Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước khi gia nhập các Hiệp hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong việc bảo vệ quyền của người lao động và những gợi mở cho Việt Nam ....
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN THỊ MIỀN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 7
1.1 Khái quát chung về quyền của người lao động 7
1.1.1 Khái niệm quyền của người lao động 7
1.1.2 Đặc điểm quyền của người lao động 9
1.1.3 Các quyền cơ bản của người lao động 11
1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động 18
1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền của người lao động 18
1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền của người lao động 19
1.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền của người lao động 21
1.2.4 Ý nghĩa bảo vệ quyền của người lao động 23
1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 25
1.4 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước khi gia nhập các Hiệp hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong việc bảo vệ quyền của người lao động và những gợi mở cho Việt Nam 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 37
2.1 Các cam kết về lao động của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới 37
2.2 Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ quyền của người lao động và thực tiễn thi hành 41
2.2.1 Bảo vệ quyền tự do liên kết, thương lượng tập thể 41
Trang 52.2.2 Bảo vệ quyền việc làm của người lao động 49
2.2.3 Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động 52
2.2.4 Bảo vệ quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống của người lao động 57
2.2.5 Bảo vệ quyền bình đẳng của người lao động di trú 60
2.2.6 Các biện pháp bảo vệ quyền của người lao động 64
2.3 Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 69
2.3.1 Thành công 69
2.3.2 Hạn chế 73
2.3.3 Nguyên nhân của sự hạn chế 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 78
3.1 Một số yêu cầu nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ mới 78
3.1.1 Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và đẩy đủ trong các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động 78
3.1.2 Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ lao động 79
3.1.3 Các quy định pháp luật bảo vệ quyền của người lao động phải phù hợp với thông lệ quốc tế 80
3.2 Một số kiến nghị 81
3.2.1 Về các quy định của pháp luật lao động 81
3.2.2 Về tổ chức thực hiện 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN CHUNG 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ICESCR: Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay Việt Nam đang trên con đường phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới, rất nhiều vấn đề được đặt ra với đất nước, trong đó có vấn đề quyền của người lao động Bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng phải được coi trọng trên cơ sở người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong thương mại nên họ trước hết phải được hưởng lợi, chia sẻ thành quả của quá trình này, cụ thể là được đảm bảo các quyền, lợi ích và điều kiện lao động
cơ bản Pháp luật Việt Nam đã có những ghi nhận về quyền của người lao động trong các văn bản pháp luật, đó là Hiến pháp 2013 và Bộ luật lao động 2012 Tuy nhiên, trước bối cảnh Việt Nam đã, đang và sẽ gia nhập các Hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Các cam kết trong khuôn khổ Cộng động kinh tế ASEAN (AEC), vấn đề bảo vệ quyền của người lao động lại được đặt
ra một cách cấp thiết
Hiệp định TPP là một thỏa thuận thương mại tự do được kí kết ngày 02 tháng 2 năm 2016 giữa 12 quốc gia khu vực Thái Bình Dương, bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam, Australia, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Malaysia, Peru, Mexico, Canada Hiệp định này tác động đến mọi khía cạnh của thương mại khu vực như vấn đề thuế quan, đầu tư, sở hữu trí tuệ… Trong đó vấn đề lao động
là một vấn đề quan trọng được đề cập tại Chương 19 của Hiệp định Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) ký kết ngày 02 tháng 12 năm 2015 cũng đưa lao động vào là một nội dung quan trọng Đây là hai FTA thế hệ mới điển hình mà Việt Nam vừa ký kết Ngoài ra, trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN có các cam kết, thỏa thuận, hiệp định liên quan đến lao động như Hiệp định khung về Thương mại Dịch vụ ASEAN (AFAS), Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân (MNP), Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong một số lĩnh vực ngành nghề, nhằm công nhận lẫn nhau bằng cấp, trình độ của lao động có kỹ năng
Trang 82
trong khu vực (MRA), hay kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, Tuyên bố lãnh đạo ASEAN 2007 đều đề cập đến vấn đề tự do di chuyển lao động, quyền của người lao động di trú Đây là ba Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiêu biểu có nội dung lao động mà Việt Nam tham gia Các FTA thế hệ này không chỉ tác động đến nhiều khía cạnh của nền kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến lĩnh vực lao động nói chung và quyền của người lao động nói riêng với cả những thuận lợi và khó khăn Có thể thấy người lao động Việt Nam sẽ được bảo đảm quyền lợi nhiều hơn khi Việt Nam chính thức gia nhập các FTA thế hệ mới, nhưng để đảm bảo được quyền lợi của người lao động theo như các cam kết thì còn nhiều khó khăn trong cả quy định pháp luật và thực thi
Trước việc các FTA thế hệ mới được thông qua chính thức và có hiệu lực chỉ còn là thời gian, đồng thời trước xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập thương mại quốc tế, vấn đề hiện nay đặt ra là Việt Nam sẽ có cơ chế pháp lý thực thi những cam kết đó như thế nào Có thể thấy các FTA thế hệ mới vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với việc hoạch định và thực hiện chính sách về lao động của nước ta hiện nay Nước ta bắt buộc phải có sự thay đổi, đổi mới pháp luật lao động để phù hợp và thực thi được cam kết, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời cũng tạo ra một môi trường bình đẳng cho sự phát triển nguồn lao động
và thương mại giữa các nước ký kết FTA Chính vì vậy, việc nghiên cứu cơ chế pháp lý của pháp luật lao động để thực thi các cam kết bảo vệ quyền của người lao
động đang là một nội dung mới và có tính cấp thiết Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần hoàn
thiện một số khía cạnh lý luận và thực tiễn của pháp luật lao động về bảo vệ quyền của người lao động trong bối cảnh hội nhập gia nhập các FTA thế hệ mới hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ quyền của người lao động là nội dung lý luận và thực tiễn được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Các nghiên cứu thường tập trung vào một khía cạnh cụ thể như bảo vệ quyền của
Trang 93
lao động nữ, bảo vệ quyền của lao động di trú hoặc nghiên cứu về một khía cạnh quyền cụ thể như quyền nhân thân, quyền làm việc, hay quyền tự do hiệp hội như
sách chuyên khảo “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt
Nam”của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu Một số công trình nghiên cứu như: Luận văn
thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động trong pháp luật lao
động ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoài Thương năm 2015; Luận văn thạc sĩ luật
học “Bảo vệ quyền của lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” của Nguyễn Thị Giang năm 2015; Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền của người
lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” của Sa Thị Hải Vân năm 2016, Khóa luận tốt
nghiệp „Các quy định về lao động trong một số hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới mà Việt Nam là thành viên‟ của Trần Thị Giang năm 2017…
Các công trình trình nghiên cứu đều đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của bảo vệ quyền của người lao động theo pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, gắn với tình hình cụ thể là Việt Nam đang hội nhập với thương mại quốc tế, việc gia nhập các FTA thế hệ mới là xu hướng bắt buộc để không nằm ngoài vòng phát triển Do vậy các FTA thế hệ mới đang là vấn đề nóng và nhận được nhiều quan tâm Bên cạnh các khía cạnh về thương mại, đầu tư như truyền thống, vấn đề được chú ý hơn
cả là các cam kết về lao động Nội dung này đã được nghiên cứu khá nhiều, tuy nhiên chủ yếu là các bài viết ngắn, nghiên cứu một số khía cạnh như trong sách
chuyên khảo “Ảnh hưởng của thương mại tự do đến nhân quyền” do PGS.TS Lê
Thị Hoài Thu – PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên năm 2016; bài viết trên tạp
chí như: “Hiệp định xuyên Thái Bình Dương, Cơ hội và thách thức đối với thị
trường lao động” của Nguyễn Thị Hoài Thu (2014) trên tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội…; ngoài ra là các bài viết trên các báo mạng
