1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ 4 Đảm bảo thực hiện nghĩa vụ

25 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 37,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ 1 ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ Tóm tắt Bản án số 2082010DS PT ngày 09032010 của Tòa án nhân dân TP HCM Vào ngày 14092007 ông Nguyễn Khắc Thảo và bà Bùi Thị Khen có thế chấp cho ông Bá Minh một giấy sử dụng sap D2 9 tại chợ Tân Hương để vay tiền, khi hết hạn hợp đồng do ông Thảo không có khả năng thanh toán nên số nợ đã kéo dài đến nay, cho đến thời hạn đóng tiền lãi thì bà Khen và ông Thảo đã thanh toán nhưng lại không có giấy tờ để chứng minh là đã đóng Trong phiên.

Trang 1

VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

Tóm tắt Bản ân số 208/2010/DS-PT ngăy 09/03/2010 của Tòa ân nhđn dđn TP.HCM.

Văo ngăy 14/09/2007 ông Nguyễn Khắc Thảo vă bă Bùi Thị Khen có thế chấp choông Bâ Minh một giấy sử dụng sap D2-9 tại chợ Tđn Hương để vay tiền, khi hết hạn hợpđồng do ông Thảo không có khả năng thanh toân nín số nợ đê kĩo dăi đến nay, cho đếnthời hạn đóng tiền lêi thì bă Khen vă ông Thảo đê thanh toân nhưng lại không có giấy tờ

để chứng minh lă đê đóng Trong phiín tòa xĩt xử sơ thẩm đê tuyín bố chấp nhận mộtphần yíu cầu của nguyín đơn buộc ông Thảo bă Khen phải trả số tiền 38.914.800 đồngngay sau khi bản ân có hiệu lực vă yíu cầu ông Minh trả lại giấy chứng nhận sạp D2-9 do

bă Bùi Thị Khen đứng tín văo ngăy 14/05/2001, việc giao tiền vă giấy chứng nhận sạpđược xâc lập ngay sau khi bản ân có hiệu lực

Quyết định số 02/2014/GĐ-UBTP ngăy 28/02/2014 về V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.

Ông Nguyễn Văn Ôn vă bă Lí Thị Xanh có cầm cố đất cho vợ chồng ông Rănh đểlấy văng Nhưng trong hạn ông Ôn vă bă Xanh có chuộc lại đất nhưng ông Rănh nói cònkhó khăn nín không cho chuộc Yíu cầu của ông Ôn vă bă Xanh lă trả lại đất cầm cố vẵng bă sẽ trả lại số văng đê lấy để cầm cố Ông Rănh không chấp nhận yíu cầu của ông

Ôn vă bă Xanh nín ông Rănh chuộc lại với giâ thị trường theo định giâ Tòa sơ thẩmchấp nhận yíu cầu của ông Ôn vă bă Xanh, hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đấtđồng thời buộc ông Rănh vă bă Hết giao trả cho ông Ôn, bă Xanh số đất đê cầm cố văngược lại ông Ôn, bă Xanh trả lại số văng đê nhận từ ông Rănh

Tóm tắt Bản ân số 04/2010/DSPT ngăy 13/01/2010 của Tòa ân nhđn dđn tỉnh Vĩnh Long:

Bă Long khởi kiện yíu cầu Tòa ân giải quyết buộc bă Hồng, ông Chấp vă nhữngngười kế thừa quyền vă nghĩa vụ của cụ Bính (cha ông Chấp) liín đới trả nợ cho bă cả

Trang 2

gốc và lãi do bà Hồng vay, khi vay có thế chấp 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do

cụ Bính đứng tên Tòa án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bà Long, buộc bàHồng trả nợ số tiền đồng thời bà Long có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho ông Chấp Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Chấp, sửa mộtphần bản án sơ thẩm buộc bà Long phải trả lại các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đấtcho ông Chấp và những người thừa kế, ông Chấp không phải chịu án phí

1.1 Những điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Điều 295 quy định về Tài sản bảo đảm:

“1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền

sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường

hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở

hữu.

2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả

chung, nhưng phải xác định được.

3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản

hiện có hoặc tài sản hình thành trong

tương lai.

4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể

lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị

nghĩa vụ được bảo đảm.”

Từ Điều 320- Điều 322 quy định:

« Điều 320 Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1 Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân

sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch.

2 Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.

Điều 321 Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Tiền, trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác được dùng để bảo

Trang 3

đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Điều 322 Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1 Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

2 Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.

3 Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về tài nguyên.”

Theo Điều 295 BLDS 2015 quy định về tài sản đảm bảo có một số điểm mới cầnlưu ý:

Trang 4

+ Thứ nhất: Khác với BLDS 2005 thì BLDS 2015 không có quy định rõ thế nào làtài sản hiện có hay tài sản hình thành trong tương lai vì theo quy định tại Điều 105 vàĐiều 108 BLDS 2015 đã nói khá cụ thể về vấn đề này.

