1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khoá luận tốt nghiệp thế giới nghệ thuật trong tập thơ lối nhỏ của dư thị hoàn

64 127 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 721,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thi pháp học chú trọng đến “hình thức mang tính quan niệm”, nó đi sâu vào khai thác văn bản chứ không quá chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử, nhà văn, hoàn cảnh sá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

PHẠM THỊ KIỀU OANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ

LỐI NHỎ CỦA DƯ THỊ HOÀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

PHẠM THỊ KIỀU OANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ

LỐI NHỎ CỦA DƯ THỊ HOÀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS MAI THỊ HỒNG TUYẾT

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

TS Mai Thị Hồng Tuyết – người đã tận tình hướng dẫn và đưa ra nhiều hướng gợi mở để em có định hướng viết khóa luận tốt nghiệp tốt nhất Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ bộ môn chuyên ngành Lý luận văn học đã trực tiếp giảng dạy

và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu khóa luận này

Tôi rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của các thầy cô để khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Phạm Thị Kiều Oanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lối

nhỏ của Dư Thị Hoàn” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS

Mai Thị Hồng Tuyết Tôi xin cam đoan rằng:

Các tài liệu được sử dụng trong khóa luận là trung thực và có dẫn nguồn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu 4

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc của khóa luận 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT 6

1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 6

1.2 Cấu trúc của thế giới nghệ thuật 8

1.2.1 Không gian nghệ thuật 8

1.2.2 Thời gian nghệ thuật 9

1.2.3 Nhân vật văn học 11

1.3 Vai trò của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học 12

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG LỐI NHỎ CỦA DƯ THỊ HOÀN 18

2.1 Con người cô độc, lẻ loi trước những biến động của cuộc đời 20

2.2 Một người mang ý thức sâu sắc về giới 25

2.3 Một người mẹ giàu tình yêu thương, đức hy sinh cao cả 28

2.4 Một người phụ nữ thấu hiểu lẽ đời, khao khát hạnh phúc bình dị 32

2.5 Một người cầm bút trách nhiệm, cao thượng 39

Trang 6

CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG

LỐI NHỎ CỦA DƯ THỊ HOÀN 42

3.1 Không gian nghệ thuật trong Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn 42

3.1.1 Không gian cao, rộng gắn với cảm giác lẻ loi, hữu hạn 42

3.1.2 Không gian nhỏ, khép kín đầy nỗi niềm tâm sự 45

3.2 Thời gian nghệ thuật trong tập thơ Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn 48

3.2.1 Thời gian ngưng đọng, u uất của đêm tối……… 48

3.2.2 Thời gian của sự chảy trôi……… 52

KẾT LUẬN 555 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thi pháp học là hướng nghiên cứu giàu giá trị Nó được Trần Đình

Sử giới thiệu vào Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX và được hưởng ứng rộng rãi trong những năm gần đây Thi pháp học chú trọng đến “hình thức mang tính quan niệm”, nó đi sâu vào khai thác văn bản chứ không quá chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử, nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật… Trong các phạm trù thi pháp học, thế giới nghệ thuật là một phạm trù quan trọng Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựng nên trong tác phẩm nghệ thuật theo những nguyên tắc tư tưởng – thẩm mĩ nhất định của người nghệ sĩ Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để phát hiện ra sự sáng tạo của người nghệ sĩ, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của họ về cuộc đời thông qua các tác phẩm

1.2 Sau năm 1975, sự xuất hiện của nhiều cây bút thơ mới đã làm cho nền văn học Việt Nam thêm phong phú đa dạng, nhiều màu sắc với những cá tính sáng tạo độc đáo Trong những gương mặt ấy, Dư Thị Hoàn đã tạo nên một

dấu đậm nét với “cách viết táo bạo, có tính khiêu khích, mới lạ”: “Đọc thơ Dư

Thị Hoàn một vài lần quả là không có gì đáng chú ý, bởi nó không có vẻ đẹp rực rỡ của câu chữ, không có sự độc đáo của nhạc điệu, tiết tấu Nhưng đọc nhiều lần, những vấn đề hấp dẫn bề sâu của chất thơ chị lại hiện ra: hiền dịu

mà không dễ dãi, lặng lẽ mà dữ dội ngầm, đau buồn mà đầy tin yêu, hy vọng… Giữa những đối lập ấy là tấm lòng nhân ái, một ước mơ hướng thiện, sống có văn hóa Chị không chạy theo những cảm xúc dễ dãi vay mượn ở người khác một cách giả tạo Thơ chị là tiếng lòng của chị được thể hiện một cách nghệ thuật” [3– tr.74] Có thể thấy, gắn liền với một quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, Dư

Thị Hoàn đã mở ra một thế giới thơ đang “nỗ lực rời bỏ cái ta để tìm lại cái tôi trong tiếng thơ nữ quyền” Cũng với thế hệ các nhà thơ cùng thời khác như: Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh… Dư Thị Hoàn đã tạo cho thơ mình một phong cách thơ riêng không trỗn lẫn với ai

Trang 8

1.3 Thế giới nghệ thuật trong thơ Dư Thị Hoàn là một vấn đề thú vị Do

đó, việc tìm hiểu “Thế giới nghệ thuật qua tập thơ Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn”

sẽ mở ra một cánh cửa để đi vào thế giới thơ của chị một cách bao quát và toàn diện hơn

2 Lịch sử vấn đề

Trong sự phát triển của thơ ca dân tộc, thơ nữ luôn có bước tiến song hành, hòa mình cùng nền văn học của dân tộc Song, sự đóng góp của các nhà thơ nữ thời kỳ đổi mới đã thổi một làn gió mới tới nền thơ ca hiện đại của dân tộc và trở thành đối tượng nghiên cứu của giới phê bình văn học

Dư Thị Hoàn là một trong nhiều đại diện cách tân tiêu biểu cho văn học thời kì đổi mới Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm thấy nhiều bài nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong thơ Dư Thị Hoàn nhưng những công trình, bài nghiên cứu đó chỉ mang tính chất khái lược về thơ chị, nghiên cứu đặt và đưa ra hướng tiếp cận về: ngôn từ, hình ảnh mang tính biểu tượng, về tình yêu, tình dục… Tiêu biểu là bài viết của các tác giả: Nguyễn Thanh Tâm, Hồ Thế Hà, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Thụy Kha, Lê Lưu Oanh, Phong Lê, Bích Thu, Nguyễn Đăng Điệp… Qua những bài viết này, các tác giả đã đưa ra được những nhận xét, đánh giá chung về vị trí và đặc điểm thơ Dư Thị Hoàn – thơ chị hướng vào cái tôi cá nhân, khẳng định con người cá nhân

Nói về đề tài hình tượng cái tôi đầy táo bạo, bản lĩnh nhưng cũng đầy say

đắm trong thơ Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thanh Tâm cho rằng: “Với Dư Thị Hoàn

và Lối nhỏ, đó là hiện thân của một sự kháng cự, một lựa chọn để có thể diễn dịch đầy đủ nhất bản sắc cá thể của mình” [15– tr.319] Còn với Lưu Khánh

Thơ trong “Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam” có nhận xét: “Bài Tan vỡ

của Dư Thị Hoàn cũng đã hơn một lần bị lên án nhắc nhở Đến nay, khía cạnh này được nhìn nhận đúng mức hơn Có lẽ một phần do cách biểu hiện của từng nhà thơ, phần nữa là do tâm lý và thị hiếu của người đọc ngày càng đa dạng

và hiện đại hơn” [17– tr.20]

