1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI THẢO LUẬN THỨ 4 (1)

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 42,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập 1: Đòi động sản từ người thứ ba-Trâu là động sản.Vì nó không phải là bất động sản.Bất động sản là loại tài sản bao gồm:Đất đai;nhà,công trình xây dựng gắn liền với đất đa

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN THỨ TƯ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

Nhóm 6 CLC-38D

Trần Thị Diễm 1353801011022 Nguyễn Tấn Nhàn 1353801012193 Nguyễn Văn Tuấn 1353801012332

Nguyễn Thị Quỳnh Nhi 1353801013144 Trần Duy Khánh 1353801014076 Nguyễn Văn Nhơn 1353801014147

Lê Ngọc Tuấn 1353801014234

Trang 2

Bài tập 1: Đòi động sản từ người thứ ba

-Trâu là động sản.Vì nó không phải là bất động sản.Bất động sản là loại tài sản bao gồm:Đất đai;nhà,công trình xây dựng gắn liền với đất đai,kể cả các tài sản gắn liền với nhà,công trình xây dựng đó;các tài sản khác gắn liền với đất đai;các tài sản khác do pháp luật quy định(khoản 1,điều 174 BLDS2005)

-Trâu không phải là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu.Vì quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng kí,trừ trường hợp pháp luật quy định(ở điều 167BLDS2005)

-Đoạn của quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài là:Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài(BL06,07,08),lời khai của các nhân chứng là anh Phúc(BL19),anh Chu(BL20),…thuộc quyền sở hữu của ông Triệu Tiến Tài.Ông Thơ là người chiếm hữu,sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật -Chiếm hữu tài sản là trực tiếp nắm giữ,quản lý tài sản theo ý chí của mình Ông Nguyễn Văn Dòn đang chiếm hữu trâu có tranh chấp

- Việc chiếm hữu của Ông Dòn là không có căn cứ pháp luật.Vì việc chiếm hữu của Ông Dòn không thuộc trường hợp nào quy định trong điều 183 BLDS2005 -Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại điều 183 của blds 2005 là chiếm hữu không có căn

cứ pháp luật.Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.Cơ sở pháp lý điều 189 blds 2005

-Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình.vì theo lời khai của ông Thơ thì ông dắt trâu về gửi ông Thi quản lý được mấy hôm thì con nghé bị liệt,ông đã mổ lấy

Trang 3

thịt,bán trâu mẹ cho ông Thi với giá 3.800.000.Sau ông thi lại đổi cho ông Chiên(Dòn).Suy ra ông Dòn hoàn toàn không biết đó là trâu của ông Tài

-Hợp đồng có đền bù như:bán ,cho thuê,đổi chác,…Hợp đồng không có đền bù như:được biếu tặng,được cho mượn sử dụng,…

-Ông Dòn có được trâu thong qua giao dịch có đền bù vì ông Thi đổi cho ông -Trâu có tranh chấp bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài vì ông Thơ nhầm

-Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao,ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn.Dẫn chứng:Tòa án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé 900.000đ,bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật

-Hướng giải quyết của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao ở trên là sai vì theo điều 257 BLDS 2005 là ông Dòn phải trả lại vì ông Dòn đổi với ông Thi mà ông Thi mua của ông Thơ đều bằng hợp đồng có đền bù

-Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định

ở điều 257 BLDS2005 để bảo vệ ông Tài

-Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án dân sự nhân dân tối cao vẫn chưa hướng ông Tài được quyền ai trả giá trụ con trâu vì Tòa án dân sự nhân dân Tối cao quyết định giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẫm lại theo quy định của pháp luật

-Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án

Theo tôi quyết định của Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý: bởi vì vụ

án này khá rắc rối, liên quan đến 4 đương sự quan hệ tài sản giữa các bên lại khác nhau Ông Tài với ông Thơ là quan hệ trực tiếp có sự mâu thuẫn giữa ông Tài và ông Thơ về tài sản là con trâu, cả 2 đều thể hiển ý chí về tài sản là của mình, nhưng thật sự tài sản là của ông Tài là người sở hữu tài sản có căn cứ pháp luật, còn ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật, là người chiếm hữu tài sản trái pháp luật của ông Tài