+ Thứ hai: Khoản 1 Điều 320 BLDS 2005 quy định vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụdân sự phải được phép giao dịch Tuy nhiên, đến BLDS 2015 quy định này không cònđược giữ lại Việc bỏ quy định này nhằm tránh sự “nhầm lẫn” trong việc Tòa án đưa raxét xử và cũng không phải là cho phép việc sử dụng tài sản không được phép đảm bảogiao dịch từ phần “Những quy định chung” đã đưa ra trong BLDS 2015 làm cho các quyđịnh đảm bảo, ngắn gọn, khắc phục được các tình trạng không phù hợp trong việc liênquan đến hợp đồng tài sản đảm bảo, bảo vệ được các lợi ích hợp pháp cho các đương sự

+ Thứ ba: Khoản 2 Điều 320 BLDS 2015 quy định: “Tài sản bảo đảm có thể được

mô tả chung, nhưng phải xác định được” Pháp luật quy định, tài sản bảo đảm có thể

được mô tả chung, nhưng yêu cầu về tài sản bảo đảm phải xác định được nhằm hạn chếviệc dùng tài sản hình thành trong tương lai mà chưa được xác định để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự vì các bên đứng trước nguy cơ hiệu lực của hợp đồng bị tác động bởiviệc mô tả tài sản bảo đảm chung chung và không xác định được

+ Thứ tư, BLDS 2015 có bổ sung thêm về giá trị của tài sản đảm bảo tại Khoản 4.Bên nhận bảo đảm thì luôn muốn nhận tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn giá trị nghĩa vụđược bảo đảm Do đó, quy định này ra đời để hạn chế những “yêu cầu” đó của bên nhậnbảo đảm đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên bảo đảm

1.2 Đoạn nào của bán án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?

Đoạn: “Ông Phạm Bá Minh trình bày: Ông là chủ doanh nghiệp cầm đồ Bá Minh.Vào ngày 14/9/2007bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo có thế chấp cho ông mộtgiấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ, thời hạn vay là 6 tháng,lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng”

Trang 5

Kết hợp cùng với lời khai của bị đơn: “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông NguyễnKhắc Thảo xác nhận: Có thế chấp một tờ giấy sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay60.000.000đ cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh.Lãi suất 3%/tháng.”

1.3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?

Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản Vì giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhậnquyền được sử dụng sạp để bà Khen buôn bán tại chợ Tân Hương, chứ cái sạp đó khôngthuộc quyền sở hữu của bà Khen, bà chỉ được sử dụng chứ không có đặc quyền nào khácđối với cái sạp, cái sạp đó không phải tài sản của bà, nên giấy chứng nhận sử dụng sạpcũng không có giá trị nên nó không phải là tài sản theo điều 163 BLDS năm 2005: “Tàisản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”, giấy chứng nhận sạp khôngphải là giấy tờ có giá, cũng không phải là quyền tài sản, tiền, vật

1.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được Tòa ánchấp nhận Đoạn cho câu trả lời: “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưnggiấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phảiquyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành ántrả tiền cho ông Minh”

1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 295 BLDS 2015 quy định như sau: “Tài sản bảo đảmphải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền

sở hữu.” Nhận định của Tòa dựa trên Điều 105 và Điều 295 cho rằng giấy chứng nhậnsạp không đủ cơ sở pháp lý để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà Khen vì giấy đó khôngphải quyền sở hữu là chính xác Vì vậy hướng giải quyết của Tòa là hợp lý

1.6 Đoạn nào của Quyết định 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?

Trang 6

Đoạn trong Quyết định 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cốlà: “Ngày 30/8/1995 vợ chồng ông Võ Văn Ôn và Lê Thị Xanh cùng ông Nguyễn VănRành thỏa thuận việc thục đất Hai bên có lập “Giấy thục đất làm ruộng” với nội dunggiống như việc cầm cố tài sản…Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận làcầm cố đất (BL số 08, 09, 10, 19, 20).”

1.7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời.

Căn cứ theo Điều 295 BLDS 2015 về Tài sản bảo đảm quy định như sau:

“1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầmgiữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu

2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được

3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai

4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụđược bảo đảm.”

Tài sản đảm bảo bao gồm mọi loại tài sản, gồm cả quyền sở hữu Do đó văn bảnhiện hành có cho phép quyền sử dụng đất để cầm cố

1.8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trong Quyết định trên Tòa án chấp nhận cho phép quyền sử dụng đất để cầm cố.Đoạn có câu trả lời là: “Xét việc giao dịch thục đất nêu trên là tương tự với giao dịch cầm

cố tài sản, do đó phải áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết Về nội dung thì giaodịch thục đất nêu trên phù hợp với quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự (tạiĐiều 326, 327), do đó cần áp dụng các quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự đểgiải quyết mới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch.”

1.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định

số 02.

Trang 7

Vào thời điểm diễn ra tranh chấp pháp luật dân sự chưa có quy định rõ ràng về giaodịch cầm cố quyền sử dụng đất Điều 322 BLDS 2015 cho rằng quyền tài sản được dùng

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đồng thời Điều 326 BLDS 2015 cho thấy tài sản sử dụngcho việc cầm cố được quy định khái quát bao gồm cả quyền tài sản Song Điều 181 quyđịnh còn mơ hồ, không chỉ rõ liệu quyền sử dụng đất có phải là quyền tài sản hay không

mà đến khi BLDS 2015 được ban hành mới quy định cụ thể

Theo Điều 106 Luật đất đai 2003, người sử dụng đất được phép dùng quyền sửdụng đất để thế chấp, bảo lãnh nhưng không rõ về cầm cố Đây là một lỗ hổng trong phápluật dân sự, pháp luật này cũng không cấm việc sử dụng quyền sử dụng đất để cầm cố vàthỏa thuận thục đất trên cho thấy nhiều yếu tố tương đồng với giao dịch cầm cố tài sản.Quan hệ phát sinh này thỏa mãn điều kiện áp dụng tương tự tại Điều 3 BLDS 2005, nênhướng giải quyết của Tòa là hợp lý

1.10 Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất

là cá nhân?

Đoạn trong Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất là cánhân là: “Bà Phạm Thị Ngọc Hồng trình bày; Tôi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Long để nhờ bà Long vay 50.000.000 đồng của ngân hàng đầu tư và phát triểntỉnh Vĩnh Long, chứ tôi không có thế chấp để vay tiền của bà Long…

Pháp luật chưa cho phép các cá nhân thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhânvới nhau Do vậy việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy định của pháp luật, nên bị coi

là vô hiệu theo quy định tại Điều 128 của BLDS.”

1.11 Có quy định nào cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không? Nếu có, nêu cơ sở văn bản.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 342 BLDS 2015 quy định: “1 Thế chấp tài sản là việcmột bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo

Trang 8

thực hiện nghĩa vụ dân sự đồi với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và khôngchuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”.

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 179 Luật đất đai 2013 quy định:

“1 Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạnmức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất mộtlần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyểnđổi, nhận chuyển nhượ ng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sauđây:

g) Thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại ViệtNam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật”

Suy ra thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữa của mình để đảm bảothực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia Bên nhận thế chấp có thể là cá nhân hoặc tổchức Cho nên có quy định cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ

1.12 Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất

1.13 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.

Trang 9

Theo em, tại thời điểm xét xử Luật đất đai 2003 chưa cho phép người nhận thế chấpbằng quyền sử dụng đất là cá nhân nên Tòa án đưa ra cách xử lý rằng bà Phạm Thị NgọcHồng giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay tiền

bị coi là vô hiệu là đúng và rất hợp lý Qua đó, em hoàn toàn đồng ý với hướng giải quyếtnày của Tòa án

Trang 10

VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Tóm tắt bản án số 90/2019/KDTM-PT 1 ngày 16 tháng 08 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Chủ thể tranh chấp trong vụ án gồm nguyên đơn là Ngân hàng N khởi kiện bị đơn

là Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại V (nay là Công ty TNHH xây dựng V) về vụviệc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

Ngày 27/01/2016, Công ty TNHH MTV Q (gọi tắt là VAMC) mua lại toàn bộkhoản nợ của Công ty TNHH xây dựng V gồm 2 Hợp đồng tín dụng số 1421-LAV-200900142/HĐTD và số 1421-LAV-201000037 giữa Công ty V với Ngân hàng Ngày12/05/2012, Ngân hàng tiếp tục ký Hợp đồng hạn mức tín dụng số 1421-LAV-20100034cho phép công ty thuê thêm 12 tháng với mức tín dụng như cũ Trong quá trình thực hiện,Ngân hàng chỉ theo dõi phần nợ dư chuyển sang mà chưa giải ngân Trong thời gian thựchiện hợp đồng, Công ty V không thanh toán được khoản tiền gốc và lãi vay theo thỏathuận trong hợp đồng Vì đó, VAMC khởi kiện công ty V đến Tòa án yêu cầu phải thanhtoán các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký và ủy quyền cho Ngân hàng tham gia tốtụng Trong khi khởi kiện, Ngân hàng đã mua lại khoản nợ của công ty V từ VAMC

Tại bản án sơ thẩm số 01/2019/KDTM-ST, căn cứ tại Khoản 2 Điều 305 BLDS2005; Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 buộc công ty V thanh toán

Tại bản án phúc thẩm, căn cứ tại Khoản 2 Điều 305 và Điều 303 thì buộc Công ty

V phải thanh tổng nợ gốc và lãi Bác yêu cầu của ông Q và bà V về việc yêu cầu tuyên bốHợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu vì hợp đồng này không vi phạm Điều 122 BDLS 2005

2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm.

BLDS 2005 đề cập đến vấn đề đăng kí giao dịch bảo đảm, còn BLDS 2015 thì quyđịnh đăng kí biện pháp bảo đảm Bản chất của hai thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” và

“biện pháp bảo đảm” có sự khác nhau nhất định Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự1Từ đây về sau gọi tắt là Bản án số 90.

Trang 11

do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm Do

đó, việc sử dụng thuật ngữ đăng kí biện pháp đảm bảo sẽ phù hợp hơn

Ngoài ra, BLDS 2015 còn quy định: Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm

có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định Việc sử dụng cụm từ “luật quy định”thay thế cho cụm từ “pháp luật có quy định” đã thể hiện sự thay đổi trong tư duy lậppháp, phù hợp với quy định của Hiến pháp và các quy định khác có liên quan Bởi lẽ, chỉkhi luật có quy định đăng kí là điều kiện có hiệu lực của biện pháp bảo đảm thì các bênmới phải tuân thủ quy định đó

BLDS 2015 tăng cường quyền tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận, tự chịu tráchnhiệm của các bên tham gia giao dịch bảo đảm theo tinh thần và nguyên tắc của Hiếnpháp năm 2013, đồng thời đã đơn giản hóa thủ tục giao kết, thực hiện hợp đồng bảo đảm

2.2 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký không? Vì sao?

Hợp đồng thế chấp ngày 07/09/2009 thuộc trường hợp phải đăng ký Căn cứ theoĐiều 297 BLDS 2015, “Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba

từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tàisản bảo đảm”

Như vậy, có hai trường hợp để hợp đồng trên phát sinh hiệu lực

Thứ nhất, hợp đồng phải được đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 298 BLDS 2015)Thứ hai, tài sản bảo đảm phải được bên nhận bảo đảm nắm giữ và chiếm giữ Đối với hợp đồng ngày 07/09/2009, hợp đồng này là hợp đồng thế chấp tài sản, căn

cứ khoản 2 Điều 319 BLDS 2015: “Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng vớingười thứ ba kể từ thời điểm đăng ký” Như vậy, để việc thế chấp tài sản của ông Q và bà

V phát sinh hiệu lực thì ông bà cần đăng ký theo quy định Điều 298 BLDS 2015

2.3 Hợp đồng thế chấp ngày 07/09/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Trang 12

Hợp đồng thế chấp ngày 07/9/2009 đã đăng ký phù hợp với quy định.

Tại thời điểm làm thủ tục đăng ký thế chấp ngày 30/09/2009 thì thông tư số05/TTLB-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 đang có hiệu lực, tại Điều 4 về người yêu cầuđăng ký có quy định “ người yêu cầu đăng ký là một bên trong các bên hoặc các bên kýhợp đồng thế chấp, Bảo lãnh” chỉ đến ngày 01/3/2010 thì mới có Thông tư số06/2010/TTLT-BTP-BTNMT và tại Điều 1 mà Thông tư số 06 mới có quy định là khiđăng ký thế chấp mới (lần đầu) thì các bên phải ký còn đăng ký thay đổi, bổ sung thì chỉcần một bên là bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp , bảo lãnh ký là được Mà theo đơnyêu cầu đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009 thì bên nhận thế chấp là Ngân hàng có ký đóngdấu vào đơn này nên Đơn đăng ký vẫn đúng quy định và phát sinh hiệu lực

2.4 Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/09/2009 có vô hiệu không? Vì sao?

Nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/09/2009 không bị vô hiệu:Căn cứ tại trang 06 Bản án số 90

Nếu không được đăng ký thì hợp đồng thế chấp sẽ không bị vô hiệu Vì khi đăng kýhợp lệ thì chỉ phát sinh quyền ưu tiên xử lý tài sản thế chấp chứ chứ không phải sẽ vôhiệu hợp đồng thế chấp do chưa đăng ký giao dịch đảm bảo như phía gia đình ông Q bà

V đề nghị ( Điều 323 BLDS 2005)

2.5 Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?

Hợp đồng thế chấp không vi phạm Điều 122 BLDS 2015 vì vậy hướng giải quyếtcủa Tòa án là thuyết phục

Ngày đăng: 05/06/2022, 22:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w