đã nhận định: Gần nửa thế kỷ làm thơ, sống gắn bó với thơ - Lệ Thu đã chứng tỏ sự nhạy bén và tinh tế qua từng tác phẩm được giới thiệu; điều này cho thấy, sức sáng tạo của chị rất đỗi
Trang 1MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới của luận văn 7
6 Bố cục luận văn 7
CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM, CẢM HỨNG VÀ HÀNH TRÌNH THƠ LỆ THU 8
1.1 Giới thuyết khái niệm 8
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 8
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình 9
1.2 Các cảm hứng nổi bật trong thơ Lệ Thu 11
1.2.1 Cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước 12
1.2.2 Cảm hứng thế sự 20
1.2.3 Cảm hứng đời tư 24
1.3 Hành trình thơ Lệ Thu 32
1.3.1 Các chặng đường thơ 32
1.3.2 Sự thống nhất và biến đổi của tư duy thơ Lệ Thu 40
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH TƯỢNG NỔI BẬT TRONG THƠ LỆ THU 45
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lệ Thu 45
2.1.1 Cái tôi công dân 46
2.1.2 Cái tôi nữ tính 51
Trang 22.1.3 Cái tôi cô đơn 56
2.3 Hình tượng không, thời gian nghệ thuật 59
2.3.1 Khái niệm không, thời gian nghệ thuật 59
2.3.2 Hình tượng không, thời gian hiện tại gắn với cuộc sống chiến trường 61
2.2.3 Hình tượng không, thời gian hiện tại gắn với cuộc sống đời thường 63
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM THỂ THƠ, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG THƠ LỆ THU 67
3.1 Thể thơ 67
3.1.1 Thơ tự do đạt thành tựu nổi bật 67
3.1.2 Các thể thơ khác 71
3.2 Ngôn ngữ thơ 75
3.2.1 Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, đời thường 75
3.2.2 Ngôn ngữ thơ giàu nữ tính 77
3.3 Giọng điệu 78
3.3.1 Giọng trữ tình đằm thắm 78
3.3.2 Giọng suy tư, triết lý 80
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 3bản, cùng một tuyển tập gồm 268 bài thơ và một trường ca (12 chương) lấy
tên là Điềm đạm Việt Nam Tuyển tập thơ như một mốc đánh dấu cho quá
trình sáng tạo miệt mài của nhà thơ Với quá trình hoạt động nghệ thuật nghiêm túc như vậy, chúng tôi chọn thơ Lệ Thu làm đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn Thạc sĩ
Tiếng thơ Lệ Thu ngân vang như tiếng lòng của bao người dân Việt, bởi thơ chị dung dị, gần gũi dễ đi vào lòng người, những ai đã có dịp đọc qua thơ
Lệ Thu khó lòng mà quên được Vì thế cho nên thơ Lệ Thu hay được các công chúng yêu thơ đọc và bình phẩm, được nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học đánh giá, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên ngoài những bài viết đó thì cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ về thế giới nghệ thuật thơ của nhà thơ này Vì vậy chúng tôi
chọn đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Lệ Thu trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong các công trình của những người đi trước
để nhằm góp phần nhận diện thơ Lệ Thu sâu hơn, rộng hơn đưa ra được một
cái nhìn đầy đủ và có hệ thống về tác giả
Trang 4Về nội dung: Thơ Lệ Thu mang hơi thở của thời đại, quê hương, đất
nước, con người không những mang dấu ấn thời gian hoài niệm mà còn mang dấu ấn cuộc sống hiện đại Lệ Thu với sự tinh tế của mình đã có được những vần thơ bắt kịp những chuyển biến, đổi thay của đời sống tâm hồn và trần
thế Bởi thế nên Mai Thìn với bài viết Lệ Thu từ Khoảng trời thương nhớ đến Tri kỉ đã nhìn nhận:
Lệ Thu là một người thật tinh tế và nhạy cảm Cái nhạy cảm ấy không chỉ của một nhà thơ mà còn của người mẹ, người chiến sĩ trực diện với những đau thương mất mát mà quân thù trút xuống quê hương [41, tr 70]
Bằng sự tinh tế và nhạy cảm của trái tim người phụ nữ - người mẹ - người lính mà chị đã đưa tất cả những cảm xúc vẹn tròn tin yêu nhất của mình vào từng con chữ, từng lời thơ như máu thịt
Thơ Lệ Thu dễ đi vào lòng người vì tác giả viết bằng hết cả cái tâm, cái lòng của mình, dành cho quê hương, cho đồng đội cho đời và cho người
Trong Vài cảm nhận về Tri kỉ của Lệ Thu Hoài Yên đã viết:
Những điều mà tác giả suy tư trăn trở…thật ra không có gì mới Điều hấp dẫn người đọc là ở cái tâm giàu nhân ái, ở tấm lòng nhiều trắc ẩn ở những cảm nghĩ tinh tế của một trái tim đa cảm, dễ xúc động trước ngoại cảnh và trước những điều tai nghe mắt thấy của nhân tình thế thái, cũng như những suy ngẫm sâu kín của lòng mình Nhờ thế, chị
đã xây dựng được những hình tượng thơ đẹp, có hồn và giàu sức gợi, tạo nên sự trân trọng về các hình tượng đó… [41, tr.99]
Cũng đồng quan điểm đó Trần Thanh Đạm trong bài Những vần thơ từ
xứ sở loài chim yến cũng nhận định:
Trước tiên, thơ chị là tiếng nói của một tấm lòng, của một con người Bóng dáng nhà thơ sau những bài thơ dù thấp thoáng vẫn
Trang 5rất rõ nét Bóng dáng một tâm hồn chân thành, nhân hậu, song không hề mộc mạc đơn giản Lại còn sâu sắc, lắng đọng và cao quý nữa Là nhà thơ nữ, cũng như nhiều nhà thơ nữ, chị có những câu thơ đặc sắc và cảm động về tình yêu, một tình yêu dường như không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với hạnh phúc, thường diễn ra khắc khoải, đợi chờ, phân vân [41, tr.62]
Đọc thơ Lệ Thu hầu như người đọc dễ nhận thấy một mối sầu canh cánh,
một nỗi buồn phảng phất cô đơn Thái Doãn Hiểu với bài Lệ Thu - Canh cánh niềm đau đã viết: “Lệ Thu là người đa cảm, đa tình, đa mang nên đa
truân và cả đa đoan nữa Vì lẽ ấy, thơ chị buồn Nỗi buồn thấm vào thơ, buồn ngay cả khi chị vui.” [41, tr.42]
Riêng Trần Thanh Đạm trong Những vần thơ từ xứ sở loài chim yến lại
có một cách nhìn nhận khác:
Thi pháp của Lệ Thu là thi pháp của thế hệ các nhà thơ 60 –
70 Đặc sắc của thế hệ này là rất sâu sắc, nhuần nhuyễn giữa hai phía riêng và chung, tình cảm và lý tưởng, dân tộc và hiện đại Thế
hệ 80 -90 phải vượt họ song hiện còn chưa vượt được Tôi không còn chỗ trong bài này để nói thêm về một chủ đề khác của thơ Lệ Thu: đó là tình quê hương của chị, quê hương đầy nắng gió biển trời của muối Bình Định – Quy Nhơn mà chị gọi là “xứ sở của loài chim yến”… [41, tr 66]
Về nghệ thuật: Thơ Lệ Thu cũng nhận được nhiều ý kiến khác nhau Hồ
Thế Hà cho rằng:
Thơ Lệ Thu có nhiều khoảng lặng, khoảng trống sau văn bản, ngoài câu chữ Chị không chủ trương chạy theo model, làm dáng và lai căng, đánh mất bản ngã thơ của mình Vốn sống, vốn học vấn và vốn tri thức nghệ thuật đã giúp chị bền bỉ với thi ca mà không sợ
Trang 6đuối sức và không sợ lặp lại chính mình…thơ Lệ Thu gần với thơ Mới 1930 – 1945, nhưng có phá cách và linh hoạt để phù hợp với tình cảm và tâm trạng của chủ thể và của chính nhà thơ Sự tuân thủ thi pháp ngữ điệu của tiếng Việt khiến thơ chị luôn hài hòa, giàu nhạc tính, dễ cảm hóa lòng người [61, tr 420]
Trong bài Nỗi người - Nỗi đời trong thơ Lệ Thu Đặng Quốc Khánh viết:
Thơ Lệ Thu chủ yếu là thơ tâm trạng Thơ chị không đại ngôn kiểu cách hay cao đạo không làm công cụ minh họa cho một chủ nghĩa hay giáo thuyết nào Ngôn ngữ thơ chị chắt lọc cẩn trọng bình
dị nhưng đằm thắm thiết tha đồng cảm người đọc bởi tấm lòng [25]
Mang Viên Long trong bài Nhà thơ Lệ Thu đã “tự nhủ” với mình điều gì? đã nhận định:
Gần nửa thế kỷ làm thơ, sống gắn bó với thơ - Lệ Thu đã chứng tỏ sự nhạy bén và tinh tế qua từng tác phẩm được giới thiệu; điều này cho thấy, sức sáng tạo của chị rất đỗi phong phú, bền bỉ; nhất là luôn “bắt nhịp” được với mọi biến chuyển vi tế của đời sống, của thời đại, cho dầu vẫn với phong cách “điềm đạm” của những vần thơ giàu âm điệu, trong sáng và trữ tình! [32]
Đỗ Lân nói về Nghệ thuật biểu đạt của Lệ Thu trong Khoảng trời thương nhớ đã nhận xét:
Tôi hiểu rằng nghệ thuật biểu đạt của Lệ Thu là bằng trái tim bằng tuổi trẻ, bằng tâm hồn, bằng tình yêu… trân trọng, thắm thiết, thủy chung… Và đó là chính yếu truyền cảm xuyên suốt tác phẩm? [41, tr.92]
Nhưng dường như, nghệ thuật đặc sắc nhất trong thơ Lệ Thu chính là
cảm xúc và trí tuệ, chính nó đã mang những vần thơ “sống” đến với bạn
yêu thơ như GS.TS Mã Giang Lân trong Lệ Thu – Tri Kỷ nhận định:
Trang 7Thơ Lệ Thu chưa có cách tân gì về câu chữ, thể điệu, ngôn ngữ, diễn đạt, nhưng lại rất chín trong cảm xúc và trí tuệ Trí tuệ và cảm xúc tạo nên những cân bằng trong thơ chị Người đọc yêu cầu thơ phải thỏa mãn được tình cảm và thỏa mãn được
cả trí tuệ Lệch bên nào cũng không ổn Tình cảm quá thơ sẽ không cất mình lên được, trí tuệ quá thơ sẽ thiếu cái màu mỡ, xôn xao của cuộc đời Thơ phải có bản lĩnh để đi vào giữa hai cạnh sắc của tình cảm và trí tuệ [41, tr.109]
Nguyễn Đức Quyền trong bài Đọc “Xứ sở loài chim yến” lại nhận xét:
Nếu cần nói về nhược điểm biểu hiện của thơ chị, tôi sẽ nói vài điều này: thơ chị chỗ này chỗ nọ còn hơi dễ dãi Giữa những đoạn thơ viết khá công phu chị lại buông lơi một vài câu hời hợt Có khi vì một chữ non lép mà tứ thơ đổ: “Ta đã sống những ngày hồ hởi” Tiếc là câu thơ đó lại nằm trong một bài thơ có trọng lượng của chị: “Gửi lại” Một điều nữa là trở lực của sự diễn đạt Trong hầu hết các trường hợp tôi đã thấy chị vượt lên những trở lực của sự diễn đạt, thơ chị thanh thoát Một đôi khi chị còn bị sự câu thúc của vần điệu mà ý thơ trở thành nông nổi… [41, tr.83]
Ngoài ra thơ Lệ Thu cũng là đề tài nhận được sự yêu thích và quan tâm của sinh viên, học viên trường Đại học Quy Nhơn với nhiều công
trình nghiên cứu Nguyễn Trung Kiên, với Luận văn thạc sĩ: Con người
và quê hương Bình Định trong thơ Lệ Thu Nguyễn Thị An với Khóa
luận tốt nghiệp đại học đã nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật thơ Lệ
Thu qua đề tài Đặc điểm thơ Lệ Thu v.v…
Như vậy qua các bài nghiên cứu phê bình thơ Lệ Thu nêu trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện ra