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã tập trung cụ thể vào vấn đề bảo vệ một số quyền của người lao động Tuy nhiên chưa có nghiên cứu tổng thể nào về cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ
Trang 104
mới Mặc dù chưa nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu về bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ mới nhưng đây đều là các tài liệu nghiên cứu quý giá để tác giả hoàn thành luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Các cam kết về lao động trong các FTA cũng được luận văn đề cập đến trong việc đánh giá sự tương thích và chưa tương thích của
hệ thống pháp luật Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Quyền của người lao động và bảo vệ quyền của người lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Luật Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật phá sản, Luật đầu tư… Do vậy, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam, đó là quyền tự
do hiệp hội, thương lượng tập thể; quyền việc làm; quyền nhân thân; quyền được bảo đảm thu nhập và đời sống; quyền bình đẳng của lao động di trú và trong cam kết các FTA thế hệ mới
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để tiếp cận và giải quyết các vấn đề được đặt ra như:
Phương pháp biện chứng duy vật: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người lao động cho phù hợp với các cam kết trong FTA thế hệ mới hay các tiêu chuẩn được ILO quy định
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích cụ thể các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người lao động trong pháp luật Việt Nam hiện nay và thực tế thực thi pháp luật đó Kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng và so sánh để tổng hợp lại những vấn đề pháp lý đặt ra và phương hướng hoàn thiện các cơ chế pháp lý khi Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ mới
Trang 11Các phương pháp trên được áp dụng linh hợp, kết hợp với nhau Đồng thời trong quá trình nghiên cứu sẽ kết hợp cả lý thuyết và thực tế từ đó đánh giá, kết luận được vấn đề đang nghiên cứu
5 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người lao động và thực trạng bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Từ đó luận văn đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người lao động trong bối cảnh Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
6 Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận văn làm rõ hơn những vấn đề lý luận về quyền của người lao động và bảo vệ quyền của người lao động; những quy định của pháp luật Việt Nam
về bảo vệ quyền của người lao động, cụ thể là bảo vệ các nhóm quyền được đề cập đến trong cam kết tại các FTA thế hệ mới
Thứ hai, phân tích, đánh giá và đưa ra một cái nhìn toàn diện về thực trạng pháp luật bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam hiện nay Từ đó chỉ ra thực trạng các cơ chế pháp lý đó trong bối cảnh Việt Nam gia nhập FTA thế hệ mới, những bất cập và thiếu sót cần thay đổi, bổ sung để bảo vệ quyền của người lao động như trong cam kết
Thứ ba, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động cho phù hợp với cam kết trong các FTA thế hệ mới và những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đó trên thực tế
Trang 126
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền của người lao động và bảo
vệ quyền của người lao động
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động khi
Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ
quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Trang 137
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1 Khái quát chung về quyền của người lao động
1.1.1 Khái niệm quyền của người lao động
Người lao động, trước hết họ là con người, do đó có những quyền năng cơ bản của một con người Nhưng với vị trí to lớn tạo ra của cải vật chất của xã hội, pháp luật quốc tế và quốc gia từ lâu đã luôn quan tâm đến những quyền lợi riêng cho người lao động Ở khía cạnh pháp lý, quyền là khả năng của chủ thể được hưởng gì, được làm gì, yêu cầu gì và được ghi nhận trong pháp luật Nói một cách khác, quyền năng của chủ thể được nhà nước quy định trong các quy phạm pháp luật và được đảm bảo bằng sức mạnh của nhà nước
Trên phương diện lịch sử, các quyền về lao động bắt đầu xuất hiện và chịu ảnh hưởng rõ ràng của quá trình công nghiệp hóa ở các nước phương Tây Việc pháp điển hóa quyền của người lao động cũng bắt đầu từ đây Vào cuối thế kỷ XIX, một số nước Châu Âu (Anh, Pháp, Đức…) có những cải cách phúc lợi cho con người, bao gồm việc bảo vệ một số quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó có quyền làm việc Sang thế kỉ XX, Hiến pháp một số nước châu Mỹ như Mê-xi-cô, Hoa Kỳ có quy định bảo vệ quyền con người trong đó có quyền của người lao động [30, tr 14]
Đối với các văn kiện quốc tế, quyền của người lao động được công nhận toàn cầu và đạt được những bước tiến trong nội dung pháp lý, cơ chế và phương pháp thực hiện qua Tuyên ngôn quyền con người năm 1948 (UDHR): “Quyền của người lao động phải được đảm bảo như quyền con người” Sau tuyên ngôn này là hai Công ước cụ thể hóa gồm Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước về kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966 Hai công ước này ra đời đánh dấu các quyền của con người nói chung và người lao động nói riêng thực
sự được công nhận mang tính toàn diện trên phạm vi quốc tế
Trang 148
Tuy nhiên, ghi nhận sớm hơn về quyền của người lao động là trong các văn bản của tổ chức Lao động quốc tế ILO Thành lập năm 1919, Điều lệ của tổ chức này nêu rõ: “Xét thấy một nền hòa bình bao quát và bền vững chỉ có thể xây dựng trên cơ sở công bằng xã hội… bất luận quốc gia nào không chấp nhận những điều kiện nhân đạo cho lao động cũng sẽ là một trở ngại đối với những quốc gia khác hằng mong muốn cải thiện điều kiện này trong đất nước mình”
Tuyên ngôn Philadelphia năm 1944 (được xem như một Phụ lục của Điều lệ ILO) khẳng định: “Tất cả mọi người đều có quyền theo đuổi sự giàu có về vật chất
và sự phát triển về tinh thần trong điều kiện tự do và nhân phẩm, sự an ninh về mặt kinh tế và cơ hội bình đẳng” Theo đó, các chính sách quốc gia và quốc tế về kinh tế,
xã hội, đặc biệt là trong lao động cần tuân thủ và được đánh giá theo tiêu chí này sao cho việc thực hiện phải để thúc đẩy mục tiêu này
Năm 1998, ILO đã ra Tuyên bố về “Các Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc”, trong đó xác định 8 công ước cơ bản của ILO cần được áp dụng cho mọi quốc gia, không phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như trình độ phát triển Các công ước này bao gồm: Công ước số 87 về quyền tự do lập hội và bảo vệ quyền tự do lập hội năm 1948; Công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949; Công ước số 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc năm 1930; Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức năm 1995; Công ước
số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc
có giá trị ngang nhau năm 1951; Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958; Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc năm 1973; Công ước số 182 về nghiêm cấm và xóa bỏ các hình thức lao động trẻ
em tồi tệ nhất năm 1999
Các công ước trên đã hợp thành bộ tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản nhất
về các quyền cơ bản của người lao động, được khuyến nghị và áp dụng trên toàn cầu ILO với 198 công ước và hàng trăm khuyến nghị đã hợp thành “Bộ luật lao động quốc tế” là công cụ chủ yếu để khuyến trợ công bằng trong xã hội cũng như công bằng trong quyền của người lao động
Trang 159
Như vậy, quyền của người lao động là những quyền nhất định khi tham gia vào quan hệ lao động Có thể hiểu quyền của người lao động là năng lực pháp lý của người lao động được làm những gì pháp luật cho phép trong quan hệ lao động, với mục đích thỏa mãn những yêu cầu, đòi hỏi của mình và được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Quyền của người lao động chính là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội
Quyền của người lao động được ghi nhận trong các văn bản quốc tế và trong pháp luật các quốc gia đã tạo ra một hệ thống pháp lý bảo vệ quyền của người lao động cũng như nghĩa vụ pháp lý mà các quốc gia phải thực hiện để đảm bảo mọi
người lao động trong nước đều được hưởng những quyền cơ bản trong lao động
1.1.2 Đặc điểm quyền của người lao động
Thứ nhất, quyền của người lao động là một bộ phận của hệ thống quyền con
người, thuộc về phạm trù các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 đã đề cập đến các quyền và tự
do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ, màu da, dân tộc… tất
