thế NTD trong tương quan với nhà cung cấp cần tiến tới trao quyền cho NTD, khiến họ tự nhận thức được quyền lực và thức tỉnh sức mạnh sẵn có Việc quy định cụ thể và rõ ràng về quyền và lợi ích hợp pháp của NTD là rất cần thiết bởi vì khi đó, NTD có thể hiểu được những quyền lợi của mình khi tham gia tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu bản thân Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng, các ngành, các cấp có liên quan dựa vào đó để xem xét, giải quyết những tranh chấp phát sinh có thể xảy ra giữa NTD và các nhà sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa, dịch vụ

2.2 Trách nhiệm của NTD

Trách nhiệm của NTD được quy định nhằm hướng dẫn, giáo dục và bảo vệ NTD tránh khỏi những thiệt hại phát sinh, đồng thời nâng cao ý thức của NTD phải

có trách nhiệm khi tham gia tiêu dùng

Điều 12 và Điều 13 Pháp lệnh bảo vệ NTD 1999 quy định trách nhiệm của

NTD khi tham gia vào việc mua bán và sử dụng hàng hóa, dịch vụ Cụ thể:

- Trách nhiệm tự bảo vệ mình trong việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ; thực hiện đúng hướng dẫn về phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ; không được tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ gây tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục, gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của mình và cộng đồng

Trang 20

- Trách nhiệm phát hiện, tố cáo các hành vi gian dối về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá, giá cả và các hành vi lừa dối khác của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, gây thiệt hại cho mình và cộng đồng theo quy định của pháp luật

3 Bảo vệ quyền lợi NTD và ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi NTD

3.1 Bảo vệ quyền lợi NTD

Bảo vệ quyền lợi NTD là làm sao để quyền lợi của NTD không bị xâm hại, làm sao để NTD tránh được những rủi ro khi tham gia vào tiêu dùng Điều này rất

có cần thiết bởi vì NTD có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia Nền kinh tế phát triển thì sản xuất kinh doanh phải diễn ra suôn sẻ Mặt khác, sản xuất kinh doanh lại gắn liền với tiêu dùng Do đó, muốn nền kinh tế phát triển thì phải kích thích được tiêu dùng và đảm bảo nhu cầu của NTD phải được đáp ứng Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD luôn là vấn đề trọng tâm được nhiều các ngành các cấp quan tâm

3.1.1 Các nhân tố tham gia bảo vệ quyền lợi NTD

- Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền

Bảo vệ quyền lợi NTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước và được thực hiện hóa bởi một hệ thống quy định pháp lý cụ thể Thực tiễn cho thấy, khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại càng gia tăng thì càng nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD Việc chờ đợi ý thức trách nhiệm của các cơ sở sản xuất kinh doanh nếu thiếu vắng một hệ thống quy định pháp lý là điều không thể bởi họ còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố liên quan đến lợi nhuận, cạnh tranh… Những quy định pháp lý sẽ là cơ

sở cho các nhà sản xuất kinh doanh ý thức được vấn đề quyền lợi NTD và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ quyền lợi NTD Bên cạnh đó, NTD cũng có cơ sở

để thực hiện quyền lợi của mình Trong trường hợp các doanh nghiệp không tuân thủ đúng quy định của pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD thì hệ thống pháp lý sẽ tạo khung quy định những biện pháp xử phạt và cưỡng chế đối với những

Trang 21

Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD không chỉ thể hiện trong các văn bản pháp luật

mà còn trong thiết chế thực thi pháp luật như các cơ quan Nhà nước, cơ quan hành chính, hệ thống tòa án các cấp, các tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD Nhà nước ở bất

cứ quốc gia nào cũng luôn có vai trò to lớn trong bảo vệ NTD Đó là cơ quan lập ra các chính sách, tổ chức thực hiện các chính sách và kiểm tra giám sát việc thực hiện các chính sách bảo vệ NTD ở nước mình Các tổ chức phi chính phủ như Hiệp hội bảo vệ NTD và các cơ quan quản lý của nhà nước như Cục Quản lý cạnh tranh, Cục quản lý thị trường phải tham gia đôn đốc, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ

sở sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ để họ có ý thức hơn về việc đảm bảo quyền lợi NTD Nhờ đó, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Chính quyền và các đoàn thể có trách nhiệm tuyên truyền giáo dục kiến thức về tiêu dùng, cung cấp thông tin về chất lượng hàng hóa, giám sát thị trường, kịp thời can thiệp những hành vi vi phạm quyền lợi NTD, cũng như chấn chỉnh, kiểm tra về chuyên môn theo từng lĩnh vực sản xuất để bảo đảm độ an toàn cao cho NTD

- Người sản xuất – kinh doanh

Người sản xuất, kinh doanh muốn phát triển vững thay vì chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình thì phải hơn nữa đến quyền và lợi ích chính đáng của NTD Họ phải có trách nhiệm đối với NTD về sự an toàn khi sử dụng sản phẩm, phải phục vụ tốt NTD, hướng dẫn NTD trong việc sử dụng sản phẩm, phải lắng nghe tiếng nói của NTD để nâng cao chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, nhà sản xuất kinh doanh nên có trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về hàng hóa và dịch vụ, trách nhiệm bảo đảm tiêu chuẩn đo lường và chất lượng, trách nhiệm bảo hành, trách nhiệm bảo đảm an toàn cho NTD và trách nhiệm tiếp nhận khiếu nại cũng như đền bù thỏa đáng cho NTD

- Bản thân NTD

Bản thân NTD phải có trách nhiệm tự bảo vệ mình, phải có hiểu biết để sử dụng đồng tiền của mình một cách hợp lý, đồng thời phải quan tâm đến mọi người,

Trang 22

môi trường xung quanh, phải cảnh giác, phối hợp với các bên có liên quan trong việc ngăn chặn và trừng trị những vấn đề tiêu cực trong xã hội