Trang 4

Quan hệ giữa ông Thơ và ông Thi là quan hệ mua bán giao dịch dân sự không hợp pháp

Quan hệ giữa ông Thi và ông Dòn là quan hệ giao dịch dân sự hợp pháp Ông Dòn

là người chiếm hữu tài sản ngay tình vì ông không biết tài sản là 2 con trâu đang có

sự tranh chấp, vì vậy ông Dòn sẽ được pháp luật bảo vệ vì thế Tòa án dân sự Tòa

án nhân dân tối cao là sự giải quyết hợp tình hợp lý

Bài tập thứ hai: Đòi bất động sản từ người thứ ba

- Đoạn nào của bản án, quyết định cho thấy nhà đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Cón, bà Bảy?

Trong Bản án: “Xét nhà đất số 24 đường 35, khu phố 7, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, có nguồn gốc của ông Cón, bà Bảy để lại…”

Trong Quyết định: “Nguồn gốc nhà số 24 đường 35 khu phố 7, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TPHCM do ông Châu Văn Cón và bà Võ Thị Bảy tạo lập…”

- Ai là người thừa kế của ông Cón, bà Bảy?

Năm 1982, bà Bảy mất Năm 1994 ông Cón chết, cả hai không để lại di chúc Vì vậy căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 675 BLDS về những trường hợp thừa kế theo pháp luật, tài sản của hai ông bà sẽ được chia theo pháp luật Những người thừa kế theo pháp luật căn cứ theo Khoản 1 Điều 676 gồm 6 người con: Châu Thị

Dễ, Châu Thị Gái, Châu Thị Út, Châu Thị Mai, Châu Văn Trừ và Châu Văn Hơn là các đồng thừa kế Ông Trừ chết năm 1968, người thừa kế thế vị của ông Trừ theo Điều 677 BLDS là bà Trương Thị Thêu (vợ ông) và hai con Châu Thị Thu Hồng

và Châu Văn Lâm

- Ai là những người đã thỏa thuận để ông Hơn đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp?

Những người đã thỏa thuận để ông Hơn đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp gồm có: Châu Thị Dễ, Châu Thị Út, Châu Thị Mai, Châu Văn Hơn

- Ai là những người thừa kế không tham gia vào thỏa thuận trên?

Trang 5

Những người thừa kế không tham gia vào thỏa thuận trên: Châu Thị Gái, Châu Văn Trừ (đã mất năm 1968, và có thừa kế thế vị là vợ Trương Thị Thêu, 2 con -Châu Thị Thu Hồng và -Châu Văn Lâm)

- Theo Tòa phúc thẩm và Tòa giám đốc thẩm, thỏa thuận trên có giá trị pháp lý không? Vì sao?

Tại Tòa phúc thẩm, thỏa thuận trên có giá trị pháp lý Tòa phúc thẩm xét thấy thỏa thuận đã được bà Châu Thị Dễ, Châu Thị Út, Châu Thị Mai và ông Châu Văn Hơn

ký tên nhường đứt toàn bộ và không điều kiện phần nhà mà các bà đã được thừa kế cho ông Châu Văn Hơn, văn bản đã được xác nhận tại phòng Công chứng nhà nước số 3 Tòa phúc thẩm đã bác đơn yêu cầu của các bà Châu Thị Dễ, Châu Thị Gái, Châu Thị Út, Châu Thị Mai về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hơn và bà Mai ký kết tại Phòng Công chứng số 3 TPHCM, đồng thời công nhận hợp đồng này

Tại Tòa giám đốc thẩm, thỏa thuận trên không có giá trị pháp lý Bởi vì di sản của ông Cón, bà Bảy có 6 đồng thừa kế, nhưng ông Hơn cố tình không mời bà Gái và các thừa kế thế vị của ông Trừ tham gia, đây là hành vi gian dối, vi phạm pháp luật Hơn nữa tại bản thỏa thuận không thể hiện bà Dễ, bà Mai, bà Út, ông Hơn xuất trình các tài liệu chứng minh số tài sản trên chỉ có 4 người thừa kế Đồng thời công chứng viên đã không kiểm tra ngoài 4 người này, còn ai khác cũnglà chủ sở hữu căn nhà không mà ký xác nhận cam kết của các đương sự, như vậy là vi phạm Điều 49 Luật Công chứng quy định về công chứng thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Do đó tờ thỏa thuận tuy có công chứng nhưng vi phạm cả hình thức lẫn nội dung