Trang 8một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật nổi bật Nhưng nhìn chung các bài viết này mới đi vào tìm hiểu bài thơ, tập thơ hoặc chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt nào đó của thơ Lệ Thu, chứ chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu riêng về thế giới nghệ thuật thơ Lệ Thu Trên cơ sở tiếp thu những
ý kiến của các tác giả đi trước, chúng tôi mạnh dạn bắt tay vào nghiên cứu vấn đề này để hoàn thành luận văn của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ thơ Lệ Thu nhưng tập trung vào 2 tập thơ tuyển tiêu biểu nhất là:
- Đến với thơ Lệ Thu, NXB Thanh Niên, HN, 2000
- Điềm đạm Việt Nam, NXB Văn học, HN, 2014
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Lệ Thu qua việc
khảo sát các tập thơ tiêu biểu của tác giả
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Thơ của Lệ Thu là một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn và mang tính hệ thống Vì thế khi nghiên cứu chúng tôi đặt nó trong một hệ thống chung theo một trật tự nhất định
4.2 Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích những nhận xét về thơ Lệ Thu có dẫn chứng cụ thể, giúp cho việc so sánh đối chiếu có thêm sức thuyết phục
4.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản thơ, phân tích các câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu và điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận văn
Trang 94.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Việc sử dụng phương pháp so sánh là để khẳng định nét độc đáo, đặc sắc của thơ Lệ Thu trong mối tương quan so sánh với tác giả, tác phẩm khác Sử dụng phương pháp này chúng tôi có cơ sở để tìm hiểu, lí giải, xác định rõ những giá trị cũng như những đóng góp của thơ Lệ Thu
5 Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ của Lệ Thu, góp vào quá trình nghiên cứu các tác giả thơ Việt đương đại Luận văn có thể dùng làm Tài liệu tham khảo cho sinh viên Ngữ Văn và học viên cao học văn học Việt Nam
Trang 10Chương 1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM, CẢM HỨNG VÀ HÀNH TRÌNH THƠ LỆ THU 1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật của một tác phẩm là nơi phản ánh toàn bộ giá trị thực của tác phẩm, đó cũng là những sáng tạo nghệ thuật của tác giả Thế giới nghệ thuật là nơi giúp người nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn về tác phẩm, tác giả
và trở thành công cụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu các hiện tượng văn học Tuy vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật cũng có rất nhiều cách hiểu:
Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi cho rằng thế giới nghệ thuật là:
Khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc
dù nó phản ảnh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật [12, tr.302]
Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa cho rằng:
Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và là một giá trị thẩm mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính
Trang 11sáng tạo nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh nghệ thuật, tư tưởng của nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kì nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều nền dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan tới nhiều yếu tố của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hiện tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật
là thế giới thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng, trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người
là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì lịch sử đều có thế giới nghệ thuật
của riêng mình (Sự hình thành và những vận động của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại)
Như vậy thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể toàn vẹn của mọi sự sáng tạo Thế giới ấy cũng chính là đứa con tinh thần của mỗi người nghệ sĩ Vì vậy nó mang trong mình cái riêng của mỗi tác giả, mỗi tác phẩm, cũng như trào lưu văn học Nhất là trong thơ trữ tình thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú, đa dạng vừa phản ánh hiện thực vừa phụ thuộc vào thế giới tư tưởng, cảm xúc của chủ thể trữ tình
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
Căn cứ vào phương thức phản ánh người ta chia văn học ra làm ba thể loại lớn: tự sự, trữ tình và kịch Mỗi thể loại lại bao gồm nhiều thể loại nhỏ
Tự sự có sử thi, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài Kịch có hài kịch, bi kịch, chính kịch Trữ tình có thơ văn xuôi, thơ cách luật, thơ trữ tình, tuỳ bút với mỗi thể loại sẽ có loại hình thế giới nghệ thuật riêng, có qui luật
Trang 12vận động riêng và hình thức tổ chức biểu hiện riêng Thơ trữ tình là thể tài của trữ tình Khái niệm thế giới nghệ thuật của nó cũng bao hàm đầy đủ các cấp độ, yếu tố của thế giới nghệ thuật nói chung Nhưng các cấp độ các yếu tố này có hình thức biểu hiện riêng Thơ trữ tình là thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể tài khác trong thể loại trữ tình và thơ tự sự Thơ trữ tình có khả năng bộc lộ cảm xúc rất lớn Cảm xúc tuy là của riêng từng cá thể nhưng lại bắt nguồn từ cuộc sống nên trong thơ trữ tình dễ bắt gặp những vấn đề riêng nhưng rất chung như chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện chung, chuyện riêng Dù nói gì đi
nữa thì nổi bật trong thơ vẫn là “bản tự thuật của tâm trạng” (Bielinxki)
Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu
tố, cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Mỗi cấp độ, yếu tố này lại có thể là một chỉnh thể nhỏ hơn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với những yếu tố
Khi nghiên cứu về thế giới nghệ thuật thơ trữ tình, các nhà lí luận văn học đã nghiên cứu trên các phương diện sau:
Thứ nhất là phương diện hình tượng nghệ thuật Đó là hạt nhân của
Trang 13chỉnh thể nghệ thuật, gồm: hình tượng nhân vật trữ tình; hình tượng không
gian, thời gian nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật là bức tranh của cuộc sống
vừa cụ thể, cảm tính vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm mỹ Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm thống nhất chứ không hề đồng nhất với hình tượng ở ngoài đời thực và nó có tính khái quát cao hơn hình tượng thật ở ngoài đời thực Hình tượng nghệ thuật có nhiều cấp độ và bộ phận quan trọng nhưng quan trọng nhất là nhân vật hay hệ thống nhân vật nhằm thể hiện dụng ý nghệ thuật thẩm mỹ của người nghệ sĩ
Thứ hai là phương diện ngôn ngữ nghệ thuật Đó là những phương tiện nghệ
thuật tiêu biểu thể hiện hình tượng thơ như thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu Thế giới nghệ thuật là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều cấp
độ nên việc phân tích, cắt nghĩa cụ thể, rõ ràng trong khuôn khổ một luận văn là rất khó Vì vậy trong Luận văn này, chúng tôi chỉ xin giới hạn các vấn đề của thế giới nghệ thuật trên cơ sở tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản như: hình tượng cái tôi trữ tình, không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu và vận dụng tìm hiếu các vấn đề này trong thơ của tác giả Lệ Thu
1.2 Các cảm hứng nổi bật trong thơ Lệ Thu
Lệ Thu đến với thơ và dành cả cuộc đời của mình cống hiến cho thơ ca còn bản thân mình nhà thơ nguyện làm con tằm rút ruột nhả tơ cho đời:
Tôi xin làm một con tằm
Suốt đời rút ruột chết nằm trong tơ
Nguyện không làm chiếc gương mờ
Trưng nơi trang trọng dối lừa người soi
(Nguyện)
Đó cũng như một lời tâm niệm, một quan niệm sống, một nhân cách sống cao cả của một đời người, một đời thơ Với khát khao cống hiến cuộc đời và tài năng của mình, thơ ca của Lệ Thu luôn được nuôi dưỡng nâng niu từ những
Trang 14cảm xúc thật, từ những gì chủ thể trữ tình đã trải qua, đã chứng kiến, đã hòa hợp, đó là lí do để thơ Lệ Thu dễ đi vào lòng người và có vị trí riêng neo đậu nơi trái tim người đọc
Cảm hứng thơ là điểm thú vị và đặc trưng nơi thơ Lệ Thu Chính sự quy định của thời đại, sự vận động của lịch sử xã hội, khiến cho cảm hứng chủ đạo trong thơ Lệ Thu cũng có sự dịch chuyển từ cảm hứng về lịch sử - quê hương - đất nước sang cảm hứng thế sự và đời tư
Cảm hứng thơ được hiểu là nội dung tình cảm chủ đạo của tác phẩm, đó là nơi cảm xúc của tác giả được thể hiện rõ nét Vì vậy đi tìm hiểu cảm hứng thơ
là tìm hiểu tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của tác giả khi sáng tác ra tác phẩm
1.2.1 Cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước
Là một công dân, nhà thơ, một nhà báo chiến trường, đi nhiều nơi cả thời thơ ấu và tuổi thanh xuân ngập chìm trong khói lửa của cả hai cuộc chiến tranh, bởi thế hơn ai hết Lệ Thu có ý thức công dân cao độ và được thể hiện qua thơ với các đề tài lịch sử - quê hương - đất nước Là nhà thơ thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ, như bao con người khác Lệ Thu phải từ biệt con thơ để có mặt ở chiến trường vào những năm tháng khói lửa chiến tranh ác liệt nhất Chị chứng kiến sự hi sinh của đồng đội, những mất mát của chiến tranh, sự tự do của quê hương được đổi bằng máu xương của đồng bào … vậy nên cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ chị
Trong tuyển Điềm đạm Việt Nam, với tổng 267 bài thơ đã có 67 bài thơ nằm trong mục riêng Quê hương - Đất nước, chiếm tổng số 25% Mang
trong mình trái tim của một người con Việt Nam, trải qua thời khói lửa ác nghiệt, nhịp thơ Lệ Thu đã cho người đọc cảm nhận chân thật mà tinh tế về những vấn đề lớn lao của của lịch sử dân tộc Cảm hứng ấy đã giúp Lệ Thu thổ lộ lòng mình với từng tấc đất quê hương không mang tính hô hào, mà vô cùng gần gũi như một lời tâm sự, một lời thổ lộ Vì thế thơ chị đi vào lòng