Bên cạnh đó còn có một số bài viết đề cập đến một số phương diện hình thức thơ Dư Thị Hoàn như: ngôn ngữ, giọng điệu, hình tượng…

Trang 9

Trên tạp chí Tia Sáng (2006), Văn Tâm đã nhận định: “Với nội dung khá

đặc thù, thơ Lối nhỏ va đập mạnh tâm thức độc giả chủ yếu do chữ chứ không phải vì từ Nhiều lúc tác giả cũng đã hy sinh từ (kể cả vần và nhạc tính)” [14]

Cũng bàn về vấn đề này, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã nói cụ thể hơn: “Đọc

thơ Dư Thị Hoàn ai cũng thấy một hình thức là lạ, toàn những bài ngắn, câu ngắn Khước từ thể cách và rất nhiều vần điệu Không nệ cả những tiết điệu của nhạc tính thông thường Y như những lời – nói – thơ, hiểu theo nghĩa: những lời nói thường có chất thơ, thế thôi” [11]

Còn Hồ Thế Hà cho rằng: “Với tấm lòng bao dung, nhân ái, Dư Thị

Hoàn đã gây được thiện cảm ở người đọc Thơ chị không cầu kỳ, kênh kiệu hoặc làm dáng trong câu chữ một cách trống rỗng mà đó là sự lựa chọn nghệ thuật xuất phát từ thực tế, suy tư của chính mình và những người thân một cách chân tình Và vì vậy, nó giản dị, gần gũi với đời thường Chính sức mạnh của

ý tứ, của vẻ đẹp tâm hồn đã giúp cho thơ chị bỏ qua một số quan hệ: vần điệu, tiết tấu để đến thẳng với độc giả bằng một chiều sâu suy nghĩ, liên tưởng mới mẻ” [3 –tr.78]

Mặt khác, ở một số bài nghiên cứu, các tác giả cũng đã có những cảm nhận đánh giá về phong cách thơ Dư Thị Hoàn:

Luận văn thạc sĩ Đặc trưng nghệ thuật thơ tự do của Lê Thị Mây, Dư Thị

Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên của tác giả Văn Thị Kiều Vương (năm 2010) cũng

khẳng định: “Thơ Dư Thị Hoàn là nỗi ám ảnh không nguôi về thận phận của

những kiếp người trong cõi nhân sinh Đó là thân phận long đong của chính mình, của người phụ nữ bạc mệnh, số phận bất hạnh, hẩm hiu, thiệt thòi của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội thông qua một loạt những hình ảnh thơ

có tính biểu tượng cao” [19– tr.83]

Luận văn thạc sĩ Tình yêu trong thơ nữ Việt Nam từ 1986 đến nay nhìn

từ cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới của tác giả Trần Thị Thu Hằng (năm

2006) có nhận xét: “Dư Thị Hoàn đến với tình yêu bằng một giọng thơ mạnh

mẽ, đầy cá tính Xuất hiện trên thi đàn chưa nhiều nhưng chị đã sớm khẳng định được chỗ đứng trong lòng độc giả bằng những khám phá sáng tạo của

Trang 10

mình Chị đã tạo cho mình một lối đi riêng dẫu không mấy bằng phẳng, dễ dàng Thơ chị viết về tình yêu và những biến thái thăng trầm của cuộc đời Trong trang viết của chị có rất ít niềm vui mà thấm đẫm những nỗi buồn trước nhân tình thế thái Đó là nỗi đau mà chỉ trái tim nhạy cảm mới cảm nhận được Thơ chị là tiếng nói sẻ chia trước những nghịch lý, những bi kịch tình yêu của người phụ nữ Vẻ đẹp tâm hồn, lòng nhân ái của chị đã thổi vào những vần thơ rất gần gũi, rất đời thường nhưng dễ được độc giả tiếp nhận” [5– tr.57]

Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các bài viết liên quan đến nhà thơ Dư Thị Hoàn, chúng tôi thấy sự độc đáo trong cá tính sáng tác của một nhà thơ nữ

Đó là giọng điệu riêng với nét mới mẻ trong mảng sáng tác về thơ tình yêu, là

sự tự ý thức giải phóng cái tôi cá nhân đầy quyết liệt của bản thân nhà thơ Song nhìn chung, phần lớn những ý kiến, bài viết mới chỉ dừng lại trên những khía cạnh riêng lẻ trong thế giới nghệ thuật thơ Dư Thị Hoàn Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu và phát triển những ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình đi trước, chúng tôi mong góp tiếng nói nhỏ bé của mình để có thể khẳng định đầy đủ,

sâu sắc hơn về thế giới nghệ thuật qua tập thơ Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Qua tập thơ Lối nhỏ, làm rõ vấn đề thế giới nghệ thuật trong thơ Dư Thị

Hoàn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

– Tác phẩm: Tập thơ Lối nhỏ (Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất

bản, 1988)

– Khóa luận đi vào các khía cạnh chính của thế giới nghệ thuật trong thơ

Dư Thị Hoàn như: không gian, thời gian nghệ thuật, nhân vật

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Làm rõ đặc điểm của thế giới nghệ thuật trong thơ Dư Thị Hoàn trong

tập thơ Lối nhỏ qua đó khẳng định giá trị thơ của chị và góp phần làm rõ hơn

một giai đoạn thơ đặc biệt

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài trên, chúng tôi xác định vấn đề nghiên cứu có những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ các vấn đề xung quanh khái niệm “thế giới nghệ thuật”

- Khảo sát hệ thống hình tượng thơ Dư Thị Hoàn qua tập thơ Lối nhỏ

- Khảo sát đặc điểm của không gian và thời gian nghệ thuật trong tập thơ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống

- Phương pháp tiểu sử - tác giả

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của

đề tài được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về thế giới nghệ thuật

Chương 2: Nhân vật trữ tình trong Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn

Chương 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong Lối nhỏ của Dư Thị

Hoàn

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật

Văn bản ngôn từ xét một mặt nào đó vốn là một biểu hiện của hình thức

bề ngoài của tác phẩm Khi đọc văn bản ngôn từ hay xem phim trên màn ảnh, xem biểu diễn trên sân khấu, chúng ta như bước vào thế giới nghệ thuật của tác giả với đủ hành động, tâm lí, nội tâm phức tạp, hấp dẫn Tuy nhiên, thế giới thực tại vốn được hiểu là một tổng thể mang quy luật nội tại, nó có tính chỉnh thể, có tính độc lập tự trị, tức là, thế giới ấy bao hàm đời sống thực tại bên ngoài, nhờ sử dụng các chất liệu của các “thế giới” khác mà tạo nên thế giới nghệ thuật Vì cảm nhận, thưởng thức văn học bao giờ cũng nằm trong tính chỉnh thể nên thế giới nghệ thuật luôn mang ý nghĩa và chứa đựng một sự giải thích đối với thế giới bên ngoài Do vậy mà trong đời sống hay trong học thuật, thế giới nghệ thuật cũng là khái niệm được sử dụng khá phổ biến

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử chủ biên, ông quan

niệm thế giới nghệ thuật là “khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng: sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới

ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm

lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ” [4– tr.303]

Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: thế giới nghệ thuật là toàn bộ các phương diện nội dung và hình thức nằm trong chỉnh thể thẩm mỹ, được xây dựng bằng một hệ thống nguyên tắc tư tưởng – nghệ thuật Nó bị chi phối bởi

Trang 13

cá tính sáng của người nghệ sĩ, vừa bắt nguồn từ thế giới quan, đặc điểm văn hóa và cảm hứng của thời đại ấy

Còn Trần Đình Sử trong cuốn Dẫn luận Thi pháp học văn học cho rằng:

“Thế giới nghệ thuật là sản phẩm do nhà văn sáng tạo ra bằng hư cấu, được truyền đạt bằng các kí hiệu và biểu tượng trong các phương tiện giao tiếp của

con người, trước hết là ngôn từ nghệ thuật” [12– tr.72] Hay trong Lí luận Văn

học (tập 2, Trần Đình Sử chủ biên), khẳng định: “Gọi bằng thế giới nghệ thuật

bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có trong tác phẩm và trong tưởng tượng nghệ thuật…Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mỹ, thế giới tinh thần của con người” [13– tr.81]

Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [9 –tr.78]

Qua những ý kiến của Trần Đình Sử và Nguyễn Đăng Mạnh, có thể thấy khi tìm hiểu thế giới nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ, ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu thế giới hình tượng của người nghệ sĩ để biết về hình tượng mà nhà văn, nhà thơ đó đi sâu khai thác và sự ảnh hưởng của xã hội, nhà văn, thời đại đối với hình tượng văn học được xây dựng Đồng thời, việc nhà văn, nhà thơ

sử dụng ngôn từ nghệ thuật, thủ pháp nghệ thuật sẽ giúp chúng ta phân biệt được phong cách sáng tác của mỗi tác giả đặt trong mối quan hệ với các tác giả khác cùng thời

Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa phản ánh hiện thực, vừa phản ánh ý thức chủ quan của nhà văn Do đó, thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng được phản chiếu qua con mắt của chủ thể sáng tạo Là đứa con tinh thần của người nghệ sỹ, thế giới nghệ thuật luôn hàm chứa và thể hiện quan

Trang 14

niệm riêng của người nghệ sỹ về thế giới, con người và bản thân sự sáng tạo

Đó không phải là thế giới tĩnh mà là một thế giới động, phản ánh những biến chuyển tinh vi và phức tạp trong tư tưởng của người nghệ sỹ Hình tượng thế giới cùng với “nhân vật trữ tình” là hai bộ phận cấu thành nên thế giới nghệ

thuật trong văn học

1.2 Cấu trúc của thế giới nghệ thuật

Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có không gian và thời gian riêng Không gian và thời gian nghệ thuật ấy được tác giả quy ước, mã hóa từ không gian, thời gian của thực tại Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là hai yếu

tố cơ bản cấu thành nên thế giới nghệ thuật trong văn học

1.2.1 Không gian nghệ thuật

Trong văn học, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật và có mối liên hệ với không gian trong hiện thực khách quan nhưng giữa chúng có khoảng cách, đặc tính riêng Không gian trong văn học không phải là không gian vật chất, địa lí… mà là một không gian nghệ thuật mang nội dung cảm thụ chủ quan, có tính biểu tượng Không gian ấy được coi là một phương tiện biểu nghĩa, nó có điểm nhìn được được soi sáng qua tâm điểm con người và các mối quan hệ xung quanh

Trần Đình Sử trong Dẫn luận Thi pháp học Văn học, cho rằng: “Gọi là

không gian nghệ thuật là bởi vì không gian này không đơn giản là tái hiện không gian của thực tại mà thể hiện quan niệm không gian của con người, và rộng ra

là của cả một nền văn hóa trong một thời kì lịch sử Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thể hiện sự cảm nhận không gian của con người,

có chức năng biểu nghĩa và có giá trị thẩm mĩ Không gian nghệ thuật là thuộc tính của tất cả loại hình nghệ thuật, kể cả âm nhạc Không gian nghệ thuật thể hiện cấu trúc bên trong của tác phẩm nghệ thuật, sâu sắc hơn nhiều so với khái niệm kết cấu, dường như là thiên về tổ chức bên ngoài của văn bản… Cũng như mọi vật trên thế giới đều tồn tại trong không gian ba chiều: cao, rộng, xa và

Trang 15

chiều thứ tư là thời gian, không gian nghệ thuật luôn gắn liền với thời gian, mở

ra với thời gian, và cũng có các chiều ấy, nhưng có thêm điểm nhìn chủ quan của con người, tạo thành một mô hình thế giới, mang đậm tính chất xã hội, thẩm mỹ, màu sắc cảm xúc, tưởng tượng…” [12– tr.127]

Từ điển Thuật ngữ văn học, cho rằng: “Không gian nghệ thuật gắn cảm

thụ về không gian nên mang tính chủ quan Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự” [4– tr.160]

Cả hai quan điểm trên mở ra cách hiểu về không gian nghệ thuật như sau: Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian khách thể Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sỹ nhằm biểu hiện cách nghĩ về thời gian, thái độ sống trước hiện thực cuộc đời Không gian nghệ thuật còn mang tính quan niệm Nó gắn liền với điểm nhìn, với cảm xúc ý nghĩa nhân sinh mà tác giả thể hiện Thông qua việc miêu tả không gian nghệ thuật, ta hiểu được quan điểm, suy nghĩ của tác giả đối với nhân vật, với các sự việc xảy ra quanh tác phẩm Không gian nghệ thuật còn là hình tượng không gian có tính chủ quan và tượng trưng, không gian ấy góp phần tạo nên chiều sâu về nội dung, tư tưởng cho tác phẩm

1.2.2 Thời gian nghệ thuật

Trong thế giới khách quan, mọi sự vật đều tồn tại trong thời gian nhất định Thời gian vốn là hình thức tồn tại có tính liên tục, có độ dài, có hướng,

có nhịp độ, có ba chiều thời gian và có tính chất không thể đảo ngược nhưng khi thời gian được cảm nhận qua xúc cảm của nhà thơ với các chuỗi biến cố có

ý nghĩa thẩm mỹ thì nó trở thành thời gian nghệ thuật

Từ điển Thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử chủ biên, viết: “Khác với

thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn

Trang 16

nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành

vô tận Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp

gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác… Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với

tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật” [4– tr.322] Nhận định trên giúp

ta hiểu, trong văn học thì thời gian được tái tạo mang tính chất chủ quan của tác giả, thời gian trong văn học diễn ra theo mạch xúc cảm của tác giả (thời gian tâm lý) cho nên chiều của nó không phải chiều tuyến tính mà nó là đa chiều, thời gian ấy có thể từ hiện tại nhìn về quá khứ và tương lai được diễn ra dưới tư duy của tác giả