NTD có khả năng tự bảo vệ chính mình thông qua việc ý thức được quyền lợi chính đáng và trách nhiệm của mình Khi quyết định tiêu dùng, để đảm bảo quyền lợi của mình, việc nghiên cứu, tìm hiểu kỹ về chất lượng, xuất xứ, thông tin chính xác về sản phẩm là một công việc không thể thiếu Từ đó NTD có thể bảo vệ chính mình tránh khỏi các thông tin sai lệch, hiểu lầm và rủi ro, thiệt hại khi tiêu dùng sản phẩm

NTD có quyền bày tỏ ý kiến đối với nhà sản xuất kinh doanh, đối với các cơ quan có thẩm quyền NTD có quyền được khiếu nại và bồi thường nếu khiếu nại hợp lý NTD có quyền chọn lựa không dùng hàng kém chất lượng, tẩy chay hàng giả, hàng nhái, điều này cũng giúp các nhà sản xuất chân chính được bảo vệ NTD góp ý, phản ảnh về chất lượng sản phẩm, nhà sản xuất thấy được khuyết điểm, khắc phục, sửa chữa, sẽ giúp cho hàng hóa tốt hơn, chính điều này lại tạo lợi thế cho NTD khi được sử dụng sản phẩm tốt, còn nhà sản xuất có lợi là được tín nhiệm bán được nhiều hàng hóa, thu lợi nhuận nhiều hơn…

NTD nên phải tự bảo vệ mình, có ý thức chọn lựa hàng tốt, tẩy chay không mua hàng giả, hàng nhái, và có ý thức trách nhiệm góp phần bảo vệ quyền lợi chung của cả cộng đồng bằng hành động thiết thực như đóng góp ý kiến về chất lượng hàng hóa, lên tiếng báo động xã hội đối với những vấn đề làm thiệt hại lợi ích chung

Sức mạnh to lớn của NTD là thái độ với các nhà sản xuất kinh doanh và quyền tẩy chay sản phẩm Quyền này chỉ được phát huy khi NTD ý thức được sức mạnh của mình và đoàn kết lại Khi hội NTD đã phát triển thành một lực lượng đông đảo, sẵn sàng tham gia tổ chức bảo vệ quyền lợi của chính mình thì vấn đề xâm hại quyền lợi NTD sẽ có xu hướng giảm

NTD là một lực lượng đông đảo của xã hội và dư luận xã hội cũng là một trong “vũ khí” hiệu quả mà họ tạo ra trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình

Trang 23

Do đó, dư luận xã hội có ý nghĩa lớn trong việc khuyến khích các hành động góp phần bảo vệ NTD, đồng thời lên án, phê phán những hành động xâm phạm quyền lợi của NTD

Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay được toàn thể xã hội quan tâm và được coi là một trong những vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng luôn đi

đôi với chất lượng tăng trưởng Bảo vệ quyền lợi NTD là trách nhiệm chung của

toàn xã hội Mọi quyền và lợi ích hợp pháp của NTD phải được tôn trọng và bảo vệ Mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của NTD phải được xử lý kịp thời

và nghiêm minh, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Như vậy, bảo vệ quyền lợi NTD là một vấn đề rất đang được chú ý và là trách

nhiệm của mọi người, của toàn xã hội Hiệu quả của hoạt động bảo vệ này có được khi có sự tham gia và phối hợp hành động của mọi người, từ người làm công tác quản lý nhà nước đến các doanh nhân, doanh nghiệp, từ các tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD đến chính bản thân NTD Việc xây dựng luật bảo vệ NTD hay thành lập các tổ chức, uỷ ban đại diện bảo vệ NTD đều cần thiết trong việc dẫn dắt NTD tiếp cận thông tin, tiếp cận pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình; hướng dẫn NTD tạo thói quen thiết lập chứng cứ; quy rõ trách nhiệm cho đơn vị quản lý nhà nước và liên kết các lực lượng xã hội để cùng giải quyết các vấn đề bảo vệ NTD Để quyền

và lợi ích chính đáng của NTD được bảo vệ thì cần có một chiếc “kiềng ba chân” trong đó, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng, người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng đóng vai trò là ba chiếc chân vững chắc

3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền lợi NTD

- Yếu tố lợi nhuận của các cơ sở tổ chức sản xuất kinh doanh

Quan hệ kinh tế chủ yếu trong xã hội, bên cạnh quan hệ giữa các nhà sản xuất với nhau là quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất kinh doanh Là lực lượng hết sức đông đảo, nhưng vì chưa nhận thức đầy đủ các quyền và trách nhiệm của mình, không có đầy đủ kiến thức về mọi mặt và thường hành động riêng lẻ nên trong mối quan hệ đó, NTD thường đứng ở thế yếu và chịu nhiều thiệt thòi Để tăng lợi nhuận,

Trang 24

và lòng tin của NTD để thực hiện những hành vi thủ đoạn gian dối làm tổn hại đến lợi ích của NTD dưới những hình thức rất phong phú như cung cấp hàng hóa kém phẩm chất, ép giá, gian lận về đo lường hoặc đưa ra những thông tin thiếu trung thực dễ gây nhầm lẫn… Khi đó, NTD thường mắc phải những sai lầm trong việc lựa chọn tiêu dùng và có nguy cơ sử dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu độ an toàn, đặc biệt là đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người

- Hệ thống pháp lý chưa đầy đủ và sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan

chức năng có liên quan Một khi hệ thống pháp lý chưa đầy đủ sẽ tạo những kẽ hở

cho các cơ sở sản xuất kinh doanh không chân chính thực hiện những hoạt động gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi NTD Sự quản lý, kiểm tra, giám sát đôn đốc thực hiện của Nhà nước và các cơ quan chức năng là rất cần thiết trong vấn đề tham gia bảo

vệ NTD Thiếu sự tham gia này, quyền lợi NTD sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi vì sẽ không có đủ chế tài cũng như quy định để xử phạt các hoạt động gây tổn hại tới quyền lợi NTD Theo đó người sản xuất kinh doanh sẽ không ngần ngại lách luật và

có những hành động vi phạm tới quyền lợi NTD nhằm tối đa hóa lợi nhuận

- Sự thiếu kiến thức tiêu dùng, thiếu sự am hiểu về hàng hóa, dịch vụ cũng

như cách thức tiêu dùng của bản thân NTD Họ thường không có đủ kiến thức

cũng như về điều kiện kỹ thuật để tự mình biết được hàng hóa dịch vụ có thực sự tốt như những thông tin được công bố hay không Nói cách khác, NTD luôn ở vào vị trí bất lợi về thông tin so với doanh nghiệp

