1. Trang chủ
  2. » Tất cả

bài tập thảo luận 2 hoàn chỉnh (1)

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 89,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH  Bài thảo luận thứ hai I/Giao dịch xác lập bởi người mất năng lực hành vi dân sự... Nên bà Bính và ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng... Tại phiên tòa, những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH



Bài thảo luận thứ hai

I/Giao dịch xác lập bởi người mất năng lực hành vi dân sự

Trang 2

 Ngày 7/5/2010, ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức Theo bản giám định y pháp số 209/YP-2010 ngày 25/5/2010 của Trung tâm pháp y Phú Yên đã kết luận “ông Hội không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình vì bị sa sút trí tuệ mức độ nặng và việc xác định thời gian bắt đầu không nhận thức và làm chủ được hành vi được xác định từ ngày 07/5/2010”

Ngày 10/8/2010 ông Hội được TAND thành phố Tuy Hoà tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định số 26/2010/QĐ-CNTT Cơ sở pháp lý Điều 22 BLDS2005

 Điều 130 BLDS 2005, yêu cầu huỷ hợp đồng của chị Ánh là không được chấp nhận Vì ngày 10/8/2010 ông Hội được TAND thành phố Tuy Hoà tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định số 26/2010/QĐ-CNTT Nhưng trước đó, hợp đồng giao dịch được thiết lập ngày 8/2/2010 Vậy nên tại thời điểm đó việc ông Hội mất năng lực hành vi dân sự là không có cơ sở và việc giao dịch vẫn có hiệu lực

 Điều 133 BLDS 2005, yêu cầu huỷ hợp đồng của chị Ánh là không được chấp nhận Vì Ngày 7/5/2010, ông Hội mới thực chất không còn khả năng nhận thức Theo bản giám định y pháp số 209/YP-2010 ngày 25/5/2010 của Trung tâm pháp y Phú Yên đã kết luận “ông Hội không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình vì bị sa sút trí tuệ mức độ nặng và việc xác định thời gian bắt đầu không nhận thức và làm chủ được hành vi được xác định từ ngày 07/5/2010” Việc thực hiện hợp đồng giao dịch diễn ra vào ngày 8/2/2010, cho nên hợp đồng

có vẫn có hiệu lực

 “ Như vậy, khi cán bộ UBND phường 1 tiến hành việc ông Hội điểm chỉ vào hợp đồng thì ông trong tình trạng bị bệnh nằm 1 chỗ, không nói được nhưng có người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật công chứng, đồng thời Chủ tịch hoặc Phó Chủ Tịch UBND phường 1 không có mặt để xác nhận và chịu trách nhiệm về dấu vân tay và năng lực hành vi dân sự của ông Hội khi giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở lập ngày 8/2/2010 giữa vợ

Trang 3

chồng ông Hội, bà Hương và vợ chồng anh Hùng, chị Trinh không tuân theo trình tự, thủ tục chứng thực theo quy định của pháp luật nên

vi phạm về hình thức Do đó, chị Ánh, chị Minh, chị Thuỷ, anh Toàn là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất theo pháp luật của ông Hội yêu cầu huỷ hợp đồng trên là có căn cứ cần chấp nhận.” Đoạn đó đã cho thấy Toà án đã tuyên bố vô hiệu hợp đồng do ông Hội xác lập

 Việc Toà án tuyên bố huỷ hợp đồng do ông Hội xác lập do không đúng theo trình tự, thủ tục là đúng Nhưng việc UBND phường 1, thành phố Tuy Hoà mời chị Ánh đến phường để hoà giải lúc 14 giờ 30’ nhưng lại mời mời mẹ chị và anh Hùng vào lúc 14 giờ là không khớp với nhau Toà án cần xem xét xử lý kĩ luật, cảnh cáo về việc trên

Trường hợp về vụ việc giống hoàn cảnh của ông Hội:

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI

- Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006

- (Tên của các người liên quan trong vụ án đã được thay đổi)

- Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Nguồn gốc diện tích 288 m2 ông Cường và bà Bính đã chuyển nhượng cho anh Thăng là một phần trong tổng diện tích đất do bà Lợi - mẹ đẻ ông