Trần Đình Sử viết trong Dẫn luận Thi pháp học Văn học còn đưa ra nhận

định sau: “Thời gian nghệ thuật là một hình thức tự do của sáng tạo… Thời gian nghệ thuật là thời gian có đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thời gian nghệ thuật là thời gian hữu hạn Thứ hai, nó có tính liên tục của thời gian sự kiện,

có độ dài với nhịp độ nhanh hay chậm với các chiều dài thời gian: hiện tại, quá khứ, tương lai, thời gian động hiện hoặc vĩnh cửu… Thứ ba, thời gian nghệ thuật do nghệ thuật sáng tạo ra nên mang tính chủ quan, tự do, ước lệ, nhanh chậm gắn với thời gian tâm lí Thứ tư, thơi gian nghệ thuật là một biểu tượng, một tượng trưng, thể hiện một quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người… Thứ năm, thời gian được nhà văn sáng tạo rất đa dạng, nó thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ… Thứ sáu, thời gian nghệ thuật có thể xem xét trên nhiều bình diện Viện sĩ D.S Likhachev nói: Thời gian là đối tượng, là chủ đề, là công cụ miêu tả – là sự ý thức và cảm giác về sự vận động

và thay đổi của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời gian xuyên suốt toàn bộ văn học” [12– tr166, 168]

Nhận định của Trần Đình Sử cho thấy thời gian nghệ thuật là thời gian

do nhà văn sáng tạo ra, vừa thể hiện trạng thái của con người trong thời gian, vừa phản ảnh sự thụ cảm thời gian của con người qua từng giai đoạn phát triển

Trang 17

của văn học Nó cũng thể hiện sự thụ cảm độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới nghệ thuật Sự thụ cảm về thời gian đó xuất phát từ cảm giác thời gian, tức là, thời gian khách quan đã được ý thức, thời gian ấy mang dấu ấn tâm trạng, có tính độc đáo, tính không lặp lại Nó không thể hiện quan niệm của nhà thơ về thời gian mà còn thể hiện quan niệm về cuộc đời

Qua đó ta thấy, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật là phạm

trù hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai thế giới nghệ thuật của người nghệ sĩ Nếu trong hiện thực thời gian và không gian vận hành theo quy luật của tự nhiên thì trong sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ sử dụng những chất liệu của thời gian, không gian để lựa chọn cách sắp xếp, tổ chức lại thông qua cảm xúc nghệ thuật của người nghệ sĩ Các yếu tố thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật qua sự sáng tạo chủ quan của người nghệ sĩ sẽ mang lại một nội dung thẩm mỹ mới, độc đáo mà in đậm dấu ấn cá nhân Có thể nói rằng, thế giới nghệ thuật, con người có mối quan hệ chặt chẽ với các nhân tố không gian, thời gian, với thế giới xung quanh nó

Thế giới nghệ thuật góp phần làm rõ quan niệm về con người của nhà văn, thế giới ấy là một thế giới hình tượng vận động và mang ý nghĩa Hình tượng mang ý nghĩa ấy xuất hiện và lớn dần lên qua các sự kiện và lời trần thuật của văn bản, đạt được hoàn chỉnh khi kết thúc văn bản… Nội dung biểu hiện

chủ yếu của văn bản văn học là nhân vật

1.2.3 Nhân vật văn học

Nhân vật luôn là yếu tố cốt lõi để hình thành nội dung của văn học Đọc bất cứ tác phẩm nào ta cũng đều bắt gặp nhân vật với dung mạo, tính cách, hành

động… được xây dựng theo thông điệp muốn gửi gắm của nhà văn Văn bản

không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu

tả thế giới con người một cách hình tượng Nhân vật trong tác phẩm văn học thể hiện quan niệm về con người của mỗi nhà văn Nhân vật văn học là con

Trang 18

người cụ thể được nhà văn miêu tả trong tác phẩm văn học Trần Đình Sử viết

trong cuốn Lí luận văn học (tập 2) rằng: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng

để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [13– tr.114]

Aristotle trong cuốn Nghệ thuật thi ca chia văn học thành ba loại: kịch,

tự sự và trữ tình Mỗi thể loại văn học đều mang đặc trưng về kiểu nhân vật khác nhau, tuy nhiên, nhân vật trong kịch và tự sự đều là nhân vật thuần túy, trong khi với thể loại trữ tình chiếm trung tâm là nhân vật trữ tĩnh [2]

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử chủ biên viết: “Nhân

vật trữ tình là con người “đồng dạng” của tác giả – nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình như một con người có đường nét hay một vai sống động có

số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung… Tuy vậy, không được đồng nhất giản đơn nhân vật trữ tình với tác

giả, bởi trong thơ trữ tình nhà thơ xuất hiện như “người đại diện cho xã hội,

thời đại và nhân loại” (Bielinski), nhà thơ đã tự nâng mình lên trên đời thường

1.3 Vai trò của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học

Thế giới nghệ thuật là thế giới riêng mà nhà văn sáng tạo trong tác phẩm của mình Bước vào thế giới nghệ thuật, người đọc dường như lựa chọn đồng hành cùng nhà văn trên hành trình khám phá bản chất cuộc sống và bản thể của con người

Trang 19

Hình tượng văn học trong đó có thế giới nghệ thuật là phương thức phản ánh đời sống có tính đặc thù của nhà văn Nhà tư tưởng Nga V.Bielinski từng viết: “Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh… Nhà kinh tế – chính trị được vũ trang bằng các số liệu

thống kê, dùng chứng minh để tác động tới trí tuệ của người đọc và người

nghe… Nhà thơ, được vũ trang bằng sự miêu tả sống động và rõ nét, tác động

tới trí tưởng tượng của bạn đọc bằng cách trình bày hiện thực trong một bức tranh chân thực… Một người chứng minh, một người trình bày, và cả hai đều

thuyết phục, chỉ có khác là một đằng thì bằng các kết luận lô-gic, một đằng bằng các bức tranh” Đây là quan điểm của nhà triết học Nga về nghệ thuật, nó mang phương thức phản ánh đặc thù của nghệ thuật là hình tượng Hình tượng văn học không giống với hình tượng âm nhạc, hội họa hay điêu khắc… bởi mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một chất liệu riêng để xây dựng hình tượng như: chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu, của hội họa là đường nét, màu sắc, của điêu khắc là mảng khối còn văn học lại sử dụng chất liệu là ngôn từ, hình ảnh Hiểu như V.Bielinski viết thì văn học mang đặc tính đối lập với khoa học Nếu hình tượng văn học trong đó có thế giới nghệ thuật là phương thức phản ánh thế giới có tính đặc thù của nhà văn thì khoa học lại phản ánh thế giới thông qua các luận điểm, luận cứ, lập luận Nếu như khái niệm khoa học chỉ có một nghĩa và phải rõ ràng thì trong nghệ thuật, một hình tượng được coi là điển hình

và xây dựng thành công khi nó có khả năng bao hàm nhiều lớp nghĩa, dẫn dắt người đọc tự phát hiện ra những tầng ý nghĩa sâu xa hơn

Trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, nhà văn xây dựng nhân

vật Chí với những nét tính cách riêng, cá biệt chẳng ai có được: hắn mãi chìm sâu trong cơn say, ngủ trong lúc say Cứ mỗi lần say là hắn chửi, tiếng chửi của hắn trở thành nỗi ám ảnh đối với người đọc Và Nam Cao xây dựng nhân vật Chí như một chân dung điển hình cho những người nông dân bế tắc lâm vào bước đường cùng để rồi mất đi cả nhân hình, nhân phẩm Họ phản kháng lại xã

Trang 20

hội, phản kháng lại sự bất công của cuộc đời bằng con đường lưu manh hóa Qua cách Nam Cao xây dựng nhân vật, Chí Phèo đã trở thành nhân vật điển hình phản ánh bi kịch của những người nông dân bị tha hóa, biến dạng tở làng quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám

Bên cạnh đó, thế giới nghệ thuật là phương tiện để mã hóa thông điệp của nhà văn Sáng tác văn học vốn là sáng tạo một bức tranh thế giới được mã hóa Một câu chuyện, một nhân vật, một phong cảnh… đều là những hình ảnh

đã mã hóa ý nghĩa trong đó Chính vì thế, nhà văn qua đặc trưng của thế giới nghệ thuật phải tiến hành lạ hóa để lập mã các hình tượng văn học giúp người đọc hiểu nội dung được truyền tải trong tác phẩm văn học đó Như khi viết về

Bác Hồ, Tố Hữu viết: “Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau – Nỗi đau dân nước,

nỗi năm châu – Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ – Cho hôm nay và cho mai sau”

Câu thơ “Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau” đã sử dụng phép lạ hóa để nói về

sự “bất thường” trong tình cảm của Bác bởi con người ai cũng có những cảm xúc buồn vui xen lẫn Nhưng cái nói “chẳng buồn đâu” lại là minh chứng cho tấm lòng của một con người hết lòng vì nhân dân, đất nước Tố Hữu viết những câu thơ trên để bày tỏ biết ơn sâu nặng đối với Bác – một vị cha già dân tộc vĩ đại đã tận tụy cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc

Đến lượt người đọc, để có thể giải mã được tác phẩm, người đọc phải thâm nhập vào thế giới ấy, dùng kinh nghiệm, quan điểm tâm lí, thẩm mĩ của mình, dùng trí tưởng tượng của mình để giải mã thế giới ấy “Theo lí luận tiếp nhận thì tác phẩm do hai yếu tố tạo thành: văn bản (trong chất liệu) và khách thể thẩm mỹ (trong tâm trí) Văn bản có thể tồn tại qua các thời đại, còn “tác phẩm” do người đọc cụ thể hóa, đồng sáng tạo, cho nên luôn mang tính chất lịch sử, mỗi thời một khác, tùy theo cách tiếp nhận của xã hội, lịch sử của thời đó” [13] Nhận định này giúp ta nhìn nhận, một tác phẩm nghệ thuật là hình ảnh của cuộc sống khách quan được phản chiếu qua đôi mắt chủ quan của người nghệ sĩ, thế giới nghệ thuật ấy được tác giả định hướng, dẫn dắt nhưng người

Trang 21

đọc mới là người tự khám phá, giải mã ý nghĩa tác phẩm qua hình tượng nghệ thuật được xây dựng và ngôn từ nghệ thuật

Chẳng hạn, tiếp nối mảng đề tài về chiến tranh và người lính trong văn học thời kỳ chống Pháp, văn học thời kỳ chống Mỹ với nhiều cây bút trưởng thành từ thời kỳ chống Pháp cùng nhiều các cây bút trẻ mới đã làm nên nhiều tác phẩm có giá trị cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật, góp phần tích cực vào cuộc

chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Trong bài thơ Khúc bảy, nhà thơ Thanh Thảo có viết: “Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình – (Nhưng

tuổi hai mươi ai mà chẳng tiếc?) – Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi

Tổ quốc?” Đó là những vẫn thơ viết về ý chí quật cường, quyết tâm bảo vệ Tổ

quốc của thế hệ những người lính trẻ kháng chiến chống Mỹ bấy giờ Họ là những người nguyện hy sinh cả tuổi trẻ, tương lai vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Nhưng trong thời bình, những vần thơ ấy lại mang giá trị khích

lệ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc trong mỗi con người Đồng thời, cũng mang bài học nhận thức về vai trò, sứ mệnh của tuổi trẻ đối với vận mệnh

Tổ quốc dù ở thời chiến tranh hay hòa bình

Tuy nhiên, nếu người đọc không thể giải mã được thế giới nghệ thuật thì người đọc không thể tiếp cận được tác phẩm dẫn đến hiện tượng “đọc sai”

“Khi người đọc tiến hành giải mã hình tượng, giải mã văn bản, họ sử dụng một bảng mà giả định để thử giải thông điệp mà nhà văn đã mã hóa bằng một bảng mã khác Bảng mã giả định này có thể khớp với bảng mã mà người sáng tạo sử dụng… Nguyên nhân của việc đọc sai nằm ở vấn đề là bề mặt cái biểu đạt của hình tượng văn học có đặc điểm là được lạ hóa, mơ hồ hóa, những

cú pháp, những cách kết hợp để tạo hình có thể dẫn đến nhiều cách lí giải khác nhau Nhưng một vấn đề quan trọng không kém cũng có thể dẫn đến hiện tượng đọc sai là do yếu tố ngữ cảnh… Khi ngữ cảnh thay đổi, bảng mã cũng thay đổi theo” [18, tr.213–217]

Trang 22

Hiện tượng “đọc sai” xảy ra khi mà hình tượng nhà văn xây dựng trong tác phẩm với ý kiến chủ quan của người đọc có sự nảy sinh ý nghĩa vượt ra ngoài ý muốn của tác giả Hoặc do yếu tố ngữ cảnh (hoàn cảnh lịch sử, thời đại) mà sự tiếp nhận của độc giả cũng thay đổi dẫn đến hiện tượng “đọc sai”

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng cũng đã từng “điêu đứng” chỉ vì một câu thơ

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” mà bị coi là “mộng rớt”, “mộng rớt” Bởi

trong thời kỳ ấy, câu thơ “vấp” phải nhiều ý kiến cho rằng ý thơ không thể hiện

ý chí, tinh thần đấu tranh của người chiến sỹ ra trận mà nó viết về tình cảm riêng tư nên bị coi là ủy mị kiểu tiểu tư sản Nhưng trong thời bình, câu thơ lại

là sự minh chứng cho tinh thần lạc quan, sự hào hoa, lãng mạn của những chàng trai Hà Thành quyết tâm lên đường ra đi bảo vệ Tổ quốc

Cuối cùng, thế giới nghệ thuật là phương tiện chính để tạo ra các giá trị nhận thức, thẩm mĩ, giải trí, giao tiếp, giáo dục của văn học Tác phẩm văn học mang nội hàm ý nghĩa của thế giới nghệ thuật sẽ trở thành đối tượng tiếp nhận khi người đọc vượt qua được lớp “hàng rào” của ngôn ngữ, hình ảnh… để gặp

gỡ tiếng nói tâm tình, giao tiếp với thế giới nghệ thuật sáng tạo của nhà văn Sự

“giao tiếp im lặng” giữa nhà văn và bạn đọc dựa trên việc sử dụng tri giác và vận động tư duy ngôn ngữ sẽ giúp người đọc khám phá ra bức thông điệp nhà văn truyền tải Lao động của nhà văn là một quá trình lao động công phu, mượn bức tranh về con người, hiện thực cuộc đời, bằng khả năng cảm thụ đời sống,

sự hồi tưởng, trí tưởng tượng phong phú… đã làm nên các tác phẩm có giá trị văn hóa, mang tính giáo dục cao cho cộng đồng Như các tác phẩm viết về Bác