Chính vì những lý do trên, những nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ có rất nhiều động cơ gây tổn hại đến quyền lợi của NTD Nếu sự quản lý của nhà nước không đủ mạnh và không hiệu quả trong việc trấn áp những hoạt động đó thì quyền lợi của NTD sẽ khó được đảm bảo

3.2 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi NTD

3.2.1 Đối với chính trị - xã hội

- Trong nền kinh tế thị trường, NTD là đối tượng của người sản xuất và kinh doanh, là động lực phát triển của sản xuất và kinh doanh nói riêng và của toàn bộ

Trang 25

nền kinh tế và xã hội nói chung Tất cả mọi người đều cần trao đổi, mua bán để có những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của mình, tiếp đó là đáp ứng nhu cầu của gia đinh và tổ chức của mình Như vậy có thể thấy rằng, NTD là tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, thành phần, dân tộc, giới tính, địa vị xã hội Hơn nữa NTD có mặt ở khắp mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo… Bảo vệ NTD không những chỉ là công việc có tính chất xã hội mà còn có tính chất kinh tế, chính trị rõ rệt Một khi NTD, lực lượng xã hội đông đảo nhất, bao gồm toàn thể mọi người, được tôn trọng, được bảo vệ, được nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần, họ sẽ trở thành một động lực phát triển xã hội rất to lớn, đóng góp cho sự nghiệp phát triển xã hội nói chung Quyền lợi của NTD bị xâm phạm sẽ khiến cho sự phát triển của xã hội bị kìm hãm Việc bảo vệ NTD là một công việc

có tính chất xã hội rộng lớn và sâu sắc và được đông đảo mọi người trên toàn thế giới quan tâm

- Việc bảo vệ NTD là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhà nước, là nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh chân chính.Thực tế, trong nền kinh tế thị trường, thị trường chủ yếu do tiêu dùng điều tiết NTD có ảnh hưởng to lớn đến những quyết sách về kinh tế, dù là của khu vực nhà nước hay của khu vực tư nhân và NTD cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các quyết định về kinh tế Chính phủ ở các nước đều rất quan tâm đến vấn

đề NTD và nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ làm cho kinh tế phát triển, xã hội chính trị ổn định Ngược lại, sẽ làm cho kinh tế chậm phát triển thậm chí khủng hoảng xã hội, rối loạn và mất ổn định chính trị Bảo vệ NTD là một trong những hoạt động nhằm thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời cũng là duy trì

và bồi dưỡng cho một động lực kinh tế quan trọng Khi nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vấn đề NTD và bảo vệ NTD càng cần đề ra và thực hiện một cách nghiêm túc

3.2.2 Đối với kinh tế

- Bảo vệ NTD giúp củng cố niềm tin cho NTD đối với hàng hóa, dịch vụ, từ

đó khuyến khích tiêu dùng Niềm tin của NTD là mong muốn của tất cả các nhà sản

Trang 26

xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ Nó đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp đó Khi không có niềm tin vào sản phẩm, dịch vụ, NTD sẽ hạn chế thậm chí chấm dứt việc tiêu dùng sản phẩm đó Phản ứng của NTD không chỉ gây khó khăn cho sự tồn tại phát triển của riêng doanh nghiệp đó mà nếu phản ứng đó diễn ra trên diện rộng, cùng lúc thách thức nhiều doanh nghiệp thì cả nền kinh tế có nguy cơ bị ảnh hưởng

- Bảo vệ quyền lợi NTD giúp đảm bảo công bằng cho NTD Trong khi thực hiện hành vi tiêu dùng, NTD có những quyền lợi chính đáng nhất định Việc bảo vệ những quyền lợi đó là yêu cầu khách quan để đảm bảo công bằng cho NTD, cũng là góp phần thực hiện công bằng xã hội Từ đó, bảo vệ quyền lợi NTD góp phần quản

lý thị trường, giúp thị trường hoạt động lành mạnh, công bằng Bảo vệ quyền lợi NTD thực chất là ngăn chặn những hành vi xâm phạm quyền lợi NTD của nhà sản xuất cung ứng hàng hóa dịch vụ

4 Tổ chức Quốc tế NTD và hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD 4.1 Tổ chức Quốc tế NTD - Consumers International

Tuy vấn đề bảo vệ NTD đã được đặt ra từ lâu nhưng phong trào bảo vệ NTD thế giới chỉ thực sự bắt đầu từ những năm 1950 khi một số nước phát triển thành lập các hội NTD và đặc biệt từ năm 1960, khi một tổ chức NTD có tầm hoạt động quốc

tế được thành lập

Tổ chức Quốc tế NTD được thành lập năm 1960 bởi một số tổ chức NTD quốc gia với nhận thức rằng phong trào NTD từng nước có thể mạnh lên nhờ hoạt động mang tính quốc tế Tên gọi ban đầu là Liên hiệp các tổ chức NTD quốc tế (Internatioanl Organisation of Consumer Unions – IOCU) Tổ chức đã phát triển nhanh chóng và được công nhận là tiếng nói của phong trào NTD quốc tế, đặc biệt

là trong các vấn đề quan trọng như tiêu chuẩn hóa sản phẩm và thực phẩm, y tế và quyền của người bệnh, môi trường và vấn đề tiêu dùng bền vững, nhưng quy định

về buôn bán quốc tế và các dịch vụ công cộng…

Trang 27

Năm 1994, Đại hội thế giới Quốc tế tiêu dùng họp ở Montpellier (Pháp) quyết định đổi tên tổ chức thành Quốc tế NTD (Consumers International – CI) CI hỗ trợ, tập hợp và đại diện cho các tổ chức NTD trên toàn thế giới CI tính đến năm 2003

có trên 250 tổ chức thành viên ở 119 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