Cường để lại di sản sau khi chết Tại thời điểm tháng 01/2004 do việc giải quyết chia thừa kết chưa được đặt ra nên ông Cường chỉ là người chiếm hữu sử dụng di sản thừa kế theo quy định tại khoản 2 Điều 638 BLDS Nên việc ông Cường và bà Bính tự ý bán một phần di sản khi chưa được sự đồng ý của những người cùng hàng thừa kế là vi phạm các quy định tại khoản 2 Điều 639 Do khi bà Lợi chết không để lại di chúc, nên tại bản án chia thừa kế số 02/DSST ngày 17/5/2005 đã căn cứ vào các quy định về chia thừa kế theo pháp luật để chia cho ông Cường được sử dụng trị giá phần tài sản là giá trị quyền sử dụng 288 m2 đất đã bán cho anh Thăng Đây được coi là tài sản riêng của ông Cường Nên việc bà Bính cùng có ý kiến định đoạt khối tài sản này là trái với các quy định của pháp luật về quyền sở hữu

- Theo đề nghị của anh Hưng, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Cường Tại Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 của Tổ chức giám định pháp y Tỉnh đã kết luận: Ông Cương bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện

Trang 4

của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình

- Trên cơ sở kết luận giám định như trên, ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004 Khi đó bà Bính là vợ ông Cường nên trong mọi giao dịch dân sự, bà Bính phải tham gia với tư cách là người giám hộ để đại diện cho ông Cường, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ông Cường theo quy định của BLDS Nhưng trên thực tế trong quá trình giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Bính đã không tham gia giao kết với

tư cách là người giám hộ ông Cường, không đăng ký giám hộ mà tham gia ký kết hợp đồng như một chủ thể sở hữu tài sản với chính con riêng của bà Bính là anh Thăng Như vậy trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Cường không hề có người giám hộ và không có ai đăng ký việc giám hộ cho ông Cường theo quy định của Điều

58 và 62 BLDS

- Ngày 13/6/2005, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử và đã quyết định cho bà Bính ly hôn với ông Cường Đến ngày 10/08/2005, anh Hưng là con trai của ông Cường và bà Chế (đã ly hôn năm 1979) mới đăng ký việc giám hộ cho ông Cường tại UBND xã Do đó tính đến ngày 10/8/2005, ông

Cường mới có người giám hộ - đại diện hợp pháp Căn cứ theo khoản 2 Điều

161, thì thời hiệu khởi kiện vụ án được tính từ thời điểm ông Cường có người giám hộ đại diện theo quy định tại Điều 58 và 67 BLDS (từ ngày 10/8/2005) chứ không phải là ngày giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều

136 BLDS

- Như các phân tích đã nêu trên, cho thấy anh Thăng đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Cường là người mất năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự Và bà Bính là người không có quyền định đoạt, xử lý tài sản là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng mà không

có sự tham gia của người đại diện cho ông Cường Vì vậy đã làm phát sinh một hợp đồng với các giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định tại Điều 133 BLDS Vì vậy, cần căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 137 BLDS để hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên và xử buộc anh Thăng trả lại 288 m2 đất thổ cư cho ông Cường và người đại diện là anh Hưng

- Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa bà Bính đều thừa nhận số tiền bán đất cho anh Thăng là 20.000.000 đồng đã được bà sử dụng vào mục đích chung của cả gia đình khi hôn nhân giữa bà và ông Cường còn tồn tại Vào ngày 13/6/2005 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã xử cho bà

ly hôn với ông Cường Về tài sản và các nghĩa vụ chung Tòa án đã chia cho các bên theo quy định của pháp luật Do đó số tiền bán đất cho anh Thăng mà có, đến nay bà Bính và ông Cường (mà đại diện là anh Hưng) đều phải

Trang 5

cùng có trách nhiệm trả cho anh Thăng Việc anh Hưng đề nghị không phải trả số tiền này, do khi đó số tiền này bà Bính quản lý, chỉ tiêu là không có căn cứ, cần bác yêu cầu trên của anh Hưng Để xử buộc bà Bính phải trả cho anh Thăng số tiền là 10.000.000 đồng và ông Cường do anh Hưng đại diện phải trả cho anh Thăng số tiền là 10.000.000đồng

