1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong thánh tông di thảo và truyền kỳ mạn lục

102 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 665,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn Huệ Khanh trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục, đã đưa r

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được

sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phong Nam trên cơ sở các tài liệu đã sưu

tầm được

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa công bố

trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Người cam đoan

Phạm Thị Kim Liên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Đóng góp của luận văn 13

6 Bố cục của luận văn 13

CHƯƠNG 1 THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC - VẤN ĐỀ TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ 15

1.1 THÁNH TÔNG DI THẢO - VẤN ĐỀ TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ 15

1.1.1 Tác phẩm Thánh Tông di thảo 15

1.1.2 Vấn đề niên đại và tác giả của Thánh Tông di thảo 16

1.1.3 Về tác giả Lê Thánh Tông 20

1.2 TRUYỀN KỲ MẠN LỤC - VẤN ĐỀ TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ 21

1.2.1 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục 21

1.2.2 Vấn đề tác giả của Truyền kỳ mạn lục 22

1.3 VỊ TRÍ CỦA THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM 24

1.3.1 Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục trong thể loại

truyền kì 24

1.3.2 Ảnh hưởng của Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục trong mạch truyện văn xuôi trung đại 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 29

2.1 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 29

Trang 4

2.1.1 Kiểu hình tượng nhân vật "hiện thực" trong Thánh Tông di thảo

và Truyền kỳ mạn lục 29

2.1.2 Kiểu hình tượng nhân vật "siêu thực" trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục 42

2.2 HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 53

2.2.1 Không gian trần thế 53

2.2.2 Không gian siêu nhiên 56

2.3 HÌNH TƯỢNG THỜI GIAN TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 58

2.3.1 Thời gian lịch sử 58

2.3.2 Thời gian tâm trạng 60

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 67

3.1 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN 67

3.1.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong Thánh Tông di thảo 68

3.1.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong Truyền kỳ mạn lục 70

3.1.3 Nhận xét chung về nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục 74

3.2 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 75

3.2.1 Yếu tố kì ảo trong Thánh Tông di thảo 75

3.2.2 Yếu tố kì ảo trong Truyền kỳ mạn lục 78

3.2.3 Phương thức sử dụng môtip kỳ ảo trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục 82

3.3 ĐẶC ĐIỂM LỜI VĂN TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 84

Trang 5

3.3.1 Văn thể đa dạng, phong phú 84

3.3.2 Lời văn biến hóa, sinh động 86

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử hình thành của truyện truyền kỳ Việt Nam khá quanh co, phức tạp Các tác phẩm truyền kỳ được xây dựng nên bởi các phương thức "tân biên" và "cố sự", vì vậy mà nó mang đậm đặc tính chất folklore, thường gắn liền với những yếu tố như tích truyện, giai thoại, truyền thuyết thuộc đời sống văn hóa - tín ngưỡng bản địa, nó mang hơi thở của đời sống văn hóa dân tộc, nội dung của truyện truyền kỳ chứa đựng những giá trị văn hóa, tư tưởng đặc sắc của người Việt, đồng thời khơi gợi về quá trình hình thành cái gọi là "Việt tính", những thứ thuộc về tâm thức, tâm hồn của người Việt

Sâu sắc hơn nữa, truyện truyền kỳ còn là một biểu tượng, biểu trưng cho văn hóa dân tộc, vì nó là linh địa, là bộ hồ sơ đầy đủ nhất về những vùng đất thiêng ẩn chứa những nguyên khí để mà sản sinh ra những nhân tài, nó đã tạo

ra một hệ thống những giá trị văn hóa vật thể, những dấu tích, phong tục được kiến tạo qua hàng ngàn năm bổ sung vào nguồn chính sử dân tộc

Ở góc độ văn học, truyện truyền kỳ là một thể loại đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam, lịch sử hình thành của nó đã đặt nền móng cho sự phát triển văn học dân tộc, đặc biệt là có giá trị và tầm ảnh hưởng rất lớn về mặt nghệ thuật

Giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII được xem là bước đột khởi của

truyện ngắn trung đại Việt Nam Sự xuất hiện hai tác phẩm: Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục được xem như hai thành tựu sáng giá nhất của thể

loại văn học truyền kỳ ở giai đoạn này Hai tác phẩm là đại diện tiêu biểu, đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật của truyện truyền kỳ Việt Nam trung đại Đồng thời, hai tác phẩm này có nhiều đặc điểm giống nhau về mặt thể loại truyền kỳ

Trang 7

như nghệ thuật hư cấu, cốt truyện mà ở các tác phẩm khác không có nhiều điểm chung như vậy

Việc nghiên cứu về truyện truyền kỳ nói chung, hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục nói riêng đã được nghiên cứu nhiều nhưng

vẫn còn những điều cần được tiếp tục tìm hiểu Đặc biệt là những vấn đề về nghệ thuật thì càng tìm hiểu, nghiên cứu sẽ càng thấy giá trị đặc sắc của tác

phẩm Mặc khác, nghiên cứu Thế giới nghệ thuật trong Thánh Tông di thảo

và Truyền kỳ mạn lục là để nhận thức rõ hơn giá trị nghệ thuật của tác phẩm

để từ đó phục vụ cho nhu cầu giảng dạy và học tập

Với những điều nêu trên, chúng tôi quyết định đi vào tìm hiểu, nghiên

cứu Thế giới nghệ thuật trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục Đó

chính là lý do chúng tôi chọn đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Truyện truyền kỳ là một di sản văn hóa rất phong phú về số lượng, có ý

nghĩa lớn lao trong đời sống xã hội và đặc biệt rất độc đáo về mặt nghệ thuật

Từ đặc điểm như vậy nên nó trở thành đối tượng quan tâm của giới khoa học

từ rất sớm, đặc biệt là hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục

Nghiên cứu về truyện truyền kỳ Việt Nam trong nền văn học trung đại, các nhà nghiên cứu thường đặt ra vấn đề về nguồn gốc, đặc điểm thể loại Đến thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu truyện truyền kỳ có những thay đổi quan trọng Di sản truyện truyền kỳ được chú ý tìm hiểu, nhận thức một cách toàn diện hơn; Các tác phẩm truyện truyền kỳ được soi rọi từ nhiều góc cạnh, nó được đặt trong không gian nghiên cứu rộng hơn, phương pháp tiếp cận đa dạng hơn Theo Nguyễn Phong Nam "Truyện truyền kỳ Việt Nam được đặt

vào những phối cảnh văn hóa, văn học rộng hơn: phối cảnh khu vực- vùng

Trang 8

Đối tượng được đặt trong tương quan với văn học truyền kỳ của các dân tộc

có mối quan hệ giao lưu trực tiếp hoặc gián tiếp; trước hết là các nước có quan hệ "đồng văn" như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên (chủ yếu là Nam Triều Tiên); tiếp đến là các nước trong khu vực Đông Nam Á (như Lào, Campuchia, Thái Lan ) Đây là điều chưa từng xảy ra Thời trước, các nhà nho chỉ chú ý đến mối quan hệ "song phương" (Việt Nam - Trung Quốc), trong khi, do đặc điểm địa - văn hóa, tính chất "đa phương" của quá trình tiếp biến văn hóa, văn học Việt Nam lại rất nổi bật Cho nên khi được đặt trong nhiều mối tương quan như vậy, bản chất truyện truyền kỳ Việt cũng được nhận thức một cách đầy đủ hơn" [26, tr 12]

Về nguồn gốc, cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất: truyện truyền kỳ Việt Nam có nguồn gốc và chịu ảnh hưởng to lớn từ truyện truyền

kỳ Trung Quốc Một trong những khó khăn của các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu truyện truyền kỳ đó là văn bản tác phẩm Nhiều công trình nghiên cứu công phu, các cuộc tranh cãi xoay quanh vấn đề này Chính vì vậy, số công trình khảo sát về văn bản lại chiếm tỉ lệ cao Người đã nghiên cứu văn bản truyện truyền kỳ Việt Nam một cách có hệ thống là Trần Văn Giáp Công

trình Lược truyện các tác gia Việt Nam của ông thuộc hàng sớm nhất Ông đã

mô tả một cách kỹ lưỡng và nêu những nhận xét, đánh giá rất sắc sảo, xác đáng về văn bản tác phẩm Tuy nhiên, nó cũng chỉ dừng lại ở mức khái lược,

hệ thống hóa mà thôi Nếu đi sâu từng trường hợp thì còn nhiều điều rắc rối

thuộc về văn bản mà tác giả chưa có điều kiện đề cập đến như: Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục

Vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm nữa là việc xác định loại hình của truyện truyền kỳ Nhiều tài liệu cho rằng truyện truyền kỳ là thể loại