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa phúc thẩm và Tòa giám đốc thẩm

Hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm là không hợp lý Di sản có 6 đồng thừa kế nhưng khi làm thỏa thuận chỉ có 4 người, công chứng viên lại không kiểm tra xác minh, như vậy là vi phạm pháp luật Việc Tòa phúc thẩm bác đơn yêu cầu của bà Gái, bà Dễ, bà Út, bà Mai và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hơn, bà Mai là không thỏa đáng

Trang 6

Vì vậy việc Tòa giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm và giao hồ sơ vụ án về Tòa

án quận Thủ Đức xét xử sơ thẩm là hoàn toàn hợp lý và hợp pháp

- Đoạn nào của Bản án, Quyết định cho thấy nhà đất có tranh chấp đã được bán cho

bà Mai?

Trong Bản án: “Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền) giữa ông Hơn và bà Mai đã hoàn tất, tuy bà Mai chưa nhận tài sản, nhưng tài sản đã được đăng bộ sang tên cho bà Mai đã hoàn tất từ ngày 16/1/2008 Như vậy

kể từ ngày 16/1/2008, bà Mai là chủ sở hữu hợp pháp đối với căn nhà số 24, đường

35, khu phố 7, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức.”

Trong Quyết định: “Sau khi có bản thỏa thuận trên ngày 18/12/2007 tại phòng Công chứng số 3 TPHCM ông Châu Văn Hơn đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) với bà Trần Thị Mai, trong đó thể hiện ông Hơn đã chuyển nhượng cho bà Mai 148,3m2 đất cùng tài sản là căn nhà

số 24 đường 35, khu phố 7, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TPHCM (BL 47-51).”

- Tòa phúc thẩm có buộc bà Mai hoàn trả nhà đất cho những người thừa kế của ông Cón, bà Bảy không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Tòa phúc thẩm không buộc bà Mai hoàn trả nhà đất cho những người thừa kế của ông Cón, bà Bảy

Đoạn: “Buộc ông Châu Văn Hơn phải giao căn nhà số 24 đường 35 khu phố 7 phường Hiệp Bình Chánh quận Thủ Đức thuộc thửa đất số 525 (thửa cũ: một phần thửa số 124) tờ bản đồ số 27 cho bà Trần Thị Mai ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.”

- Theo Điều 138 và Điều 258 BLDS, trong trường hợp nào người nhận chuyển nhượng tài sản phải hoàn trả tài sản cho chủ sỡ hữu đích thực?

Theo Điều 138 và 258 BLDS, người nhận chuyển nhượng tài sản phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sỡ hữu đích thực là nếu tài sản bị đòi kiện trả lại là động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản mà không rơi vào trường hợp người thứ 3 chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ

Trang 7

sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa

- Theo Tòa dân sự và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bà Mai có được từ chối hoàn trả tài sản có tranh chấp trên cơ sở các quy định bào vệ người thứ ba ngay tình không (Điều 138 và 258 BLDS)? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Bà Mai không được từ chối hoàn trả tài sản có tranh chấp

Đoạn: “Việc Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào “Thỏa thuận phân chia di sản”….có tài sản gắn liền gắn liền giữa ông Hơn với bà Trần Thị Mai là không đúng” (trang 121 đề cương)

- Theo anh/chị, điều kiện nào của chế định bảo vệ người thứ ba ngay tình không được thỏa mãn trong vụ việc này?

Từ khoản 2 Điều 138 BLDS, ta thấy ngoài hai trường hợp ngoại lệ được đề cập thì giao dịch với người thứ ba ngay tình sẽ bị vô hiệu Xét trường hợp giao dịch giữa

bà Mai và ông Hơn thì ông Hơn không thuộc trường hợp nào cả Vì Trưởng phòng Tài nguyên môi trường quận Thủ Đức với tư cách là người được Chủ tịch UBND quận Thủ Đức ủy quyền đã ký xác nhận trong phần thay đổi, cũng tức là phần tài sản của bà Dễ, Út, Mai sẽ nhượng lại cho ông Hơn đồng thời cam kết ngoài họ ra, không còn người thừa kế nào khác Thực tế còn bà Gái và những người thừa kế thế

vị của ông Trừ Mặt khác, xác nhận của Trưởng phòng Tài nguyên môi trường là không đúng thẩm quyền

ở đây do Quyết định là của cơ quan nhà nước không đúng thẩm quyền nên không thỏa mãn điều kiện của chế định

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa dân sự TANDTC

Hướng giải quyết của Tòa là đúng Vì việc Trưởng phòng Tài nguyên môi trường nhận ủy quyền của Chủ tịch UBND quận Thủ Đức ký xác nhận trong phần sửa đổi khi cấp giấy chứng nhận là sai thẩm quyền nên không thỏa mãn điều kiện tại khoản

2 Điều 138 BLDS Vì vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hơn và bà Mai không được công nhận, bà Mai phải trả lại tài sản khi chủ sở hữu kiện đòi

Bài tập thứ ba: Lấn chiếm tài sản liền kề

Trang 8

1 Trong Quyết định số 23, việc ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Kim và phần lấn cụ thể được thể hiện ở đoạn: “ Trong quá trình sử dụng, ông Hậu đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Trê khoảng 185 m2 (cụ thể diện tích đất tranh chấp là tam giác có đáy là mặt tiền song Bà Bèo dài 12m, cạnh của tam giác là 36m, cạnh đứng khoảng 30m)”

2 Đoạn cho thấy ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sở hữu của ông Trụ, bà Nguyên

+ Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2008/DSST ngày 12-3-2008, Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh

“ Buộc ông Ngô Văn Hòa tháo dỡ 04 ô văng cửa sổ (tháo dỡ sát với mí tường nhà ông Hòa), tháo dỡ 01 máng bê tong trước nhà (tháo dỡ sát với mí cột nhà ông Hòa), tháo dỡ mái tôn phía nhà sau và đòn tay phía nhà sau (phần mái tôn dài 13m

và 10 cây đòn tay nhà sau theo bản vẽ xây dựng từ điểm F đến điểm J giáp ranh với đất ông Trụ tháo dỡ sát với mí tường nhà của ông Hòa).”

+ Tại Quyết định số 294/2011/KN-DS ngày 12-5-2011

“ Thực tế trên phần đất tranh chấp này có công trình phụ gồm: ô văng, đòn tay, đường ống Tòa án cấp sơ thẩm xác định đất của ông Trụ và bà Nguyên đến sát tường nhà của ông Hòa, nên đã buộc bị đơn tháo dỡ tất cả phần ô văng, đòn tay, mái nhà của ông Hòa nhô ra (theo bản vẻ xây dựng là từ điểm F đến điểm J) đến sát tường của ông Hòa, nhưng lại không giải quyết phần đường ống của ông Hòa nằm dưới đất thuộc quyền sở hữu của ông Trụ, bà Nguyên là trái với khoản 2 Điều

265 Bộ luật dân sự 2005 Sauk hi xử sơ thẩm, bà Nguyên có đơn kháng cáo yêu cầu ông Hòa tháo dỡ cả phần đường ống nước của ông Hòa đặt trên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà Nguyên, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn giữ nguyên bản

án sơ thẩm nêu trên Như vậy, cả Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm mới chỉ giải quyết một phần yêu cầu của nguyên đơn và chưa giải quyết triệt để vụ án.”

3 Tại khoản 2 Điều 265 Bộ luật dân sự 2005 có quy định điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác

“ Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do

Trang 9

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc

sử dụng đất liền kề của người khác.”

4 Trong Quyết định số 617 đoạn cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng buộc gia đình ông Hòa tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, mặt đất và lòng đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên

“Khi sửa chữa lại nhà gia đình ông có làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tong và chon dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà Quà trình giải quyết

vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định gia đình ông Hòa làm

4 ô văng cửa sổ, một máng bê tong chờm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên nên quyết định buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ là

có căn cứ.”