CI nỗ lực cổ vũ cho một xã hội công bằng, trung thực thông qua việc bảo vệ quyền của mọi NTD, những NTD nghèo, người bị gạt ra ngoài lề xã hội và những người bị thiệt thòi, bằng các hoạt động chính là Hỗ trợ và tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên và phong trào NTD nói chung; Đấu tranh ở phạm vi quốc tế cho những chính sách có liên quan đến NTD

Trụ sở của CI đặt ở London (Anh) CI là một tổ chức độc lập, không vì lợi nhuận, kinh phí hoạt động dựa vào đóng góp của các tổ chức thành viên, sự ủng hộ của các tổ chức, các chính phủ và các tổ chức đa phương

Trong việc bảo vệ NTD, ngoài việc đưa vấn đề NTD thành một hoạt động có tầm cỡ quốc tế, tổ chức còn đặt biệt quan tâm đến các lĩnh vực sau đây:

- Công tác tiêu chuẩn hóa

- Chính sách về lương thực, thực phẩm

- Đề nghị LHQ ban hành một danh mục các sản phẩm bị cấm

- Xây dựng luật bảo vệ NTD mẫu

- Thông tin và giáo dục NTD

- Thương mại

- Sức khỏe và thuốc chữa bệnh

- Bảo vệ môi trường

- Dịch vụ công cộng

- Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất kinh doanh

Trên 70% các thành viên của CI là ở các nước đang phát triển, trong đó, việc

tổ chức và động viên các nguồn lực để phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ NTD là rất

Trang 28

khó khăn CI đã chủ động trong việc giúp đỡ các nước này thành lập các tổ chức bảo vệ NTD, xây dựng thành những tổ chức lớn mạnh để có thể có tiếng nói mạnh

mẽ trong việc hoạch định các chính sách, vì lợi ích của NTD cả ở phạm vi quốc gia

và quốc tế CI đã phát triển nhiều chương trình huấn luyện, giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật, thông tin, trao đổi các chương trình và liên kết hành động nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng hoạt động của các nước thành viên

Cùng với việc phát triển về kinh tế, vấn đề NTD hiện nay không còn chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà đã trở thành vấn đề quan tâm của toàn thế giới

Ở nhiều nước, có những nhóm NTD hoạt động theo từng lĩnh vực CI hiện nay là một tổ chức của NTD lớn nhất thế giới, hoạt động toàn diện, vì lợi ích của NTD CI đặc biệt quan tâm đến NTD nghèo, NTD còn chịu thiệt thòi và NTD ở các nước đang phát triển

4.2 Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD

4.2.1 Giới thiệu

Năm 1985, bản hướng dẫn bảo vệ NTD của LHQ đã được Đại hội đồng LHQ chính thức thông qua Đây là một tài liệu cơ bản và toàn diện về bảo vệ NTD Bản hướng dẫn này giúp ích cho cách chính phủ, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong việc hoạch định chính sách và luật pháp bảo vệ quyền lợi NTD

Bản hướng dẫn đã được gửi cho các chính phủ thành viên LHQ, trong đó có chính phủ Việt Nam

Sau 10 năm ban hành, năm 1996, LHQ đã gửi văn bản chính thức cho các chính phủ thành viên đề nghị kiểm điểm lại việc thi hành bản hướng dẫn về bảo vệ NTD Sau năm 1999, LHQ đã bổ sung thêm phần bảo vệ môi trường vào bản hướng dẫn Gần đây, trong tình hình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, LHQ lại trưng cầu ý kiến của các tổ chức NTD trên thế giới để sửa đổi và bổ sung bản hướng dẫn về bảo

vệ NTD trong tình hình mới

Trang 29

4.2.2 Mục tiêu

Để thực hiện sự quan tâm đến quyền lợi NTD trong tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển; ghi nhận rằng NTD thường phải chịu sự bất cân xứng về mặt kinh tế, các cấp độ giáo dục và khả năng thương lượng trong mua bán; và ý thức được rằng NTD có quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn, cũng như cần phải khuyến khích sự phát triển kinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý, bản hướng dẫn bảo vệ NTD nhằm thực hiện những mục tiêu sau:

- Giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách là NTD;

- Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của NTD;

- Giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanh nghiệp tầm

cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho NTD;

- Tạo thuận lợi cho sự phát triển các hội NTD độc lập và đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ NTD;

- Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho NTD có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;

- Khuyến khích tiêu dùng bền vững

4.2.3 Nguyên tắc chung

Chính phủ mỗi nước phải giành ưu tiên cho việc bảo vệ người tiêu dùng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân và phải quan tâm đến hệ quả và lợi ích của các biện pháp đề ra nhằm đáp ứng những nhu cầu pháp lý, gồm:

- Bảo vệ NTD tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn;

- Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của NTD;

Trang 30

- Thông tin đầy đủ cho NTD để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;

- Giáo dục NTD, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của NTD;

- Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho NTD;

- Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức NTD thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ

- Thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

1 Tình hình vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam

1.1 Thực trạng vấn đề vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam

Hiện nay ở nước ta, tình trạng quyền lợi của NTD bị xâm hại nghiêm trọng ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng được đông đảo quần chúng quan tâm

1.1.1 Sự xuất hiện ngày càng nhiều các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

và hạn chế cạnh tranh gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD

Các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đã xuất hiện

và gây ảnh hưởng không nhỏ tới NTD Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp ngày càng tinh vi hơn, có phạm vi ảnh hưởng lớn hơn