Trang 15người một cách tự nhiên nhất, chân chất nhất như con người tác giả
Ngay trong bài thơ đầu của tuyển tập 267 bài thơ, mang tên Điềm đạm Việt Nam Lệ Thu đã khái quát những điều bình dị làm nên tâm hồn từng con
người Việt Nam: Toàn những điều gần gũi: “biển”, “đất”, “nhánh ổi”,
“cành tre”, “tiếng võng trưa hè”, “câu ca dao”… những điều ấy đã nuôi lớn
từng tâm hồn người dân Việt Tất cả làm nên quê hương, xứ sở để rồi mỗi khi
ai đó đi xa, khi nhắc về quê mình cũng phải chạnh lòng thương nhớ câu ca dao bà hát trưa hè, tiếng võng kẽo kẹt ru cả giấc mơ ngoan Lệ Thu nói về tính cách của con người Việt:
Hơi ngượng ngùng trước một lời khen
Thoáng ngơ ngác trước điều phản trắc
Thuộc lịch sử cha ông để tin yêu mà đánh giặc
Nhớ rõ người giúp mình để trả nghĩa, đền ơn…
(Điềm đạm Việt Nam)
Vần thơ của Lệ Thu đã gợi nên những đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: ân nghĩa, thủy chung, nhưng cũng vô cùng khiêm tốn Chính họ đã làm nên lịch sử, làm nên một đất nước ngoan cường đi vào sử sách Như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước
nhà Việt Nam” (Lịch sử nước ta), Lệ Thu cũng khẳng định “Thuộc lịch sử
cha ông để tin yêu mà đánh giặc” Đó cũng chính là điều nhà thơ tâm niệm
cho mình và nhắc nhở cho mọi người Vậy mới thấy cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước chính là cảm hứng quan trọng trong sáng tác của chị Chị
trực tiếp chứng kiến những khổ đau của dân tộc: “Qua bao nhiêu ngày bão giông/ Ngày cơ cực và ngày nghiệt ngã/ Bao năm tháng nhọc nhằn vất vả/
Vẫn nụ cười đằm thắm trên môi” (Điềm đạm Việt Nam) Những năm tháng
ấy mãi không thể quên Chị đã cho thấy sức mạnh của con người Việt Nam, vẫn mãi một nụ cười hiền, không sợ sệt trước bão giông, mạnh mẽ và can
Trang 16trường chiến đấu, với tình yêu thương đất nước vô bờ “Thương đất nước mình phải chịu lắm phong ba”
Trong Lời trên cánh cửa Lệ Thu nói lên lòng quyết tâm của cả một dân
tộc trên chặng đường dài: “Lời trên cánh cửa ta ghi:/ “Độc lập tự do hay là chết?”/ Tiếng vọng muôn đời:/ Tự do độc lập/…Lại lên đường/ dù gian khổ hi sinh/ dù rau cháo ngặt nghèo cay đắng/ dù hai vai trên dặm dài gánh nặng/ vẫn ngẩng cao đầu đi đường lớn ông, cha” Vẫn với cảm hứng lịch sử, chị đã
nêu bật tinh thần quyết tâm của cả một dân tộc ngoan cường, cánh cửa ấy là một ẩn dụ của quyết tâm, ý chí của tình yêu đất nước Hình ảnh cánh cửa được lặp lại mười một lần trong toàn bài thơ, đặc biệt hình ảnh cánh cửa ở phần mở đầu và kết thúc bài thơ như cánh cửa của toàn bài, mở ra và đóng lại nội dung sâu sắc mà nó cất giữ, chỉ những ai có chìa khóa của trái tim mới mở
được Với hai câu cuối: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”/ Lời cả nước ghi
trên cánh cửa” cho thấy ý chí, quyết tâm và mục đích cuối cùng mà lịch sử,
dân tộc hướng đến là tự do Để đổi lấy điều đó, dân tộc và nhân dân Việt Nam phải chịu bao đau thương, bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của những con người đã hòa tan vào đất mẹ, để chúng ta hôm nay thấy cờ đỏ sao vàng tung bay trong những sáng mai Trong thơ mình Lệ Thu nói lên những nỗi
đau mà bao người phải gánh chịu để đổi lấy tự do hôm nay: “Cho một ngày mai tươi sáng/ bao người Hà Nội trẻ trung đã lên đường/ xông pha nơi đạn bom mà không hề tính toán/ Họ chưa một lần được cùng người yêu ngồi ghế
đá công viên – nơi mồ hôi mình đổ xuống/ Nhiều người giờ đã nằm yên dưới hàng ngàn bia mộ/ dõi theo hành động của từng người và đất nước đổi
thay…” (Hà Nội trong ta) Những lớp người của năm tháng ấy, họ hi sinh
quá nhiều cả tình yêu, cả tuổi trẻ và cả tính mạng Họ mãi mãi nằm lại những vùng miền hiu quạnh với đồng đội nhưng vẫn chưa bao giờ thôi nghĩ về đất nước Họ vẫn ở đây trong từng nắm đất ngắm đất nước mình lớn lên Bản
Trang 17thân tác giả đã trải qua mất mát nhìn thấy người thân hi sinh phải lìa xa gia
đình thân thuộc nên những vần thơ của chị luôn đau đáu: “Tuổi xanh đời cậu đọa đày/ Tháng năm xích sắt, gót giày nhà lao/…Trở về, khuất bóng mẹ cha/ Chị em li tán cửa nhà nát tan!/ Một mình trăm nỗi xốn xang/ Quê hương còn
giặc, xóm làng chưa vui” Đây là bài thơ chị đề tặng người cậu Lê Quang
Lưu, người đã hi sinh cuộc đời thanh xuân của mình bị tù đày nơi nhà lao Phú
Quốc với bao đau đớn Sau bao năm, thân vẫn còn mảnh đạn buốt tê nhưng tình yêu với quê hương, tổ quốc không bao giờ phai: “Tay nâng khẩu súng
ngùi ngùi/ Trên môi cậu vẫn nụ cười trẻ trung” (Gặp cậu trên đường hành quân) Khát khao chiến đấu cống hiến cho quê hương dường như không khi
nào phai mờ trong lòng những người lính Là người chứng kiến sự đau thương của quê hương mình trong đó gia đình là phần máu thịt cũng chịu
nhiều tang thương chị đã bùi ngùi viết: “Tôi đi tìm gặp các em tôi/ Đứa đã đi
xa, đứa mất rồi/ Bạn bè biết bao người ngã xuống/ Máu đỏ triền sông cuối bãi bồi/… Ông kể nhiều về lũ ác ôn/ Đã giết ông tôi trước cổng đồn/ Xác kéo
quanh làng treo giữa chợ/ Ba ngày phơi nắng chẳng cho chôn…” (Về quê nội giữa vành đai trắng) Lệ Thu dùng các động từ “ngã”, “treo” “kéo”, “phơi”
để diễn tả tội ác của giặc và cũng là sự mất mát của chính mình Chưa dừng
lại ở đó, lời thơ còn kể sự đau thương ấy tới “người anh ở trước nhà” giờ
“Một bàn tay cụt, đôi nạng gỗ/ Hận của ba năm “lính cộng hòa”/…” rồi
“người chị họ” thì “Chồng chị chết bom, con chết trận/ “Chúng làm tan nát
cả em ơi” Đau thương ấy kể khi nào mới nguôi đó không chỉ là nỗi đau của
riêng chị mà còn là của cả một dân tộc nỗi đau thương lên đến tận cùng Nhưng những lớp thế hệ sau họ không run sợ mà vẫn tiếp tục cuộc hành trình
gian khổ của lớp lớp cha anh để lại mặc dù cái chết hiện diện trước mắt: “Tôi gặp người em chưa biết tên/…Vừa mới xung vào “du kích mật”/ Em cười đôi
mắt sáng mông mênh” (Về quê nội giữa vành đai trắng) Nụ cười ấy chính là
Trang 18hành trang vững chắc là niềm tin chiến thắng, cho khát vọng hào hùng của một ngày mai tươi sáng Chiến tranh còn là nguyên nhân chia cắt đất nước Bắc – Nam như Chị và Em ở hai đầu Tổ Quốc còn dải đất mẹ Miền Trung rứt ruột
“ngóng Bắc, chờ Nam” Đó là những ngày Tổ quốc ta tách biệt hai miền Nam
– Bắc, miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn chống quân
thù: “Em trầm tư như một ngọn tháp Chàm/ Yêu nghĩa khí từ câu thơ Đồ Chiểu/…Cùng bè bạn xuống đường/ Em hát: Dậy mà đi! trong khi đó Chị nơi
đất Bắc chén cơm sẻ nửa/ Trong bom rơi Chị vẫn đến trường” Nhưng rồi sự
đoàn tụ chính là ngày thống nhất: “Hãy cười lên em ơi/ Những cách biệt ngày
qua sẽ hết” (Chị và em từ hai đầu đất nước) Đó cũng chính là ước mong của
toàn thể nhân dân Việt Nam
Là người con của đất Bình Định ngoan cường, với cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước Lệ Thu đã dành khá nhiều bài thơ ca ngợi đất và người
của quê hương mình: “Một mảnh trời Tuy Phước tựa vành nôi/ anh dũng vậy
mà khiêm nhường đến vậy” (Màu xanh cây lúa) Hay như: “Người con Quy
Nhơn/ qua hai cuộc chiến thăng trầm/ người bác sĩ chỉnh hình/ về nối lại
chân tay cho đồng đội” (Ghềnh Ráng) Chị viết về quê hương bằng giọng
điệu tự hào chị nhắc lại những năm kháng chiến những đau thương mà mảnh đất quê mình trải qua bằng những gì tự hào nhất của một người con xứ sở Thơ chị còn là một bản anh hùng ca của các địa danh quê hương lưu tên
mình trong cuộc chiến tranh ngoan cường của Tổ Quốc: “Trong nóng bỏng tình người Công Thạnh/ Trong rạo rực sóng cồn Thiện Chánh/ Sóng muôn
đời mang vị mặn thiết tha” (Dưới tầm pháo giặc) Chị viết về địa danh trong
kháng chiến của quê hương mình với niềm tự hào: “Mùa trăng Mỹ Lợi chưa tàn/ Phú Ninh vây chốt/ Chánh Khoan phá đồn/ Diêm Tiêu lửa cháy khu dồn/…Bồn chồn Phú Cũ, Trà Quang/ Bình Dương lính chạy hoang mang hãi
hùng” (Tên đất – hồn người) hay: “Nỗi đau từ Chảng Ba Đình/ Chiến công
Trang 19Núi Bé, nghĩa tình Hòa Sơn/ Quê hương chất chứa căm hờn/ Gia An, Quy
Thuận, Thành Sơn, Chương Hòa…” (Đất của những người trụ bám) Trong
thơ Lệ Thu những địa danh đất nước gắn liền với cuộc chiến luôn nhắc chị nhớ về năm tháng khói lửa ấy nên chị lưu lại cố gắng để không xót một nơi
nào trong trí nhớ: “Làng Phú Thứ mờ sương/ Mênh mông mặt đầm Trà Ổ/ Biển Tân Phụng chờ ta trong nỗi nhớ/ Ngã Tư Chánh Trực/ Xóm nhỏ Cát Tường/ Chiều nào qua chợ An Lương/ Rạng rỡ mặt người trong màu cờ giải
phóng!” (Những cuộc hành quân im lặng) Bằng những vần thơ mộc mạc
mà sâu lắng, Lệ Thu đã cho thấy lòng tự hào sâu sắc tình cảm sâu nặng với từng mảnh đất, con đường, xóm nhỏ, gắn bó với truyền thống quê hương, gắn với nỗi đau thời cuộc Nhưng khí phách và sự dũng cảm kiên trinh không bao giờ thay đổi được dù bom đạn thế nào Qua đó chính mỗi người đọc cũng thấy
tự hào về quê hương, đất nước mình
Hình tượng nhân vật anh hùng được Lệ Thu dùng những vần thơ vô vàn trân trọng và tự hào dựng lên Đó là biểu tượng cho truyền thống đấu tranh của dân tộc là niềm tin yêu của nhân dân đối với lịch sử hào hùng, bất khuất chống giặc ngoại xâm Lệ Thu nhắc lại mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy để nhắc lại lịch sử và nguyên nhân mất nước Âu Lạc của An Dương Vương, bằng giọng cảm thương Lệ Thu đã thấu hiểu cho sự ngây thơ của Mỵ Châu
khi đặt mình vào chính Mỵ Châu: “Ta là công chúa Mỵ Châu/ Trọng Thủy ơi hãy trả đầu cho ta! Trách gì lưỡi kiếm vua cha/ Xử con đánh mất sơn hà vì
yêu” (Tình Mỵ Châu)