5 Ở nước Nga, sẽ xử lí theo bộ luật đất đai Điều 222 “Chiếm dụng và sử dụng trái phép đất” sẽ bị xử phạt hành chính từ 1-1.5% định giá phần đất, hoặc phạt lao động công ích đến 1 năm hoặc tù giam một năm (có thể hưởng án treo) tùy theo mức độ

vi pham

5 Việc Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và hủy bản

án cấp phúc thẩm là đúng Ông Hòa cũng phải tháo dỡ đường ống nước chon bên dưới lòng đất Tuy nhiên việc tháo dỡ ống nước bên dưới lòng đất cũng phải có sự xem xét của nhà thiết kế, thi công nhà ở Việc tháo đường ống nước đó đó gây hại lớn cho gia đình ông Hòa hay không theo quy định Điều 277 BLDS 2005

6 Quyết định số 23 Tòa án không buộc ông Hậu tháo dỡ nhà được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2m2) được thể hiện ở Bản án sơ thẩm 09/STDS ngày 21/7/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh CM có đoạn: “Buộc ông Hậu trả ông Trê, bà Thi giá trị quyền sử dụng phần đất lấn chiếm đã cất nhà là 52,2m2 bằng giá trị là 7,83 chỉ vàng 24K Giữ nguyên phần đất có căn nhà ông Hậu sử dụng”

7 Ông Trê, bà Thi biết việc ông Hậu xây dựng nhà trên phần đất đang tranh chấp nhưng không phản đối

8 Nếu ông Trê, bà Thi biết và phản đối ông Hậu xây nhà trên thì ông Hậu phải tháo dỡ để trả lại đất cho ông Trê, bà Thi Vì:

Trang 10

Thứ nhất, ông Hậu xây dựng nhà trên nhưng bị ông Trê, bà Thi phản đối, như vậy ông Hậu biết phần đất này đang có tranh chấp nhưng vẫn xây dựng nhà, nên việc ông Hậu chiếm hữu quyền sử dụng đất là không ngay tình Cho nên pháp luật sẽ bảo vệ quyền lợi nhiều hơn cho ông Trê, bà Thi

Thứ hai, ông Trê, bà Thi đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phần đất tranh chấp, nên căn cứ vào Điều 256 BLDS về Quyền đòi lại tài sản: “ Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257

và Điều 258 của Bộ luật này” Như vậy, ông Hậu phải tháo dỡ nhà, trả lại nguyện trang phần đất ban đầu

9 Hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến phần đất ông Hậu lấn chiếm và xây nhà trên theo chúng tôi là hợp tình hợp lý Trường hợp phải cưỡng chế đập bỏ công trình xây dựng trái phép trên thực tiễn sẽ phải kéo dài lê thê, thì rõ ràng phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao có giá trị thực tiễn, giúp việc thi hành án và thu hồi lại quyền sử dụng đất của ông Trê được nhanh chóng, gọn nhẹ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông Trê, bà Thi, đồng thời dung hòa lợi ích của các bên liên quan( trường hợp của ông Hậu được áp dụng Điều 189 BLDS về chiếm hữu tài sản trái pháp luật nhưng ngay tình)

10 Theo Tòa án, phần đất ông Hậu xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trê,

bà Thi được xử lý như sau: ông Hậu sẽ phải trả ông Trê, bà Thi 7,83 chỉ vàng 24K cho quyền sử dụng đất phần đất lấn chiếm Đoạn thể hiện việc xử lý: “Buộc ông Hậu trả ông Trê, bà Thi giá trị quyền sử dụng phần đất lấn chiếm đã cất nhà là 52,2m2 bằng giá trị là 7,83 chỉ vàng 24K Giữ nguyên phần đất có căn nhà ông Hậu sử dụng”

11 Hường giải quyết của Hội đồng thẩm phán trong quyết định số 23 theo chúng tôi là hợp lý Quyết định số 23 của Hội đồng Thẩm phấn một mặt công nhận tính hợp lý của bản án cấp phúc thẩm buộc ông Hậu trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm, còn phần đất lấn chiếm còn lại thì giao cho ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê Mặt khác xem xét giải quyết về phần

Ngày đăng: 15/09/2016, 22:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w