- Do hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất bị coi là vô hiệu nên quyền và nghĩa vụ của các bên không phát sinh Vì vậy tại phiên tòa hôm nay, yêu cầu tính chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thời điểm hiện tại cho anh Thăng đưa

ra không được chấp nhận Nhưng trong quá trình sử dụng đất anh Thăng đã đầu tư xây dựng các công trình gồm xây kè bờ ao, láng nền nhà, nền sân, xây và láng nền chuồng lợn và thuê người dựng nhà trên đất Tại phiên tòa, anh Thăng tính toán tổng chi phí là 17.450.000 đồng Và yêu cầu ông Cường phải thanh toán lại cho anh các chi phí này nếu anh phải trả lại đất

- Xét việc anh Thăng yêu cầu như trên là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận vì việc anh đầu tư xây dựng các công trình này đã làm tăng giá trị quyền sử dụng đất Nay buộc anh Thăng phải trả lại nhà đất cho ông Cường cũng phải buộc ông Cường và người đại diện là anh Hưng phải thanh toán lại các chi phí này Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì các công trình xây dựng trên đất gồm: Bờ kè xây bằng đá; nền nhà, nền sân láng xi măng, nền và tường chuồng lợn xây có tổng giá trị là 4.199.000 đồng Cần buộc ông Cường và anh Hưng phải thanh toán toàn bộ số tiền này cho anh Thăng

- Do anh Thăng không hoàn toàn có lỗi trong việc ký kết hợp đồng bị coi là

vô hiệu Trong quá trình sử dụng đất anh đã dựng nhà ở trên đất này Với chi phí của việc tháo dỡ, dựng lại và toóc xi lại vách, theo thẩm định tổng chi phí là 5.850.000 đồng một lượt Đây là số tiền thiệt hại thực tế do anh Thăng phải chi phí để di dời nhà đến, và sẽ di dời nhà đi nơi khác để trả đất cho ông Cường (cả hai lượt sẽ là 5.850.000 đ x 02 = 11.700.000 đ) Số tiền này là thiệt hại phát sinh do bị hủy hợp đồng, không làm tăng giá trị sử dụng đất Nên bà Bính và ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng Cần xử buộc bà Bính phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 5.850.000 đồng Buộc ông Cường và người đại diện là anh Hưng thanh toán cho anh Thăng số tiền là 5.850.000 đồng Như vậy tổng cộng cần xử buộc anh Hưng là người đại diện cho ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 20.049.000 đồng (10.000.000 đ + 4.199.000 đ + 5.850.000 đ) Xử buộc bà Bính phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 10.000.000 đ + 5.850.000 đ = 15.850.000đ

- Trong quá trình giải quyết cả nguyên đơn và bị đơn đều đưa ra các giấy tờ, tài liệu và lời xác nhận của một số người làm chứng nhằm chứng minh ông Cường có bị tâm thần hay không Tuy nhiên các giấy tờ và lời làm chứng

Trang 6

nêu trên về cơ bản đa số đều thiếu khách quan do việc xác nhận không rõ ràng, không dựa trên cơ sở khoa học mà chủ yếu xuất phát từ những cảm nhận chủ quan Anh Thăng có xuất trình Giấy chuyển nhượng sử dụng đất, giấy trả nhận tiền và một số giấy tờ do ông Cường viết, nhằm chứng minh ông Cường không bị tâm thần Nhưng tại Bản giám định pháp y đã kết luận ông Cường mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng điều khiển hành vi Do vậy, việc xác định ông Cường có bị tâm thần hay không chủ yếu dựa trên kết luận khoa học, chứ không căn cứ vào việc ông có viết được các giấy tờ hay không Mặt khác, trong giấy trả nhận tiền đề ngày 20/01/2004 có chữ ký xác nhận của ông Hành là trưởng thôn Nhưng theo Quyết định số 12 ngày 01/03/2004 thì ông Hành được bổ nhiệm làm trưởng thôn từ 01/03/2004 chứ không phải từ tháng 01/2004 như văn bản này thể hiện Tại phiên tòa phía nguyên đơn cũng cung cấp Bản đề nghị do ông Hành trình bày việc ký xác nhận được thực hiện không cùng vời thời điểm lập văn bản này mà do bà Bính về sau đó đề nghị nên ông ký xác nhận hộ mà không được trực tiếp chứng kiến việc trả nhận tiền Như vậy giấy tờ này có sự sai lệch, thể hiện sự không trung thực nên không thể sử dụng làm chứng cứ Tại phiên tòa, những người làm chứng như ông Đi, ông Vĩnh đều khai tuy không dám khẳng định ông Cường tâm thần nhưng trong quá trình tiếp xúc ông thấy có nhiều biểu hiện không bình thường Những người làm chứng khác có mặt tại phiên toàn đều thể hiện không thường xuyên tiếp xúc với ông Cường nhưng thấy ông Cường có biểu hiện bình thường Những lời làm chứng này về cơ bản không