Với lòng tự hào Lệ Thu ngợi ca những hình tượng anh hùng, đó là kết tinh của cộng đồng Những hình tượng anh hùng được dựng xây qua hàng ngàn năm lịch sử Tiêu biểu là người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn
Huệ: “Đất nước này/ ngàn năm/ hoa và máu/ đẫm từng trang lịch sử anh hùng/ mãi thấp thoáng vườn trầu/ Nguyễn Huệ - Quang Trung!” Hình ảnh
Trang 20Quang Trung – Nguyễn Huệ đi vào thơ Lệ Thu như một niềm tự hào và một niềm tin sắt đá của dân tộc bao đời nay nhân dân ta sẽ bảo vệ và dựng xây
mảnh đất: “Chiến thắng mấy chục vạn quân xăm lăng/ Đâu dễ dàng như ngồi vào mâm tiệc/ Chinh Nam phạt Bắc/ Bao gian truân/ Sống chết/ Áo vải cờ
đào” (Thấp thoáng vườn trầu)
Lệ Thu không chỉ xây dựng nên một nhân vật anh hùng của một thời kì mà
đã tóm lược những hình tượng tiêu biểu của lịch sử dân tộc Quê hương Bình Định không chỉ tự hào với hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ mà còn tự hào với tên tuổi nữ tướng Bùi Thị Xuân vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một trong những đô đốc của vương triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam Là một nữ tướng văn, võ, trí, dũng vẹn toàn và vô cùng anh dũng Khi vương triều Tây Sơn thất bại bà bị Nguyễn Ánh xử tử bằng cách cho voi xé xác man rợ nhưng không
hề run sợ Với sự yêu quý Lệ Thu đã thay mặt nhiều tấm lòng dành cho bà
những lời ca tụng: “Bùi Thị Xuân ơi! Ngọn lửa thiêu liệt nữ/ Giữa lòng người
muôn thuở cháy khôn nguôi” (Ngày hội Tây Sơn)
Dọc theo chiều dài của lịch sử dân tộc, những tượng đài anh hùng chống
kẻ thù xâm lược cũng được Lệ Thu yêu mến và ca ngợi: “Tháng ngày chẳng chút nghỉ ngơi/ Bão giông dưới cánh “vọng lời mẹ ru”/ Hạ bao nhiêu máy
bay thù/ Một thời bão lửa – sương mù – mây đen” (Cánh bạc) để ca ngợi anh
hùng Nguyễn Hồng Nhị - người con của đất Tam Quan với sự kiên cường và
nhiều chiến công oanh liệt Trong bài Kính viếng hương hồn Đại tướng Võ Nguyên Giáp chị viết: “Trí tuệ tài năng, dũng lược, khiêm nhường…/ cánh
chim đầu đàn/ cho bao lớp thanh niên đất Việt/ một con Người, một trái tim
cao khiết/ đã vì Dân, vì nước trọn đời” (Dân yêu ai, đích thị ấy anh hùng) Ngay từ tên của bài thơ đã cho thấy khái niệm tượng đài, khái niệm anh hùng
ở đây rất giản đơn, gần gũi, dung dị, không màu mè không phải xây bằng đá hoa cương kiên cố mà giản đơn được xây bằng tình yêu của hàng triệu con
Trang 21người Việt Nam Những tượng đài như Dương Thị Xuân Qúy trong Bông trang bên mộ bạn: “Đêm chiến trường nhớ con trào nước mắt/ Mơ ngày
thống nhất” đó là sự hi sinh bản thân mình, hi sinh gia đình, niềm an ủi của
các con thân yêu vì quê hương đất nước Cũng chính nhờ sự đồng cảm của mình Lệ Thu đã thấu hiểu nỗi lòng và sự mất mát của những người phụ nữ nơi chiến trường Lê Quang Lưu – một người cậu của Lệ Thu, đã hi sinh bản thân như bao nhiêu người anh hùng khác, dù chịu bao nhiêu tra tấn dù đã phải
hi sinh cả tuổi trẻ, bản thân…họ vẫn ngẩng cao đầu không nao núng và vẫn
mong muốn đóng góp thân mình cho quê hương, cho dân tộc: “Tay nâng khẩu
súng ngùi ngùi/ Trên môi cậu vẫn nụ cười trẻ trung” (Gặp cậu trên đường hành quân) Lệ Thu cảm nhận nỗi đau thương của chiến tranh của những
ngày khói lửa bằng chính sự hi sinh của bản thân, của những người thân yêu -
những người anh hùng thầm lặng Đó là cậu, là má: “Giữa tia mắt đỏ ngầu
những thằng mật thám/ Giữa lao tù má biết Nha Trang” (Chiều Nha Trang)
Sự anh hùng đó dường như thấm vào huyết quản của chị, để tiếp thêm động lực cho chị nơi chiến trường và là nguồn cảm hứng của những vần thơ đầy tự hào về quê hương, đất nước
Đọc thơ Lệ Thu có thể thấy cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước là cảm hứng khơi gợi nhiều xúc cảm cho những bài thơ tha thiết nghĩa tình với
mười hai chương trường ca quê hương trong tuyển Điềm đạm Việt Nam cũng
như những tập thơ khác của chị Lời thơ vang vọng hào hùng: “Trong thăm thẳm vô cùng/ Trường Sơn bừng thức dậy/ Đường chiến dịch mùa xuân/ Ta đi
về trong ấy” (Đi trong mưa Trường Sơn) Dường như lịch sử, quê hương
luôn luôn là nơi chào đón mỗi con người quay lại sau bao lần giông bão: “Cho đến ngày nào khát vọng giàu sang trong anh lụi tắt/ Kẻ lừa mị ranh ma biến anh thành gã ăn mày/ Lúc bấy giờ anh hẵng trở về đây/ Ngọn cỏ Trường Sơn
sẽ đón anh/ Trong vòng tay nước mắt” (Ngọn cỏ Trường Sơn)
Trang 22Trong thơ mình Lệ Thu thể hiện tình yêu quê hương thông qua các tên làng, tên đất, các hình ảnh con sông, đất, nước, mùa, cây trái, biển,…với tên
các bài thơ Trăn trở đất hồi sinh, Qui Nhơn, Ghềnh Ráng, Dòng sông và đất, Biển, Phù sa đất mỡ, Trăng Dương Biên, Gió sông Tô, Nhớ thác, Màu xanh bông lúa, Làng biển bình minh, Mai chiếu thủy, Mùa phượng nhớ
v.v… Dường như trong từng thớ thịt của chị tình yêu quê hương, yêu đất
nước đã thấm đượm Chị nói với đất như nói với người thủ thỉ tâm sự: “Ở đâu Địa ngục – Thiên đường/ Ta riêng hạt bụi về nương luống cày/ Hát lời muối
mặn gừng cay/ Ngàn năm vẫn với đất này tri âm!” (Tri âm của đất) Quê
hương luôn là nơi chung thủy với đời người: “Ngàn mây tan hợp đời như
mộng/ Sóng mãi chung tình vọng khúc ca” (Biển) Hay như trong bài Phù sa đất Mũi chị có viết: “Một lần gặp gỡ người ơi/ Thầm thương cây đước giữa
trời gió giông…” Tình yêu quê hương – đất nước thấm vào người chị, theo
chị vượt qua bao nhiêu sóng gió thấm đượm vào từng nơi chị đi qua Thơ Lệ Thu, thể hiện tình yêu đất nước với sự trải dài từ Bắc vào Nam: Từ Hà Nội
(Tâm sự tháng năm), vào Huế, Miền Trung, vào tận Phù sa đất Mũi… Ấy
vậy, mới thấy sự gắn bó của nhà thơ dành cho đất nước là một tình yêu vượt thời gian - không gian ngập tràn trong tâm hồn thơ ca của chị như lũy tre làng kia luôn ấp ôm lấy tâm hồn của nữ thi sĩ
Tất cả thể hiện một tấm lòng yêu quê hương, đất nước, lịch sử, của một công dân Việt Nam vô cùng sâu sắc Cảm hứng và tình yêu ấy đi vào thơ ca Lệ Thu một cách bình dị, chân thành và sâu lắng nhất như chính con người của mảnh đất quê hương Bình Định ngoan cường và nghĩa tình
1.2.2 Cảm hứng thế sự
Thơ ca không chỉ là tiếng nói của lòng mà còn là tiếng nói của thời cuộc, bức tranh hiện thực hiện ra sau những vần thơ mềm mại Những con chữ tưởng như vô hồn nhưng lại có sức mạnh lưu giữ cuộc sống nhân thế mãi đến mai
Trang 23sau Vì vậy, người làm thơ luôn trăn trở về nhiệm vụ phản ánh cuộc sống ấy Sau ngày 30 - 4 - 1975, những vần thơ với niềm kiêu hãnh của một công dân
trong chiến tranh “Năm tháng đã qua chưa lúc nào run sợ” (Năm tháng đã qua, năm tháng đang về) đã lắng đọng lại và nhường chỗ cho cảm hứng thơ
về cuộc sống đời thường hiện tại Lệ Thu đã bắt nhịp cùng thời cuộc và có những thay đổi trong quan niệm sáng tác Giờ đây cảm hứng lịch sử - quê hương - đất nước đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự Cảm hứng thế sự là cảm hứng mô tả lại đời sống nhận thức lại đời sống trong chính cuộc sống nhân thế phức tạp với những trăn trở, suy tư trước những biến động thăng trầm của lịch sử, thời cuộc Thế sự tức là nhân tình, thế thái những biến suy của lòng người và cuộc đời Đó cũng là những nổi niềm nhân thế Cảm hứng thế sự giúp nhà thơ tái hiện lại cuộc sống đang diễn ra với những biến động nhỏ nhặt nhất của cuộc sống, từ cái xấu đến tốt từ cái ác đến cái thánh thiện… qua đó thể hiện quan niệm về Chân - Thiện - Mĩ
Từ một công dân của thời khói lửa chị từ giã chiến trường trở về làm một công dân của thời bình Chị làm mẹ, làm vợ, làm bạn…và rồi một lần nữa chị
phải cầm “súng” chiến đấu, chiến đấu với những nghịch cảnh, những trớ trêu,
những sự phức tạp của đời sống… đã làm cho cái Chân - Thiện - Mĩ vốn có
của con người thay đổi Giờ đây “súng” chính là ngòi bút của chị Chị ý thức được về phẩm cách của mình: “Trót sinh làm một loài sen/ Để hương thơm
giữa bùn đen cực hình” (Đợi chờ), càng ý thức về phẩm chất của bản thân,
chị càng sợ hãi, đau xót trước, sững sờ trước những đổi thay của thời cuộc:
“Họ chen lấn xô đẩy nhau…/ Đi về đâu chẳng rõ” (Cô đơn)
Trong tuyển Điềm đạm Việt Nam Lệ Thu dành riêng một phần V với tên Nhân thế, gồm 34 bài thơ chiếm 12,69% Tuy nhiên, trong những phần còn
lại với những bài thơ khác, cảm hứng nhân thế cũng là cảm hứng chủ đạo Dường như trái tim Lệ Thu đang thổn thức khôn nguôi với những câu hỏi
Trang 24không ngừng: “Trưa hôm nay bỗng nhiên sao buồn thế/ Như có điều gì đổ vỡ
tận bên trong” (Như có điều gì), cái “đổ vỡ” ấy phải chăng chính là cái đổ vỡ
từ trái tim một con người “…đem sắc biếc mùa Xuân/ Nuôi quả ngọt chín
vàng mùa Hạ” (Năm tháng đã qua, năm tháng đang về) Vì sao? Vì sao trái
tim ấy lại trăn trở như vậy? Cái câu hỏi ấy luôn thường trực trong lòng người
lính mang trái tim và tâm hồn của một người nghệ sĩ: “Năm tháng đã qua
chưa lúc nào run sợ/ sao năm tháng đang về day dứt thế, bạn ơi!” (Năm tháng đã qua, năm tháng đang về)
Lệ Thu cố đi tìm câu trả lời cho những xô bồ ấy và chị chợt nhận ra cuộc đời này là một sân khấu lớn nhưng sân khấu ấy không thể giấu được những dối
trá, những giả dối: “bởi cuộc đời tính năm/ sân khấu thì tính phút/ khán giả một
đêm/ bè bạn cả một đời” (Sân khấu - cuộc đời) Với chị sân khấu ấy dù rộng
nhưng không đủ dài cho một vở kịch và bè bạn không phải là khán giả chung
quy tất cả đều phải hướng đến tấm lòng Trong Một thời ta sống Lệ Thu nêu lên
sự phức tạp của nhân thế: “Một thời phôi pha/ Một thời dối trá/ Cái thật và cái đẹp bơ vơ” Với chị cuộc sống này cũng là một mặt trận: “Dẫu chẳng đạn bom
trên mặt trận này/ nhưng ở đó cần hai lần dũng cảm” (Năm tháng đã qua, năm tháng đang về) Chị lại tiếp tục là một người lính lại chiến đấu cho cuộc đời này
Tại sao mặt trận này lại cần “hai lần dũng cảm”?