Trang 9

"truyện ngắn" trung đại, đôi lúc lại gọi là "tiểu thuyết" truyền kỳ trong văn

học Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu

đã cho rằng Truyền kỳ mạn lục là "truyện ký", còn Nguyễn Đăng Na khẳng

định việc khó khăn nhất trong việc tìm hiểu các văn xuôi trung đại Việt Nam

là "tách truyện ra khỏi cái gọi là truyện ký" Ông đã tiến hành tách thể loại

"truyện" và "ký" riêng trên cơ sở "cốt truyện" và "nhân vật" trong tác phẩm

Về tên gọi "truyền kỳ", Đào Duy Anh xem yếu tố "truyện" và "truyền" là

như nhau, có cùng một cách viết.Ông hướng đến một thể loại văn học là

"truyền kỳ", để khoanh vùng đối tượng [1, tr 506] Nguyễn Đăng Na xác

định, "nếu đứng riêng "truyền kỳ" là một thể tài truyện ngắn trung đại" [25, tr

212] Theo Nguyễn Huệ Chi, cách gọi "truyền kỳ" có nguồn gốc từ văn học

Trung Quốc, "Hai chữ "truyền kỳ" thật ra mãi đến giai đoạn vãn Đường mới

chính thức khai sinh trong tên gọi tập sách của Bùi Hình, nhưng thể loại

truyền kỳ thì đã được xác lập ngay từ thời sơ Đường" [2, tr 130] Chính vì

vậy, việc chỉ ra loại hình truyền kỳ trong giới học thuật Việt Nam luôn có sự

kế thừa và phát triển chủ yếu từ thành tựu nghiên cứu văn học cổ điển Trung Quốc

Trong thực tế nghiên cứu truyện truyền kỳ, nổi bật nhất là hướng nghiên

cứu, so sánh truyện truyền kỳ Việt Nam với truyện truyền kỳ Trung Quốc

Lời giới thiệu tác phẩm Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Hà Thiện Hán đề

năm 1547 đã nói tới ảnh hưởng từ tác phẩm Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu),

"xem văn từ thì không vượt ra ngoài phên dậu của Tông Cát" Các học giả Lê

Qúy Đôn, Phan Huy Chú cũng đồng ý với quan điểm trên Theo Trần Thị

Băng Thanh, hướng nghiên cứu, so sánh tác phẩm Truyền kỳ mạn lục với Tiễn

đăng tân thoại đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên

Trang 10

cứu, như các công trình sau: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại với

Truyền kỳ mạn lục của Trần Ích Nguyên (Đài Loan), Nxb Văn học - Trung

tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, năm 2000; "Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng

tân thoại và Truyền kỳ mạn lục" của Phạm Tú Châu, Tạp chí Văn học,

số 3- 1987

Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu còn thể hiện ở hướng so sánh truyện

truyền kỳ Việt Nam với các quốc gia có sự ảnh hưởng của nền văn học chữ

Hán Toàn Huệ Khanh trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền

kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn

đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục, đã đưa ra những thống kê cụ thể về các

công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ của truyện truyền kỳ Việt

Nam với văn hóa, văn học khu vực Đề cập đến mối quan hệ giữa truyện

truyền kỳ Việt Nam với thể truyền kỳ Nhật Bản Đoàn Lê Giang có bài "Vũ

nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ",

Nghiên cứu Văn học, số 1 - 2010; công trình Nguyễn Hữu Sơn với "So sánh

kiểu truyện "Người lạc cõi tiên" trong văn học Việt Nam với tiểu thuyết Cửu

vân mộng (Hàn Quốc)", Nghiên cứu văn học, số 6 - 2008 Như vậy, hầu hết

các bài nghiên cứu trên đã chỉ ra được tầm ảnh hưởng, mối quan hệ qua lại

giữa nền văn học Trung Quốc với truyện truyền kỳ Việt Nam và các nước

trong khu vực

Cũng nói về những vấn đề nghiên cứu truyện truyền kỳ Việt Nam nói

chung, các nhà nghiên cứu còn tìm hiểu dấu ấn, ảnh hưởng của truyện truyền

kì thời trung đại đến nền văn học hiện đại Việt Nam Nguyễn Hòa trong bài

viết "Phải chăng tới Truyền kỳ mạn lục, truyện ngắn Việt Nam mới được

khẳng định như một thể loại độc lập?", in trong cuốn Bình luận văn chương

Trang 11

(Văn học trong nhà trường), đã chỉ ra tiến trình phát triển thể loại truyện ngắn

Việt Nam từ Truyền kỳ mạn lục cho đến ngày nay Vũ Thanh trong bài "Dư

ba của truyện truyền kỳ, chí dị trong văn học Việt Nam hiện đại" [37, tr 628], ông đã có một cái nhìn bao quát trong việc thống kê, khảo sát các tác phẩm thuộc nền văn học hiện đại Việt Nam có ảnh hưởng của truyện truyền kỳ Tác giả đã khẳng định: “Điều khác biệt so với thế hệ nhà văn đầu thế kỷ XX là các tác giả hiện nay không có ý định dùng lý tính và tri thức khoa học hiện đại để

"giải mê" cho người đọc, những điều quái dị, những lời đồn đại, các tác giả viết ra đó, tin hay không tin, hiểu thế nào, giải thích ra sao, tùy độc giả Dường như những thể nghiệm mới này đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ của bạn đọc" [37, tr 647]

Như vậy, ở cách tiếp cận vấn đề về loại hình truyện truyền kỳ Việt Nam nói chung, các công trình nghiên cứu đã có những hướng đi, cụ thể, khoa học, hướng vào nhiều góc độ khác nhau của đối tượng để tìm hiểu, nhận xét vấn

đề Với những kết quả nghiên cứu ban đầu đã giúp cho chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về truyện truyền kỳ Việt Nam, cũng như mối quan hệ của nền văn hóa, văn học Trung Quốc, với nền văn hóa, văn học khu vực và thế giới Với những kết quả ban đầu, nó đã trở thành tài liệu khoa học có giá trị để mọi người có thể tiếp cận, nghiên cứu sâu rộng hơn loại hình truyện truyền kỳ Việt Nam

Việc tiếp cận, nghiên cứu văn bản truyện truyền kỳ nói chung, Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục nói riêng được các nhà nghiên cứu quan

tâm trên phạm vi rộng, hướng nghiên cứu mang tính văn học sử Các công

trình tiêu biểu như :Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Cổ sử văn học Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Việt Nam văn học sử giản ước tân

Trang 12

biên (Phạm Thế Ngũ), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Đăng Na) Về sách Thánh Tông di thảo (Trần Bá Chí ), Giáo trình văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ X - XIX - đến nửa đầu thế kỷ XIX (Nguyễn Lộc),

Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (Lê Trí Viễn ), Truyện truyền kỳ Việt

Nam (Nguyễn Huệ Chi - chủ biên), Truyện truyền kỳ Việt Nam đặc điểm hình thái - văn hóa và lịch sử (Nguyễn Phong Nam) Bên cạnh đó, còn có một số bài viết nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành có giá trị như: Về sách Thánh Tông di thảo (Trần Bá Chí), Thánh Tông di thảo nhìn từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam và từ đặc điểm truyện truyền kỳ (Vũ Thị Phương Thanh), Vài ý kiến về cách đọc một số chữ Nôm trong Truyền kỳ mạn lục giải

âm (Trần Trọng Dương), Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Phạm Hùng), Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ so sánh văn học (Nguyễn Đăng Na), Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

(Nguyễn Hữu Sơn) Những bài viết nghiên cứu nêu trên, tập trung nghiên cứu, tìm hiểu những "tiểu tiết", một yếu tố, khía cạnh nào đó của tác phẩm, chưa đi sâu vào khai thác có tính toàn diện, triệt để

Vấn đề Thế giới nghệ thuật trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục tuy được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, xem xét song cũng chỉ là những

bài nghiên cứu về từng tác phẩm riêng lẻ

a) Về văn bản Thánh Tông di thảo

Trong Lời giới thiệu về Thánh Tông di thảo của Lê Sỹ Thắng và Hà

Thúc Minh trích trong "Lê Thánh Tông: về tác giả và tác phẩm", Nxb Giáo

dục, 2007, hai tác giả đã thống nhất cho rằng: “Thánh Tông di thảo là tác

Trang 13

phẩm có một vị trí nhất định trong lịch sử văn hóa của dân tộc nhất là về mặt

văn học", "tuy còn dùng điển tích và một số biền ngẫu, nhưng lối văn của

Thánh Tông di thảo đã vượt ra ngoài khuôn phép ràng buộc của lối văn thi cử

Ngòi bút của tác giả đã tỏ ra phóng túng, dùng nhiều hình ảnh và dùng một lối

văn miêu tả khá sinh động để cho hình ảnh trong văn càng đẹp hơn"

[36, tr 482]

Lê Nhật Ký trong Yếu tố kỳ ảo trong Thánh Tông di thảo đã khẳng định

yếu tố kỳ ảo có một vai trò quan trọng và khẳng định yếu tố kỳ ảo trong

Thánh Tông di thảo được sử dụng một cách linh hoạt và đem đến cho tác

phẩm những giá trị đích thực

Trong bài Thánh Tông di thảo - bước đột khởi trong tiến trình phát triển

của thể loại truyện ngắn Việt Nam trung cổ của Vũ Thanh (trong"Lê Thánh

Tông : về tác gia và tác phẩm"), tác giả đã khẳng định vị trí của Thánh Tông

di thảo trong toàn bộ sự phát triển của truyện ngắn trung đại Việt Nam:

“Thánh Tông di thảo là một bước tiến mới trong xu hướng ngày càng mở

rộng khả năng sáng tạo nghệ thuật, từng bước tiến tới thoát khỏi ảnh hưởng

thụ động của lối ghi chép đơn thuần những điển tích gia phả trong các đền,

chùa (kiểu Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh) và những sáng tác dân gian

có sẵn (kiểu Lĩnh Nam chích quái) và là sự bắt đầu của kiểu tư duy kiểu mới

của người sáng tác thật sự mang bản sắc của nghệ thuật sáng tạo" [36,

tr 496]

Tác giả Phạm Ngọc Lan trong bài Những bài ký trong Thánh Tông di

thảo (Lê Thánh Tông: về tác gia và tác phẩm), tác giả đã nhận định về sáu bài

ký: “Với tính chất có cốt truyện, thể văn bay bướm của bút ký, cảm hứng trữ

Trang 14

tình và giọng điệu tự sự hào hoa, các bài ký đã đem đến cho người đọc một chất thơ đặc biệt khó quên" [36, tr 510]

b) Về văn bản Truyền kỳ mạn lục

Khác với Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục ngoài những nghiên

cứu về văn học sử như cách gọi đúng tên tác giả, về thời gian sống và sáng tác của tác giả Nguyễn Dữ, hay sách hoàn thành vào năm nào thì một số công trình cũng đã bước đầu tiếp cận đến nội dung và nghệ thuật Có thể kể đến một số công trình như sau:

Lịch sử văn học Việt Nam, tập II, của Bùi Văn Nguyên, nhận xét chung

về Truyền kỳ mạn lục như sau: “Truyền kỳ mạn lục là tập văn hay, cái hay ở

đây không riêng về nội dung phong phú, chi tiết sinh động, nhưng cái hay ở đây còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, phân tích tâm lý, phô diễn ngôn ngữ" [29, tr 131]

Truyền kỳ mạn lục và những thành tựu của văn xuôi Việt Nam, Đinh Gia

Khánh, trích trong tuyển tập, tập II, Nxb Giáo dục, 2007: tác giả khẳng định:

"Truyền kỳ mạn lục gồm những truyện ngắn, và với giá trị của một thiên cổ kì

thư, tác phẩm trở thành mẫu mực cho truyện ngắn thời xưa" [15, tr 504]

Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn

Dữ, Nguyễn Phạm Hùng, Tạp chí Văn học, số 2, 1987: “Hai mươi truyện của Truyền kỳ mạn lục không phải được phản ánh một cách nhất quán và đồng bộ

Chúng có những mâu thuẫn và phức tạp nhiều khi khó mà lí giải được một cách rành rẽ, thậm chí có thể ở một truyện cụ thể Chắc chắn chúng không thể được sáng tác cùng một lúc, mà trong một thời gian kéo dài, trong khi đó bản thân tư tưởng, thế giới quan của Nguyễn Dữ tần số lặp lại các mô thức nghệ thuật trong mối thể hiện các xung đột ở một loạt các tác phẩm viết về người

Trang 15

phụ nữ, người trí thức hay các lực lượng thống trị đã làm cơ sở đáng tin cậy

cho việc xác định khuynh hướng sáng tác của nó" [11, tr 15]

Mặt khác khi đề cập đến Truyền kỳ mạn lục, một số nhà nghiên cứu đã

tiến hành khai thác theo hướng đi vào tìm hiểu một số truyện cụ thể, có thể kể

đến những bài sau:

"Một số vấn đề cần lưu ý khi đọc - hiểu văn bản Chuyện người con gái

Nam Xương" của Nguyễn Đăng Na, Tạp chí Văn học và tuổi trẻ, tháng

10, 2005

Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên của Nguyễn Dữ của Lê Trí Viễn,

trích trong những bài giảng văn ở Đại học, Nxb Giáo dục, 1982

"Góp thêm vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa Chuyện cây gạo và Truyện

chiếc đèn mẫu đơn", Đinh Phan Cẩm Vân, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6,

2005

"Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương", Nguyễn Nam, Tạp

chí Nghiên cứu văn học, số 4, 2004

"Đời sống của nhân vật truyền kỳ ngoài tác phẩm và trong lòng tín

ngưỡng dân gian Việt Nam", Nguyễn Văn Hiệp, Tạp chí Văn học, số 5, 2005

Trong sách Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập hai (sách dành

cho CĐSP), các tác giả nói: "Bằng Thánh Tông di thảo đặc biệt là Truyền kỳ

mạn lục, Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn

xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật: Văn học lấy con người làm đối tượng và

trung tâm phản ánh" [20, tr 33] Tác giả giáo trình đã đưa ra những nhận định

cụ thể:

Về tính chất tác phẩm : "Truyền kỳ mạn lục mượn yếu tố hoang đường

kỳ ảo để phán ánh vấn đề hiện thực", "Truyền kỳ mạn lục mượn chuyện đời

Trang 16

xưa để nói chuyện đương thời, để phản ánh những vấn đề của hiện thực xã hội

thời Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục là một sáng tác văn học" [21, tr 187]

Về nội dung: "Tác phẩm đã phản ánh với tinh thần phê phán những tệ lậu của chế độ phong kiến”, "trọng tâm của phản ánh là phê phán của Nguyễn

Dữ khi viết Truyền kỳ mạn lục là thực trạng suy đồi về mặt đạo đức xã hội”,

"Truyền kỳ mạn lục phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận của

người phụ nữ Chủ đề người phụ nữ trở thành chủ đề lớn, trung tâm của tác

phẩm" [21, tr.188 - 190]

Về tư tưởng tác phẩm: "Truyền kỳ mạn lục phản ánh những mâu thuẫn

phức tạp trong tư tưởng Nguyễn Dữ Nổi bật lên là mâu thuẫn giữa tư tưởng bảo thủ của nhà nho Nguyễn Dữ và tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nguyễn Dữ" [21, tr 194]

Về nghệ thuật: "Phần lớn các truyện đều có tình tiết phong phú, kết cấu khá phức tạp" "Bút pháp xây dựng nhân vật theo loại vẫn còn chi phối tác giả", "có sự kết hợp giữa yếu tố kì ảo và yếu tố hiện thực trong bút pháp nghệ

thuật" [21, tr 195 - 197]

Tóm lại, "vùng đất" truyện truyền kỳ Việt Nam - Nơi chứa đựng một trữ lượng rất lớn những giá trị nghệ thuật, hàm chứa những đặc trưng tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam Các nhà nghiên cứu đã dày công nghiên cứu, khai thác giá trị của "vùng" thể loại văn học này một cách toàn diện, sâu rộng và bước đầu đã phát lộ những giá trị đặc sắc, tạo cơ sở và căn cứ có tính khoa học cao để tiếp tục khám phá sâu hơn dòng văn học truyền kỳ Song cùng việc nghiên cứu truyện truyền kỳ Việt Nam thì hai tác phẩm có tính tiêu

biểu là Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục cũng đã có những "soi rọi"

của các nhà nghiên cứu Những khía cạnh văn học sử và nghệ thuật của hai

Trang 17

tác phẩm đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận, bước đầu đã cho ra những kết luận có cơ sở khoa học, trong đó vấn đề văn học sử được sự quan tâm của các nhà khoa học nhiều nhất Về nghệ thuật thì chỉ dừng lại ở mức độ tổng quan, khái lược, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ

và toàn diện về khía cạnh nghệ thuật của hai tác phẩm

Trong đề tài của mình, chúng tôi muốn có một cái nhìn toàn diện, khách

quan về thế giới nghệ thuật của Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục,

góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật của hai tác phẩm lên một tầm cao mới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Thế giới nghệ thuật trong hai tác phẩm: Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục Thế giới nghệ thuật là một

khái niệm chứa nhiều hàm nghĩa Ở đây chúng tôi cho rằng thế giới nghệ thuật vừa là một sự mô phỏng, chiếu ứng thế giới khách quan vào trong tác phẩm lại vừa là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu tố được thống nhất thành một tác phẩm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sử dụng hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục: bản Thánh Tông di thảo do Nguyễn Bích Ngô dịch và chú thích, Phạm Văn Thắm giới thiệu; bản Truyền kỳ mạn lục do Trúc Khuê Ngô Văn Triện dịch (tái

bản lần thứ nhất) do Nxb Trẻ và Nxb Hồng Bàng phát hành, năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật trong Thánh Tông

di thảo và Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên

cứu sau:

Trang 18

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Đây là phương pháp nhận thức dựa

trên tính thống nhất, hoàn thiện của chỉnh thể nghệ thuật Tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục được đặt trong hệ thống của thể loại

truyền kỳ để nghiên cứu Mặc khác, mỗi tác phẩm cũng được xem là một cấu trúc hoàn chỉnh, độc lập

- Phương pháp loại hình: Phương pháp này, được chúng tôi vận dụng để

nghiên cứu hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục về phương

diện hình thái, hình thức độc đáo của chúng

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Với phương pháp này, luận văn hướng đến những cái điểm giống nhau đồng thời chỉ ra, thấy rõ sự khác biệt, cái

riêng giữa hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục trong toàn

bộ hệ thống thể loại truyền kỳ

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên góp phần hệ thống thế giới nghệ thuật

được miêu tả trong hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục

Qua đó, luận văn đem lại một cái nhìn tương đối toàn diện về nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm

Nội dung của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy trong trường học về hai tác phẩm nói trên

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1:Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục - Vấn đề tác phẩm và tác giả Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu vấn đề tác phẩm

và tác giả của Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục cũng như vị trí của

hai tác phẩm trong lịch sử văn học Việt Nam

Trang 19

Chương 2: Thế giới hình tượng trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ

mạn lục Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu hình tượng nhân vật và hình tượng không - thời gian trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục Chương 3: Phương thức thể hiện thế giới nghệ thuật trong Thánh Tông

di thảo và Truyền kỳ mạn lục Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu nghệ

thuật xây dựng cốt truyện; phương thức thể hiện yếu tố kỳ ảo và đặc điểm lời

văn trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục

Trang 20

Tác phẩm Thánh Tông di thảo gồm hai quyển: quyển Thượng bao gồm

13 truyện và quyển hạ gồm 6 truyện Hai quyển này được đóng thành một tập khổ 13,5 x 20,5 cm, dày156 trang

Thánh Tông di thảo có 19 truyện; bao gồm: 1/."Truyện yêu nữ Châu Mai

" (Mai Châu yêu nữ truyện); 2/ "Truyện dòng dõi con thiềm thừ" (Thiềm thừ miêu duệ ký); 3/."Truyện hai phật cãi nhau" (Lưỡng phật đấu thuyết ký); 4/

"Truyện người hành khất giàu" (Phú cái truyện); 5/ "Truyện hai thần nữ" (Nhị nữ thần truyện); 6/."Phả ký sơn lâm" (Sơn lâm phả); 7/."Bức thư của con muỗi" (Văn thư lục); 8/ "Duyên lạ ở Hoa quốc" (Hoa quốc kỳ duyên); 9/

"Trận cười ở núi Vũ Môn" (Vũ Môn tùng tiếu); 10/ "Truyện lạ nhà thuyền chài" (Ngư gia chí dị); 11/ "Lời phân xử của anh điếc và anh mù" (Lũng cố phán từ); 12/ "Ngọc nữ về tay chân chủ" (Ngọc nữ quy chân chủ); 13/

"Truyện hai thần hiếu đễ" (Hiếu đễ nhị thần truyện); 14/ "Truyện chồng dê" (Dương phu truyện); 15/ "Người trần ở thủy phủ" (Trần nhân cư thủy phủ); 16/ "Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc" (Lãng Bạc phùng tiên); 17/ "Truyện một giấc mộng" (Mộng ký); 18/."Truyện tinh chuột" (Thử tinh chuột); 19/ "Một dòng

Trang 21

chữ lấy được gái thần" (Nhất thư thủ thần nữ) Mỗi truyện chia làm hai phần: phần truyện và phần lời bình Tác giả lời bình có hiệu là Sơn Nam Thúc Sau

lời bình truyện Hoa quốc kì duyên có truyện phụ chép Kim tằm Tương tự, sau truyện Mộng kí có chép thêm hai truyện nhưng không có nhan đề

Văn bản Thánh Tông di thảo, hiện nay có bản dịch của Nguyễn Bích

Ngô được xuất bản hai lần:

+Lần 1: Do Nguyễn Văn Tú hiệu đính, Lê Sỹ Thắng giới thiệu, Nxb Văn hóa, Viện Văn học, 1963

+Lần 2: Do Phạm Văn Thắm giới thiệu, Nxb Văn học, 2001

1.1.2 Vấn đề niên đại và tác giả của Thánh Tông di thảo

Xung quanh văn bản Thánh Tông di thảo có nhiều ý kiến khác nhau về

tác giả và hoàn cảnh ra đời của văn bản Đa số các nhà nghiên cứu cho đây là một tập hợp nhiều truyện kí trong đó có những truyện là của Lê Thánh Tông,

có những truyện do người đời sau viết thêm Tên sách có nghĩa là: bản thảo còn sót lại của Lê Thánh Tông Chúng ta điều biết các triều đại nhà Lí, Trần,

Lê đều có những ông vua mang miếu hiệu Thánh Tông, nhưng vì vua Lê Thánh Tông có tiếng là ông vua giỏi về văn chương, đặc biệt là người sáng lập ra Hội Tao đàn nên người ta gắn tên sách này cho ông Hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn chú ý đến xu hướng đề cao ý thức hệ Nho giáo vốn là nét nổi bật của vua Lê Thánh Tông, hay chú ý đến lối sáng tác "tập cổ" trong một số truyện, đến giọng tự đắc, khoa trương, thích dạy đời của một ông vua giỏi về chữ nghĩa thánh hiền

Hiện nay, Thánh Tông di thảo quả có nhiều điểm khiến cho giới nghiên

cứu không thể không đặt những dấu hỏi nghi ngờ Song, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đều đi đến một nhận định tương đối thống nhất Nhiều thiên

trong Thánh Tông di thảo chắc chắn phải là của Lê Thánh Tông Chính điều

này được coi là cơ sở để nghiên cứu tác phẩm, nhằm làm sáng tỏ con người

Trang 22

và tư tưởng của Lê Thánh Tông cũng như vấn đề của thời đại ông Sau đây, là một số ý kiến của các nhà nghiên cứu xung quanh vấn đề niên đại và tác giả

của Thánh Tông di thảo

Trong Lời giới thiệu Thánh Tông di thảo, bản dịch của Nguyễn Bích

Ngô, Nxb Văn hóa và Viện văn học, 1963 Hai nhà nghiên cứu Lê Sĩ Thắng

và Hà Thúc Minh cho rằng hiện nay có ba loại ý kiến khác nhau về tác giả của

Thánh Tông di thảo:

a) Loại ý kiến thứ nhất: Một số người căn cứ vào lối tự xưng của tác giả

phù hợp với lối tự xưng của Lê Thánh Tông trong Thiên Nam dư hạ khi tác

giả nói đến mình thường viết: “Tôi, lúc tại đông cung” hoặc “Tôi, lúc ở tiềm để”, vào nội dung một số bài trong đó Lê Thánh Tông tự đặt mình vào truyện

và vào sự đánh giá rất cao của tác phẩm về mặt văn chương, mà đi đến kết luận rằng sách này chính là của Lê Thánh Tông viết

b) Loại ý kiến thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra những chứng cứ

dựa vào địa danh như: Hà Nội trong Duyên lạ nước Hoa nhưng đến năm

Minh Mệnh thứ mười hai (1831) mới lấy tên là Hà Nội Vì vậy, thời Lê Thánh Tông chưa có địa danh “Hà Nội”, “Đoái hồ” (tức Hồ Tây ngày nay)

Trong Yêu nữ Châu Mai và bài kí Một giấc mộng, Hồ Tây đã mang nhiều tên

khác nhau: đời Lý gọi “Đàm Đàm”, sau đổi thành Hồ Tây Về sau, vì phải kiêng tên hiệu “Tây Vương” của Trịnh Tạc, đổi thành Đoái Hồ, sau khi Trịnh

Tạc mất, người ta mới gọi là Hồ Tây; dựa vào các sự kiện lịch sử như nạn lụt năm Qúy Tỵ trong Hai phật cãi nhau thì xét sử thì năm ấy là năm Hồng Đức

thứ tư (1873) Nhưng năm Quý Tị ấy có hai lần hạn, lần thứ nhất vào tháng hai, ba, lần thứ hai vào tháng bảy, tám Tuy tháng tư và tháng chín năm ấy có mưa to mấy ngày nhưng không có lụt Như vậy, cái nạn lụt năm Qúy Tị trong truyện không xảy ra thời Lê Thánh Tông Căn cứ vào các danh từ chỉ học vị

“phó bảng” và“cử nhân” trong Trần nhân cư thủy phủ Sách Quốc triều khoa

Trang 23

lục có chép rằng : năm Quang Thái thứ chín, đời Trần Thuận Tông có định

cách thức thi cử nhân và các khoa triều Lê nhiều năm chép là “hội thí thiên hạ

cử nhân” Nhưng chữ cử nhân ở đây có nghĩa là “người đi thi” Như vậy, đời

Lê Thánh Tông chưa có học vị này Trong một số bài tác giả xưng là: "Tôi, lúc ở đông cung", hoặc “Tôi lúc ở tiềm để” Nhưng ai cũng biết rằng vua Lê Thánh Tông không làm thái tử, cũng không ở đông cung ngày nào Hơn nữa,

trong Thiên Nam dư hạ cũng không có chỗ nào Lê Thánh Tông tự xưng như

trên cả Lối xưng hô như trên không hợp với vua Lê Thánh Tông

Trong bài Hai gái thần có ghi câu của một nhà nho thốt ra: “Mượn nơi

có phúc để làm nguôi cái hờn giận của văn chương” Có lẽ nào thời đại đạo

Nho và nhà Nho rất được tôn trọng như thời Lê Thánh Tông lại có hình ảnh của một nhà nho oán giận thời thế như vậy

c) Loại ý kiến thứ ba: Xét thấy trong sách xen vào những bài văn yếu, có những bài cứng cáp; xen vào những bài có địa danh và sự việc; có những truyện mà nội dung tư tưởng hoàn toàn xa lạ với tư tưởng của Lê Thánh Tông Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng dựa vào những truyện mang đậm

“khẩu khí thiên tử” để đi đến kết luận: Trong tập Thánh Tông di thảo có

những bài là của Lê Thánh Tông song cũng có những bài là của người đời sau thêm vào

Trong “Thánh Tông di thảo” (Tìm hiểu kho sách Hán Nôm) Trần Văn

Giáp đã đưa ra một số nhận định phủ nhận vai trò của Lê Thánh Tông trong tác phẩm này

“Thánh Tông” là miếu hiệu mà Lê Tư Thành được tôn tặng sau khi mất

10 tháng 23 ngày Do vậy Thánh Tông di thảo không phải là của Lê Thánh

Tông Bởi lẽ tên gọi “Thánh Tông” chưa xuất hiện khi sinh thời của tác giả Ngoài ra, một số địa danh như : Hà Nội, Đoái Hồ; các danh từ : “đông cung”,

“tiềm để” ; sự kiện lịch sử nạn lụt năm Qúy Tỵ điều khẳng định rằng Thánh

Trang 24

Tông di thảo không phải là của Lê Thánh Tông, vì những cứ liệu này đều xuất

hiện ở thời đại sau

Từ đó có thể kết luận rằng: “Thánh Tông di thảo hiện có không phải là

của Lê Thánh Tông Nó chỉ là một tập thần thoại hay đoản thiên tiểu thuyết, đúng tên nó là gì không rõ, viết vào khoảng giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ

XX Có thể là sau năm Qúy Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ năm (1893) và tác giả bút danh Sơn Nam Thúc Một người nào đó vì hiếu kì, hoặc chủ yếu lừa

độc giả, đã đặt cho nó cái tên Thánh Tông di thảo" [39, tr 178]

Trong Văn bản của Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông về tác giả và tác phẩm) nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh kết luận rằng : “Thánh Tông

di thảo được hình thành muộn nhất là khoảng nửa sau thế kỷ XVIII Nó không phải là một tập truyện tự do như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái Thánh Tông di thảo là một chỉnh thể nghệ thuật do một người thu thập, cấu

tạo thành sách và viết lời bình Tác phẩm có thể là của Lê Thánh Tông (phần lớn) và một số người khác hiện chưa biết rõ, nhưng tổ chức thành sách như

hiện nay là sự kết cấu và có ý đồ nghệ thuật của Sơn Nam Thúc" [36, tr 522] Trong Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kì viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại, Phạm Văn Thắm, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa

học Ngữ văn, Hà Nội, 1996; tác giả cũng đồng tình với ý kiến: xen vào những bài chính của Lê Thánh Tông, có cả những bài của người đời sau, và tác giả

đã đưa ra kết luận: “Một bộ phận của truyện có thể được xuất hiện đầu thời

Lê - Mạc, từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII" [37, tr 22]

Trong lời giới thiệu về thể loại kí của Nguyễn Đăng Na, trích trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 2, Nxb Giáo dục, năm 1999; tác giả dựa vào bản dịch Thánh Tông di thảo, xuất bản năm 1963, và cho rằng nhan

đề của sách chứng tỏ sách do người đời sau sưu tập Tác phẩm gồm 19 thiên thì 6 thiên không ghi tên thể loại, 13 thiên còn lại chia làm 6 thể (Truyện, Ký,

Trang 25

Lục, Phả, Chí dị, Từ) Con số 6/19 thiên không ghi tên thể loại, chứng tỏ tác

phẩm được sao chép muộn vào khoảng thế kỉ XIX - hậu kỳ trung đại, khi mà

tính nghiêm ngặt của thể loại bị loại bỏ dần

Như vậy, về tác giả và thời điểm ra đời của tập sách còn nhiều tranh cãi

và chưa có thêm những tư liệu mới để đi tới khẳng định dứt khoát Chúng tôi

thấy rằng ý kiến thứ hai và thứ ba của Lê Sỹ Thắng, Hà Thúc Minh cùng với

ý kiến của Trần Thị Băng Thanh có thể được xem là những ý kiến thỏa đáng

nhất về vấn đề niên đại và tác giả của Thánh Tông di thảo

1.1.3 Về tác giả Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), húy là Tư

Thành, là cháu nội vua Lê Thái Tổ, người anh hùng dân tộc vĩ đại thế kỷ XV,

là con thứ tư của vua Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao, con gái của

thái bảo Ngô Từ, sinh ra ở làng Động Bàng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh

Hóa Ngô Từ vốn là một người có công rất lớn dưới triều Lê Thái Tổ

Bà Ngô Thị Ngọc Dao đã có nhiều công sức đóng góp phát triển vương

nghiệp của Lê Thánh Tông Bà thường "dạy thiên hạ tập thói kiệm cần,

khuyên nhà vua giữ lòng khoan hậu" Mỗi lần được bà dạy bảo điều gì, nhà

vua luôn vâng lời nghe theo Vì thế công lao của bà rất lớn trong việc nuôi

dưỡng, dạy bảo nhà vua trở thành một người thông minh, biết nhìn xa trông

rộng góp phần làm cho nước nhà được vững bền, dòng dõi được nối tiếp lâu dài

Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), các đại thần nhà Lê đã lập Lê Thánh

Tông lên làm vua; trải suốt qua ba mươi tám năm, qua hai niên hiệu: Quang

Thuận (1460 - 1469) và Hồng Đức (1470 - 1497) Ông là người có công lao

rất lớn trong việc xây dựng đất nước mà ít có ông vua nào có được trên tất cả

các lĩnh vực: chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa Thời đại Lê thánh Tông

là thời đại thịnh trị nhất chế độ phong kiến nước ta Ông là một người thông

Trang 26

minh, sáng dạ, cần cù, chịu khó Đức tính cần cù chăm học ấy trở thành thói quen theo ông suốt đời; ngay cả khi lên ngôi vua, rất bận rộn với công việc chính sự nhưng ông vẫn chịu khó trau dồi kiến thức cho mình Lê Thánh Tông đã đưa đất nước đến sự thịnh trị, đời sống nhân dân ấm no Và tất nhiên

để làm được điều này, nhà vua đã đổi mới rất nhiều về tư tưởng, văn hóa, giáo dục Trong thời gian trị vì ông đã làm rất nhiều việc có lợi cho đất nước, cho nhân dân Phan Huy Chú đã đánh giá về Lê Thánh Tông: “Tư chất và tính khí nhà vua rất cao sáng, ham học không biết mỏi, tay không rời quyển sách Về trí thức thì vua tôn trọng Nho thuật, cất nhắc anh tài, sáng lập chế độ, mở

mang bờ cõi, văn võ tài lược hơn cả các đời" (Lịch triều hiến chương loại chí) Ngoài ra, số lượng tác phẩm thơ văn ông để lại cho đời khá lớn

1.2 TRUYỀN KỲ MẠN LỤC - VẤN ĐỀ TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ

1.2.1 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

Truyền kỳ mạn lục gồm 4 quyển, 20 thiên, có Lời tựa của Hà Thiện Hán

đề năm 1547 và tương truyền Đại hưng hầu Nguyễn Thế Nghi, bạn thân của Mạc Đăng Dung đã dịch ra chữ Nôm, được thầy dạy là Nguyễn Bỉnh Khiêm

phủ chính Theo Phan Huy Chú, Truyền kỳ mạn lục có 22 truyện, nhưng các

bản sách hiện nay đều chỉ có 20 truyện; bao gồm: 1/ "Chuyện ở đền Hạng Vương" (Hạng vương từ ký); 2/ "Truyện nghĩa phụ ở Khoái Châu" (Khoái Châu nghĩa phụ truyện); 3/ "Truyện cây gạo" (Mộc miên thụ truyện); 4/

"Chuyện gã Trà đồng giáng sinh" (Trà đồng giáng đản lục); 5/."Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây" (Tây Viên kỳ ngộ ký); 6/ "Chuyện đối tụng ở Long cung" (Long đình đối tụng lục); 7/ "Chuyện nghiệp oan của Đào Thị" (Đào Thị nghiệp oan ký); 8/ "Chuyện chức phán sự đền Tản Viên" (Tản Viên từ phán

sự lục); 9/ "Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên" (Từ Thức tiên hôn lục); 10/

"Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào" (Phạm Tử Hư du thiên tào lục); 11/

"Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang" (Đà Giang dạ ẩm ký); 12/ "Chuyện người

Trang 27

con gái Nam Xương" (Nam Xương nữ tử truyện); 13/."Chuyện yêu quái ở Xương Giang"(Xương Giang yêu quái lục); 14/."Chuyện cuộc đối đáp của người tiều phu núi Na" (Na Sơn tiều đối lục); 15/."Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều"(Đông Triều phế tự lục); 16/ "Truyện nàng Túy Tiêu" (Túy Tiêu truyện); 17/."Truyện tướng quân họ Lý" (Lý tướng quân truyện); 18/."Truyện nàng Lệ Nương" (Lệ Nương truyện); 19/."Chuyện cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa" (Kim Hoa thi thoại ký); 20/ "Chuyện tướng Dạ Xoa" (Dạ Xoa bộ soái lục)

Văn bản Truyền kỳ mạn lục, hiện có nhiều dị bản mang các tên gọi khác nhau như: Cựu biên truyền kỳ mạn lục, hoặc Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng

bổ giải âm tập cú Những văn bản này đã được khắc in và sao chép nhiều lần

để đáp ứng nhu cầu của người đọc

1.2.2 Vấn đề tác giả của Truyền kỳ mạn lục

Nguyễn Dữ, người xã Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc, phủ Hồng Châu, (nay

là xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) Cha là Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, đời Hồng Đức (1496), làm quan đến Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Dữ từ nhỏ đã nổi tiếng học rộng nhớ nhiều Bài Tựa

Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm 1547 có đoạn: "Tập lục này là

trứ tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu Ông là con trưởng vị Tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm tri huyện Thanh Tuyền Mới được một năm, ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến mấy năm không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra

tập lục này để ngụ ý " [30, tr 47]

Nguyễn Dữ sinh ra trong một giai đoạn rối ren, đầy biến động Đáng tiếc những tài liệu về Nguyễn Dữ hiện còn không nhiều nên muốn biết về cuộc

Trang 28

đời nhà văn chỉ có thể suy đoán: Nguyễn Dữ có khả năng sinh vào khoảng cuối thế kỉ XV, sống và sáng tác khoảng nửa đầu thế kỉ XVI

Trong quá trình tìm hiểu về Nguyễn Dữ, chúng tôi cũng đã tiếp cận với một số nhận định của các nhà nghiên cứu bàn về niên đại và tên thật của Nguyễn Dữ như sau:

Trong Bàn thêm về vấn đề tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Lại

Văn Hùng khẳng định: Nguyễn Dữ là người có năm sinh xấp xỉ với Nguyễn Bỉnh Khiêm và có thể kém Nguyễn Bỉnh Khiêm vài tuổi Nguyễn Dữ sinh vào khoảng thập niên cuối thế kỉ XV và mất khoảng thập niên thứ tư của thế

kỉ XVI Ngoài ra, bàn về con đường hoạn lộ của Nguyễn Dữ, Lại Văn Hùng cũng cho rằng nguyễn Dữ đi thi và làm quan vào trước năm 1527

Còn nhận định của Nguyễn Phạm Hùng trong bài "Đoán định lại thân

thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục", Tạp chí văn học, số 1/2006 thì không thể có việc Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính sách Truyền kỳ mạn lục cho Nguyễn Dữ Ông cũng đồng tình với Trần Ích Nguyên cho rằng

nên gọi tên tác giả là Nguyễn Dữ Còn về thân thế Nguyễn Dữ, Nguyễn Phạm Hùng cho rằng Nguyễn Dữ đi thi, làm quan điều dưới triều Lê, cáo quan trước

khi nhà Mạc tiến ngôi (1527) và viết Truyền kỳ mạn lục trong thời gian mới

cáo quan ở ẩn từ dưới triều Lê Và Nguyễn Dữ không phải là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hồng, trong "Vấn đề đọc tên tác giả

Truyền kỳ mạn lục", Tạp chí Hán Nôm, số 1/2003, đã có một cách nhận định

cởi mở : “Một cách xử lí khoa học, nghiêm túc mà cũng phù hợp với thực tế

đã có, tốt hơn hết là nên tiếp tục gọi tên ông, tác giả bộ Truyền kỳ mạn lục của

văn học nước nhà là Nguyễn Dữ Khi cần thiết, cũng có thể mở ngoặc thêm (còn đọc là Nguyễn Tự)"

Trang 29

Tóm lại, dù có nhiều giả thuyết đi nữa về Nguyễn Dữ nhưng vẫn khẳng

định rằng: Ông là tác giả của tác phẩm truyện truyền kỳ nổi tiếng Truyền kỳ

mạn lục Tác phẩm được đánh giá cao là "một thiên cổ kì bút, áng văn hay

của bậc đại gia muôn đời"

1.3 VỊ TRÍ CỦA THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM

1.3.1 Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục trong thể loại truyền kì

Truyện truyền kì Việt Nam vốn có nguồn gốc từ thể loại truyền kì ảo của

Trung Quốc nhưng có một quá trình hình thành và phát triển nội sinh gắn liền

với nền văn hóa dân tộc Việt Nam Bên cạnh những cốt truyện phóng tác theo

truyện truyền kì của Trung Quốc thì các tập truyện của truyền kì Việt Nam có

cốt truyện, tình tiết, môtip được tiếp thu từ văn học dân gian Đôi khi nhiều

nhân vật trong truyện kì có nguyên mẫu trong truyện dân gian

Theo Từ điển Tiếng việt Truyền kì có nghĩa là "có tính chất những truyện

kì lạ lưu truyền lại", còn trong Từ điển văn học giải thích: “Truyền kì là một

thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường"

Truyền kì Việt Nam có thể đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỉ XIII Các tác

phẩm này đều có cốt truyện đơn giản, sơ lược, mang màu sắc dân gian thuần

phác Và chính văn học dân gian đã tác động trực tiếp đến quá trình hình

thành, phát triển của thể loại truyền kì

Con đường của truyện kì ảo Việt Nam thời trung đại từ Lý Tế Xuyên với

Việt điện u linh, qua Trần Thế Pháp với Lĩnh Nam chích quái đến Lê Thánh

Tông, Nguyễn Dữ là những bước phát triển liên tục

Giai đoạn đầu tiên (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV) là giai đoạn đặt nền

móng cho văn xuôi trung đại Việt Nam, trong đó có thể loại truyền kì Truyện

ngắn giai đoạn này chưa vượt khỏi ảnh hưởng của văn học dân gian và văn

Trang 30

học chức năng Các tác phẩm chủ yếu dừng ở việc sưu tầm, ghi chép, chưa có

sự sáng tạo về nghệ thuật Truyện truyền kì chỉ thực sự xuất hiện vào thế kỉ

XV-XVI với sự ra đời của Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục, trong

đó Thánh Tông di thảo được xem là "bước đột khởi" (Vũ Thanh) và Truyền

kỳ mạn lục là đỉnh cao của thể loại Ở giai đoạn này, truyền kì đã thoát khỏi

ràng buộc của văn học dân gian, trong đó yếu tố kì ảo được sử dụng một cách điêu luyện và kết hợp nhuần nhuyễn với yếu tố thực Các tác giả giai đoạn này, viết với một cảm hứng sáng tạo thực sự, đã đạt nhiều thành tựu rực rỡ cả

về nội dung và nghệ thuật "phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật" (Nguyễn Đăng Na) Điều này đã được đánh dấu bằng sự xuất hiện của hàng loạt những nhân tố mới, cũng là quá trình tiến tới hoàn thiện những quy chuẩn về mặt thể loại

Giai đoạn thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động, chế độ phong kiến đi vào khủng hoảng một cách trầm trọng Văn học lúc này đi theo hướng mới, các nhà văn tập trung phản ánh những điều xảy ra trong cuộc sống, văn xuôi lúc này có xu hướng phát triển sang thể loại kí.Tiêu biểu như các tác giả như Đoàn Thị Điểm, Vũ Trinh, Phạm Qúy Thích

đã đưa truyền kì sang một bước phát triển mới

Cuối thế kỉ XIX là giai đoạn chuyển giao giữa văn học trung đại và văn học hiện đại Cùng với sự ra đời của chữ Quốc ngữ và ảnh hưởng của văn học phương Tây, lúc này truyện truyền kì trong văn học trung đại bị suy yếu và kết thúc, hoàn thành vai trò sứ mệnh của mình Nhưng nó còn tiếp tục chịu ảnh hưởng của các thể loại văn học sau này

Như đã nói ở các phần trên, yếu tố kỳ ảo có vai trò quan trọng trong quá

trình sáng tạo Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục của Lê Thánh Tông

và Nguyễn Dữ Từ góc nhìn cảm hứng, cũng có thể nói các tác giả đã dùng cái "kỳ" để nói cái "thực" Trong thể loại cổ tích của văn học dân gian, người

Trang 31

ta thường nói những gì không giải quyết được trong đời sống thực tế cho số phận con người lao khổ thì các tác giả khiếm danh luôn tìm cách giải quyết bằng các phương tiện thần kỳ Nghiên cứu thể truyện truyền kì ta cũng thấy các tác giả thường lấy yếu tố "kỳ" để giải quyết các yếu tố"thực", dùng "kỳ"

để nói "thực" Dĩ nhiên hai dòng văn học trên không giống nhau, nhất là về thế giới quan và quan niệm về giai cấp Đến với thời văn học hiện đại, đương đại, điều thú vị là ta vẫn thỉnh thoảng tìm thấy các dạng khác nhau của yếu tố

kỳ ảo vẫn được sử dụng Điều đó, chứng tỏ yếu tố kỳ ảo có cái lý riêng để còn được vận dụng sáng tạo

1.3.2 Ảnh hưởng của Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục

trong mạch truyện văn xuôi trung đại

Từ việc tiếp thu văn học dân gian một cách thụ động thì dần dần các nhà văn đã đưa đứa con tinh thần của mình thoát ra khỏi sự khuôn mẫu, máy móc

mà bắt đầu có sự sáng tạo Nếu thời gian đầu, các tác phẩm truyền kì lấy các

vị thần, nhà sư, làm đối tượng phản ánh chủ yếu thì ở thời gian sau các tác phẩm này lại đề cập đến con người đời thường trong xã hội Nó luôn gắn liền với hiện thực cuộc sống của xã hội như:những câu chuyện tình yêu, cảnh nhớ quê hương, khao khát được sống trong hạnh phúc Tất cả đều xuất phát từ cuộc sống thực tế hằng ngày Điều đó, chúng ta thấy được sự đổi mới trong tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

Những cốt truyện trong những tác phẩm của Lí Tế Xuyên, Trần Thế Pháp đã thực sự thay đổi khi đến Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ Ở đây, những cốt truyện cũ chính là cái cốt truyện cũ chính là cái cớ để nhà văn thể hiện điều mình muốn gửi gắm đã tạo nên sáng tạo mới Điều đó, thể hiện bước tiến quan trọng của thể loại truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại Đến thời Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ thì kiểu nhân vật mới bắt đầu xuất hiện Nhà văn đồng nhất với nhân vật Điều này, được thể hiện thành công

Trang 32

trong Thánh Tông di thảo với việc xuất hiện nhân vật thứ ba - hiện thân của

nhà văn Lúc này, các nhân vật không chỉ miêu tả hình dáng ở bên ngoài mà nhà văn đã đi sâu vào khai thác bên trong tâm hồn , đời sống nội tâm phong phú cùng với khắc họa tính cách nhân vật Chính vì những đóng góp to lớn

này mà các nhà nghiên cứu luôn nhắc đến Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

"Chú trọng đến việc phản ánh những xung đột bình thường trong đời sống gia đình, cũng như việc đi sâu khắc họa nội tâm nhân vật đã xác định được vị trí người mở đường cho loại truyện ngắn thế sự trong lịch sử văn học dân tộc của Nguyễn Dữ và khiến cho truyện của ông trở nên gần gũi với văn xuôi hiện đại" Chính vì vậy, Nguyễn Dữ được coi là cha đẻ của loại hình truyện ngắn trung đại Việt Nam

Vào thế kỉ XV, Thánh Tông di thảo đã mở ra một giai đoạn mới trong

quá trình hình thành và phát triển của truyện ngắn Việt Nam Tác giả dần dần thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của lối ghi chép thuần túy những sáng tác dân gian có sẵn, cũng như ảnh hưởng trực tiếp của sử liệu để tạo dựng cho tác phẩm của mình những phẩm chất nghệ thuật mới mẻ Ở đây diễn ra một quá trình biến đổi về chất trong mối tương quan giữa truyền kì và dân gian

Sự tách rời ấy cũng là khởi đầu cho việc hình thành những tác gia văn xuôi có năng lực sáng tạo độc lập

Đối với nền văn học viết trung đại, truyện truyền kỳ Việt Nam thể hiện một quá trình vận động, phát triển liên tục, từ việc kế thừa những thành tựu,

cơ sở ban đầu của truyện u linh, chí quái, sử truyện đạt đến những thành tựu đỉnh cao và đi dần vào con đường thoái trào của mình Kiều Thu Hoạch đã thống kê được tổng số 7 tác phẩm thuộc loại hình truyện truyền kì trung đại

Việt Nam, trong đó có tác phẩm Thánh Tông di thảo là tác phẩm mở đầu của

loại hình truyện truyền kì trung đại Việt Nam

Trang 33

Tóm lại, truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam có một lịch sử phát triển lâu dài Truyện truyền kỳ xuất phát và vận động từ những tiền đề từ văn học dân gian, văn học viết có tính chất "kì ảo" trong nền văn học viết dân tộc, nó

có những thành tựu nổi bật đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục là hai tác phẩm có ảnh hưởng

rất lớn đến mạch truyện văn xuôi trung đại Việt Nam Về nguồn gốc xuất xứ của văn bản và cũng như chính các tác giả tạo nên hai kiệt tác này còn nhiều tranh luận của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, với sự khu biệt và giới hạn nghiên cứu của luận văn ở phương diện thế giới nghệ thuật thì chúng tôi nhận thấy hai tác phẩm đã có một vị trí rất "đắc địa" trong "mảnh đất" truyện truyền kỳ Việt Nam Hai tác phẩm này đã đặt nền móng cho sự phát triển của dòng văn xuôi trung đại Việt Nam, đặc biệt là một số yếu tố như : cốt truyện, tình tiết, môtip bắt nguồn từ văn học dân gian được đưa vào các câu chuyện trong hai tác phẩm một cách sáng tạo, mang tính nghệ thuật, góc nhìn thẩm

mỹ của tác giả

Trang 34

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG

TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

Đối với tác phẩm truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam, xét về phương

diện nghệ thuật thì Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục là hai tác phẩm

đại diện tiêu biểu Đặc biệt là ở góc độ xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm thì hai tác phẩm này chứa đựng một thế giới nhân vật rất đa dạng, phong phú Với nội dung chủ yếu là kể những câu chuyện lạ về đất nước, con

người trong quá trình lịch sử, là những chuyện kỳ nhân và linh địa Nổi bật

trong thế giới hình tượng nghệ thuật là cách xây dựng nhân vật một cách độc đáo, thú vị Các truyện tập trung vào hai loại nhân vật, đó là loại nhân vật hiện

thực và loại nhân vật siêu thực Hai loại nhân vật này đều có nét đặc thù lại

vừa có những điểm chung, thống nhất Cùng với đó, một nét mới lạ là tác giả

của Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục đã đặt các nhân vật của mình

trong một không gian và thời gian nghệ thuật mang ý nghĩa rất cao về mặt thi pháp, góp phần tôn thêm giá trị nghệ thuật của từng câu chuyện trong các tác phẩm

2.1 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

2.1.1 Kiểu hình tượng nhân vật "hiện thực" trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục

a) Hình tượng nhân vật vua chúa, quan lại

Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đều là hai nhà nho, chịu ảnh hưởng tư tưởng nho giáo chính thống Trong tác phẩm của mình, các tác giả đã xây dựng nhiều nhân vật vua chúa, quan lại phong kiến theo quan điểm riêng Nếu như, từ quan điểm phong kiến tập quyền trung ương, Lê Thánh Tông thường phản ánh quyền lực tối cao của nhà vua thì Nguyễn Dữ lại nhận ra bọn vua

Trang 35

quan ở thời đại ông có nhiều xấu xa, hèn mọn Bàn về vấn đề này, Lê Nhật

Ký xem việc xuất hiện của nhà vua trong truyện Tinh Chuột là một cách

khẳng định uy lực của nhà vua, một uy lực được Đổng Thiên Vương cảm thấu [36, tr 515] Trong khi đó, Nguyễn Đăng Na thấy nhân vật quan lại thì hung

tợn, tham lam, hiếu sắc như Lí Hữu Chi (Truyện Lí Tướng Quân), nham hiểm

và thâm độc như Thân Trụ quốc (Truyện nàng Túy Tiêu) [21, tr 189] Cần phân biệt loại nhân vật vua quan trong Thánh Tông di thảo là thuộc thời đại

của Lê Thánh Tông, một thời đại phát triển và nhân vật được thể hiện có quan

hệ với quan điểm tự tôn của tác giả Còn nhân vật của Nguyễn Dữ là nhân vật

được phản ánh, sáng tạo theo tinh thần phê phán Trong Thánh Tông di thảo,

việc đề cao ngôi "chí tôn" được xem là một trong những tư tưởng quan trọng

nhất Có thể tiếp tục nhận ra đều ấy qua các truyện như: Ngọc nữ về tay chân chủ, Hai phật cãi nhau Bàn về việc đề cao tài năng phi thường của Hoàng đế trong truyện Ngọc nữ về tay chân chủ, sau khi trích một đoạn dài tác phẩm

miêu tả tài năng phi thường của một con người được xem là vua, Đinh Gia Khánh viết: "Ngọc Hoàng bèn cho là phải và gả con gái cho người ấy, chứ không gả cho Sơn thần hoặc Thủy thần Rõ ràng là truyện đã khẳng định uy lực tuyệt đối của Hoàng đế, việc mà Lê Thánh Tông nỗ lực tiến hành trong ý

đồ củng cố chế độ quân chủ chuyên chế” [36, tr 487] Còn trường hợp Hai phật cãi nhau là truyện liên quan đến sư sãi - nhà chùa, nhưng là chuyện kể

việc vua Lê Thánh Tông đi chẩn cấp cho dân, đêm đến nghỉ cạnh một ngôi chùa ở Văn Giang rồi thấy chuyện hai phật cãi nhau như thế Nói về chuyện này, Đinh Gia Khánh viết: "giữa đêm nhà vua ghé nhòm vào trong chùa vắng thì thấy một tượng phật bằng đất và một tượng phật bằng gỗ cãi nhau” [36, tr 489] Đó cũng là cách tự đề cao của vua Lê Thánh Tông trong việc chăm sóc người dân Nó cho thấy ý thức củng cố quyền lực và tình cảm đối với nhân dân của vua Lê Thánh Tông Trong khi đó, quan lại phong kiến trong truyện

Trang 36

Lí Tướng quân lại khác Chính bọn này đã gây bao đau khổ cho nhân dân, gia

đình li tán, nhân tài vật lực bị tàn phá: “phục dịch nhọc nhằn, anh nghĩ em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng, tay rách rất là khổ sở” [41, tr 188]

Cũng đề cập đến tội ác của vua quan, trong Truyền kỳ mạn lục có Truyện đối

đáp của người tiều phu núi Na Tác giả đã khái quát để nói những đều tham

nhũng cụ thể: “Vua thì thường dối trá tính nhiều tham dục vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình phạt có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được, kẻ dâng lời ngay thì phải giết, kẻ nói đều nịnh thì được thưởng, lòng dân động lay Vậy mà các kẻ đình thần, trên

dưới đều hùa, trước sau nối vết” [41, tr 189] Ta thấy không chỉ có bọn quan

lại mà cả vua chúa cũng gây ra rất nhiều tội ác, nhiều đạo đức suy đồi, hư bại Tuy có sự khác nhau về phản ánh nhân vật vua quan phong kiến nhưng các tác phẩm đều trở thành tấm gương soi thời đại của các tác giả

b) Hình tượng nhân vật nho sĩ

Ở xã hội phong kiến, hình tượng nhân vật nho sĩ là đối tượng luôn được

xã hội quan tâm và đặt nhiều hi vọng Bởi vì họ là chổ dựa vững chắc, là niềm tin, niềm kì vọng của mọi người, chính họ góp phần vào sự hưng thịnh hay suy vong của một đất nước Vì vậy, loại nhân vật này xuất hiện khá phổ biến

trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục Nhìn chung, nho sĩ được các

tác giả ngợi ca bởi những điều tốt đẹp mà họ mang đến cho xã hội Cho nên,

họ đáng được xã hội trọng dụng và đề cao Để thấy được những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật nho sĩ thì các tác giả luôn tạo nhân vật trong những hoàn cảnh túng thiếu, vất vả Chính niềm tin và ý chí, nghị lực trong cuộc sống đã giúp nho sinh vượt qua những khó khăn, trở ngại của cuộc đời và dần dần khẳng định mình Môtip thường gặp khi viết về nhân vật nho sĩ đó chính là

họ có hoàn cảnh là mồ côi Đó là số phận của chàng Chu Sinh trong Hoa quốc

kì duyên: "Động Sơn La, tỉnh Hưng Hoa, có chàng Chu Sinh, mồ côi cả cha

Trang 37

lẫn mẹ từ lúc mới lọt lòng Chú ruột đem về nuôi nấng" [38, tr 37] Đấy cũng

chính là cảnh ngộ của Tử Khanh: “Ở Sơn Bắc có Nguyễn Tử Khanh, cha mẹ mất sớm chỉ có một người anh” [39, tr 76] Hoặc hoàn cảnh mồ côi của chàng nho sĩ: “Làng Thần Khê có anh đồ kiết, cha mẹ mất sớm, em trai không

có, hai mươi tư tuổi mà vẫn chưa có vợ Nhà nghèo quá, chỉ nhờ bút nghiên

mà sống" [38, tr 144] Như vậy, nhà văn đã đặt nhân vật vào hoàn cảnh cần được thử thách Nghèo khổ, đói rét không làm chùn bước chân đến với cửa Khổng sân Trình của họ.Và để cho các nhân vật nho sinh đi đến thành công thì một trong những yếu tố bên ngoài giúp đỡ con đường hiển danh cho những chàng nho sĩ bằng con đường đi ở rể Đây cũng là cơ hội vượt qua khó khăn

để tiếp tục chinh phục con đường công danh Đó là hoàn cảnh của Thiên Tích

trong Chuyện gã Trà đồng giáng sinh: “gia cảnh nghèo nàn, ăn tiêu không đủ

( ) Họ Hoàng bèn đón Dương sinh đến làm rể, phàm những phí tổn về lễ lan khách khứa, hết thảy đều tự bỏ ra cả" [41, tr 51] Vì vậy, nên Sinh được thảnh thơi để chí về đường văn học, rồi đi thi hai khoa đều đỗ Qua nhân vật nho sinh, các tác giả đã đưa người đọc đến một niềm tin Cuộc đời của mỗi con người đều gặp khó khăn, gian khổ điều quan trọng là chúng ta chỉ cần có

đủ kiên nhẫn, niềm tin, nghị lực để chịu đựng vượt qua thử thách, khó khăn

đó cuối cùng chúng ta sẽ là những con người thành công, chiến thắng trên cuộc đời này

Nhân vật nho sĩ được miêu tả trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục đều là những con người thông minh, học vấn uyên bác, thâm thúy

nho nhã, đặc biệt sự thông minh ấy được thể hiện ngay từ ấu thơ Thiên Tích :

“thiên tri cao mại, học vấn rộng rãi, phàm sách vở văn chương cổ kim, không cái gì là không lịch thiệp" [41, tr 49] Đó cũng là sự thông tuệ đĩnh ngộ của Phạm Tử Hư: "Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc" [41, tr 142] Ngay cả với cha đẻ tác phẩm này cũng

Trang 38

vậy, Hoàng đế Lê Thánh Tông không chỉ thông minh, học rộng, am hiểu nhiều mà còn biết áp dụng những điều ở cửa Khổng sân Trình vào việc trị vì đất nước Chính vì vậy, ông được xem là nhà vua mẫu mực, triều đại của ông được đánh giá là triều đại thịnh trị nhất Còn Nguyễn Dữ theo lời tựa của Hà Thiện Hán:"Thuở nhỏ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, muốn lấy văn chương

kế nghiệp nhà, từng thi đỗ hương tiến, nhiều lần thi hội đều đỗ đạt"

Nhân vật người nho sĩ hội tụ cả đức và tài trong quan niệm của người trung đại, là hình mẫu lí tưởng theo quan niệm của Nho giáo Đó là quan niệm

"tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Người quân tử quan niệm muốn đất nước

được an bình thì gia đình trước hết phải có trật tự Họ luôn làm gương trước thê tử Họ luôn đặt chữ hiếu lên trên quan hệ huyết thống của gia đình Chàng thư sinh trong "Thử tinh chuột"; mặc dù mới cưới vợ, vợ chồng hương lửa đương nồng nhưng trước lời khuyên của cha là đi học, anh đã nhận lời để bố

mẹ già được vui lòng Ngoài ra, nhân vật nho sinh còn thể hiện truyền thống

tôn sư trọng đạo, tiếp tục được phát huy trong thể loại truyền kì."Khi Dương

Trạm chết, các học trò đều tan đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực,

sau ba năm rồi mới trở về" [41, tr 142]

Như vậy, chúng ta thấy rằng đối với hình tượng nhân vật nho sĩ học tập chữ nghĩa thánh hiền là một trong những mục tiêu cao quý nhất mà giới trí thức luôn muốn đạt tới Cửa Khổng sân Trình là nơi mà người trí thức tìm đến

để gửi gắm lí tưởng sống của mình Trong Hiếu đễ nhị thần truyện" nhà tuy

túng thiếu mà gia đình vẫn hòa mục như thường Ba đời theo nghiệp học, chưa có thành tựu đỗ đạt gì” [38, tr 76] Họ luôn cần cù, chịu khó, nhẫn nại

chàng nho sĩ trong Thử tinh chuột : “song gà luyện tập, trí thức ngày một mở mang, án tuyết gắng công, đức hạnh ngày một tu tiến" [38, tr 137] Mặt khác

có chàng nho sĩ thì gia tư nghèo khó nhưng việc học luôn được coi trọng

"Thiên Tích sớm hôm học hành, không hề trễ biếng" [41, tr 49] nhưng gia

Trang 39

cảnh nghèo nàn, ăn tiêu không đủ Đằng sau sự nghèo túng ấy là ý chí, nghị lực vượt qua số phận của nho sĩ

Các nho sĩ có những phẩm chất cao quý là tinh thần trọng nghĩa, luôn có

ý thức trách nhiệm với đời và thái độ coi thường danh lợi Họ luôn tâm niệm

giữ mình cao khiết, trong sạch " ta không thể vì số lương năm đấu gạo đó mà buộc mình trong áng lợi danh" [41, tr 125] Bản chất trọng nghĩa khí còn thể

hiện ở chổ sống trong nghèo khó, họ vẫn luôn giữ gìn khí tiết Chàng nho sĩ

trong truyện Một dòng chữ lấy được gái thần đã từ chối nhận lễ vật của một

cô gái xinh đẹp đến xin chữ kí: “Vả tôi nghèo kiết thế này, những bút mực

này thật không đáng có Nước thơm, giấy cống, nhà nho nghèo cũng không cần dùng đến Vàng bạc vẫn là quý, nhưng ăn mặc đã có tiền dạy học Nay lại được tặng thêm chẳng hóa ra vô tội mà thành có tội ư? Tôi nhất định khước từ không dám nhận" [38, tr 146]

Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật nho sĩ được đề cao thì những thói hư tật xấu của tầng lớp này vẫn được các tác giả nói đến Đó cũng

là sản phẩm của xã hội phong kiến đã đến lúc mục ruỗng, suy tàn Chẳng hạn,

kiểu nhân vật ham mê sắc đẹp hơn là việc tu dưỡng ở học đường: Chuyện kì ngộ ở trại Tây với anh học trò Hà Nhân "quê ở Thiên Trường, khoảng năm Thiệu Bình ngụ ở kinh sư để tòng học cụ Ức Trai (Nguyễn Trãi)" [41, tr 59] Nhân vật này thể hiện khá chân thực: “Sinh tuy mượn tiếng du học, nhưng

bút nghiên chí nản, son phấn tình nồng Ngày nào mới buổi xuân dương, thoắt

đã trời đông tiết lạnh" [41, tr 72] Nhân vật nho sĩ không chỉ dễ sa ngã, mê đắm sắc đẹp, quên học hành, tu dưỡng bản thân, mà còn có một số thói xấu khác như tự kiêu, tự mãn trong học tập Sự khiêm tốn, điềm đạm ngày càng mất dần mà thay vào đó là thói hợm hĩnh, tính khoe khoang Chính điều này

đã được thầy Dương Trạm nhận xét: “Cứ như văn chương tài nghệ của anh,

đương đời này không ai bì kịp, huống anh lại còn có tính trung hậu, anh

Trang 40

thường lấy văn tài mà kiêu ngạo với người khác, cho nên trời mới bắt đỗ muộn để phải chùn nhụt cái nết ngông ngạo đi ( ) Họ thường đổi họ để đi học, thay tên để đi thi; hễ trượt đỗ thì đổ lỗi mờ quáng cho quan chấm trường, hơi thành danh thì hợm mình tài giỏi hơn cả tiền bối, chí khí ngông ngạo tính tình tráo trở, thấy thầy nghèo thì lản tránh, gặp bạn nghèo thì làm ngơ" [41, tr 144-145] Chính vì sự xuống cấp, suy đồi đạo đức nhân cách của giới nho sĩ

mà khi Dương Trạm chết đi, tuy mấy nghìn học trò vẫn "không một ai đến viếng mộ"

Loại nhân vật nho sĩ kém phẩm chất vừa nói trên chỉ là một bộ phận nhỏ, nhưng rõ ràng cái nhìn nghệ thuật của các tác giả đã không bỏ qua mặt tiêu cực của tầng lớp này Cái nhìn ấy vừa cho thấy quan điểm của tác giả khá minh bạch, vừa cho thấy ý nghĩa lịch sử xã hội của thời đại đã được phản ánh vào văn chương truyền kỳ bấy giờ

c) Hình tượng nhân vật thương gia

Loại hình nhân vật thương gia trong truyện truyền kỳ xuất hiện không

nhiều Nhìn chung, nó xuất hiện chủ yếu ở Truyền kỳ mạn lục, điều đó cũng

thật dễ hiểu vì thời Nguyễn Dữ xuất hiện tầng lớp thị dân cùng với sức mạnh của đồng tiền có vai trò quan trọng trong xã hội Dưới con mắt của các nhà Nho lúc này, tầng lớp này hiện lên không mấy tốt đẹp Tác giả đã đi sâu vạch

trần sự giảo quyệt, lừa đảo ở họ Trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu Trọng Qùy chồng của Nhị Khanh vốn là một kẻ có máu ham mê cờ

bạc Trải qua biết bao khó khăn thử thách, hai vợ chồng mới được đoàn tụ, vẫn tưởng cuộc sống gia đình sẽ được hạnh phúc, song bản chất ham mê cờ bạc vẫn còn trong con người anh ta Trọng Qùy thì thích Đỗ Tam có nhiều tiền trong những canh bạc còn Đỗ thì ham Qùy có vợ đẹp Như vậy, hắn đi lại với Trọng Qùy vì chàng có vợ đẹp Điều này ta thấy được bản chất xấu xa của

Đỗ Tam hiện rõ, chơi với bạn hòng mưu cướp vợ bạn Đạo đức làm người

Ngày đăng: 17/05/2021, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w