cả con người đều không có sự phân biệt đối xử nào Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong đó có quyền về lao động bao gồm: quyền được đảm bảo an sinh xã hội; quyền làm việc và quyền được trả lương ngang nhau cho những công việc như nhau; được trả lương xứng đáng và hợp lý để đảm bảo cho một cuộc sống có giá trị như một con người; được thành lập hoặc gia nhập công đoàn; quyền nghỉ ngơi, giải trí Hai công ước ICESCR và ICCPR có quy định các quyền về lao động như quyền được làm việc, quyền được hưởng các điều kiện lao động thích đáng và thuận lợi; quyền được thành lập và gia nhập công đoàn; quyền được an sinh xã hội bao gồm
cả bảo hiểm xã hội Các văn bản này đã ghi nhận những quyền cơ bản, những nguyên tắc pháp lý chung để đảm bảo quyền con người nói chung và quyền về lao động nói riêng
Có thể thấy, quyền của người lao động là một lĩnh vực trong hệ thống quyền
Trang 1610
con người nhưng không hề tách rời mà gắn bó chặt chẽ với các quyền con người khác mà trước hết là các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội Thậm chí, xét về mặt nào đó, quyền con người trong lao động còn là tiền đề để thực hiện các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa Đến lượt mình, các quyền con người về kinh tế, xã hội và văn hóa một khi được bảo đảm lại góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiện quyền của con người về lao động [30, tr.17]
Thứ hai, quyền của người lao động có tính chất cá nhân và gắn với quan
hệ lao động
Quyền của người lao động cũng như các quyền con người khác là quyền có tính chất cá nhân Đó là những quyền gắn với một người lao động cụ thể và mọi người lao động đều có quyền hưởng những quyền cơ bản về lao động Tuy đôi khi
nó mang ý nghĩ tập thể, vì lợi ích chung của mọi người lao động trong một đơn vị lao động nhưng về thực chất, quyền lao động không thể tách khỏi một cá nhân nào
và các quyền này đồng thời gắn với một quan hệ lao động
Người lao động là một bên, cùng với người sử dụng lao động tạo thành hai chủ thể trong quan hệ lao động Về mặt pháp lý, hai chủ thể này có địa vị pháp lý ngang nhau Nhưng trên thực tế, người lao động luôn ở vị thế thấp hơn và phụ thuộc nhiều vào người lao động Người lao động trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nên phải đối mặt với những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra trong quá trình lao động Mặc dù được thương lượng nhưng trên thực tế, mức lương và các chế độ lao động phần lớn vẫn do người sử dụng lao động quyết định Đặc biệt đối với các lao động ở trình độ thấp, lao động chân tay thì sức lao động của họ càng dễ
bị người sử dụng lao động lợi dụng Người sử dụng ở vị thế cao hơn khi họ nắm trong tay quyền quản lý, điều hành và chi phối người lao động Nếu không có những quy định để bảo vệ các quyền của người lao động thì người sử dụng lao động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ cắt giảm tối đa các chế độ, điều kiện làm việc với người lao động Chính vì thế, quyền của người lao động phải được ưu tiên bảo
vệ cả về mặt pháp lý và thực tiễn
Thứ ba, quyền của người lao động là công cụ điều tiết mối quan hệ giữa các
quốc gia trong lĩnh vực lao động
Trang 1711
Ở khía cạnh pháp lý quốc tế, quyền của người lao động là một công cụ hữu hiệu để điều tiết mối quan hệ giữa các quốc gia trong lĩnh vực lao động Giữa các quốc gia, do khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội mà điều kiện lao động, năng suất và chất lượng lao động sẽ khác nhau Ngay bản thân từng người lao động cũng khác nhau về khả năng lao động, trình độ và năng suất lao động Tuy nhiên, dù có
sự khác nhau giữa từng người lao động và giữa các quốc gia thì việc được đảm bảo những quyền cơ bản như thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn; được đảm bảo điều kiện vệ sinh, an toàn lao động; được trả lương công bằng; không bị cưỡng bức… phải là quyền của mỗi một người lao động Chính vì vậy, sự điều tiết quốc tế
về lao động sẽ rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia và tạo nên những đảm bảo
cơ bản về quyền cho mọi người lao động Sự ra đời của các công ước hay các tổ chức quốc tế về lao động cũng như sự tham gia của các quốc gia đã tạo ra những tiêu chuẩn quốc tế cơ bản và những thay đổi ở các quốc gia trong vấn đề bảo vệ quyền của người lao động
1.1.3 Các quyền cơ bản của người lao động
Một là, quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể
Quyền tự do liên kết hay quyền công đoàn là một quyền cơ bản và rất quan trọng với người lao động, là một trong những nội dung của quyền con người Công đoàn, về lịch sử là sự phản ánh mâu thuẫn và cuộc đấu tranh về lợi ích và quyền giữa người lao động và người sử dụng lao động ngay từ buổi ban đầu của chế độ tư bản chủ nghĩa Từ khi ra đời đến nay, các tổ chức công đoàn đã có nhiều đóng góp
to lớn cho tiến trình cách mạng thế giới, tiến bộ xã hội, đặc biệt là trong bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Công đoàn ngày nay đã trở thành một tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị của nhiều quốc gia với vị thế và vai trò ngày càng được khẳng định Theo đó, quyền công đoàn, hay quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn và uỷ thác cho tổ chức công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là thành viên của công đoàn được nhìn nhận như một quyền cơ bản của người lao động
Quyền công đoàn là quyền được thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, được thương lượng tập thể và đình công Quyền công đoàn có tính chất tập thể của
Trang 18Quyền tự do liên kết mà đặc thù là quyền công đoàn được nêu khái quát tại
Điều 23, Khoản 4, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người 1948 (UDHR): “Mọi
người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình” Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) ghi nhận tại
Điều 22 Khoản 1: “Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác, kể
cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Tại Điều 8
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ICESCR 1966 đã khẳng
định quyền công đoàn và cụ thể hóa như sau: “1 Các quốc gia thành viên Công
ước cam kết bảo đảm: a) Quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn do mình lựa chọn, theo quy chế của tổ chức đó, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình.”
Tổ chức lao động quốc tế cũng đã ghi nhận và bảo vệ quyền tự do liên kết của người lao động Trước hết, trong Lời nói đầu Hiến chương ILO đã tuyên bố
“thừa nhận nguyên tắc tự do liên kết (hiệp hội)” Tuyên ngôn Philadelphia năm
1944 khẳng định: “tự do ngôn luận và tự do liên kết là điều kiện thiết yếu của tiến
bộ lâu dài” và xem đây là một trong những nguyên tắc cơ bản làm nền cho tổ chức
này Một lần nữa, nguyên tắc này được nhắc đến trong Tuyên bố về các nguyên tắc
Trang 1913
và quyền cơ bản tại nơi làm việc năm 1998 và được quy định trong Công ước số 87
về quyền tự do liên kết và bảo vệ quyền được tổ chức năm 1948 và Công ước số 98
về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949 Cụ thể thì “Người lao động
và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, có quyền được thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình mà không phải xin phép trước, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó” và “Những người lao động phải được hưởng sự bảo vệ thích đáng chống lại tất cả các hành vi phân biệt đối xử nhằm xâm hại đến quyền tự do liên kết trong lao động” Hai công ước này đã ghi nhận quyền tự do liên kết hay người lao động
có thể thành lập nhiều tổ chức đại diện khác nhau trong một cơ sở lao động, và có quyền tự do lựa chọn tham gia vào một trong các tổ chức mà họ thấy phù hợp để bảo vệ lợi ích của mình; đồng thời xác định một cách rõ ràng nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm nguyên tắc tự do liên kết, nhằm bảo đảm quyền tham gia, thành lập tổ chức đại diện và thương lượng tập thể của người lao động
Hai là, quyền việc làm
Quyền việc làm là một quyền cơ bản quan trọng của người lao động cũng là mối quan tâm của toàn nhân loại Quyền việc làm là yếu tố cơ bản bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người và là điều kiện để thực hiện các quyền có tính chất “sinh kế” như quyền có lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở…[30, tr 23] Quyền việc làm có ý nghĩa to lớn, là mối quan tâm của toàn nhân loại bởi quyền việc làm không chỉ đảm bảo cho người lao động được làm việc, đảm bảo đời sống trước hết của bản thân và sau là gia đình mà còn bảo đảm người lao động về nhân phẩm, tự trọng và
có một vị trí nhất định trong xã hội
Với vị trí quan trọng, quyền việc làm được ghi nhận tại Điều 23 Tuyên ngôn
UDHR như sau: “1 Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề
nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp” Khoản 1 Điều 6 Công ước ICESCR nêu rõ, các quốc
gia thành viên “thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi
người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các viện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này”
Trang 2014
ILO ngay từ buổi đầu thành lập đã tuyên bố trong Lời nói đầu trong bản Điều
lệ của mình: “Chống nạn thất nghiệp, bảo đảm tiền công đủ sống” Bên cạnh đó là những công ước như công ước số 88 (1948) về “Khuyến nghị về tổ chức dịch vụ việc làm”, số 122 (1964) về “Chính sách việc làm”; số 142 (1975) về “Hướng nghiệp và đào tạo nghề trong việc phát triển nguồn nhân lực”; số 168 (1988) về
“Xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp”, số 189 (2011) về “Lao động giúp việc gia đình”…
Đặc biệt, trước tình trạng người lao động vẫn bị đối xử một cách phân biệt trong việc làm và nghề nghiệp, ILO đã thông qua hai công ước, đó là Công ước số
100 (năm 1951) về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau và Công ước số 111 (năm 1958) về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp
Riêng đối với bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, đến giờ đây vẫn
là một vấn đề phức tạp và được đấu tranh mạnh mẽ trên toàn cầu Công ước số 100
đã yêu cầu các nước thành viên:
Bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp hiện hành trong việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích và trong chừng mực phù hợp với các phương pháp ấy, bảo đảm việc áp dụng cho mọi người lao động nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (Khoản 1 Điều 2)
và phải sử dụng các biện pháp nhằm khuyến khích việc đánh giá một cách khách quan các việc làm, căn cứ trên những công việc phải thực hiện trong các việc làm ấy
Đồng thời, theo công ước thì những mức trả công chênh lệch giữa những người lao động không xét theo giới tính, mà là tương ứng với những khác biệt trong công việc phải làm đã được xác định bằng đánh giá khách quan thì sẽ không được coi là trái với nguyên tắc bình đẳng
Ba là, quyền nhân thân
Quyền nhân thân của người lao động là một quyền quan trọng cần được tôn
Trang 2115
trọng và bảo vệ Trong lĩnh vực lao động, quyền nhân thân của người lao động là quyền lao động và các quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín… của người lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động với người sử dụng lao động [32, tr 6] Quyền tự do không bị lao động cưỡng bức ép buộc, quyền của lao động trẻ em và quyền được bảo đảm thời giờ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý là những nhóm quyền nhân thân cơ bản được pháp luật quốc tế luôn hướng tới trong đảm bảo các quyền cơ bản của người lao động
Quyền tự do không bị lao động cưỡng bực, ép buộc được ghi nhận tại Điều 4
của HDHR: “Không ai bị giữ làm nô lệ hoặc bị nô dịch; chế độ nô lệ và buôn bán
nô lệ dưới tất cả các hình thức đều bị cấm” ICCPR tái ghi nhận và khẳng định
thêm nội dung này tại Khoản 1 Điều 8: “Không được đòi hỏi bất kỳ người nào phải
lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức” ILO trong phạm vi và chức năng của mình đã
thông qua hai công ước là công ước số 29 (1930) về “Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” và công ước số 105 (1957) về “Xóa bỏ lao động cưỡng bức” Đây là hai công ước cơ bản về xóa bỏ lao động cưỡng bức, ép buộc Điều 2 của công ước 29 quy
định: “Mọi quốc gia thành viên của Tổ chức lao động quốc tế phê chuẩn công ước
này cam kết hủy bỏ việc sử dụng lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc dưới mọi hình thức, trong thời gian ngắn nhất có thể đạt được” Công ước số 105 ra đời sau đã bổ
sung cho công ước 29 và yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện ở mức độ cao hơn so với việc cho phép các quốc gia thành viên có một lộ trình phù hợp để tiến
hành thực hiện một cách đầy đủ nhất công ước 29, đó là: “Các quốc gia thành viên
phê chuẩn công ước 105 phải tìm mọi biện pháp để loại bỏ ngay việc sử dụng lao động cưỡng bức… hoặc bắt buộc dưới mọi hình thức và cam kết không sử dụng bất
kỳ hình thức nào của lao động cưỡng bức” Xóa bỏ lao động cưỡng bức, ép buộc
luôn là một nguyên tắc cơ bản của ILO và vấn đề này cũng nhắc đến trong Tuyên
bố về Các nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc năm 1998
ILO cũng có hai công ước nhằm xóa bỏ lao động trẻ em đó là Công ước số
138 năm 1973 về “tuổi lao động tối thiểu” và Công ước số 182 năm 1999 về
“nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ
Trang 2216
nhất” Công ước số 138 ngay tại Điều 1 đã nhấn mạnh các nước thành viên rành buộc bởi hiệu lực của công ước phải “cam kết theo đuổi một chính sách quốc gia
nhằm bảo đảm thực sự việc bãi bỏ lao động trẻ em và nâng dần tuổi tối thiểu được
đi làm hoặc được lao động tới độ tuổi mà các thiếu niên có thể phát triển đầy đủ nhất về thể lực và trí lực”
Ngoài ra, trong các quy định của mình, UDHR, ICESCR và ICCPR đều ghi nhận quyền được bảo đảm thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; được đảm bảo về điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh ILO cũng có nhiều công ước để bảo đảm các quyền nhân thân này của người lao động, tiêu biểu như công ước số 155 (1981) về
“An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc”; công ước số 1 (1919)
về “Thời gian làm việc trong công nghiệp”; khuyến nghị số 166 về “Giảm thời gian làm việc”; công ước số 14 (1921) về “Áp dụng nghỉ hàng tuần cho các cơ sở công nghiệp”; công ước số 106 (1957) về “Nghỉ hàng tuần trong thương mại và văn phòng”; công ước số 132 (1976) về “Những ngày nghỉ có lương”
Bốn là, quyền được bảo đảm về thu nhập và đời sống
Người lao động trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì ngược lại, họ cũng phải được bảo đảm tối thiểu về thu nhập và đời sống để có thể tiếp tục duy trì công việc Đảm bảo về thu nhập và đời sống được thể hiện cụ thể qua tiền lương và bảo hiểm Tiền lương, cụ thể là lương tối thiểu luôn nhận được sự quan tâm của xã hội bởi sự tác động to lớn của nó không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội [30, tr 30] Mục đích cơ bản của người lao động khi tham gia quan hệ lao động là nhận lại được những gì mà sức lao động của mình bỏ ra mà
cụ thể là tiền lương Bên cạnh đó, để đảm bảo duy trì lao động, họ cũng cần đảm bảo về các mặt khác của đời sống thông qua chế độ bảo hiểm
Điều 23 Công ước UDHR quy định:
2 Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; 3 Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình
Trang 2317
xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội…
Điều 7 công ước ICESCR cũng khẳng định “Thù lao cho tất cả mọi người
làm công tối thiểu phải đảm bảo thỏa đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình” ILO ngay trong Hiến chương cũng tuyên bố bảo
đảm mức lương tối thiểu cho người lao động Công ước số 131 (1970) về “Ấn định
lương tối thiểu, đặc biệt là với các nước đang phát triển” đã khẳng định “bảo vệ cho
người làm công chống lại sự trả công thấp quá đáng, và tuy là áp dụng chung, nhưng phải đặc biệt lưu ý đến nhu cầu của các nước đang phát triển” Theo công
ước, các quốc gia thành viên phải thiết lập, duy trì một hệ thống lương tối thiểu phù hợp và thích đáng, có sự điều chỉnh để phù hợp với tình hình và điều kiện của từng nước, từng thời điểm
Được bảo đảm về đời sống thông qua bảo hiểm xã hội hay rộng ra là được hưởng an sinh xã hội cũng là quyền quan trọng của người lao động mà các văn kiện quốc tế là UDHR và ICESCR đều khẳng định và thừa nhận Tuyên ngôn Philadelphia
đã nêu nghĩa vụ trang trọng của ILO là phải giúp các nước trên thế giới thực hiện các chương trình, trong đó có mục đích nhằm đạt tới: “Mở rộng việc áp dụng biện pháp an sinh xã hội nhằm bảo đảm mức thu nhập cơ bản cho mọi người cần có sự bảo vệ này, và sự chăm sóc y tế đầy đủ” [30, tr 41] ILO đã có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến nội dung này như công ước số 102 (1952) về “quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội”, Công ước số 121 (1964) về “Trợ cấp tai nạn lao động”, công ước số 128 (1967) về “Trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất”
Năm là, quyền của lao động di trú
Lao động di trú là hiện tượng diễn ra từ lâu và hiện đang phát triển nhanh chóng cùng với sự toàn cầu hóa và hội nhập trên thế giới Theo Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ thì thuật ngữ “người lao động di trú” dùng để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc
có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân [30, tr 201] Quyền của người lao động di trú được công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của
Trang 2418
người lao động di trú quy định gồm rất nhiều quyền chính cơ bản như quyền sống
và được công nhận là thể nhân trước pháp luật; quyền tự do và an toàn cá nhân; quyền được bảo vệ sự riêng tư; quyền sở hữu tài sản; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận… Đồng thời người lao động di trú được bảo đảm bình đẳng trên cơ sở nguyên tắc không phân biệt đối xử và nguyên tắc đối xử quốc gia để họ và gia đình được đối xử như những người lao động và người dân bản địa
ILO có hai công ước quan trọng về lao động di trú là công ước số 97 (1951)
về di trú vì việc làm và công ước số 143 (1973) về người di trú trong hoàn cảnh bị lạm dụng, về việc thúc đẩy cơ hội và sự đối xử bình đẳng với người lao động di trú Các nước trong cộng đồng ASEAN cũng ghi nhận trách nhiệm các quốc gia thành viên trong Khối về việc bảo vệ quyền của người lao động di trú, kể cả lao động di trú không giấy tờ trong Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú tháng 01/2007 Có thể thấy, các văn bản quốc tế đều khẳng định việc đối xử bình đẳng, nhân văn và tạo điều kiện cho người lao động di trú được làm việc, sống một cách thuận lợi nhất ở quốc gia mà họ không là công dân
1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động
1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền của người lao động
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” có nghĩa là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn được nguyên vẹn Mỗi một lĩnh vực có những nội dung và cách thức bảo vệ khác nhau Đối với lĩnh vực lao động, bảo vệ của pháp luật là chống lại sự xâm phạm vào những quyền cơ bản nhất của người lao động, để người lao động luôn được bảo đảm đầy đủ các quyền năng của mình đúng như pháp luật quy định
Bảo vệ quyền của người lao động xuất phát từ vai trò của họ đối với kinh tế -
xã hội cũng như vị thế của người lao động trong quan hệ lao động Người lao động trực tiếp tạo ra của cả vật chất cho xã hội, đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế -
xã hội cũng như cuộc sống con người Bảo vệ các quyền của người lao động chính
là bảo vệ cho sự ra đời, phát triển của các giá trị vật chất, tinh thần trong xã hội Ngoài ra trong quan hệ lao động, người lao động có vị thế thấp hơn, bị phụ thuộc nhiều hơn nên các quyền cơ bản của họ dễ bị xâm hại Vấn đề bảo vệ quyền của
Trang 2519
người lao động không phải vấn đề dễ dàng Trong phạm vi pháp luật lao động, vấn
đề này chủ yếu được xem xét trong mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, chống lại các nguy cơ bị bóc lột sức lao động, đối xử bất công, những điều kiện làm việc không đảm bảo Thực tế vấn đề bảo vệ quyền của người lao động vẫn luôn là quan tâm của tất cả quốc gia bởi dù đã nỗ lực ghi nhận
và hành động bảo vệ các quyền của người lao động nhưng các quyền cơ bản của họ vẫn bị xâm phạm, đặc biệt ở những nơi kém phát triển Do vậy, pháp luật vẫn là công cụ hữu hiệu nhất để ghi nhận và có cơ chế bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ lao động
Như vậy, có thể hiểu bảo vệ quyền của người lao động là phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động từ phía người sử dụng lao động trong quan hệ lao động Pháp luật bảo vệ quyền của người lao động là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về các quyền cơ bản của người lao động và các biện pháp bảo vệ các quyền đó
1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền của người lao động
Thứ nhất, bảo vệ quyền của người lao động trên cơ sở tiếp cận dựa trên
quyền con người
Quyền con người không chỉ là những tiêu chuẩn phổ quát được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế mà còn là yếu tố trung tâm trong quá trình xây dựng các chính sách và hoạt động của Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia Hiện nay quốc tế rất quan tâm đến việc dựa vào những chuẩn mực và nguyên tắc về quyền con người làm mục tiêu hướng đến trong các hoạt động của mình, đặc biệt là trong xây dựng và thực thi chính sách pháp luật để đảm bảo người dân được hưởng đầy đủ các quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình Nguyên tắc bảo vệ quyền của người lao động dựa trên tiếp cận về quyền con người là một nguyên tắc quan trọng hiện nay Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, quá trình xây dựng và thực thi pháp luật lao động về bảo vệ quyền của người lao động nói riêng và pháp luật lao động nói chung phải sử dụng các tiêu chuẩn và nguyên tắc cơ bản về quyền con người Các quyền con người và quyền con người trong lao động cơ bản được quy định trong các văn kiện quốc tế như UDHR, ICESCR, trong các công ước của ILO
Trang 2620
Các quyền con người trong lĩnh vực lao động trong UDHR và ICESCR là: Đảm bảo quyền làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, được bảo vệ để chống lao động cưỡng bức, chống thất nghiệp; Đảm bảo cơ hội thăng tiến của người lao động trong việc làm; Đảm bảo cho người lao động và những người liên quan được làm việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh; Đảm bảo chế độ thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi hợp lý; Đảm bảo công bằng, bình đẳng, hợp lý, đảm bảo đầy đủ giá trị nhân phẩm của con người trong chế độ tiền lương; Đảm bảo an sinh xã hội cho bản thân và gia đình người lao động; Đảm bảo quyền tự do thành lập, gia nhập công đoàn; Đảm bảo quyền đình công của người lao động Ngoài hai văn kiện này, ILO
đã ghi nhận những quyền con người trong lĩnh vực lao động nêu trên trong nhiều công ước như Công ước số 87 và 98 về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể; Công ước số 29 và 105 về lao động cưỡng bức; Công ước số 100 và 111 về phân biệt đối xử; Công ước số 138 và 182 về lao động trẻ em
Thứ hai, bảo vệ quyền của người lao động trong mối tương quan hợp lý với
việc bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng lao động
Trong quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động là hai chủ thể độc lập, đối kháng nhau về lợi ích Người lao động ở vị thế yếu hơn, phụ thuộc vào người sử dụng lao động nên trong pháp luật quốc tế và quốc gia, quyền của người lao động luôn được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, người sử dụng lao động cũng có những quyền hợp pháp nhất định không thể bỏ qua, nhất là để xây dựng quan hệ lao động phát triển bền vững Quyền của người lao động và người sử dụng lao động phải được đặt trong mối tương quan hợp lý Nếu quá chú trọng vào bảo vệ quyền của người lao động mà gây ảnh hưởng đến những quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng lao động sẽ gây mâu thuẫn trong quan hệ lao động Khi mâu thuẫn không được giải quyết sẽ phá vỡ quan hệ lao động, ảnh hưởng đến
cả hai bên trong quan hệ lao động cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh
Do vậy, nguyên tắc ghi nhận và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động bên cạnh bảo vệ quyền của người lao động là cần thiết và hợp lý Kết hợp hài hòa và cân bằng trong bảo vệ quyền của hai bên trong quan hệ lao động sẽ tác động tích cực đến bảo vệ quyền của người lao động
Trang 2721
Thứ ba, bảo vệ quyền của người lao động một các bình đẳng, không phân
biệt đối xử
Bảo vệ quyền của người lao động một cách bình đẳng, không phân biệt đối
xử giữa những người lao động là một nguyên tắc cơ bản trong bảo vệ quyền của người lao động Nguyên tắc này được áp dụng chung cho tất cả lao động trên cơ sở
có những điều chỉnh nhất định riêng cho các lao động đặc thù như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động khuyết tật
Bình đẳng trước hết ở quyền làm việc, người lao động được tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp phù hợp, theo mong muốn mà không bị cản trở bởi các yếu
tố giới tính, màu da, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, khuyết tật, tham gia hoạt động công đoàn Đặc biệt việc phân biệt đối xử giữa lao động nam và lao động nữ; lao động khuyết tật; người bị nhiễm HIV là các hành vi bị nghiêm cấm Ngoài ra, người lao động cũng có những quyền như nhau trong việc được học tập, nâng cao trình độ; được trả lương công bằng hợp lý với những công việc như nhau; được bảo đảm các điều kiện về lao động, an sinh xã hội
1.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền của người lao động
1.2.3.1 Biện pháp tự bảo vệ
Các quyền cơ bản của người lao động có tính chất cá nhân, gắn trực tiếp với một người lao động cụ thể Do vậy, trước hết người lao động phải tự bảo vệ mình khi các quyền của mình bị xâm hại Người lao động có quyền tự định đoạt trong một số vấn đề để bảo vệ các quyền cơ bản của mình trước người sử dụng lao động Cụ thể là người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động
về nội dung hợp đồng lao động, về các điều khoản có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc người lao động chủ động thỏa thuận, đưa các nội dung hợp lý vào hợp đồng chính là tạo ra các nội dung tự bảo vệ quyền của mình một cách tốt nhất
1.2.3.2 Biện pháp liên kết tập thể
Một mình người lao động tự đứng lên nói lên tiếng nói của mình, yêu cầu những điều kiện làm việc tốt hơn với người sử dụng lao động sẽ khó khăn hơn
Trang 2822
nhiều nếu tiếng nói ấy được một tập thể người lao động liên kết lại nói ra Do vậy, biện pháp liên kết tập thể hay biện pháp thực hiện quyền công đoàn là một biện pháp cơ bản và quan trọng để người lao động tạo sức mạnh tập thể tự bảo vệ các quyền của mình Thông qua công đoàn, người lao động được tham gia vào thương lượng tập thể, được tiến hành đình công Không những nói lên tiếng nói, mong muốn, nguyện vọng của người lao động, thực hiện quyền công đoàn còn tạo ra những thỏa thuận có lợi hơn so với quy định của pháp luật cho người lao động, giám sát việc thực hiện bảo đảm các quyền của người lao động của người sử dụng lao động cũng như đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong trường hợp
có tranh chấp xảy ra
1.2.3.3 Biện pháp bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là biện pháp kinh tế để bảo vệ quyền của người lao động [30, tr.280] Biện pháp này được áp dụng trong một số nội dung cơ bản sau:
Bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người lao động Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bồi thường cho người lao động khi trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ lao động, người lao động không may bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động của họ
Bồi thường thiệt hại do người sử dụng lao động vi phạm hợp đồng lao động Khi hai bên tiến hành giao kết hợp đồng lao động thì phải tuân thủ theo những thỏa thuận trong hợp đồng cũng như quy định của pháp luật lao động Nội dung vi phạm hợp đồng lao động của người sử dụng lao động rất đa dạng Người
sử dụng lao động phải bồi thường thiệt hại cho người lao động nếu tự ý chấm dứt hợp đồng trái quy định của pháp luật hay thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc người
sử dụng lao động sẽ phải bồi thường khi vi phạm thỏa thuận, quy định về trả lương cho người lao động
Trang 2923
mang tính chất kinh tế Người sử dụng lao động luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận, cắt giảm chi phí trong đó có những chi phí để bảo đảm các quyền cơ bản của người lao động như cắt giảm về lương, thưởng trong khi tăng khối lượng công việc; cắt giảm chi vào các điều kiện bảo đảm môi trường làm việc an toàn, vệ sinh… Do vậy, nếu không có sự kiểm tra giám sát từ bên ngoài, người sử dụng lao động sẽ dễ dàng vi phạm các quyền của người lao động Khi người sử dụng lao động vi phạm các quy định của pháp luật thì tùy vào mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt Hình thức xử phạt vi phạm hành chính thường áp dụng là cảnh cáo và phạt tiền Trong đó, phạt tiền là hình thức có tác dụng hơn, thể hiện sự cứng rắn của pháp luật đồng thời đánh vào kinh tế nên sẽ có tác động tích cực hơn đối với hành vi của người sử dụng lao động
1.2.3.5 Biện pháp giải quyết tranh chấp
Trong quan hệ lao động, cả người sử dụng lao động và người lao động đều mong muốn có những quyền và lợi ích nhất định Tuy nhiên không phải lúc nào quyền và lợi ích của hai bên đều dung hòa và cân bằng như người sử dụng lao động muốn tăng thời gian làm việc nhưng không tăng lương còn người lao động muốn tăng lương thỏa đáng Khi một trong hai bên không tìm được tiếng nói chung thì những mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và trách nhiệm sẽ xuất hiện và tranh chấp lao động có thể xảy ra Các tranh chấp về quyền của người lao động xảy ra khi người sử dụng lao động không đáp ứng những yêu cầu của pháp luật lao động về bảo đảm quyền của người lao động như thời gian làm việc, nghỉ ngơi; tranh chấp về việc làm; tranh chấp về chế độ tiền lương… Tranh chấp lao động có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau đó là: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài, Tòa án Thương lượng và hòa giải là hai phương thức nhanh chóng
và có lợi nhất cho hai bên quan hệ lao động tuy nhiên khi tranh chấp lao động không thể tự giải quyết được và phải có cơ quan tài phán thì trọng tài và tòa án giải quyết là phương án tối ưu
1.2.4 Ý nghĩa bảo vệ quyền của người lao động
Thứ nhất, bảo vệ quyền của người lao động sẽ tạo nguồn lực phát triển ổn
định kinh tế - xã hội Với vai trò to lớn của mình đóng góp cho việc tạo ra của
Trang 3024
cải vật chất và các giá trị văn minh khác của nhân loại, người lao động phải được hưởng lại thành quả từ chính sức lao động của mình, trong đó có việc bảo vệ các quyền cơ bản trong lao động Với bản thân người lao động, được bảo vệ các quyền lợi hợp pháp trong lao động, họ sẽ yên tâm, tích cực, hăng say trong công việc; kích thích sự năng động, sáng tạo do đó chất lượng nguồn nhân lực tăng, năng suất và hiệu quả lao động tăng Hơn thế, người lao động với công việc và thu nhập ổn định còn cung cấp tài chính về cho gia đình, nuôi nấng con cái một cách tốt nhất để sau này khi tham gia vào thị trường lao động cũng là những người lao động chất lượng Như một vòng tuần hoàn, quyền của người lao động được bảo đảm thì quan hệ lao động sẽ phát triển lành mạnh, thị trường lao động vận hành tốt dẫn đến của cải vật chất trong xã hội được tạo ra nhiều và bền vững Khi đó, vấn đề quyền của người lao động càng được quan tâm và bảo vệ Có thể thấy, để có nguồn lực phát triển ổn định kinh tế - xã hội thì bảo vệ quyền của người lao động phải được đặt lên hàng đầu
Thứ hai, bảo vệ quyền của người lao động nhằm phát huy nhân tố con người
Lao động là một trong những hoạt động chủ yếu của con người Chính nhờ có lao động mà con người đã thoát thai từ động vật, trở thành người và tạo sự khác biệt giữa người và vật Trong lao động, con người sử dụng cả trí lực và sức lực, trong đó trí lực sẽ để tư duy, tiếp cận với tư liệu sản xuất, phương thức sản xuất và áp dụng sáng tạo vào công việc Khả năng về trí lực và sức lực đó chỉ có thể được duy trì và phát huy khi những quyền lợi cơ bản của người lao động được bảo đảm mà nói rộng
ra thì người lao động cần được bảo đảm những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống Những bảo đảm cụ thể như bảo đảm về công bằng trong việc làm, thu nhập, các chế
độ bảo hiểm, chế độ nghỉ ngơi, bảo đảm về môi trường và điều kiện làm việc… Những bảo đảm này cần được thực hiện hợp lý, hiệu quả để phát huy nhân tố con người cụ thể là con người trong lao động
Thứ ba, bảo vệ quyền của người lao động là giá trị chung của nhân loại, thể
hiện tinh thần nhân đạo và công bằng xã hội Người lao động là một con người, nên
Trang 3125
cần được bảo vệ những quyền con người cơ bản, trong đó có quyền về lao động Xã hội hiện nay luôn đề cao việc bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền con người trong lao động Đây là một giá trị chung, là văn minh của nhân loại không chỉ đối với riêng bản thân người lao động mà còn vì lợi ích chung của xã hội Việc bảo đảm quyền của người lao động hiện nay cũng đang được tiếp cận từ quyền con người Đây là một xu hướng đang được các nước trên thế giới quan tâm, quán triệt trong xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng
1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) được hình thành xuất phát từ ngoại lệ của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT và Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS và Điều khoản cho phép năm 1979, các thành viên WTO được phép hình thành các khu vực mậu dịch
tự do hoặc liên minh thuế quan Theo WTO, hiệp định thương mại tự do là một dạng của hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreement – RTA), là những thỏa thuận thương mại có đi có lại giữa hai hoặc nhiều bên [11, tr 4] Hiệp định thương mại tự do là hiệp định hợp tác kinh tế được ký kết giữa ít nhất hai nước, nhằm cắt giảm các hàng rào thương mại, cụ thể là thuế quan, quota nhập khẩu (các hàng rào phi thuế quan khác), đồng thời thúc đẩy thương mại hàng hóa
và dịch vụ giữa các nước này với nhau
FTA là một sản phẩm của quá trình toàn cầu hóa, hàng trăm hiệp định thương mại đã được ban hành trong những năm qua Nội dung FTA có sự thay đổi đáng kể khi mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về mức độ cam kết tự do hóa, từ đó hình thành một khái niệm mới là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (New generation Free Trade Agreement) Thuật ngữ “thế hệ mới” mang tính chất tương đối để chỉ các FTA có phạm vi toàn diện vượt ra ngoài khuôn khổ tự
do hàng hóa của các FTA truyền thống Nếu như các FTA truyền thống chủ yếu quy định các vấn đề tự do thương mại, giảm thiểu các hàng rào thương mại, thuế quan thì FTA thế hệ mới đã bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn các cam kết trong
Trang 32Trong các vấn đề được nhắc đến nhiều ở các FTA thế hệ mới, lao động là một nội dung rất được quan tâm Việc đưa nội dung lao động vào các FTA có hai luồng quan điểm trái ngược nhau Quan điểm thứ nhất của những người theo học thuyết thương mại tự do thì các tiêu chuẩn lao động là hàng rào cản đối với thị trường và theo họ, điều kiện lao động sẽ được cải thiện từ quá trình phát triển kinh
tế, và tất cả mọi người (trong đó có người lao động) sẽ được hưởng lợi từ quá trình này Theo đó, các tiêu chuẩn lao động được sử dụng để điều chỉnh những khuyết tật của thị trường lao động ở các quốc gia khác nhau thì không có lý do gì để xây dựng các tiêu chuẩn lao động ở cấp độ quốc tế Vai trò của ILO bị phủ nhận khi vẫn duy trì cách tiếp cận cũ, cách thức lập luận theo lối suy nghĩ của thế kỷ trước mà không thể hiện vai trò tích cực trong việc tiếp cận các cơ hội cũng như thách thức của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu Do đó, việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cũng như vai trò của ILO là không cần thiết Quan điểm thứ hai là những người theo trường phái thương mại công bằng và các nhà hoạt động về quyền của người lao động lại cho rằng bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng bộ lộ những mặt tiêu cực như tình trạng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, bóc lột, phân biệt đối xử… Do vậy, các tiêu chuẩn lao động chung là cần thiết cũng như ILO cần phải phát huy vai trò của mình hơn Vấn đề lao động trong thương mại gắn liền với chính sách của từng quốc gia thì việc thi hành các tiêu chuẩn lao động cũng
sẽ có hạn chế do không phải chịu trừng phạt cưỡng chế, vì vậy yêu cầu của toàn cầu hóa và cũng là quan điểm thứ hai đó là cần đưa các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào trong các FTA và có những chế tài thương mại để bảo đảm các tiêu chuẩn đó được thực hiện hiệu quả
Trang 3327
Việc đưa tiêu chuẩn lao động quốc tế vào khuôn khổ WTO đã thất bại khi Hội nghị Bộ trưởng các nước thuộc WTO được tổ chức tại Singapore năm 1996 đã bác bỏ và cho rằng ILO là tổ chức phù hợp để giải quyết các vấn đề lao động ở phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, các nước phát triển vẫn nỗ lực đưa các tiêu chuẩn lao động vào FTA song phương và đa phương Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) ký kết năm 1994 giữa Hoa Kỳ, Canada và Mêxico là hiệp định thương mại đầu tiên có một điều khoản ràng buộc về lao động Tính đến tháng 12/2015, đã
có 76 hiệp định thương mại (bao gồm 135 nền kinh tế) đã có quy định về lao động, gần nửa trong số đó ra đời sau năm 2008 Hơn 80% hiệp định thương mại có hiệu lực từ năm 2013 có quy định về lao động [43, tr.11] Việc đưa nội dung lao động vào các FTA không chỉ có mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động mà còn bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng giữa các bên trong quan hệ thương mại Một nước duy trì tiêu chuẩn lao động thấp, tiền lương và các điều kiện lao động không được xác lập trên cơ sở thương lượng được cho là sẽ có chi phí sản xuất thấp hơn so với nước thực hiện những tiêu chuẩn cao hơn để bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của người lao động Tiêu chuẩn quốc tế được các FTA tham chiếu chủ yếu là tuyên bố của ILO về nguyên tắc cơ bản và các quyền tại nơi làm việc được thông qua vào năm 1998 Trong đó khẳng định bốn nhóm quyền và nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc là tự do hiệp hội, thương lượng tập thể; xóa bỏ lao động cưỡng bức, ép buộc; xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em; xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm Đây là những tư tưởng cốt lõi, cơ bản nhất về quyền của người lao động mà các quốc gia thành viên phải tôn trọng, ghi nhận và bảo đảm ngay cả khi chưa phê chuẩn các công ước của ILO
Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, để không bị rơi khỏi sự phát triển chung của thế giới, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp để hội nhập sâu rộng, trong đó có gia nhập các FTA Các FTA ngày nay hay các FTA thế hệ mới luôn đề cao đến người lao động trong sự phát triển và hội nhập
Do vậy, các nội dung về lao động đã, đang và sẽ ngày càng được chú trọng trong các cam kết song và đa phương Trước thực tiễn đó việc bảo vệ quyền của người lao động là rất cần thiết bởi:
Trang 3428
Thứ nhất, về cơ hội
Gia nhập các FTA thế hệ mới bên cạnh những cơ hội những cơ hội để phát triển kinh tế còn tạo ra rất nhiều cơ hội mới cho người lao động cũng như cơ hội cải thiện quan hệ lao động Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam có cơ hội thu hút đầu tư, góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động Lao động được tự do di chuyển, tạo nhiều cơ hội việc làm đặc biệt là lao động có kỹ năng, ngoại ngữ Thị trường lao động Việt Nam đang được các nhà đầu tư, tuyển dụng đánh giá cao khi dân số Việt Nam đang ở thế “cơ cấu dân số vàng” (tức người trong độ tuổi lao động nhiều gấp đôi người ngoài độ tuổi lao động), nó đang tạo ra nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước Khi TPP có hiệu lực, việc tự do hóa thương mại và đầu
tư cũng luôn dẫn đến tăng nhu cầu lao động, mức linh hoạt của thị trường lao động
sẽ tăng lên và từ đó dẫn đến việc nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực lao động Ngoài ra, TPP làm tăng cơ hội để người lao động tiếp cận trực tiếp với nền sản xuất hiện đại, với trình độ và kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh tiên tiến của thế giới, qua đó góp phần nâng cao trình độ, kỹ năng, tác phong lao động, kiến thức tổ chức, quản lý của người lao động Khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, lực lượng lao động ở một số ngành cũng được dự báo tăng lên như ngành khai khoáng, dệt may, sản xuất thiết bị Bên cạnh đó, cộng đồng AEC cũng tạo điều kiện cho lao động Việt Nam được nâng cao trình độ tay nghề, có một thị trường rộng mở
và nhiều cơ hội làm việc tại các nước trong khu vực ASEAN
Đối với quan hệ lao động, Bộ luật lao động 1994 ra đời đã đặt nền tảng pháp
lý cho việc hình thành và phát triển quan hệ lao động Đến nay, quan hệ lao động ở Việt Nam đã có những bước tiến nhất định từ nhận thức đến tổ chức thực hiện phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường và thị trường lao động Người lao động ngày càng được quan tâm và bảo đảm hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do vậy, thị trường lao động phát triển ổn định hơn, đời sống của người lao động cũng ngày càng được đảm bảo trên cơ sở tôn trọng và áp dụng các giá trị và nguyên tắc của ILO Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu thông qua một loạt các hiệp định thương mại
Trang 3529
tự do, Việt Nam là một trong số ít các nước trên thế giới có vị thế rất tốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường cải cách cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững Các cam kết về lao động trong FTA thế hệ mới, đặc biệt là cam kết trong TPP, mặc dù về cơ bản những yêu cầu cao trong thực thi các tiêu chuẩn lao động có thể gây khó khăn cho Việt Nam (đặc biệt là chi phí tổ chức của Nhà nước và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp) nhưng đây sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn
đề bảo vệ quyền lợi của người lao động [13, tr.72] Do vậy, Việt Nam tiếp tục các cam kết cải cách pháp luật, thiết chế và thực hành quan hệ lao động theo hướng tôn trọng đầy đủ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong ILO với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao hơn mức trung bình thông qua con đường tăng trưởng toàn diện Từ đó các quyền lợi cơ bản và chính đáng của người lao động cũng được bảo vệ ngày một tích cực hơn
Thứ hai, về thách thức
Mặc dù cơ hội mà các FTA đem lại cho thị trường lao động cũng như người lao động là rất lớn, nhưng cũng có nhiều khó khăn, thách thức đặt ra
Một là, tuy lực lượng lao động của nước ta dồi dào do nước ta đang ở trong
thời kỳ dân số vàng nhưng chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysia đạt 5,59 điểm Do vậy nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á - Thái Bình Dương (thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần) Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan [21, tr.31] Bên cạnh đó, do xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp nên
tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp, phần lớn vẫn là lao động tự do không có quan hệ việc làm chính thức Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập
Trang 3630
Ngoài ra, trong những năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa
dân số sẽ làm cho lợi thế lực lượng lao động trẻ mất dần đi theo thời gian Một vấn
đề khác là nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng biến đổi khí hậu khiến một số ngành suy giảm mạnh về lợi thế cạnh tranh
Do đó, bên cạnh rất nhiều cơ hội việc làm và bảo đảm về quyền lợi, người lao động Việt Nam cũng phải đối mặt với những sức ép do năng lực, trình độ lao động nhất là lao động chuyên môn hóa còn thấp gây khó khăn để nước ta tận dụng nguồn lao động dồi dào nhất là với lao động trong các ngành nghề may mặc, giày da; sức cạnh tranh trên thị trường lao động kém và dễ mất cơ hội việc làm tốt; một
bộ phận lao động có thể rơi vào tình trạng thất nghiệp
Hai là, trong quá trình hội nhập, xu hướng dịch chuyển lao động ngày càng
tăng Tuy nhiên muốn dịch chuyển lao động thì phải có ngoại ngữ nhưng ngoại ngữ cũng là một điểm hạn chế của lao động Việt Nam Trên thực tế, trình độ tiếng Anh của lao động Việt Nam còn thấp và rất ít người lao động học ngôn ngữ của các nước ASEAN như Thái Lan, Lào, Campuchia Do vậy, tuy được đánh giá là cần cù, sáng tạo, nhiều sáng kiến nhưng khi không giao tiếp được, không chia sẻ được thì người lao động không thể phát huy được năng lực sáng tạo, không đưa được vào thực tiễn đời sống và sản xuất, kinh doanh Đồng thời hội nhập, tự do di chuyển lao động sẽ tạo nên môi trường cạnh tranh gay gắt, càng góp phần gia tăng sự mất cân đối trong cung – cầu lao động trong nước, đặc biệt là nguồn cung về lao động có kỹ năng, trình độ cao Trong khi nguồn cung trong nước hạn chế thì dòng dịch chuyển lao động có trình độ cao của nước ngoài sẽ chiếm lĩnh các vị trí việc làm đòi hỏi trình
độ cao trong thị trường lao động của Việt Nam
Ba là, về hệ thống pháp luật lao động, trong những năm qua pháp luật lao
động Việt Nam được sửa đổi, bổ sung ngày càng hoàn thiện theo hướng phù hợp với sự phát triển cũng như các chuẩn mực chung của quốc tế Tuy nhiên, tham gia vào các FTA thế hệ mới đòi hỏi các chính sách về lao động cần được sửa đổi,
bổ sung phù hợp với các yêu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập Nhiều quy định pháp luật hiện nay không phù hợp với các cam kết quốc tế
Trang 3731
như vấn đề tự do công đoàn hay các nội dung đã được quy định nhưng vẫn còn bất cập, hạn chế trong thực hiện như vấn đề tự do việc làm, lao động ép buộc… Nếu không sửa đổi cho phù hợp thì trước hết quyền của người lao động trong nước không được bảo đảm trước sức ép cạnh tranh; đồng thời Việt Nam cũng không thể đáp ứng được yêu cầu để tham gia vào thị trường chung với các nước
và sẽ bị đẩy ra khỏi sự toàn cầu hóa
Như vậy, việc bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là rất cần thiết khi đứng trước những cơ hội
và thách thức mà các Hiệp định đó mang lại Đảm bảo thực hiện các cam kết về lao động trước hết vì quyền và lợi ích chính đáng của người lao động Việt Nam, để người lao động Việt Nam có thể phát huy vị trí và vai trò tạo ra của cải vật chất cho
xã hội; giúp người lao động có những điều kiện thuận lợi nhất để học tập, trau dồi
và phát triển kỹ năng, chuyên môn, sáng tạo trong lao động Người lao động trong bối cảnh hội nhập cũng cần phải được hội nhập về kiến thức, trình độ, phong cách làm việc và không thể thiếu là những quyền lợi cơ bản của mình Bảo vệ quyền lợi của người lao động sau đó sẽ tạo ra quan hệ lao động phát triển hài hòa, ổn định; tạo môi trường thương mại bình đẳng giữa các quốc gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do để Việt Nam có thể tận dụng tối đa lợi ích mà các Hiệp định này mang lại cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước
1.4 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước khi gia nhập các Hiệp hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong việc bảo vệ quyền của người lao động và những gợi mở cho Việt Nam
Pháp luật Mê-xi-cô trong việc bảo vệ quyền của người lao động khi gia nhập FTA thế hệ mới [48, 45]
FTA thế hệ mới đầu tiên có cam kết về lao động là Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Hoa Kỳ, Canada và Mê-xi-cô năm 1994 Mê-xi-cô là nước đang phát triển đầu tiên ký FTA thế hệ mới có cam kết về lao động với hai nước có nền kinh tế phát triển là Hoa Kỳ và Canada Nội dung cam kết về lao động trong NAFTA cũng bao gồm bảo đảm các quyền cơ bản của người lao động: Tự do
Trang 3832
hiệp hội và quyền tổ chức; Thương lượng tập thể; Đình công; Lao động cưỡng bức, lao động trẻ em; Trả lương bình đẳng; Phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Đền bù tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Bảo vệ lao động di cư Do vậy, xem xét kinh nghiệm của Mê-xi-cô để thấy được tình huống có thể xảy ra với Việt Nam và các giải pháp
Trước hết, có thể thấy các tác động của cam kết lao động trong NAFTA với Mê-xi-cô Trong lĩnh vực việc làm, việc làm có tăng trong một số ngành nghề xuất khẩu, nhưng lại giảm trong các ngành nghề khác, dẫn tới tổng số việc làm không tăng Trong lĩnh vực quan hệ lao động và hoạt động công đoàn, Mê-xi-cô đã trả qua
ba giai đoạn của quá trình thay đổi là tích tụ để tạo sức ép, Nhà nước phủ nhận, nhượng bộ chiến thuật và hiện nay đang ở giai đoạn thể chế hóa và thực hiện Nhà nước đang thể chế hóa của tiêu chuẩn, bao gồm phê chuẩn công ước, xây dựng pháp luật mới phù hợp với công ước, thực hiện các cơ chế mới và tuân thủ các tiêu chuẩn
Đã hơn 20 năm từ khi có NAFTA, Mê-xi-cô vẫn chưa đưa việc thực hiện các cam kết về lao động một cách thường xuyên nhưng là quốc gia đang phát triển đầu tiên
ký một FTA có các quy định về lao động nên đây là quá trình thực tiễn đầu tiên về
sự chuyển đổi lao động khi gắn vấn đề lao động với thương mại
Từ khi ký kết NAFTA đến nay, Mê-xi-cô đã có nhiều thay đổi trong thể chế
và thực tiễn liên quan đến thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế đã cam kết trong NAFTA Chính phủ đã thành lập các văn phòng phụ trách các vấn đề cụ thể trực thuộc Ban Thư Ký lao động để điều tra về các vấn đề lao động như lao động trẻ
em, lao động nữ, bình đẳng trong lao động… Việc thực thi quyền lao động, thanh tra lao động có những cải thiện quan trọng Mê-xi-cô đã thành lập nhiều Ủy ban trọng tài để giải quyết các vấn đề về lao động, áp dụng hình thức bỏ phiếu kín trong các vấn đề về lao động được ủy ban lao động ở cấp liên bang áp dụng liên tục và các ủy ban lao động cấp địa phương cũng sẵn sàng sử dụng hình thức bỏ phiếu kín Năm 2011, lần đầu tiên một công đoàn độc lập được bầu công khai và được quyền đại diện thương lượng tập thể, không bị can thiệt của công đoàn chính thức và công
ty Từ đó, một số công đoàn nữa cũng được đăng ký thành lập
Trang 39Hai là áp lực từ quốc tế Lao động và thực thi các tiêu chuẩn lao động tiến bộ
là một yếu tố để đánh giá sự phát triển của quốc gia nhất là trong thời đại toàn cầu hóa Riêng với Mê-xi-cô, quốc gia này còn chính thức cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tiến bộ được đề cập trong NAFTA Vấn đề này được công khai rộng rãi do đó các quốc gia khác sẽ dõi theo từng bước tiến của Mê-xi-cô trong quá trình thực hiện các cam kết này
Ba là khiếu nại nhất là khiếu nại từ sự liên kết quốc gia tạo sức ép lớn lên Chính phủ Đa số các khiếu nại với Mê-xi-cô đều liên quan đến quyền tự do liên kết
và thương lượng tập thể nên có thể thấy hai nội dung này được quan tâm nhất, do đó
áp lực thực thiện cũng lớn hơn
Pháp luật Hàn Quốc trong việc bảo vệ quyền của người lao động khi gia nhập FTA thế hệ mới [46]
Tại Hàn Quốc, quyền tự do công đoàn được pháp luật ghi nhận Là quốc gia
đa đảng, Hàn Quốc có một số tổ chức công đoàn lớn tương ứng đi cùng với Đảng chính trị lớn để bảo vệ quyền công đoàn của người lao động bên cạnh các công đoàn tự lập khác Hai tổ chức công đoàn lớn tại Hàn Quốc hiện nay là Liên hiệp các
tổ chức công đoàn Hàn Quốc (FKTU) và Liên đoàn thương mại Hàn Quốc Bên cạnh đó, thương lượng tập thể là một quyền Hiến định, khi công đoàn yêu cầu, người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải chấp nhận các yêu cầu và thực hiện quá trình đàm phán mang tính thiện chí; việc từ chối hoặc bỏ đi khi đàm phán từ phía người sử dụng lao động là vi phạm quyền và có thể bị phạt; cấp độ chủ yếu của cơ chế thương lượng tập thể là tại công ty nhưng có một số ngoại lệ như ngân hàng và ngành công nghiệp dệt bổng thì được thực hiện ở cấp độ ngành, thương lượng thường kéo dài hai năm
Trang 40và doanh nghiệp bị phát hiện sử dụng lao động nô lệ; các doanh nghiệp và các nhóm chính trị xã hội đã phát động một Hiệp ước Quốc gia nhằm Xóa bỏ lao động nô lệ và
có cơ quan giám sát xã hội sẽ theo dõi hoạt động của các doanh nghiệp đã ký kết hiệp ước và ghi chép lại những cách làm tốt Braxin đã kết hợp thực thi pháp luật, thanh tra và nâng cao nhận thức của doanh nghiệp trong vấn đề lao động cưỡng bức, từ đó giảm một cách hiệu quả tình trạng lao động cưỡng bức ở nước này
Qua tìm hiểu pháp luật của một số nước ở trên, Việt Nam có thể học hỏi một
số kinh nghiệm sau:
Một là, Việt Nam khi tham gia FTA thế hệ mới cũng sẽ chịu nhiều áp lực
từ dư luận quốc tế, nhất là hiện nay nước ta chỉ có một Đảng và một Công đoàn
Do vậy, vấn đề gây tranh luận nhiều nhất và nhiều khiếu nại nhất sẽ liên quan đến tự do liên kết và thương lượng tập thể Xu hướng các FTA thế hệ mới hiện nay, việc thực thi các cam kết của quốc gia thành viên sẽ phải bắt đầu ngay vào thể chế và thực thi, do vậy Việt Nam phải sửa đổi pháp luật và xây dựng bộ máy thực thi đầy đủ và sẵn sàng
Đa công đoàn sẽ là vấn đề cần được quan tâm nhất trong thời gian tới để vừa đảm bảo quyền tự do công đoàn cho người lao động nhưng vẫn giữ được vị trí, vai trò của Công đoàn Việt Nam Công đoàn Việt Nam sẽ gặp thách thức lớn, đòi hỏi phải thay đổi về phương thức tổ chức và hoạt động, phải nâng cao năng lực, thể hiện vai trò đại diện và bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
Ngoài ra, việc thừa nhận quyền tự do liên kết, chấp nhận đa công đoàn dẫn đến sự ra đời của các công đoàn độc lập Tuy nhiên tình trạng lạm dụng quyền này,