Bởi sự dũng cảm ấy phải mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần để chị chiến đấu không đơn giản như thời chiến là giết kẻ thù Ở đây những người chị phải đấu tranh ở sát bên, là bạn, là anh, là em, là những người đồng đội Chính nó khiến lòng chị day dứt khôn nguôi Dù rất đau lòng nhưng chị đã vạch mặt thẳng người đồng đội sau hai mươi năm lại trở thành kẻ phản trắc vì đồng tiền
mà tha hóa mà bán đi tình nghĩa anh em đồng đội: “Anh giờ là ông chủ giàu sang/ Trở lại Trường Sơn toan bán chỗ em nằm/ Mà nói rằng tìm mộ em nơi
cao rừng thẳm” (Ngọn cỏ Trường Sơn) Chị chỉ thẳng lí do khiến người đồng
Trang 25đội với lời hứa “ngàn năm anh vẫn nhớ” - mà Lệ Thu có hàm ý mỉa mai đó là
“lời nông nổi”, thay đổi vì “tôn đồng tiền lên ngôi”, “bon chen, dối lừa, đổi chác” Những giá trị tốt đẹp của đạo đức dần mất đi: “Người trung thực bị coi
là dốt nát/ Đạo đức, tài năng / những khu rừng bị chặt/ lòng sông khô gió cát bời bời/ cây lúa nghẹn đòng/ cơn lũ cuốn/ nhà trôi” để rồi “Ngàn dấu hỏi
đặt ra/ câu trả lời mong manh” (Một thời ta sống)
Trong Tỷ phú Lệ Thu đưa ra những vấn đề chung của xã hội mua quan
bán chức, mại dâm, bán đất, bán vàng, để được: “một lời mười, mười lời trăm/ thành topten những người danh giá nhất” nhưng “tỷ phú ngôn từ bất lực/ đốt câu thơ khấn: đừng quên đạo lí làm người!” chị nhớ về “Thời của ta không lý
sự nhiều/ chỉ biết hi sinh cho những gì ta coi là lẽ sống/ chỉ biết yêu thương/
thật thà/ khiêm tốn/ nhường nhịn nhau/ không vơ vét, lọc lừa” (Viết cho mình)
Để rồi mang nặng tấm lòng nhân thế ấy chị xem những vẻ đẹp của ngày xưa, những giá trị đích thực đã bị xô đẩy trong hiện thực này như một ảo ảnh Ảo ảnh thì luôn đẹp và rạng ngời nhưng nó không có thật và khó lòng níu giữ Nó mơ hồ
có đó nhưng không có cứ chập chờn thức tỉnh trong trái tim trong suy nghĩ và
nhận thức của một trái tim đau đời Chị viết: “Vẻ đẹp ở trên cao/ Niềm đau quằn
ruộng đất/…Ảo ảnh ngàn xưa/ Đành vậy/ Chốn hoang đường!” (Ảo ảnh)
Trong cuộc sống hiện thực này chị không chỉ đau lòng trước những sự
đổi thay của giá trị con người mà còn đau xót trước những “vết thương” của
đất mẹ Đất mẹ đang phải trải qua những vấn nạn của thiên tai, chặt phá rừng,
dịch cúm gia cầm, chất độc, tham nhũng… Trong Bền lòng như đất chị viết:
“Người nông dân cầm chùm nho thối rữa/ sau bốn tháng trời mưa nắng phủi tay/ Người chăn nuôi nhìn bầy gia cầm bị chôn/ trào nước mắt/…Người canh rừng sau một đêm/ thấy đại ngàn trống vắng/ những cổ thụ ra đi…”
Và nhà thơ cũng đau khổ đêm đêm, với ngôn từ của mình bởi “vẫn chưa nói được điều lòng mình canh cánh” Chính ý thức đó càng khiến tâm của
Trang 26những con người chân chính có trách nhiệm với sứ mệnh của mình đau khổ
và dằn vặt Họ nhận ra: “Có lẽ phải kiên nhẫn/ và bền lòng như đất/ để chấp nhận đợi chờ/ và nói tiếng chồi non!” Tuy mang nỗi sầu nhân thế là vậy
nhưng trong chị vẫn không mất đi sự hi vọng Như một lời nhắc nhở mình và
nhắc nhở nhân thế: “Vẫn hoàng hôn, vẫn bình minh/ Đừng buồn một kiếp phù
sinh/ Đừng buồn!” (Mong manh)
Như vậy trong những bước chân sáng tác của mình Lệ Thu đã có ý thức
trong việc chuyển hướng cảm hứng sáng tác Thơ là phải “nhìn vào sự thật”
và dũng cảm đấu tranh nhìn nhận sự thực của cuộc sống những cảm hứng ngợi ca thời kì trước phải ẩn mình nhường lại cho cảm hứng thế sự nhân tình Bởi chiến trường này còn lắm thứ phải đấu tranh có khi là chống lại cả đồng
đội mình, chống lại chính mình, và cả “một kiếp phù sinh” Qua đó Lệ Thu ca
ngợi những giá trị đạo đức cao đẹp của con người, của cuộc sống, hướng con người tới nhữn g giá trị truyền thống tốt đẹp và như một lời thức tỉnh lay động những giá trị đã ngủ yên tỉnh giấc trước xã hội hiện thực đầy rẫy những vấn
đề phải ngẫm nghĩ phải giải quyết Những vấn đề thế sự ấy Lệ Thu đưa ra cách đây đã vài chục năm nhưng đến nay vẫn còn tồn đọng và nhiều vẫn chưa thực sự được giải quyết triệt để
1.2.3 Cảm hứng đời tư
PGS.TS.Nguyễn Đăng Điệp đã nói:
Những năm đầu thập kỷ 80 thơ ở giai đoạn chuyển giọng: nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt Nếu như trước đây, các nhà thơ dường như e ngại nói về nỗi buồn thì trong thơ sau 1975, nhiều nhà thơ công khai bày tỏ nỗi buồn Đó không hẳn là nỗi buồn kiểu Thơ mới mà là nỗi buồn gắn chặt với một thực tại mới, một cảm quan nghệ thuật mới Có nỗi buồn về thần tượng bị gãy đổ, ảo
Trang 27tưởng bị tan vỡ khi nhận ra “Chúa chỉ bằng đất đá” (Nguyễn Trọng Tạo), có nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý chuyện tồn tại mà “xa dần truyện bớt dần thơ” (Nguyễn Duy) và có những trắc ẩn về riêng tư, đôi lứa: “Em chết trong nỗi buồn - Chết như từng giọt sương - Rơi không thành tiếng” (Lâm Thị
Mỹ Dạ), (Thơ Việt Nam sau 1975 - Từ cái nhìn toàn cảnh)
Lệ Thu không nằm ngoài xu hướng ấy Sau những trăn trở của thế sự,
nhân tình thế thái Lệ Thu vẫn dành một khoảng trời riêng để ngẫm chuyện của mình Vì thế cảm hứng đời tư được thể hiện trong thơ Lệ Thu như một cách bày tỏ tâm tư để tiếng nói của cõi lòng được thể hiện Qua những vần thơ ấy bạn đọc dễ dàng hiểu hơn về Lệ Thu về con người điềm đạm, nhẹ nhàng nhưng lại rất sâu sắc và tinh tế kể cả cách thể hiện lòng mình Với cảm hứng đời tư chị như trải lòng mình và nói hộ lòng người Sự gần gũi bình dị càng mang thơ Lệ Thu bước chân vào lòng người đọc nhẹ nhàng như cơn gió nhưng lại thấm đượm và tỏa ngát hương Đây cũng là dư vị đặc sắc làm nên một Lệ Thu rất riêng
Gác lại lời thơ của những năm tháng chiến trường khói lửa Lệ Thu trở về đời thường với cuộc sống của một người phụ nữ ẩn mình trong một con hẻm nhỏ nơi thành phố biển hiền hòa mơ mộng Hồn thơ của chị vẫn không ngủ yên nơi mảnh đất hiền hòa hòa này Thơ chị vẫn là tiếng lòng của một người mẹ, người chị, người phụ nữ với những khát khao của cuộc sống bình dị đời thường
Dường như tình yêu là cội nguồn của đời sống khơi nguồn những cảm xúc, trong đó có thơ ca Không phải ngẫu nhiên mà tình yêu trở thành đề tài bất tận của những hồn thơ đầy mơ mộng như chính Xuân Diệu đã khái quát:
“Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào?”
