- Quyết định của Tòa án công nhận quyền sở hữu trâu cho ông Tài, ông Thơ chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm lại.. - T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA: ANH VĂN PHÁP LÝ
CHI HỘI LE45A
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN
SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
BÀI THẢO LUẬN THỨ TƯ – BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ
Trang 2MỤC LỤC
I Đòi động sản từ người thứ ba: 3
1 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao? 3
2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao? 3
3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài? 3
4 Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp
trên? 3
5 Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao? 4
6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi
trả lời 4
7 Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao? 4
8 Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong
BLDS? 4
9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao? 5
10 Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài
không? 5
11 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 5
12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 6
13 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo
vệ ông Tài không? 6
14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 6
15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 7
II Đòi bất động sản từ người thứ ba: 7
1 Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc
bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình? 7
2 Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được
bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình? 7
3 Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N
như thế nào đối với bà X? 8
4 Hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS
chưa? 8
5 Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết
phục không? Vì sao? 8
III Lấn chiếm tài sản liền kề: 9
1 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của
ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu? 9
2 Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian,
mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên? 10
Trang 33 BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền
sử dụng của người khác không? 10
4 Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào? 10
5 Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao theo hướng buộc gia đình ông Hòa tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, mặt đất và lòng đất
của gia đình ông Trụ, bà Nguyên? 11
6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 11
7 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Tận tháo dỡ nhà đã được
xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m2)? 12
8.Ông Trường, bà Thoa có biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên không? 12
9 Nếu ông Trường, bà Thoa biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên thì ông Tận có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà Thoa không? Vì sao? 12
10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên 12
11 Theo Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường, bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời? 13
12 Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số
23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị
biết 13
13 Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định số 23 được bình luận ở đây? 14
14 Đối với phần chiếm không gian 10,71 m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57 m2 trên đất lấn chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không? 14
15 Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m2 và căn nhà phụ trên như thế nào? 15
16 Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam hiện nay 15
17 Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với BLDS 2015 không? Vì sao? 17
2
Trang 4I Đòi động sản từ người thứ ba:
Tóm tắt Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao.
- Ông Triệu Tiến Tài có trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi chăn thả ở bãi đất trống và bị anh Hà Văn Thơ chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
- Quyết định của Tòa án công nhận quyền sở hữu trâu cho ông Tài, ông Thơ chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét
xử phúc thẩm lại
2 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
- Trâu là động sản
- Vì theo điều 174 BLDS 2005 và điều 107 BLDS 2015 có quy định: “1 Bất động sản bao gồm:
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Như vậy, dựa vào khoản 1 điều 107 BLDS 2015 nêu trên thì trâu không thuộc bất động sản Do đó, theo khoản 2 của điều này thì trâu là động sản
2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
- Trâu không là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu
- Vì theo khoản 2 điều 106 BLDS 2015 có quy định: “2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng kí, trừ trường hợp pháp luật về đăng kí tài sản có quy định khác.”
Như vậy, vì trâu là động sản nên quyền sở hữu đối với trâu không phải đăng kí
3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?
- “Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của
cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ cơ sở sác định
Trang 5con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu vào con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài”
4 Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?
- Theo điều 179 BLDS 2015 về khái niệm chiếm hữu:
“1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản 1 cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản
2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu
Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và
236 của Bộ luật này”
- Trong vụ án trên thì ông Dòn là người đang chiếm hữu trâu có tranh chấp
5 Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không?
Vì sao?
- Việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật
- Vì theo điều 183 BLDS 2005:
“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:
1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lí tài sản;
3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ
sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện
do pháp luật quy định;
5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
6 Các trường hợp khác do luật quy định”
Như vậy, việc chiếm hữu của ông Dòn không rơi vào trường hợp nào của điều luật trên cho nên việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật
6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Theo điều 180 BLDS 2015 quy định về chiếm hữu ngay tình: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”
Trang 67 Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không?
Vì sao?
- Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình
- Vì việc chiếm hữu của ông Dòn phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể là tại khoản 3 điều 183 BLDS 2005 do đó ông Dòn có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu Như vậy, ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình (theo điều 180 BLDS 2015)
8 Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?
- Theo điều 257 BLDS 2005 quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền
bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”
Thì theo đó:
- Hợp đồng có đền bù: là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên bên kia một lợi ích tương ứng Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang bằng vì các lợi ích các bên dành cho nhau không phải lúc nào cũng cùng một tính chất hay chủng loại Trong trường hợp hợp đồng là hợp đồng có đền
bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu
Ví dụ: hợp đồng thuê biểu diễn ca nhạc – trong đó một bên sẽ nhận được một lợi ích
vật chất là tiền thù lao biểu diễn, catxe… và một bên sẽ đạt được lợi ích về mặt tinh thần – đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức âm nhạc
- Hợp đồng không có đền bù: là những hợp đồng trong đó có một bên nhận được một lợi ích nhưng không phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào Trong trường hợp là hợp đồng không có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu
từ người chiếm hữu ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch với người không có quyền định đoạt tài sản
Ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản.
9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?
- Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù
- Vì con trâu mà ông Dòn có được là do giao dịch với ông Thi, cụ thể là ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Từ đó ta có thể thấy, đây là giao dịch mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên bên kia một lợi ích tương ứng
Do vậy, đây là hợp đồng có đền bù
Trang 710 Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?
- Trâu có tranh chấp là bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài
- Vì tòa án đã xác minh và khẳng định ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật
11 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Theo tòa dân sự tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:
“Tòa án phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lí nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé là 900.000đ, bác bỏ yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật”
12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
- Hướng giải quyết trên của Toàn án dân sự Tòa án nhân dân tối cao là hợp lí và đúng theo quy định của pháp luật Đảm bảo được quyền lợi của chủ sở hữu là ông Tài và người chiếm hữu ngay tình là ông Dòn trong vụ tranh chấp trâu nêu trên
13 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?
Theo điều 256 BLDS 2005 quy định về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 điều 247 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc
sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng điều 257 và 258 của Bộ luật này”
Vì ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình và trâu là động sản không đăng kí quyền
sở hữu nên sẽ áp dụng điều 257 BLDS 2005 quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chỉ của chủ sở hữu”
Theo Quyết định của Tòa án thì ông Tài là người chủ sở hữu, chiếm hữu hợp pháp đối với con trâu Còn ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình con trâu đó Vì giao dịch của ông Dòn là với ông Thi để có được trâu là giao dịch có đền bù, cho nên
Trang 8theo điều 257 nêu trên thì chủ sở hữu là ông Tài có quyền đòi lại đông sản (con trâu) đó
14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Khi ông Tài không đòi được con trâu từ ông Dòn, Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả trị giá con trâu
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là: “Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh thu thập đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn
cứ pháp luật”
15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao là hợp lí Bản án đã giải quyết việc hoàn trả lại giá con trâu cho phù hợp với giá cả và đảm bảo quyền lợi của hai bên đương sự
Tóm tắt Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Đây là quyết định về vụ việc tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất với nguyên đơn là bà Trần Thị X, xuất phát từ việc cụ Lê Thị Như M mua đất (phần đất đang tranh chấp), sau đó cụ sang Pháp, chuyển nhượng cho con gái là bà Nguyễn Thị Thanh T, bà
I sang Pháp lại chuyển nhượng lại cho bạn thân là nguyên đơn và toàn bộ phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà X theo nhận định của Tịa án Tuy khơng quản lý mảnh đất này từ khi được chuyển nhượng lại nhưng việc bà Nguyễn Thị N là bị đơn sinh sống ở ngôi nhà nằm trên mảnh đất của bà X và nộp thuế theo quy định đã bị bà X khởi kiện đi lại phần tài sản của mình Ở đây, Tòa đã hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
7
Trang 91 Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
- “Nay vợ chồng cụ Ba chết thì các con của cụ Ba được thừa kế tài sản này Nhà cụ
Ba, ông Vĩnh đã phá đi không còn, khi ông Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được đã có khiếu nại, nên chỉ còn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba”
2 Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Theo quy định trong Bộ luật Dân sự 2005:
Quy định tại Điều 258 về quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu
hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu được đòi lại
động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ
ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa” Với quy định trên, về mặt nguyên
tắc, đối với tài sản là bất động sản thì dù người chiếm hữu có ngay tình, thì chủ
sở hữu vẫn được đòi lại tài sản đó
Theo quy định trong Bộ luật Dân sự 2015:
Quy định tại Điều 168 về quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở
hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu được
đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của
Bộ luật này” Với quy định trên, về mặt nguyên tắc, đối với tài sản là bất
động sản thì dù người chiếm hữu có ngay tình, thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại tài sản đó Tuy nhiên, vẫn có trường hợp ngoại lệ quy định tại 2 Điều 133
3 Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?
Để bảo vệ bà X, theo Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án phải xác định trách nhiệm của
bà N đối với bà X như sau: Buộc bà N trả cho nguyên đơn là bà X diện tích 237,6m2 đất và trả tiếp diện tích 914m2 đất nhưng phải trả bằng giá trị quyền sử dụng diện tích 914m2 đất đó tức trả cho nguyên đơn là bà X giá trị đất 1.254.400.000 đồng Tuy nhiên, cũng cần xem xét công sức của bà N trong việc quản lý, giữ gìn đất và xem xét đến cả phần đất Nhà nước đã thu hồi, từ đó làm rõ bà N đã nhận số tiền Nhà nước bồi thường là bao nhiêu để tính toán công sức cho hợp lý
Trang 104 Hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS chưa?
-Điều 258 Bộ luật Dân sự 2005 về quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình để từ đó đưa ra quyết định
buộc bà N trả lại đất cho bà X;
-Quy định tại khoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật Dân sự 2005 để công nhận các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M, bà Q, chị L, ông Đ, bà T là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ;
-Điều 603 về nghĩa vụ thanh toán của chủ sở hữu về những chi phí cần thiết mà người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản và làm tăng giá trị của tài sản, để từ đó đưa ra hướng dẫn cần xem xét công sức của bà
N trong việc quản lý, giữ gìn đất;
-Điều kiện để đòi lại tài sản là “tài sản được đòi lại phải xác định được và còn tồn tại trên thực tế” đã không thỏa khi Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà N trả cho nguyên đơn 914m2 đất vì giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M, bà Q, chị L, ông
Đ, bà T đã được Tòa án xác định là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ nên căn cứ vào quy định tại Điều 260 về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Tòa án đã tìm ra một biện pháp khác để bảo vệ quyền sở hữu của bà X là yêu cầu bà N trả giá trị quyền sử dụng đất
5 Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) hoàn toàn mang tính thuyết phục, vì:
Căn cứ quy định tại Điều 255 Bộ luật Dân sự 2005 thì chủ sở hữu được ghi nhận rất nhiều biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu của mình và phải tùy từng trường hợp cụ thể như thực tế xâm phạm và mục tiêu bảo vệ mà chủ sở hữu và Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác có thể chọn lựa những biện pháp thích hợp theo quy định của pháp luật với từng hoàn cảnh cụ thể để bảo vệ tối
ưu quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản
Có thể thấy hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền sở hữu cho chủ sở hữu là bà X, cụ thể là khi điều kiện để đòi lại tài sản là “tài sản được đòi lại phải xác định được và còn tồn tại trên thực tế” đã không thỏa thì Tòa
án nhân dân tối cao đã lựa chọn biện pháp buộc bà N bồi thường thiệt hại cho
bà X
Quyền sở hữu tài sản với tính chất là quyền dân sự tuyệt đối nên việc bảo vệ quyền sở hữu thường mang tính đối kháng với mọi chủ thể khác còn lại trong