Hồ của Tố Hữu, Thanh Hải, Trần Đăng Khoa… là bức chân dung về con người thật, sử dụng chất liệu nghệ thuật để nâng cao tầm vóc, vị thế của Người nhưng cũng để thể hiện lòng kính trọng, ngợi ca của nhà văn, của đồng bào, nhân dân

cả nước với vị cha già kính yêu của dân tộc

Như vậy, thế giới nghệ thuật cũng chính là sản phẩm sáng tạo bằng ngôn

từ nghệ thuật của nhà thơ, nó vừa phản ánh “hiện thực” đời sống, vừa phản ánh

Trang 23

“ý thức chủ quan” của người nghệ sỹ Nhờ có thế giới nghệ thuật mà cá tính sáng tạo, nguyên tắc thẩm mỹ của mỗi nhà thơ, nhà văn lại mang nét khác biệt, hình thành phong cách sáng tác cá nhân độc đáo, mới mẻ

Trang 24

CHƯƠNG 2

NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG LỐI NHỎ CỦA DƯ THỊ HOÀN

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã dẫn đến sự thay đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật mà lĩnh vực thơ ca là địa hạt có nhiều sự đổi mới đáng kể Sự xuất hiện nhiều khuynh hướng sáng tác với một loạt các cây bút mới nổi, thuộc thế hệ đầu tiên của thời bình như Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến, Giáng Vân, Nguyễn Quang Thiều… khơi nguồn cảm hứng thi ca mới cho nền văn học dân tộc Hòa chung dòng chảy thi ca ấy, Dư Thị Hoàn đã trải lòng mình, hòa nhịp cùng sự sôi nổi của thơ ca thời đại để nói lên tiếng thơ riêng cho chính cuộc đời

mình Dư Thị Hoàn đã từng tâm sự rằng:" Thơ đến với tôi cùng lúc với những

hoạn nạn mới mẻ và sâu sắc thì đúng hơn Nó nhấn chấn động cuộc sống của tôi đến mức quá tải Tôi còn chịu đựng có nghĩa là tôi còn cơ hội để tìm hiểu tôi, giống và khác một con người ở chỗ nào? Tôi muốn mã hóa những cuộc tìm kiếm ấy Rút cuộc, tìm kiếm lại dẫn tôi đến với những bất ngờ liên tiếp chứ không phải đáp số Khi nào tôi gặp được đáp số thì có lẽ thoát được nghiệp chướng văn thơ “[10]

Lịch sử phát triển của thơ ca Việt Nam là lịch sử phát triển của thơ trữ tình, ở mỗi giai đoạn văn học khác nhau, cảm hứng sáng tác của mỗi nhà thơ

lại mang “hơi thở” riêng của thời đại ấy Phương Lựu đã từng viết trong Lí luận

văn học rằng: “Nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giai điệu, cảm xúc, trong cách nghĩ, qua những trang thơ ta gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó là nhân vật trữ tình” Nhân vật trữ tình

có khi là biểu hiện trực tiếp cái tôi thứ hai của tác giả, nhưng nhiều khi chỉ là cái tôi “nhập vai” trữ tình… Do vậy, thế giới trữ tình không chỉ hạn hẹp trong

Trang 25

một cá nhân nhà thơ, mà là một cấu trúc vô hạn, có khả năng đề cập đến rất nhiều vấn đề, nhiều con người và số phận ngoài tiểu sử cá nhân nhà thơ

Tiếp nối dòng chảy văn học nữ Việt Nam, khi vấn đề về con người được quan tâm một cách chính đáng thì các nhà thơ nữ đã phản ánh mọi biến động của cuộc đời bằng trái tim đầy xúc cảm Thế giới thơ của các nhà thơ nữ rất đỗi

đời thường, họ quan tâm đến nỗi đau số phận con người: “Người ăn mày chân

tay cụt hết – Kéo lê con trên xác tải nát nhàu – Những ánh mắt qua đường ái ngại – Nhưng túi tôi còn đồng lẻ nào đâu” (Người ăn mày – Phạm Thu Yến);

họ mang trong mình khát vọng về hạnh phúc, được làm mẹ, làm vợ, chứ không phải là sự ẩn thân gửi gắm qua những lời than thân của người chinh phụ hay

cung phi bất hạnh: “Thật khủng khiếp khi lời yêu cạn kiệt – Khi người ta cứ vô

cảm sự đời – Trước vẻ đẹp của ánh trăng, ngọn cỏ – Trước nỗi buồn da diết cũng dửng dung” (Khoảng cách – Hoàng Kim Dung) Không giống như các

nhà thơ nữ cùng thời, Dư Thị Hoàn bước vào làng thơ ca khi đã sang tuổi tứ tuần, thơ ca đến với chị như một sự bù đắp cho những nghiêng ngả mệnh kiếp

long đong của cuộc đời: “Chính là thơ, cái mà chị căm giận nhất, lại đến và

cứu vớt chị” Đọc thơ của Dư Thị Hoàn, người ta cảm nhận được độ “chín”

chất chứa trong từng vần thơ như sự minh chứng cho một cuộc đời chìm nổi, từng trải Chị vốn là người gốc Hoa được sinh ra trong gia đình đủ đầy, sung túc nhưng sau có duyên lại lấy chồng người Việt là một thầy dạy văn trong trường của người Hoa lúc chị 21 tuổi Cuộc sống gia đình khó khăn đã khiến chị “lao” vào cuộc đời mưu sinh để nuôi sống gia đình, chị làm đủ mọi nghề như: công nhân lọc dầu nhà máy cá hộp, thợ tiện nhà máy đóng tàu, buôn hàng chợ Sắt… Thậm chí, có một thời gian chị đã phải vào viện để điều trị tâm thần Nhưng nỗi đau đớn lớn nhất trong cuộc đời chị chính là cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979 đã khiến chị mất đi cả những người thân yêu nhất của cuộc đời mình Cuộc đời chị tràn đầy biến cố và thơ ca như một niềm an ủi giúp chị “tưới mát” lại bao tháng ngày vụn vỡ, đau thương ấy Cũng bởi lẽ đó mà

Trang 26

tiếng thơ chị nhạy cảm, thâm thúy, đầy táo bạo; chị đi vào thơ bằng lối riêng không giống ai nhưng Dư Thị Hoàn lại tạo nên một bước đệm để mở ra sau này

có hẳn một thế hệ các nhà thơ nữ như Phan Huyền Thư, Vy Thùy Linh… cũng mãnh liệt, táo bạo bất ngờ

Thơ Dư Thị Hoàn là tiếng nói vang lên từ tâm thức Thơ trở thành phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm những ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của

mình đối với thế giới nhân sinh Qua tập thơ Lối nhỏ, Dư Thị Hoàn đã khắc họa

cho độc giả thấy được hình ảnh một con người cô độc, lẻ loi trước những biến động của cuộc đời; một con người mang ý thức sâu sắc về giới, đồng thời, còn

là hình ảnh một người mẹ giàu tình yêu thương, đức hy sinh cao cả; một người phụ nữ thấu hiểu lẽ đời, khao khát hạnh phúc bình dị và cũng là một người cầm bút đầy trách nhiệm, cao thượng