(Bài thơ tuổi nhỏ)
Trang 28Vâng làm sao sống khi không có tình yêu? Tình yêu mang lại cho con người vô vàn những cảm xúc với những hương vị khác nhau Khi trái tim con người rung lên một nhịp lạc mất đi một nhịp vì một người khác giây phút ấy, tình yêu đã nảy sinh và đã chết đi Bởi thế nên tình yêu luôn mang lại cho người nghệ sĩ đặc biệt là những nữ nghệ sĩ những cảm hứng thơ bất tận Lệ
Thu cũng không ngoại lệ Trong tuyển tập Điềm đạm Việt Nam với 267 bài
thơ đã có 71 bài viết về tình yêu đôi lứa chiếm tỉ lệ 26,59%
Tình yêu như một khu vườn đầy bí mật Nó hấp dẫn đến mức ai trong đời cũng một lần muốn bước vào đó để rồi chìm đắm trong nó và ở nơi đó cũng đầy những điều khó lí giải khó định nghĩa, chỉ cần một ánh mắt một nụ
cười là đã đủ: “Phút biết anh là phút gặp ánh mắt anh nhìn/ Phút hiểu anh cũng là phút ấy/ Vì giếng quá trong nên dễ nhìn thấy đáy/ Vì mắt quá trong
nên mắt nói rất nhiều” (Lời của mắt) Tình yêu khó hiểu đấy nhưng những
người tim cùng chung nhịp đập chỉ cần nhìn ánh mắt nhau thôi cũng đã hiểu những điều muốn nói Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn nhìn vào đấy ta sẽ bắt gặp những tâm hồn đồng điệu những điều mắt muốn nói nhiều hơn những điều mà
ngôn ngữ đời thường thể hiện Và “Có lẽ mắt muôn đời vẫn nói hộ lời yêu/…Em chẳng dám nhìn nhiều – đôi mắt ấy/ Đừng hỏi em không nhìn sao
thấy/ Cho em hỏi một lời: sao anh cứ nhìn em” (Lời của mắt) Vâng, tình yêu
vốn dĩ có cách nói riêng có cách thể hiện riêng mà đôi khi không cần phải nói chỉ cần nhìn nhau chạm một ánh nhìn là quá đủ để đôi trái tim loạn nhịp nó cũng phù hợp với sự tế nhị, kín đáo của phụ nữ Việt Nam Với tình yêu, nói chưa khi nào là đủ nhưng đôi khi sự im lặng chính là tiếng nói quá đủ đầy:
“Tình yêu vốn vẫn không lời/ Bài thơ em viết tặng người: lặng im” (Không lời) Dù cho cách thể hiện có bằng ánh mắt bằng lời nói hay chỉ là sự lặng im
thì tình yêu trong thơ Lệ Thu vẫn không thiếu sự nồng nhiệt, mãnh liệt, cháy
bỏng: “Mênh mông một trời sóng/ Càng xa vời càng xanh/ Mênh mông tình
Trang 29yêu anh/ Càng xa vời càng thắm” (Sóng) Tình yêu ấy mãnh liệt vượt lên cả
không – thời gian, càng xa càng thắm xanh, càng nồng đượm Đây cũng chính
là tình yêu cháy bỏng trong trái tim của mỗi người phụ nữ khi yêu
Tình yêu tất nhiên là tiếng nói hạnh phúc của con tim, nhưng cạnh những niềm vui, niềm hạnh phúc thì tình yêu cũng mang bên nó những cảm xúc khác Đó là hy vọng là chờ đợi là hi sinh, là đau khổ, lo lắng…và những mong ước vuông tròn
Hiển nhiên thế nên trong thơ mình Lệ Thu cũng dành những vần thơ da
diết cho những tâm hồn chờ đợi yêu thương: “Một ngày như thể dài thêm/ Một ngày vô tận, một đêm bạc đầu/ Trông người chẳng thấy người đâu/ Bao
nhiêu chiếc lá trên đầu rụng rơi” (Đợi Chờ), những hy vọng dẫu mong manh
nhưng vẫn luôn đau đáu cõi lòng: “Thôi anh hãy là vần thơ/ Nhập vào tim em vậy nhé/ Để muôn sau tình ta vẫn trẻ/ Vẫn nồng nàn nguyên vẹn trong nhau!”
(Vần thơ của em) Trái ngang là điều không thể thiếu trong đời, chị đã nói:
“Thôi anh đừng nói nữa/ Trời đã vào mùa Đông/ Đừng nhìn em thế nữa/ Đời
chỉ là bão giông!” (Ngang trái) Sau những đau xót của tình yêu, trái tim yêu
của người phụ nữ không thể giấu đi những lo lắng của mình
Là một người phụ nữ trái tim Lệ Thu cũng rung lên những nhịp thổn thức
khi nhắc đến tình mẫu tử thiêng liêng Chế Lan Viên trong bài Con cò đã nói:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con” Những vần
thơ ca ngợi tình mẫu tử dường như luôn là nguồn cảm hứng bất tận của các nhà
thơ Lệ Thu cũng vậy là một người con phải nhìn mẹ: “Trước mũi súng và xe tăng, mẹ đứng/ Nhìn theo con hun hút cuối con đường” rồi chính Lệ Thu cũng
là một người mẹ đã phải gửi con để vào chiến trường một người phụ nữ yếu mềm phải trải qua bao cảm giác sinh ly tử biệt Chính những điều ấy đã nuôi
lớn cảm xúc mẫu tử trong trái tim chị Trong tuyển Điềm đạm Việt Nam chị dành riêng phần II Mẹ - Con với 41 bài thơ chiếm 15,35%
Trang 30Tình Mẫu – tử chính là cội nguồn cho sự sinh sôi của cuộc sống và nó cũng là cội nguồn cho những sáng tạo hình thành và phát triển
Trước khi là một người mẹ chị là một người con bởi vậy chị dành khá
nhiều lời thơ da diết cho người mẹ của mình Chị khẳng định mẹ là Người duy nhất trên đời: “Người duy nhất trên đời không tính toán cùng ta/ Đó là
Mẹ/ người cho ta sự sống/…Người chẳng thể dìu ta trên đường đời mãi mãi/ nhưng mãi mãi trái tim người/ nâng đỡ bước chân ta!” Vâng mẹ là người
mang nặng, đẻ đau, lo lắng cho đứa con thơ của mình, dù sau bao vấp ngã, bao sóng gió, phong ba…mẹ vẫn bên cạnh Với mẹ con luôn là đứa trẻ thơ bé dại, luôn cần chở che Mượn hình ảnh đàn gà Lệ Thu thấy tấm lòng bao dung
của người mẹ: “Thoáng bóng diều hâu/ linh giác mẹ gà/ che chở đàn con/ xòe đôi cánh” Tình mẫu - tử dường như là tình cảm thiêng liêng của vạn vật,
không chỉ riêng con người, mà những loài động vật ngoài kia cũng thương yêu và bảo vệ con của mình Mẹ luôn là nơi con có thể quay về, có thể sà vào lòng mẹ, rồi khóc ngon lành như một đứa trẻ, dù đã tóc bạc da mồi, dù đã là một ông vua, dù có là một tên trộm, dù có hoàn hảo, hay thiếu sót, với mẹ con
mẹ vẫn bé bỏng vẫn cần yêu thương bảo vệ vẫn là người hoàn hảo nhất trong
mắt mẹ Vậy nên: “Với mẹ con là tất cả/ Sướng vui, kiêu hãnh, mong chờ…/
Đường đời lỡ khi vấp ngã/ Biết rằng mình chẳng bơ vơ” (Còn mẹ) Mẹ luôn
dạy dỗ và hướng đứa con ngoan của mình đến những giá trị đạo đức nhân
sinh cao đẹp: “Đừng khinh thân phận thấp hèn/ Đừng tâng bốc kẻ uy quyền
giàu sang” (Lời mẹ)
Trong bài Dặn con, Lệ Thu có nói: “Nếu mỏi/ con ngồi đâu cũng được/
miễn đừng làm nát cỏ non/ Muốn cao hơn/ con đứng đâu cũng được/ trừ trên đầu bạn con/ Muốn đến đích/ con đi đường nào cũng được/ đừng vừa đi vừa
mắng mỏ đường mòn!” (Dặn con), hay: “Con ơi con! Mẹ ghi vào quyển sách/
mai lớn khôn con hãy đọc lời này/ phải biết thương người và hãy sống mê say/
Trang 31nếu phải chết chọn cái chết nào đẹp nhất” (Lời thương gửi lại) Mẹ luôn dành
cho con những dặn dò, những lời khuyên nhủ dạy cho con điều hay lẽ phải Đó chính là cơ sở để con bước vào đời trở thành một người công dân tốt có ích cho nước, cho dân Mẹ luôn theo con trên mọi nẻo đường, mọi giai đoạn từ khi sinh
ra cho đến khi tóc ngả màu sương gió mẹ vẫn một lòng cưu mang
Với người mẹ của mình, bà Lê Thị Nhâm, Lệ Thu cũng dành khá nhiều
lời thơ đầy da diết: “Con ra đi nghoảnh mặt lại thẩn thờ/ Mẹ đang đứng – nơi ngày xưa mẹ đứng/ Trước mũi súng và xe tăng mẹ đứng/ Nhìn theo con hun hút cuối con đường/ Mẹ đứng nơi này một nắng hai sương/ Mái tóc mỗi ngày mỗi bạc/ Mẹ đứng nơi này chắt chiu từng hạt thóc/ Lại nuôi con như thuở mới ra
đời” (Nơi mẹ đứng) Hay: “Phơi mình dưới nắng chói chang/ nhọc nhằn kéo lên gàu nước/ Những giọt mồ hôi tuôn/ gió xòa tóc bạc” (Cánh đồng của mẹ)
Người mẹ phải chịu nhiều vất vả, hi sinh, cực khổ, của cuộc đời để gánh gồng đàn con thơ Mẹ chính là tiếng gọi thiêng liêng của mỗi đời người ai cũng sợ,
sợ một ngày: “Má mất sẽ ra sao?/ Tôi tự hỏi ngàn lần như thế/ Lòng nghẹn lại
trước bao điều có thể” (Khi tóc má bạc rồi) Nhưng đối với mẹ: “Chẳng ai
tránh được con đường tử sinh/…Thôi con, ở lại giữ mình/ Đừng buồn thế thái nhân tình bạc đen/ Đừng khinh thân phận thấp hèn/ Đừng tâng bốc kẻ uy quyền giàu sang…” Trước lúc ra đi mẹ không nghĩ gì cho bản thân mình chỉ mong muốn con có thể giữ tâm bình thản trước sóng gió cuộc đời: “Chông gai
mẹ vượt đời này/ Cầu cho con những tháng ngày yên vui” (Lời mẹ)
Trong Chuyện kể dưới chân hòn kẽm đá dừng kể lại câu chuyện của
người mẹ mất con trong chiến tranh sự đau xót, mất mát, những ám ảnh mãi
dằn vặt tâm hồn người mẹ dù bao nhiêu năm đã trôi qua: “Mẹ chong mắt bốn mươi năm/ bàng hoàng mê tỉnh…/ ngỡ tiếng khóc con mình còn văng vẳng đâu đây” Chị kể lại câu chuyện của mẹ Lê Thị Nghè đã tự tay “giết tiếng khóc” của đứa con mình “chỉ là đứa trẻ sơ sinh khóc vì đói và khát” để cứu
Trang 32“hai trăm con người/ đang trốn chui trốn nhủi” và ngoài kia là: “lính Mỹ, Nam Hàn…/súng lăm lăm, súng lùng sục, vây càn/ dỏng tai lần theo tiếng
khóc” Còn sự đau xót nào hơn, khi: “Tiếng khóc bặt rồi/ lặng cả lòng hang/
trong tay mẹ lạnh dần cái xác/…hồn mẹ cũng theo con… “bấy chừ đã chết”
Sự hi sinh ấy có gì đớn đau hơn, mẹ hi sinh sinh mạng đứa con thơ vì sự sống của dân làng để rồi hồn mẹ cũng chết
Nhắc đến sự hi sinh của những người mẹ trong chiến tranh không chỉ là cái chết mà còn là sự đau đớn để lại dù chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng sau bao
nhiêu năm Trong bài Mầm xanh của mẹ ở đâu (Thác lời người mẹ có con nhiễm chất độc da cam) Lệ Thu đã nói lên nỗi đau chung của bao nhiêu
người mẹ khi họ hi sinh tuổi trẻ của mình “xếp bút nghiên” lên đường vì cuộc
chiến Nhưng khi họ gieo mầm xanh cuộc sống khi họ sinh ra một sinh linh bé
bỏng, chất độc màu da cam đã: “làm cho con tôi không thành hình thành vóc/ chỉ cục thịt vô hồn làm sao sống giữa thế gian?” Bằng sự đau xót của tấm lòng người mẹ chị đã kêu lên: “Ta hỏi trời, hỏi đất/ hỏi kẻ cầm đầu chiến tranh xâm lược/ kẻ hám lợi sát nhân/ con ta đâu?” Sau khi hòa bình lập lại,
với những hậu quả mà chất độc màu da cam đã gây ra cho nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh với Mỹ: ngày 31 tháng 1 năm 2004, nhóm bảo vệ quyền lợi nạn nhân Chất độc da cam, Hội Nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin - VAVA) đã kiện hơn 30 công ty Mỹ phải bồi thường do trách nhiệm gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này Tuy nhiên trải qua thời gian dài đấu tranh với vụ kiện đến nay việc khắc phục hậu quả vẫn chưa thực sự được thực hiện thỏa đáng Tất cả những đau xót đó là sự phẫn nộ với hậu quả nó để
lại, Lệ Thu đã lên tiếng trong thơ mình: “Sao còn chối quanh/ còn phân trần/ khi hàng triệu trái tim/ đã thành luật sư, tòa án/ khi những đứa con tuổi ba mươi không thể/ thành người lớn/ khi trùng trùng quái thai/ vẫn sống làm
Trang 33nhân chứng?/ Con ta đâu???/ Mầm xanh của mẹ ở đâu!!!” Một câu cảm thán
như một câu hỏi từ đáy lòng được đưa ra đầy đau xót, nó mang sự ám ảnh trong tim người đọc và nhịp thở cũng run lên không ngừng
Mong rằng những ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc! Bởi cuộc đời người
chẳng có giây phút sống cho riêng mình!
Lệ Thu cũng dành riêng những trang viết đầy tình cảm cho con mình Lệ Thu rời con từ khi con còn bé để vào vùng chiến những tình cảm yêu thương, mong nhớ đứa con thơ đến cháy lòng được chị mang vào những vần thơ
Trong bài Viết cho con Lệ Thu phơi trải nỗi lòng của mình vào từng vần thơ,
như một lời tâm tình dành cho con chị nói: “Biết con thiệt thòi hơn nhiều đứa trẻ/ vì thiếu bàn tay mẹ lo chăm/ Nhưng lòng con sẽ sáng mặt trăng rằm/ Khi lịch sử sang trang con vẫn nhìn thấy mẹ/ Khi Tổ quốc gọi tên từng thế hệ/ Trong vinh quang con không phải cúi đầu” Chị như trần tình lí do đã để tuổi
thơ con lớn lên mà không có mẹ bên cạnh, tất cả cũng vì con vì để con có
niềm tự hào về mẹ về Tổ quốc, để con lớn lên “không phải làm nô lệ” “nên bây giờ mẹ phải ra đi” Lệ Thu biết sự thiệt thòi của con thơ nhưng với chị để
con có cuộc đời trọn vẹn phải nén yêu thương tận trái tim mình Bao năm tháng ấy tình yêu dành cho con không phút nào nguôi Tất cả mẹ dành cho
con là niềm thương nhớ: “Xin cơn bấc thổi về, thổi nhẹ/ Xin trưa nồng cái nắng bớt oi/ Xin bình yên từng giấc ngủ trong nôi”
Trong Lời ru một thuở Lệ Thu gửi gắm tình yêu vào lời ru cho con ở nơi
xa lắm - tận chiến trường: “Nhớ con ru gió, ru mây/ ru hoa, ru trái suối đầy,
mẹ ru/ “Ru” con, lại tiếng bom thù/ Lời ru của mẹ đi tìm/ về con – giấc ngủ
lặng chìm bờ tre” Và chị trải lòng dặn dò con thơ của mình với bài Năm mười tám tuổi của con, chị viết: “Má muốn dìu bước con qua nẻo ngoặt/
muốn chắn mũi tên thù bắn phía sau lưng/ muốn chân con đừng bước ngập ngừng/ muốn ánh điện sáng hơn trong giảng đường đại học” Tuy nhiên gắn
Trang 34với những ước muốn ấy năm mười tám tuổi của con là những năm tháng:
“bao sự kiện bất ngờ/ những phát minh khoa học dịêu kỳ/ những điều lớn lao/
và những điều phi lí/ – những điều khác xa tuổi thơ con hằng nghĩ /Mười tám tuổi/ con ơi/ bao thử thách/ Má thương con/ thương cả chặng đường dài…” Bởi vì những đổi thay những chênh vênh nên má thương cả chặng
đường dài ấy của con Bởi những đổi thay ấy quá khác thời con đang sống và
má luôn là người dìu bước chân con
Lệ Thu luôn ý thức giáo dục cho con mình những ý chí, hoài bão tốt đẹp
bởi “Nếu phải chết, chọn cái chết nào đẹp nhất” Có thể nói xu hướng đào sâu
vào cái tôi cá nhân sau 1975 là xu hướng chung của hầu hết các nhà thơ Tuy nhiên Lệ Thu không để mình hòa lẫn trong đó mà luôn giữ cho mình một chút dấu ấn riêng Điều đó khiến thơ chị rất gần gũi, thân quen nhưng không thể
“ăn liền” mà cần có thời gian chiêm nghiệm
1.3 Hành trình thơ Lệ Thu
1.3.1 Các chặng đường thơ
Sáng tạo thơ cũng như cuộc sống là một hành trình dài có sự khởi đầu, phát triển và những khó khăn trở ngại Mỗi người sáng tác trong hành trình đó phải tự mình vận động để phù hợp với cuộc sống, phù hợp với yêu cầu của độc giả và những tìm tòi sáng tạo sẽ giúp đào sâu bản thể người nghệ sĩ cũng như thể hiện tâm huyết với đời, với thơ Thơ là để phản ánh cuộc sống, bởi vậy, theo tiến trình của lịch sử và sự vận động của thời gian sự đổi thay của nhân thế, nhà thơ cũng phải có sự thay đổi để thích nghi và tiếp tục vững bước trong hành trình của mình Nhìn lại hành trình sáng tạo thơ Lệ Thu có thể thấy tác giả đã có sự biến đổi tư duy để thích hợp với hành trình phát triển của cuộc sống Tuy nhiên sự biến đổi ấy không ngổn ngang, đơn độc, cô lẻ
mà luôn có sự nhất quán
Trong hành trình sáng tạo của mình, với Tập Thơ tuyển Điềm đạm Việt
Trang 35Nam dày 435 trang, có 6 phần: Quê hương đất nước, Mẹ con, Bạn bè đồng
đội, Tình yêu, Nhân thế và Trường ca quê hương, là sự chắt lọc, tập hợp tác
phẩm từ 9 tập thơ đã xuất bản trước đó: Xứ sở loài chim yến (1980), Niềm vui cửa biển (1983), Hương gửi lại (1990), Nguyện cầu (1991), Chân dung tình yêu (1996), Tri kỷ, Khoảng trời thương nhớ (2000), Mây trắng (2005), Tri âm của đất (2009) cùng những bài thơ mới được sáng tác trong vài năm
gần đây chưa có mặt trong các tập thơ đã xuất bản Có thể chia hành trình ấy qua hai chặng cơ bản và có tính tương đối là trước và sau Đổi mới (1986)
1.3.1.1 Chặng đường trước Đổi mới (1986)
Là người con có trách nhiệm cao với đất nước, mang trong mình trái tim yêu quê hương và lòng tự hào dân tộc, những năm tháng gắn bó với chiến trường máu lửa đã nuôi lớn cảm hứng sử thi trong thơ Lệ Thu Cũng như bao nhà thơ trong giai đoạn đất nước đang oằn mình vượt qua bão đạn thơ Lệ Thu trước đổi mới, tập trung khai thác chủ đề về lịch sử, quê hương, đất nước… góp tiếng nói vào phản ánh những năm tháng đau thương nhưng oanh liệt của dân tộc Việt Nam
Thời kì này dễ dàng bắt gặp trong thơ Lệ Thu những bài thơ mang tính chất ngợi ca Đó là lời ngợi ca vẻ đẹp bình dị của quê hương, đất nước, một
vẻ đẹp Việt Nam hiện ra vô cùng điềm đạm, gần gũi, bình dị vẻ đẹp đó được
lấy làm tên tập thơ xem như sự “tổng kết” thơ Lệ Thu tập tuyển Điềm đạm Việt Nam Lệ Thu nói: “Câu ca dao tưởng chừng mong manh/ Tà áo dài bay
trong trang sử/ Bao cuộc chia ly, bao mùa đoàn tụ/ Đôi mắt dịu dàng – đôi mắt ngời đen/ Hơi ngượng ngùng trước một lời khen/ Thoáng ngơ ngác trước điều phản trắc/ Thuộc lịch sử cha ông để tin yêu và đánh giặc/ Nhớ rõ người giúp mình để trả nghĩa, đền ơn” Một Việt Nam nhẹ nhàng, điềm tĩnh, nhưng
đầy những tin yêu, khiêm tốn, nhân nghĩa, vẫn nụ cười an yên sau bao lần giông bão…được Lệ Thu tổng kết trong những vần thơ của mình
Trong thơ mình Lệ Thu đã lưu giữ lại một Việt Nam hiền hòa với vẻ đẹp
Trang 36dịu dàng nhưng vẫn đứng vững vàng trong mưa bão đạn bom của quân thù
Trong bài Làng ven sông, những hình ảnh: “Làng em bên bờ sông nhỏ/ Nơi
xanh bốn mùa ngọn gió/ …./Nhà em cuối mùa nước bạc/ Cây cầu bắc vội, hơi nghiêng” Hình ảnh: bờ sông, ngọn gió mùa nước, là vẻ đẹp đặc trưng của
làng quê Việt đi qua năm tháng ngấm vào máu thịt từng người Sự hiền hòa
ấy lại chiến thắng kẻ thù khiến bao kẻ thù phải khiếp sợ: “Làng em hạt lúa củ khoai/ Ba mươi năm trời đánh giặc/ Tình yêu để dành trong mắt/ Dòng sông chờ anh, chờ anh!”
Trong Ngày hội Tây Sơn vẻ đẹp của vùng đất Tây Sơn – Bình Định hiện
lên một cách đầy tự hào lòng tự hào về đất, về người, về lịch sử dân tộc thấm
đượm thơ Lệ Thu thời kì này: “Ơi dòng sông xanh biếc niềm tin/ Soi ngọn tháp rê phong trầm mặc/ Người ở đây đời lại đời đuổi giặc/ Ngọn roi, quyền…cô gái nhỏ Tây Sơn…./ Ngày hội Tây Sơn về thăm lại Quang Trung/ Nghe lịch sử và tình yêu trò chuyện”
Với Lệ Thu tình yêu với vẻ đẹp quê hương luôn là điều khiến chị tự hào
và ngợi ca dù đó chỉ là những điều vô cùng bình dị, đơn sơ, đó chỉ là “màu xanh cây lúa”, “rừng dừa”, “cổ tháp”, “vườn trầu”, “làng ven biển”, “mưa”,
“đất”, “gió”, “trăng”… những hình ảnh đó xuất hiện ngay trong tiêu đề của
những bài thơ để thấy chị yêu thương và tự hào với quê hương từ những gì nhỏ nhặt nhất làm nên đất nước là gió, là đất, là trăng, là biển, là mưa, là màu xanh, là con đường, là những tháp cổ, biển xanh….Những màu sắc từ trầm cổ đến tươi vui đầy sức sống đã giúp chị vẽ trọn vẹn vẻ đẹp quê hương mình
Điềm đạm Việt Nam là một Việt Nam thu nhỏ bằng thơ Lệ Thu vẽ nên
vẻ đẹp của đất nước này bằng những câu thơ dịu nhẹ từ Bắc vào Nam từ Hà Nội trong ta: “Hà Nội trong ta là những ngày gian nan tay ôm con, tay viết bài giữa tiếng bom gầm đạn xé” đến Khoảnh khắc Huế vẻ đẹp là: … “màu
tím sông Hương chiều khép nép/ Trăng đêm rằm Vĩ Dạ nói giùm tôi” vào đến
Trang 37Miền Trung là vẻ đẹp của: “Cát/ nắng/ và gió/ trùng trùng núi/ trùng trùng
biển/ những dòng sông như yêu thác/ đất hẹp/ triền dốc” và vẻ đẹp tận cùng
của Phù sa Đất Mũi “Thầm thương cây đước giữa trời gió giông/ Bền lòng
giữ biển gìn sông/ Bồi sa nên bãi nên đồng xanh tươi” Chặng đường này
không thể không nhắc tới những bài thơ chị viết về chiến tranh, ở đó có sự ngợi ca những người anh hùng, ngợi ca lịch sử, ngợi ca những chiến công Ở
đó là sự thương xót đau thương tột cùng của mất mát, hi sinh Ở đó là những năm tháng tuổi trẻ quên mình vì nước, vì dân, những chàng trai, cô gái dùng thanh xuân làm vũ khí mang vào chiến trường Họ hi sinh cả tình yêu, hạnh phúc cá nhân và cuộc sống… để mang lại một bầu trời mãi xanh trong trong
nắng hòa bình
Trong Bình Định hình ảnh những cô gái mới tuổi mười lăm còn quá trẻ
đẹp như một ánh trăng tròn đã phải đối diện với kẻ thù: “Nơi đó có những người con gái/ Tuổi mười lăm lộng lẫy mặt trăng rằm/ Dám đàng hoàng giữa chợ diệt ác ôn” Những con người của mảnh đất Bình Định quê hương chị đã mang lại cho kẻ thù nỗi khiếp sợ vì: “Đất Bình Định chúng không “bình định” nổi/ Trong thử thách gian nan lòng không bối rối/ Nhẫn nại, khoan dung…”
Chụp ảnh cho người du kích đã chụp lại hình ảnh người du kích đẹp
trong chính sự quyết tâm: “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” Gương mặt ngoài đời/ Gương mặt trong hình/ Tất thảy trẻ măng/ …/ Đồng chí ấy đã ra đi dũng cảm” Lệ Thu ghi lại hình ảnh những con người hi sinh cho đất nước
không phải để bi lụy mà qua đó là cả sự trân trọng sự ghi nhớ công ơn lớn lao
và đó chính là động lực cổ vũ tinh thần chiến đấu cho đồng đội cho lớp người
đi sau Họ phải xứng đáng với sự hi sinh đó Chiến tranh chỉ với hai từ nhưng
mang trong nó là tất cả những nỗi khiếp sợ, là máu, là nước mắt, là những kiếp người đã nằm lại với đất mẹ Lệ Thu cũng không giấu những những nỗi
niềm xót thương của mình
Trang 38Trong Ngôi mộ bên đồi những hình ảnh: “trưa vàng/ Bầu trời mây trắng
màu tang/ Áo anh/ Áo em/ đẫm màu máu đỏ” đã mang lại sự ám ảnh cho người
đọc từ màu vàng, trắng, đỏ…tạo cảm giác ghê rợn đến ma mị, hãi hùng Với Bốn lạy cho em màu trắng khăn tang được nhắc đến như một sự hi sinh, mất mát quá
lớn lao: “Tang trắng trẻ mồ côi/ Một lạy tiễn đưa em/ Đi về nơi yên nghỉ …”
Lệ Thu cũng dành những bài thơ để ca ngợi tình đồng chí, đồng đội, tình bạn cao cả nhất là tình đồng chí trong lao khổ nhưng vẫn cưu mang, hỗ trợ, tin yêu nhau dù trên đầu là mưa bom đạn địch Bởi sự tin yêu gắn bó đó, mà sau
khi hòa bình lập lại chứng kiến cảnh đồng đội mình “biến chất” vì đồng tiền,
chị đã đau quặn lòng Trong tuyển Điềm đạm Việt Nam, chị dành riêng phần
III – Bạn bè - Đồng đội, với 55 bài thơ trên tổng số 267 chiếm 20,52%, để nhớ
về những người đồng đội một thời máu lửa Trong bài Tên anh Lệ Thu có một
cách riêng để gọi tên những người đồng đội của mình: “Anh bước đi cả nước nhìn theo/ Cả nước gọi tên anh là “giải phóng”/ Những người mẹ nghèo gọi
anh là hi vọng/ Em gọi anh là “đồng chí thân yêu!” Hay trong bài Tên của một tiểu đoàn người đồng chí của chị không có tên riêng mà được gọi là: “Cái tên
hiền: Anh cả Năm Mươi/ Đơn vị bạn lấy anh là điểm sáng/ Cái tên quen, quân thù nghe hốt hoảng/ Tên anh, tên của một tiểu đoàn” Tình đồng đội, đồng chí
ấy là sự thấu hiểu những khó khăn sớt chia những thiếu thốn: “giấc ngủ anh rung cùng nhịp võng/ cơn sốt rét sau một ngày đánh lấn/ bát canh giang đồng đội để phần” để rồi từ đó Lệ Thu đúc kết rằng: “Nơi ác liệt và nơi gian khó nhất/ Là nơi tình người đơm nhụy mật hương thơm/ Nơi thù bạn phân minh sáng rực tâm hồn”, đó phải chăng là tình cảm của những người chung chí
hướng cùng chung mục đích lý tưởng cao đẹp sống và cống hiến trọn đời mình cho hai tiếng Tổ quốc thân yêu
Hòa trong không khí chung của dân tộc phần lớn những vần thơ trước đổi mới của Lệ Thu hướng về lý tưởng quê hương Tổ quốc là niềm tự hào dân
Trang 39tộc là tin yêu, là đau xót, là những thấu hiểu và chiêm nghiệm của chính bản thân mình Với thời kì này thơ chị hướng vào sự ngợi ca và yêu thương, tự hào về tình đồng chí, đồng đội và tái hiện lại chân thực những gì của cuộc chiến tranh vệ quốc Từ đó góp phần cho chúng ta cái nhìn thấu đáo về cuộc chiến tranh kháng chiến chống Mỹ
1.3.1.2 Chặng đường sau đổi mới (1986)
Thời kì sau đổi mới 1986 với cảm hứng thế sự - đời tư, Lệ Thu góp cho nền văn chương nước nhà một tiếng nói riêng trong việc tái hiện cuộc sống đang trong giai đoạn phát triển xây dựng đất nước, những đổi thay chóng mặt của lịch
sử xã hội, những biến đổi từ khoa học kĩ thuật, những phát minh mới ra đời phục
vụ cuộc sống con người Sau cuộc chiến như bao người lính chị cất chiếc áo xanh chiến sĩ vào balo quân hành để trở về tham gia công cuộc dựng xây nước nhà Chị cũng trở về làm vợ, làm mẹ và trên vị trí ấy chị cũng không thôi trăn trở
khi cuộc chiến nhân sinh lại bắt đầu Cuộc đời bây giờ không còn là: “Nơi thù bạn phân minh sáng rực tâm hồn mà là Chúng ta đang sống một thời nghiệt ngã/
Một thời phôi pha/ Một thời dối trá” (Một thời ta sống)
Vẫn mang trong mình sự thảng thốt của người rời khỏi cuộc chiến may mắn trở về trong chị vẫn còn những thương xót không nguôi cho bao người
còn nằm lại: “Chợt thấy mình bơ vơ/ chợt thấy mình có lỗi/ khi đứng trước một người ra đi vĩnh viễn không về/ Tấm ảnh trên bàn thờ lặng lẽ nhìn ta/ Ta
lặng lẽ trước hai hàng nến chảy” (Khóc trước linh sàng)
Càng thương xót cho đồng chí mình đã hi sinh xương máu, tuổi xuân để mang lại bầu trời xanh trong nắng ấm hòa bình Lệ Thu càng trăn trở bao nhiêu trước thói đời đen bạc, xã hội bị đồng tiền nắm giữ con người vì đồng tiền mà
tha hóa và đớn đau nhất chính là những người đồng đội xưa kia đã “bán mình”
vì tiền Chị khẳng định trong Một thời ta sống rằng: “Chúng ta đánh đổi hạnh
phúc tuổi xuân/ để có một chân trời/ chân trời ấy ai được quyền che khuất/ dù
Trang 40cuộc sống hôm nay có muôn vàn tủi cực/ bữa cơm chưa no, tấm áo chưa lành/ bầu trời kia ai nỡ xóa màu xanh? Chị chợt nhận ra rằng Sự sống quá mong manh/ Mà trăm nỗi chất chồng len mỗi kiếp người đơn độc/ Mưa nắng, giận
hờn, tình yêu, nước mắt…” (Khóc trước linh sàng) Cuộc sống sau hòa bình là
một cuộc chiến với tiền tài, ảo vọng, lợi danh, giả dối, … mà những con người sống với cái Tâm thì khó lòng dửng dưng Lệ Thu chưa khi nào thôi trăn trở,
chưa khi nào thôi day dứt lòng mình: “Quá nhàm chán thói tôn vinh mông, ngực…/ Em hướng lương tri đến những giá trị vĩnh hằng/…/ Cái đẹp/ tự ngàn xưa / ai chẳng yêu chẳng thích/ nhưng có cái đẹp mang ngầm tội ác/ có cái đẹp
trụi trần, băng giá, vô tri” (Vương miện cho em)
Trở về với hiện thực đời thường con người không thể chia nhau “bát canh giang” mà sống chan chứa tình được nữa Giờ đây cuộc sống như một sân khấu ai cũng phải sắm nhiều vai mới có thể đeo đuổi lợi danh “Sống khác
bản thân/ trên sân khấu hóa thiên tài” (Sân khấu - Cuộc đời)
Thơ chị giai đoạn này luôn ẩn chứa sự thâm trầm thấu hiểu thời cuộc
và sự đổi thay của thế sự bởi vậy trái tim ấy vẫn cứ đau đời khi những giá trị đích thực đã bị lu mờ đi Con người cũng đổi thay và mất đi nhân cách của
mình: “Thoắt tiên nữ, thoắt mộ phần xương khô/ Thân chồn cáo, kiếp ly hồ/
Nên trang cao thượng, thảy nhờ tình yêu” (Cõi liêu trai) Tuy đau xót trước
những biến đổi của giá trị đích thực nhưng Lệ Thu vẫn thấu hiểu được lẽ đời một cách sâu sắc chứ không phải chán chường, tuyệt vọng Chị hiểu quy luật của cuộc sống và chị chỉ mong đánh thức những giá trị thực đang ngủ yên
trong mỗi con người: “Biết làm sao/ Dòng sông muôn thuở đục - trong/ Đời muôn thuở đặt trước điều thiện – ác/ Ơi những gương mặt còn ngấn dài
nước mắt/ Biết bao giờ lành được vết thương đau” (Một thời ta sống) Bởi
chị quan niệm: “Ta sinh ra vốn là chiếc lá/ xanh hết mình cho tất cả tháng năm xanh/ lúc tàn úa (ta biết rằng không thể nào khác)/ dòng nhựa cạn khô/