1.1.1.1 Vấn đề độc quyền

Ở Việt Nam, việc đưa nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường đã diễn ra

từ hơn 20 năm nay Thế nhưng, cho đến giờ sự độc quyền thời bao cấp trong một số lĩnh vực như kinh doanh điện, nước, xăng dầu vẫn còn khá đậm nét Trong khi đó, luật Cạnh tranh, vẫn chưa phát huy được tác dụng trong việc chống độc quyền Mặc

dù, Luật Cạnh tranh đã quy định các hành vi gây hạn chế cạnh tranh bị cấm như: thoả thuận ấn định giá, phân chia thị trường lạm dụng vị thế độc quyền, vị trí thống lĩnh thị trường (chiếm trên 30% thị phần) để áp đặt giá mua, bán hàng hóa hay dịch vụ một cách bất hợp lý… nhưng trên thực tế, năm 2008 đã liên tiếp xảy ra các

vụ việc khá điển hình về các vi phạm trên như vụ Hiệp hội Thép Việt Nam ra nghị quyết ấn định giá bán (13,7- 14 triệu đồng/tấn thép), vụ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống nhất nâng mức phí bảo hiểm lên 3,95%/năm cho tất cả các đối tượng

khách hàng… (Vietluat.vn ngày 8/03/2009)

Vấn đề độc quyền đối với mặt hàng xăng dầu

Hiện đang có 11 đơn vị đầu mối tham gia kinh doanh xăng dầu nhưng

Trang 32

hơn 60% khối lượng phân phối lại nằm trong tay Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) Do vậy, việc tăng hay giảm giá xăng dầu là tùy thuộc vào họ sau khi

có quyết định cho phép các đơn vị kinh doanh xăng dầu được chủ động về giá bán

từ ngày 15/12/2009 Từ đó đến nay, mới hơn hai tháng mà giá xăng dầu đã tăng đến bốn lần và hiện đứng ở mức 16.990 đồng/lít trong khi ở Mỹ tính ra chỉ có 15.300 đồng/lít (tính theo tỷ giá trên thị trường tự do) Điều này đã làm cho NTD không khỏi lo lắng và do đó quyền lợi của NTD cũng không thể được bảo đảm

Thesaigontimes.vn ngày 12/03/2010)

Việc giá xăng dầu tăng nhanh và chậm giảm đã gây cho NTD những khoản chi phí không đáng có Khi giá dầu thô trên thế giới tăng cao thì giá xăng trong nước cũng nhảy vọt nhưng khi giá dầu thô đã giảm mạnh, thậm chí thấp hơn mức trước khi cơn sốt dầu thì giá xăng ở Việt Nam vẫn cứ ở mức cao chót vót và chỉ giảm nhỏ giọt Phải sau rất nhiều lần giảm giá, NTD mới được mua xăng với mức giá trước khi tăng Tuy nhiên ngay cả với mức giá này thì NTD Việt Nam vẫn chịu thiệt thòi không nhỏ bởi lẽ mức giá này được cho là quá cao so với giá dầu thô đầu vào Có thể nhận thấy được sự bất hợp lý của giá xăng trong nước sau cơn sốt dầu thông qua biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 1: Giá xăng và dầu thô ở Việt Nam từ 11/2007 đến 11/2008

Trang 33

Mặt hàng điện

Ngành điện là một trong những ngành công nghiệp quan trọng, và là một ngành công nghiệp mũi nhọn ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, vào những năm gần đây, ngành điện trong nước, cụ thể là Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) đã dần dà biểu hiện những bê bối của mình trong vấn đề sản xuất kinh doanh, phân phối cũng như điều hành Cụ thể là vụ bê bối điện kế điện tử vào năm 2004-2005 gây ra nhiều tổn thất lớn cho NTD, rồi đến vụ tăng giá điện vào đầu tháng 1/2007 trong khi tình trạng cắt điện xảy ra liên tục trên diện rộng

Bộ Công Thương và Cục Quản lý giá của Bộ Tài chính vừa qua đã đề xuất các mức tăng giá điện Theo đó, Bộ Công Thương đề nghị tăng 4,9%, còn Bộ Tài chính đưa ra hai mức là 6,8% và 10,7% Mỗi phương án sẽ có những tác động khác nhau đến nền kinh tế Theo xác nhận của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào với báo chí, Chính phủ đã phê duyệt mức tăng giá điện bình quân từ 1-3-2010 là 6,8% Giá điện tăng có thể sẽ làm ảnh hưởng tới các sản phẩm hàng hóa khác, cụ thể:

Bảng 1: Mức độ tăng giá sản xuất một số sản phẩm theo mức tăng giá điện

Trang 34

(Nguồn: thesaigontimes.vn ngày 25/02/2010)

Ta có thể thấy, việc tăng giá điện có ảnh hưởng lớn đến giá tiêu dùng và qua

đó ảnh hưởng tới chi tiêu của hộ gia đình và sinh hoạt của người dân Trong khi đó việc NTD điện Việt Nam phải phụ thuộc vào hoạt động cung cấp điện và áp đặt giá của các tổ chức cung cấp điện này Việc độc quyền điện là một vấn đề cấp bách, nó không chỉ hạn chế năng suất cung cấp điện của các nhà máy mà còn gây ra nhiều vấn đề tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày của NTD

1.1.1.2 Tình trạng liên kết làm giá

Ngoài những thiệt hại do tình tạng độc quyền, NTD còn phải chịu các khoản chi phí bất hợp lý do các doanh nghiệp liên kết làm giá Gắn liền với giá xăng dầu, giá cước vận tải lẽ ra phải bám sát diễn biến giá xăng dầu.Theo quy luật, khi giá xăng tăng lên thì cước vận tải tăng và khi giá xăng giảm thì cước vận tải cũng phải giảm xuống Tuy nhiên sau khi giá xăng ở nước ta đã giảm xuống mức trước khi sốt dầu, thì giá cước vận tải vẫn được các nhà cung cấp dịch vụ này giữ nguyên Sau

đó, do sức ép của dư luận và NTD, các hãng này mới chịu giảm mức cước vận chuyển Tuy nhiên, mức giảm này cũng không hề tương ứng với mức giảm giá xăng Vào thời điểm xăng 19.000đ/lít, mức giá mà các hãng taxi áp dụng khoảng 12.500đ/km Thời điểm giá xăng đã xuống 11.000đ/lít, giá taxi chỉ giảm xuống 10.000đ/km, giá xe khách cũng giảm nhẹ, thậm chí vẫn giữ nguyên đối với một số

Trang 35

việc tất cả đồng loạt giữ mức cước bất chấp sự giảm mạnh của giá xăng dầu đã đẩy NTD vào thế khó, và thể hiện sự thiếu quan tâm đến quyền và lợi ích của NTD Theo Luật Cạnh tranh, những doanh nghiệp tham gia liên minh làm giá này sẽ bị phạt tối đa 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi

1.1.1.3 Vấn đề bán hàng đa cấp

Gần đây dư luận xã hội hết sức bất bình với hành vi bán hàng đa cấp bất chính của một số công ty Các công ty này đã lợi dụng sự cả tin của NTD để kiếm lời một cách bất hợp pháp Những hành vi như vậy không chỉ gây thiệt hại kinh tế cho những người bị lừa gạt mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình xã hội nói chung Bởi lẽ những NTD là nạn nhân của phương thức kinh doanh đa cấp bất chính này chủ yếu là những người có thu nhập thấp, trình độ hiểu biết còn hạn chế và sống ở khu vực nông thôn

Theo VINASTAS, hiện nay tình trạng bán hàng trực tiếp (mang hàng tiếp thị tại nơi ở, nơi làm việc của NTD) đang có xu hướng gia tăng Hệ thống bán hàng đa cấp ở nước ta chủ yếu sử dụng phương thức này để bán các loại hàng gia dụng như dầu gội đầu, máy sấy tóc, máy sinh tố, thực phẩm chức năng, máy mát xa, điện tử… Phương thức bán hàng trực tiếp đã làm cho NTD rơi vào tình thế “bị tấn công”, làm họ trở nên bị động Trong nhiều trường hợp, do ở thế bị động và thiếu thông tin mà NTD đã phải mua các sản phẩm với giá rất đắt, thậm chí bị lừa dối Hiện nay Bộ Luật Dân sự coi hợp đồng bán hàng trực tiếp này cũng giống như hợp đồng bán hàng, bán tài sản khác Xét từ góc độ quyền được thông tin và quyền được lựa chọn hàng hóa của NTD, quy định như trên của Pháp luật nước ta chưa thật sự đảm bảo các quyền năng này của NTD

1.1.1.4 Vấn đề đầu cơ găm hàng, nói thách, nâng giá tùy tiện

NTD còn mất tiền vô lý bởi những hành vi đầu cơ găm hàng của một số tổ chức sản xuất kinh doanh Cơn sốt gạo ảo trong thời gian cả thế giới có nguy cơ thiếu lương thực đã làm cho NTD điêu đứng Giá gạo tăng vọt từng ngày nhưng không phản ánh trung thực quan hệ cung cầu mà do các đại lý gạo găm hàng lại, tạo nên sự thiếu hụt giả tạo trên thị trường Cơn sốt gạo ảo tuy kéo dài chưa đầy một

Trang 36

tuần nhưng thiệt hại của NTD không hề nhỏ, trong khi đó các đại lý gạo lại thu bội tiền

Bên cạnh đó, các trường hợp nói thách nâng giá hàng hóa tùy tiện cũng rất phổ biến Cùng một sản phẩm nhưng mỗi nơi bán hàng với một mức giá khác nhau và tùy hứng của người bán Sự tăng giá của các sản phẩm sữa ngoại trước cả khi thuế thực sự tăng là một ví dụ cho sự tùy tiện trong việc định giá hàng hóa ở Việt Nam Trong khi thuế nhập khẩu sữa bột còn chưa tăng thì tại các cửa hàng đã tăng giá sữa Đồng thời khi giá sữa bột các loại trên thị trường Châu Âu, Úc đã giảm 100USD/tấn so với thời điểm đầu năm 2009 và giảm khoảng 50% so với năm 2008 Thậm chí, sữa bột nguyên kem xuất khẩu tại thị trường Châu Âu đã giảm đến 200USD/tấn Bên cạnh đó, thuế nhập khẩu sữa đã giảm từ cuối năm 2007 Thế nhưng trên thị trường Việt Nam, trong năm 2008, mặt hàng sữa bột nhất là sữa bột

ngoại nhập đã có đến 2 lần điều chỉnh tăng giá với mức tăng 15% đến 30% (Lao

Thứ nhất, đã phát hiện ngày càng nhiều các cơ sở sản xuất, chế biến thực

phẩm không đảm bảo điều kiện vệ sinh, nhiều lò chế biến lòng, mỡ, bì bẩn; dùng hóa chất tẩy trắng bì lợn ; nhiều loại nước tinh khiết bị nhiễm bẩn Theo thông tin

từ Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y tế, năm 2008, lực lượng chức năng đã phát

Trang 37

về vệ sinh an toàn thực phẩm Qua đợt kiểm tra từ ngày 19/01/2010 cho thấy, vi phạm chủ yếu ở các cơ sở sản xuất là chưa bảo đảm ATVSTP, trang thiết bị chưa

đáp ứng, nguồn gốc nguyên liệu không rõ ràng (Anninhthudo.vn ngày 14/04/2009)

Theo quy định thì các cơ sở chế biến kinh doanh thực phẩm phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP thì mới được hoạt động Tuy nhiên trên thực tế, chất lượng thực phẩm của phần lớn các cơ sở này không được kiểm soát Báo cáo của ngành y tế tại hội nghị ATVSTP lần thứ 2 vào ngày 9/04/2008 cho thấy số cơ

sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP mới chỉ đạt khoảng 10%, 90% còn lại chất lượng thực phẩm thả nổi không kiểm soát Hơn thế nữa chưa chắc những cơ sở được cấp giấy chứng nhận ATVSTP là đủ tiêu chuẩn về ATVSTP Điển hình nhất là vụ việc tại cơ sở sản xuất mứt Như Ý, quận Bình Tân với hàng trăm thùng nguyên liệu sản xuất mứt như đu đủ, chùm ruột, cóc, lê đã bị hư hỏng nghiêm trọng, chứa đầy dòi và trứng ấu trùng Ngạc nhiên hơn cả là cơ sở này đã hoạt động từ năm 2001 và được cấp giấy chứng nhận ATVSTP từ năm 2008, có nghĩa là suốt 8 năm trời, sản phẩm mứt của cơ sở này được đưa ra thị trường tiêu thụ mà NTD không thể biết thực hư về chất lượng của những sản phẩm đó

Thứ hai, tình hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân có nhiều vấn

đề đáng lo ngại NTD không khỏi lo ngại trước thực trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm chứa các chất nguy hiểm, các chất phụ gia Nhiều doanh nghiệp chế biến thực phẩm đã sử dụng một số phụ gia không có trong danh mục của

Bộ Y tế hoặc sử dụng sai quy trình như cháo dinh dưỡng sử dụng Natri Benzoat; hạt dưa dùng phẩm chứa Rhodamin B để nhuộm màu Các chất phụ gia độc hại, không rõ nguồn gốc được sử dụng bừa bãi cũng đe dọa an toàn và sẽ khỏe của NTD Các chất như hàn the, phoocmon, chất bảo quản thực phẩm từ lâu đã được cảnh báo là gây hại đến sức khỏe của người sử dụng thực phẩm nhưng cho đến hiện tại, các chất phụ gia nguy hiểm này vẫn tiếp tục được sử dụng

Việc kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm ôi, thiu, ô nhiễm trở nên phổ biến Đặc biệt nóng trong năm 2009 là tình trạng nhập khẩu phụ phẩm

Trang 38

thịt không đảm bảo an toàn, buôn bán nội tạng động vật không rõ nguồn gốc qua biên giới đã gia tăng gấp 3 lần so với năm 2008

Rau củ quả là loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn nhưng chất lượng của các loại rau củ ngày càng khiến NTD phải lo lắng Thuốc bảo vệ thực vật tìm thấy dư lượng trong các loại rau ăn lá và ăn quả chiếm đến 70% số mẫu Về chăn nuôi, chúng ta chưa kiểm soát được chăn nuôi ở các hộ gia đình, chưa kiểm soát được thức ăn chăn nuôi, thuốc tăng trọng và giết mổ gia súc, gia cầm Theo thông tin của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có 64,5% các cơ sở nằm trong khu dân cư, 35,5% nằm trong các chợ, trong đó mới chỉ có 67,7% các cơ sở giết mổ tập trung gia súc được kiểm soát thú y và 27% các cơ sở giết mổ gia cầm được kiểm soát thú y Các cơ sở giết mổ chỉ có 45% thực hiện được vệ sinh tiêu

độc, vì thế tỷ lệ số mẫu ô nhiễm vi sinh vật còn chiếm tới 57% (Nhân dân,

23/5/2007 – Sức khỏe và môi trường, số 11,2007)

Tóm lại, trong khi các cơ quan quản lý đang loay hoay tìm ra một biện pháp

quản lý hữu hiệu hơn thì ngày ngày, NTD vẫn phải rùng mình trước những thông tin về thực phẩm ô nhiễm, thực phẩm bẩn và tác hại của chúng đến sức khỏe của NTD Những vụ việc rau nhiễm kim loại nặng, nước tương chứa chất gây ung thư, sữa chứa melanin, phở chứa hoocmon, giò chả chứa hàn the… liên tục được phát hiện và thông tin trên các phương tiện truyền thông thực sự cho thấy tình trạng báo động về ATVSTP ở nước ta hiện nay Sức khỏe và cả tính mạng của NTD đang bị

đe dọa nghiêm trọng bởi các loại thực phẩm độc hại mà học đang phải nhắm mắt lựa chọn và sử dụng

1.1.2.2 Vấn đề hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lƣợng

Tình trạng quyền sở hữu trí tuệ không được bảo hộ ở Việt Nam là một nguyên nhân đang gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Hàng giả, không còn nghi ngờ gì nữa, đang trở thành một quốc nạn, len lỏi vào mọi ngõ ngách trong cuộc sống NTD Việt Nam Hàng giả giờ không chỉ là những mặt hàng thô sơ, bắt chước vụng về mà đã có cả những mặt hàng cao cấp, thiết yếu trong cuộc sống, ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe của người dân

Trang 39

Bất cứ hàng hóa nào cũng có thể bị làm nhái, làm giả, song chủ yếu tập trung vào các thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài như Adidas, Goliath, Amarni, Levis, Luis Vuitton Theo thống kê của Ban chỉ đạo 127, năm 2009, các lực lượng chức năng của thành phố Hà Nội đã phát hiện và bắt giữ 350.000 vụ việc, trong đó có

nhiều vụ là hàng nhái, hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (baomoi.com)

Theo thống kê của Ban chỉ đạo 127/TW, tỷ lệ hàng giả tại thị trường hiện chiếm 8% đối với các loại dược phẩm và 25% đối với các loại rượu Hàng giả, hàng nhái phổ biến ở nhiều mặt hàng, từ những mặt hàng thông thường, những mặt hàng liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người đến những mặt hàng có tính kỹ thuật, mặt hàng cao cấp có giá trị lớn như phụ tùng xe máy, đầu VCD, DVD…Thống kê sơ bộ về hàng giả bị bắt giữ trong gần 5 năm qua (đến năm 2007) được công bố đã khiến nhiều người giật mình: 8 tấn bột ngọt; 85.000 tấn xi măng;

25 tấn mỹ phẩm; 35 triệu cơ số tân dược; 25.450 chai rượu các loại; 50.000 chai bia, nước giải khát; 50.000 tấn sắt, thép xây dựng; 15.000 tấn phân bón, thuốc bảo vệ

thực vật (VnEconomy.vn ngày 12/09/2007) Cụ thể:

Thực phẩm, đồ uống

Tình trạng sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồ uống giả, kém chất lượng vẫn ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp cả về quy mô, lĩnh vực lẫn phương thức sản xuất, tổ chức tiêu thụ và nhập khẩu từ bên ngoài Đặc biệt, thời gian gần đây, lợi dụng biến động về cung cầu, giá cả hàng hóa trong nước và thế giới, thị trường trong nước đã xuất hiện nhiều loại nước tinh khiết, nước khoáng thiên nhiên, nước khoáng có ga, bia, rượu giả, kém chất lượng, nhái mẫu mã, kiểu dáng và một số mặt hàng công nghiệp thực phẩm không an toàn vệ sinh Các loại hàng giả, hàng kém chất lượng nói trên đã và đang gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất, an ninh lương thực, sức khỏe nhân dân và môi sinh, môi trường

Ví dụ điển hình là đối với sản phẩm rượu, hiện nay, vẫn có nhiều thương hiệu

bị làm giả (như Chivas, Johnnie Walker, Henessy, một số loại rượu bổ, rượu rắn Trung Hoa…) được đưa vào nước ta bất hợp pháp qua biên giới, vùng biển, cửa khẩu hay qua gian lận thương mại Có thể nói, biên giới và các cửa khẩu là nguồn

Trang 40

nhập lậu lớn, ước tính chiếm khoảng 60 – 70% rượu nhập lậu trên toàn quốc Đối với gian lận thương mại, rượu được làm giả ở trong lẫn ngoài nước (đặc biệt là các thương hiệu có tiếng) bỏ lẫn vào các loại hàng hóa khác mà không khai báo hải quan hoặc được đưa về theo đường hàng không (thông qua tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của chiễu đãi viên hàng không và tổ bay) Ngoài ra, rượu dân tự nấu, rượu làng nghề hiện nay vẫn chiếm khoảng 70 – 80% lượng rượu lưu thông trên thị trường, nhưng chất lượng của nhiều cơ sở không đảm bảo, gây nhiều hậu quả tiêu cực cho người tiêu dùng và môi trường, nhà nước thất thu thuế

Đối với mặt hàng nước uống (có ga, không ga), nước tinh khiết, nước khoáng thiên nhiên, bia lon, bia, chai…, các sản phẩm này luôn là thực phẩm thiết yếu Nếu NTD mất cảnh giác thì cũng rất dễ mua phải hàng giả, hàng nhái hay kém chất lượng Các sản phẩm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng thường có nhãn hiệu, bao bì na ná giống các thương hiệu nổi tiếng Đặc biệt, đối với bia hơi hiện nay, tình hình bia cỏ vẫn tồn tại ở nhiều nơi Việc pha trộn, làm nhái, làm giả tăng mạnh Thậm chí, các mô hình kinh doanh hiệu quả cũng bị nhái y

hệt…(Biahoihanoi.com.vn)

Quần áo, dày dép

Đối với những mặt hàng như quần áo, giầy dép hay túi xách, mấu chốt của tính cạnh tranh nằm ở kiểu dáng thiết kế, việc bị làm nhái mẫu mã là vấn đề ảnh hưởng đến sự sống còn của những hãng sản xuất các mặt hàng này

Trong khi chúng ta đang nỗ lực khuyến khích người Việt dùng hàng Việt thì trên thị trường tình trạng hàng Việt Nam đang bị làm nhái một cách nghiêm trọng Một trong những trường hợp nhái thương hiệu, vàng thau lẫn lộn được phản ánh nhiều trong thời gian qua đó chính là tình trạng loạn cửa hàng “Made in Vietnam” Trên thực tế thì thương hiệu “Made in Vietnam “ là một chuỗi 14 cửa hàng của thương hiệu Vietbrothers cho ra đời từ năm 2003 và đã đăng ký bản quyền từ năm

2008 Chuỗi cửa hàng này chuyên bán hàng thời trang Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ Chất lượng tốt, mẫu mã đẹp nên những cửa hàng này đã tạo dựng được uy tín đối với khách hàng Tuy nhiên, sau khi thấy thương hiệu “Made in

Ngày đăng: 09/05/2014, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bá Linh (2006), Tìm hiểu pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Bá Linh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Đinh Thị Mỹ Loan (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng
Tác giả: Đinh Thị Mỹ Loan
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Đinh Thị Mỹ Loan (2007), Định hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong thời gian tới
Tác giả: Đinh Thị Mỹ Loan
Năm: 2007
4. Nguyễn Gia Phan (2007), Đánh giá vai trò của hội bảo vệ người tiêu dùng trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá vai trò của hội bảo vệ người tiêu dùng trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Gia Phan
Năm: 2007
5. Đoàn Văn Trường (2003), Nghiên cứu người tiêu dùng – những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu người tiêu dùng – những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Văn Trường
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2003
6. Nhóm tác giả (2004), Hệ thống các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Nhóm tác giả
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Cục quản lý cạnh tranh (2007), Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2007
8. Cục an toàn vệ sinh thực phẩm: Báo cáo kết quả tháng hành động vì ATVSTP năm 2007 ngày 12/6/2007 Khác
9. Tổng cục tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng (2009), Bản tổng kết tóm tắt 45 năm hoạt động tiêu chuẩn đo lường và chất lượng Việt Nam 2009 Khác
10. Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD (1999) Khác
11. Nghị định 55/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ NTD 1999 Khác
12. Nghị định 89/2006/NĐ-CP về quy chế ghi nhãn hàng hóa Khác
13. Thông tư 09/2007/TT-BKHCN hướng dẫn chi tiết thi hành quy chế ghi nhãn hàng hóa Khác
15. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006) Khác
16. Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm (2003) Khác
17. Tổng quan về kinh tế - xã hội Việt Nam, số 3 năm 2009 Khác
18. Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD Khác
36. Tapchikinhtedubao.mpi.gov.vn 37. Nguoitieudung.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Thang bậc nhu cầu của con người  3 - Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam
Hình 1 Thang bậc nhu cầu của con người 3 (Trang 6)
Hình 1: Thang bậc  nhu cầu của con người - Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam
Hình 1 Thang bậc nhu cầu của con người (Trang 10)
Bảng 1: Mức độ tăng giá sản xuất một số sản phẩm theo mức tăng giá điện - Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam
Bảng 1 Mức độ tăng giá sản xuất một số sản phẩm theo mức tăng giá điện (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w