có giá trị lớn trong việc chứng minh sự khách quan của vụ án

- Về án phí: Do anh Hưng và bà Bính đều bị xử buộc phải thanh toán cho anh Thắng Vì vậy anh Hưng và bà Bính phải chịu án phí trên tổng số tiền phải thanh toán, theo quy định pháp luật Cụ thể, anh Hưng phải chịu 20.049.000

đ x 5% = 1.002.000 đ; bà Bính phải chịu 15.850.000 đ x 5% = 792.500 đ Anh Thăng do bị bác yêu cầu giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên giá trị của hợp đồng là 20.000.000 đ x 5% = 1.000.000 đ

II/Giao dịch xác lập do nhầm lẫn

 Theo điều 131 BLDS 2005 quy định có 2 nguyên nhân gây ra nhầm lẫn là : một bên có lỗi vô ý hoặc cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch

Dự kiến sửa đổi BLDS của Bộ tư pháp thì không nên giới hạn về nguyên nhân gây ra nhầm lẫn Có 2 con đường: một là không quy định nguyên nhân gây ra

Trang 7

nhầm lẫn, hai là bổ sung thêm nguyên nhân "cả 2 cùng nhầm lẫn " bê cạnh 2 nguyên nhân trên

 Điều 131 BLDS 2005 chỉ quy định nguyên nhân gây ra nhầm lẫn là do lỗi cố ý hoặc vô ý của một bên nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại nguyên nhân là do cả

2 bên cùng nhầm lẫn và không thể kết luận rằng chỉ một bên có lỗi Vậy nên hướng sửa đổi của bộ tư pháp là hợp lý để tòa án vận dụng giải quyết yêu cầu của thực tiễn xét xử

 Điều 131 BLDS 2005 quy định đối tượng của nhầm lẫn là nội dung của giao dịch dân sự

Dự kiến sửa đổi của bộ tư pháp thì không xác định đối tượng của nhầm lẫn Dù đối tượng của nhầm lẫn là gì thì chi cần thỏa điều kiện : "dẫn tới mục đích thực sự của giao dịch không thể đạt được " nghĩa là khi lợi ích hợp pháp mà các bên muốn hướng tới không đạt được thì giao dịch dân sự đó vô hiệu

 Điều 131 blds 2005 chỉ đề cập đến nhâm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự, nhưng trên thực tế đối tượng của nhầm lẫn còn có chủ thể của giao dịch dân sự

Dự kiến sửa đổi không xác định đối tượng của nhầm lẫn tưc là đã bỏ đi giới hạn về đối tương của nhầm lẫn trong blds 2005, mặc nhiên thừa nhận cả nội dung và chủ thể đều là đối tượng của nhầm lẫn vậy nên hướng sửa đổi của bộ

tư pháp là đầy đủ hơn

 Điều 131 blds 2005 " bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó , nếu bên kia giao dịch vô hiệu "

Theo dự kiến sửa đổi của bộ tư pháp thi không có quy định về khả năng thay đổi nhầm lẫn

 Dự kiến sửa đổi của bộ tư pháp không có quy định về khả năng thay đổi nhầm lẫn không có nghĩa là hợp đòng sẽ bị vô hiệu dù nhầm lẫn có thể khắc phục được, chỉ cần nhầm lẫn làm cho mục đích thực sự của giao dịch không thể đạt được thì giao dịch đó mới vô hiệu.như vậy khả năng thay đổi nhầm lẫn sẽ bao quát hơn

 Về nguyên nhân gây ra nhầm lẫn: Dự kiến sửa đổi của blds đã bổ sung trường hợp thực tế là cả 2 ben cùng nhầm lẫn nhưng không nhắc dến là do cố ý hay vô ý, trong khi blds 2005 phân biệt cố ý gây nhầm lẫn là "lừa dối"

Trang 8

Về khái niệm nhầm lẫn: chưa định nghĩa được khái niệm nhầm lẫn và cần phân biệt rõ ràng nhầm lẫn và lừa dối bởi hệ quả pháp lý giữa chúng là rất khác nhau Lừa dối là hành vi có lỗi và phải bồi thường

III/Giao dịch do có lừa dối:

Sau khi đọc bản án của TÒA ÁN DÂN SỰ- TÒA ÁN TỐI CAO số 521/2010/DS-GĐT và nhận xét thấy:

 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005 là lừa dối trong giao dịch trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

Và có thể bổ sung thêm nếu một giao dịch đó không đủ điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 122(Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự )

Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự ;

Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức của xã hội;

Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

 Những điểm mới của BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 về giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối là

BLDS năm 1995

Lừa dối trong giao dịch dân sự là

hành vi cố ý của một bên nhằm làm

cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể,

tính chất của đối tượng hoặc nội dung

của giao dịch nên đã xác lập giao dịch

đó

BLDS năm 2005 Lừa dối trong giao dịch trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

Điểm mới của BLDS năm 2005 là có nói đến người thứ ba, đây là một điểm mới rất đặc biệt, nó đề cập rất khái quát và cụ thể nhằm vào các chủ thể có thể xảy ra

Trang 9

 Đoạn mà quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối

“Tại thời điểm giao dịch hoán nhượng thì UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định số 1997/QĐ-UB ngày 10-05-2002( về việc thu hồi đất và giao đất xây dựng khu đô thị mới) và Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21-11-2002(về đền bù hỗ trợ tái định cư)

Việc anh Vinh và người liên quan( ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân- họ hang của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù( căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thưởng giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định

cư theo Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21-11-2002) là có sự gian dối

 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ

 Trên cơ sở kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài , suy nghĩ của chúng em về hướng giải quyết trên của thực tiễn xét xử( về mối quan hệ không cung cấp thông tin và lừa dối) là

Hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến tính hiệu lực của hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng Vì vậy, về nguyên tắc khi một trong các bên có hành vi lừa dối họ

sẽ phải chịu một chế tài nhất định theo quy định của pháp luật hay thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên

bị lừa dối cũng như đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc giao kết hợp đồng (tự do, tự nguyện, bình đẳng, trung thực, thiện chí ).Bộ luật dân sự Pháp cũng quy định hành vi lừa dối bao gồm hai yếu tố cấu thành: yếu tố ý đồ (lừa dối là một hành

vi cố ý, bên này chủ ý lừa dối bên kia) và yếu tố hiện thực (phải có thủ đoạn gian dối- sự cố ý không cung cấp thông tin quan trọng mà nếu biết được thông tin đó thì người kia đã không ký kết hợp đồng)

IV/Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu

 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 137 BLDS: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm

Trang 10

phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập

 Theo Khoản 1 Điều 410 BLDS về Hợp đồng vô hiệu: “ Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến 138 của Bộ luật này cũng được áp với hợp đồng vô hiệu” Căn cứ vào Điều 134 BLDS 2005 về giao dịch dân sự vô hiệu

do không tuân thủ quy định về hình thức, việc Tòa án tuyên hơp đồng này vô hiệu là hợp lý(ký hợp đồng trên 06 tháng nhưng không công chứng nên hợp đồng vô hiệu về hình thức) Như vậy, B phải thanh toán 03 tháng tiền thuê còn thiếu, căn cú vào Khoàn 2 Điều 138 về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: “Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã được nhận”, với điều luật này do B đã thuê nhà của A nhưng còn thiếu 03 tháng nên B buộc phải thanh toán cho A

 Trong quyết định số 75, Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu do: Thứ nhất, sau khi ông Sanh có đơn kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết tranh chấp, thì đến ngày 18/10/2010 Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã có quyết dịnh số 01/TA gia hạn để các bên thực hiện quy định về hình thức nhưng vợ chồng anh Dư, chị Chúc không thứ hiện

Thứ hai, căn cứ pháp lý vào Điều 134 BLDS 2005 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”

 Theo tôi việc Tòa án dân sự tối cao xác định hợp đồng vô hiệu là đúng Việc kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giũa hai bên là hoàn toàn tự

nguyện nên hợp đồng vô hiệu là do vợ chồng anh Dư và chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục về hình thức, Tòa án cần lấy đó làm cơ sở để kết luận lỗi dẫn đến việc làm hợp đồng vô hiệu để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

Khoản 2, Điều 137 Bộ luật Dân sự quy định: “2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu

thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định

Ngày đăng: 15/09/2016, 22:51

w