2.1 Con người cô độc, lẻ loi trước những biến động của cuộc đời

Dư Thị Hoàn coi thơ là nơi ký thác tâm hồn với mọi nỗi buồn khó nói,

sự khổ đau hay nỗi giằng xé trong tâm khảm của mình trước hiện thực cuộc

sống Chị bước vào làng thơ với Lối nhỏ – một tập thơ chỉ vẹn 43 bài nhưng

với lối viết chân thực, mới mẻ đã gây được ấn tượng mạnh với công chúng yêu thơ đương thời Bước vào thế giới thơ Dư Thị Hoàn, người ta bắt gặp sự hóa thân nhân vật – nhân vật trữ tình tự xưng “tôi” như một khao khát tìm kiếm sự thật ở đời, luôn day dứt trước hiện thực cuộc sống, bản chất của nhân sinh, cuộc sống, tình yêu…

Những tai họa liên tiếp ập với gia đình, bản thân đã khiến Dư Thị Hoàn cảm thấy bất an, mất niềm tin vào hiện tại Chị đã từng tự vấn chính bản thân rằng:

Trang 27

Bằng bàn tay

Bằng chiếc cán gỗ

Đôi khi cả bằng bàn chân

(Lời giẻ lau)

Mượn lời “giẻ lau”, nhân vật trữ tình “tôi” thể hiện nỗi cay đắng, tủi nhục khi bị chà đạp, coi thường chẳng chút bận lòng Đó chính là nỗi đau khổ, cô đơn không được sẻ chia, thấu hiểu nên tự nhận về mình sự cam chịu, thua thiệt:

“Thân tôi bẩn cho các người sạch sẽ” Đối thoại với chính mình, nhà thơ như

được “vỡ tung” mọi nỗi nghẹn ứ kìm nén trong lòng, chị than thở về “kiếp đoạn trường” của chính đời mình:

Nhân vật trữ tình trong Hồn tỳ bà xưng “em” bộc lộ trực tiếp số phận long đong

“bảy nổi ba chìm” của mình giữa dòng đời nhưng đó cũng gợi hoàn cảnh chung cho thân phận của “những nàng Kiều” thời bấy giờ Tiếng tỳ bà ngân lên cũng chính là sự ngân vang của nỗi cảm thương cho những “nức nở” trong kiếp đoạn trường không ai thấu Sống vốn đã chẳng dễ dàng gì, ấy vậy mà sự bon chen danh lợi gay gắt khiến thi sĩ phải thốt lên nỗi chua xót của cả những cảnh đời

không mấy bình yên: “Em lăn lóc kiệt sức dưới bàn chân chiến thắng – Họ đá

bật em từ phía này sang phía nọ để lưu danh” (Tâm sự quả bóng đá) Trải qua

Trang 28

cuộc sống nhiều thăng trầm, nhất là lúc anh giáo Trọng – chồng chị đổi nghề thành nhà thơ Trịnh Hoài Giang thì bao khó khăn dồn dập đến với chị Chị nhận làm đủ nghề chỉ với mong muốn sẽ nuôi được gia đình nhỏ của mình nhưng tai nạn lao động ập đến khiến gia đình chị rơi vào cảnh khốn cùng Mọi gánh nặng

đè lên đôi vai bé nhỏ đã khiến tinh thần chị sa sút, có một thời gian chị phải vào bệnh viện điều trị bệnh tâm thần Đây được coi như một sự kiện tạo bước ngoặt

do những tổn thương đời thường mang đến cho cuộc đời chị Nhưng cũng chính trong những ngày ở trong viện tâm thần lại giúp cho Dư Thị Hoàn có cơ hội

tìm lại bản ngã của mình: “Tôi sẽ khỏi bệnh – Lại dịu dàng hát bên chiếc khung

thuê ngày ấy – Không cần bác sĩ – Không cần những viên thuốc đắt tiền – Chỉ cần đôi bàn tay nào run rẩy mang đến – Một nhành hoa dại thôi” (Trong bệnh viện tâm thần) Thơ ca đến với chị trong cả lúc bệnh tật chính là khởi nguồn

của dòng chảy tâm thức Nó thể hiện ước mơ được trở lại thực tại kiên cường

của nhân vật “tôi” và niềm khao khát được cuộc đời công nhận dù chỉ là “nhành hoa dại” nhưng sức sống bền bỉ, kiên cường vô cùng Chị khao khát vượt qua nghịch cảnh, tận tụy với công việc của mình và dành rất nhiều tình cảm với dải đất hình chữ S thân thương Chị nhận thức lại về lịch sử dân tộc từ điểm nhìn của con người mang dòng máu Trung Hoa nhưng gắn bó với mảnh đất Việt:

Tôi quỳ sụp trước hai tiếng hư vô

Người là ai?

Uy nghiêm trên ngai vàng tín ngưỡng

Có giây phút nào người ái ngại

Đất đai đóng khung vì người

Tình yêu chật hẹp vì người

(…)

Đường viền của người thắt quặn trái tim

(Tổ quốc)

Chị mang trong mình dòng máu Trung Hoa nhưng mang tình cảm sâu

nặng với mảnh đất, con người nước Việt Trong Bức thư người Hoa, chị trải

Trang 29

lòng mình rằng: “Hỡi các em – Đang quay tụ bên bánh kem hình cây tháp –

Nhân ngày vui, dâng cây nến tựa lời thay chị – Xin mẹ bớt âu lo – Cho giọt máu xẻ chia miền đất xa tít tắp –… Các em ơi – Thương chị thương sao nổi…– Chị sẽ đền ơn mẹ – Và lúc đó đừng ngại nhiên các em nhé “ Bức thư là lời của

người con lấy chồng xa xứ mang nhiều ưu tư, nỗi nhớ người thân, gia đình

nhưng luôn lạc quan, hy vọng vào tương lai tươi sáng: “Nếu mai sau – Bài thơ

được chắp cánh bay cao – Bằng lao động kiệt cùng” Chị luôn canh cánh trong

lòng ước muốn được “đền ơn mẹ”, luôn ao ước được đoàn viên sum vầy Nhưng

thật không may với cuộc đời chị khi Chiến tranh biên giới Việt Trung nổ ra

(17/02/1979) – một cuộc chiến tranh kéo dài gần mười năm nổ ra trên toàn biên giới hai nước Việt – Trung đã khiến chị mất đi người mẹ thân yêu nhất của

mình: “Mẹ ơi – Sao mẹ giấu con không nói thật – Rằng chuyến tàu đêm ấy là

chuyến cuối – Chở bà con qua biên giới Việt Trung – Rằng lần ấy là lần cuối…” (Mười năm tiếng khóc) Lời thơ ai oán của nỗi buồn chia ly, cho tiếng khóc mất

mẹ, cho cả “mười năm tiếng khóc” cắt cứa tâm hồn chị Thơ xưa từng chứng

kiến biết bao cuộc chia ly: “Người lên ngựa, kẻ chia bào – Rừng phong thu đã

nhuốm màu quan san” hay cuộc tiễn biệt trong nước mắt của người chinh phụ

tiễn chồng ra trận: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió – Thiếp thì về buồng cũ chiếu

chăn” Sự chia ly nào chẳng thấm đẫm đớn đau, nhất là khi chiến tranh luôn

mang tới đau thương: “Tôi hai mươi – Tôi thành bà góa sống – Không còn biết

khóc – Quen rồi chỉ mỉm chặt môi – Mỗi lần xiết tay quay chiếc la–tô bốn chấu…” (Gửi một nhà thơ mặc áo lính) Hiện thực chiến tranh đã khiến người

phụ nữ ấy trở thành bà góa khi tuổi đời đôi mươi – cái tuổi đẹp nhất của một đời người Nhân vật tâm tình xưng “tôi” mang nỗi đau của biết bao người mẹ, người vợ Việt Nam thời bấy giờ Để rồi, khi nghĩ về chiến tranh, trong tâm tưởng luôn vọng lại sự ngậm ngùi:

… Thế là mười năm trôi qua

Các cháu không nhà ngoại để về phá cỗ

Trang 30

Thế là mười năm trôi qua

Bữa cơm ba mưới tết chan nước mắt cả nhà…

(Mười năm tiếng khóc)

Chiến tranh biên giới Việt - Trung1979 xảy ra đã gây nên nỗi đau đớn lớn trong cuộc đời Dư Thị Hoàn khi chị phải chia ly mãi mãi với người mẹ kính

yêu của mình: “Mẹ con mình rồi mỗi người một ngả” Cuộc sống của chị bị

đổi thay rất nhiều khi làn sóng bài xích người Hoa đã đẩy chị cùng gia đình vào hoàn cảnh sống ngặt nghèo, gieo neo Thậm chí trong tang thương ấy, bị ảnh hưởng tâm lý bài Hoa mà người chồng cũng xa lánh luôn cả chị Chẳng mất mát nào đau bằng mất người thân, chẳng đau thương nào khắc khoải bằng bị chính chồng “khước từ”, chị trở nên nhỏ bé, cô đơn giữa cuộc đời nhưng chưa bao giờ chối bỏ thực tại Chị vươn lên nghịch cảnh, sống và bắt đầu sáng tác văn nghệ, trở thành Trưởng chi hội thơ, Hội phó Hội Văn nghệ Hải Phòng, chị lấy thơ làm cứu cánh bằng một trái tim đa cảm đầy nhân ái nhưng cũng đầy

quyết liệt, táo bạo: “Tôi nấp – Tôi nghe – Tôi nín thở – Rồi tất cả trong tôi vun

vỡ ra – Sức cộng hưởng tàn phá – Tôi bắt gặp thi ca” (Viết tặng một nhà thơ già) Không chỉ có vậy, Dư Thị Hoàn còn cảm nhận được nỗi nhọc nhằn trong

cuộc sống mưu sinh của mỗi con người qua hình ảnh chuyến tàu Nam – Bắc:

“Mỗi ngày ngần ấy chuyến – Đoàn tàu chở bao nhiêu nỗi lo âu lên dốc” (Qua

đèo Hải Vân) Mỗi chuyến tàu lăn bánh lại chở theo cuộc đời của biết bao người

lao động nghèo khổ và dường như, chị mắc nợ với những tiếng kêu thương muôn kiếp từ cuộc đời ấy:

Trang 31

Chị hòa mình vào dòng đời để thấu cảm khổ đau mà chiến tranh, sự nghèo đói của cuộc sống đang bủa vây lấy họ Cô đọc, lẻ loi trước những biến động của cuộc đời, Dư Thị Hoàn vẫn mở rộng lòng mình để thương cho thân phận những người cùng khổ dù chẳng ai có thể thấu nỗi cơ cực, mất mát trong tâm can lòng chị Mọi tâm tình chị đều gửi qua thơ như một lựa chọn sinh tồn giúp chị vượt qua tất thảy khổ ách của kiếp sống con người

2.2 Một người mang ý thức sâu sắc về giới

Thơ nữ sau 1975 triển hiện đa dạng với sự mở rộng về đề tài, chủ đề, tư tưởng đã làm mới cả một giai đoạn văn học Văn học nữ thời kì này tập trung vào vấn đề con người mà chủ yếu là khắc hoạ chân dung tinh thần của người phụ nữ thời bình Cũng như các nhà thơ nữ đương thời, Dư Thị Hoàn quan niệm thơ là cuộc sống bởi mỗi bài thơ giống như một lát cắt về chính cuộc đời chị vậy, ở đó, chị gửi gắm mơ ước, khát vọng về một cuộc sống đủ đầy hạnh phúc, tình yêu Mang nhận thức sâu sắc về giới, ngay từ nhan đề các bài thơ của chị, người đọc cũng cảm nhận được xu hướng viết cho mình và cho những người

phụ nữ xung quanh mình như: Hãy nói với tôi, Đừng giận em, Chị ấy, Tặng

người đàn bà ngồi đan…

Dù viết về mình hay cuộc đời, hạnh phúc hay khổ đau thì thơ chị luôn bắt nguồn từ trái tim – một trái tim bé nhỏ khiêm nhường nhưng luôn khao khát

yêu và được yêu, sống chân thành và nhiệt huyết nhất: “Có lối nhỏ chia đôi

thảm cỏ – Em thả bước chán chường –…– Biết làm sao bây giờ – Chính lối này đưa em tới anh…” (Lối nhỏ) Đôi khi sống trong tình yêu ngọt ngào quá, người

ta còn được trải qua cảm giác ghen mà ca dao xưa đã từng đúc kết đầy ý nhị

rằng: “Ớt nào mà ớt chẳng cay – Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng” hay

“Trăm năm lòng gắn dạ ghi – Nào ai thay nút đổi khuy cũng đừng” Nhưng đến

với thơ Dư Thị Hoàn, cái “ghen” ấy là tiếng nói trực tiếp ẩn sâu từ cõi lòng chị:

… Cây súng trong tay anh

Sao em ghen đến thế

Trang 32

Chăm chăm đỉnh đầu ruồi

Đêm nay anh ngắm ai?

(Đừng giận em)

Nhân vật “em” mang tâm sự thường tình của người phụ nữ trong tình yêu, đó là xúc cảm của người con gái mong được chăm sóc, nâng niu để khỏa

lấp những thăng trầm trong đời sống

Nhiều nhà thơ nữ đã ý thức sâu sắc về cuộc sống mang đặc điểm giới của

mình Xuân Quỳnh từng viết: “Chúng tôi còn phải xếp hàng mua thịt - Sắm

cho con đôi dép đến trường - Chúng tôi quan tâm đến xà phòng, đến thuốc đánh rang - Lo đan áo cho chồng con khỏi rét” (Thơ vui về phái yếu) Mọi cử chỉ,

hành động ngày thường từ “xếp hàng mua thịt” đến “sắm dép cho con”, “lo đan

áo cho chồng con…” đều xuất phát từ nhận thức trách nhiệm của người phụ nữ với gia đình Dư Thị Hoàn cũng cùng chung mối quan tâm như vậy:

Căn phòng hẹp không chỗ kê bàn ghế

Mâm cơm dọn sẵn đặt lên sàn xi măng

Bồn chồn đôi chân đợi ngoài ngõ

Trở vào nâng nhẹ chiếc lồng bàn

Canh cua bể nấu miến đã trương sình

Đĩa mực xào không còn bốc khói

Hai cái bát hai đôi đũa chờ nhau

Nhận lời rồi sao anh không tới”

(Xa dần kỷ niệm)

Nhân vật trữ tình “em” trong bài thơ mang trong mình bồn chồn đợi chờ của một người con gái đang đợi “anh” đến dùng cơm cũng nhưng ước mơ đó không thành hiện thực khi “anh không tới” Dường như, tâm trạng của “em” trong bài thơ cũng là nỗi lòng của biết bao người phụ nữ mong có được một mái ấm gia đình hạnh phúc, người phụ nữ ấy sẽ vun vén, lo toan công việc nhà

Ngày đăng: 28/08/2019, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN