Bình Dương là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với tốc độ phát triển công nghiệp hóa nằm trong top đầu của cả nước, do đó mô hình quản lý, những bài học kinh nghiệm v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
Chuyên ngành: Môi trường và phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN YÊM
Hà Nội – 2016
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ “Đánh giá
quản lý CTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý” Đây là một đề tài phức tạp và khó khăn trong cả việc thu
thập, phân tích thông tin số liệu và cả những vấn đề liên quan đến đề xuất các giải pháp
cụ thể Tuy vậy, trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, bạn bè và gia đình
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng tới PGS.TS Trần Yêm, người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tác giả rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn; xin trân trọng cảm ơn cô giáo Hà Thị Thu Huế đã có những góp ý quý báu cho tác giả hoàn thiện luận văn Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường cùng toàn thể các thầy cô đã giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm những đồng nghiệp đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn bè, người thân
đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tác giả tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn
Do thời gian nghiên cứu không dài, trình độ và kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên luận văn chắc chắn không thể tránh được những hạn chế và thiếu sót Tác giả kính mong các thầy, cô giáo, đồng nghiệp đóng góp ý kiến để kết quả nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ “Đánh giá quản lý CTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý” là do tôi thực hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Yêm Các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực, không sử dụng số liệu của tác giả khác khi chưa được công bố hoặc chưa được sự đồng ý Những kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
Trang 5iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI 4
1.1 Một số quan niệm và khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Khái niệm CTNH, CTNH của hoạt động công nghiệp 4
1.1.1.1 Khái niệm về CTNH 4
1.1.1.2 CTNH của hoạt động công nghiệp 6
1.1.2 Phân loại CTNH, CTNH của hoạt động công nghiệp 6
1.1.2.1 Hệ thống phân loại chung 6
1.1.2.2 Phân loại theo luật định 7
1.1.3 Tính chất và thành phần của CTNH công nghiệp 8
1.1.3.1 Tính chất của CTNH 8
1.1.3.2 Thành phần của CTNH công nghiệp: 10
1.1.4 Những ảnh hưởng/tác hại của CTNH công nghiệp 11
1.1.4.1 Tác hại với môi trường 11
1.1.4.2 Tác hại đến sức khỏe con người 12
1.1.5 Yêu cầu về an toàn trong QLCTNH 15
1.2 Tình hình quản lý CTNH của hoạt động công nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.2.1 Trên thế giới 17
1.2.2 Ở Việt Nam 20
1.2.2.1 Tình hình QLCTNH của hoạt động công nghiệp 20
1.2.2.2 Một số Công nghệ xử lý chất thải phổ biến ở Việt Nam 21
1.2.2.3 Các văn bản quy phạm pháp luật QLCTNH ở Việt Nam 22
Trang 7ii
1.2.3 Tình hình QLCTNH công nghiệp tại tỉnh Bình Dương 24
CHƯƠNG 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP 25
2.1 Địa điểm nghiên cứu 25
2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5 - tháng 9 năm 2015 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 29
3.1.1 Vị trí địa lý 29
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.3 Tình hình Kinh tế - Xã hội 30
3.2 Tình hình phát triển công nghiệp trên địa bàn của tỉnh 31
3.2.1 Tình hình phát triển các khu công nghiệp tập trung 31
3.2.2 Tình hình phát triển các cơ sở công nghiệp phân tán 32
3.3 Bối cảnh QLCTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 33
3.3.1 Về thể chế chính sách 33
3.3.1.1 Về cơ cấu tổ chức quản lý 33
3.3.1.2 Về chính sách quản lý 35
3.3.2 Thu gom, vận chuyển CTNH 36
3.3.3 Thực trạng xử lý, tiêu hủy CTNH 39
3.3.4 Các công nghệ xử lý CTNH trên địa bàn tỉnh Bình Dương 41
3.3.4.1 Lò đốt tĩnh hai cấp 41
3.3.4.2 Biện pháp xử lý bóng đèn huỳnh quang thải 43
3.3.4.3 Biện pháp tái chế dầu 43
3.3.4.4 Biện pháp xử lý hoá lý 45
3.3.4.5 Biện pháp hóa rắn 46
3.3.4.6 Biện pháp xúc rửa vỏ bao bì cứng nhiễm thành phần nguy hại 47
3.3.4.7 Ngâm tẩy, xúc rửa kim loại/nhựa 49
3.3.4.8 Phá dỡ thiết bị, linh kiện điện tử 50
3.3.4.9 Xử lý trong hầm lưu giữ CTNH 51
3.3.4.10 Xử lý acquy thải 52
Trang 8iii
3.3.5 Thông tin quản lý CTNH 53
3.3.5.1 Cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH 53
3.3.5.2 Thông tin báo cáo của các chủ hành nghề QLCTNH 54
3.3.5.3 Thông tin báo cáo QLCTNH của chủ nguồn thải 55
3.3.6 Thanh tra, kiểm tra, giám sát QLCTNH 56
3.4 Đánh giá xử lý CTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 57
3.4.1 Tình hình xử lý CTNH trên địa bàn tỉnh Bình Dương 57
3.4.2 Đánh giá hiệu quả xử lý CTNH 57
3.4.3 Quy hoạch xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương 58
3.5 Phân tích đánh giá những tồn tại, bất cập trong QLCTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 61
3.5.1 Về thể chế chính sách 61
3.5.1.1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 61
3.5.1.2 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ TN&MT quy định về QLCTNH 62
3.5.2 Về tổ chức quản lý 64
3.5.3 Về thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử phạt các vi phạm 65
3.6 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 66
3.6.1 Nguyên nhân khách quan 66
3.6.2 Nguyên nhân chủ quan 67
3.7 Giải pháp nâng cao hiệuquả quản lý CTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 68
3.7.1 Những giải pháp trọng tâm 69
3.7.2 Giải pháp sửa đổi chính sách, pháp luật 69
3.8 Giải pháp nâng cao hiệu quả QLCTNH công nghiệp 72
3.8.1 Cải tiến và phát triển thể chế, chính sách liên quan đến QLCTNH công nghiệp 73
3.8.1.1 Cải tiến và phát triển chính sách 73
3.8.1.2 Cải tiến và phát triển thể chế 74
Trang 9iv
3.8.2 Hoàn thiện quản lý Nhà nước về CTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Bình Dương 75
3.8.2.1 Tổ chức quản lý 75
3.8.2.2 Phương pháp quản lý 75
3.8.2.3 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm 78
3.8.2.4 Nâng cao năng lực quản lý 78
3.8.3 Tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về BVMT và QLCTNH 79
3.9 Đề xuất giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả QLCTNH công nghiệp 80 3.9.1 Về cơ cấu tổ chức 80
3.9.2 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động QLCTNH: 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 10v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam 21
Bảng 3.1 Thực trạng biên chế cán bộ quản lý môi trường của tỉnh 34
Bảng 3.2 Thống kê tổng số mã CTNH của một số loại CTNH 37
Bảng 3.3 Thống kê vi phạm về thu gom CTNH 38
Bảng 3.4 Thống kê công suất xử lý CTNH tại tỉnh Bình Dương 40
Bảng 3.5 Thống kê đề xuất sửa đổi bổ sung Văn bản pháp luật 70
Trang 11vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 CTNH công nghiệp 8
Hình 1.2 CTNH phát sinh từ nông nghiệp 9
Hình 1.3 CTNH phát sinh từ y tế 10
Hình 1.4 Môi trường đất bị phơi nhiễm CTNH công nghiệp 12
Hình 1.5 Một khu vực môi trường không khí bị ô nhiễm 12
Hình 1.6 Thối chân do đèn tiết kiệm điện 14
Hình 1.7 Hệ thống QLCTNH theo vòng đời 21
Hình 1.8 Biểu đồ dự báo phát sinh CTNH [16] 25
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương [16] 26
Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Dương 31
Hình 3.2 Hệ thống quản lý CTNH 33
Hình 3.3 Xe vận chuyển CTNH, Công ty TNHH Thương mại xử lý môi trường Thái Thành 39
Hình 3.4 Biểu đồ công suất xử lý CTNH tại Bình Dương 39
Hình 3.5 Lò đốt của Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và MT Bình Dương 41
Hình 3.6 Xử lý bóng đèn thải tại Công ty TNHH Phát triển Bền vững An Điền 43
Hình 3.7 Tái chế dầu nhớt thải tại Công ty TNHH Sản xuất thương mại dịch vụ môi trường Việt Xanh 44
Hình 3.8 Hệ thống xử lý CTNH lỏng của Công ty TNHH Một thành viên cấp thoát nước và Môi trường Bình Dương 46
Hình 3.9 Hệ thống hoá rắn CTNH, Công ty TNHH MTVcấp thoát nước và Môi trường Bình Dương 47
Trang 12vii
Hình 3.10 Hệ thống xúc rửa bao bì thải tại Công ty TNHH Thương mại - Dịch
vụ xử lý Môi trường Việt Khải 48 Hình 3.11 Hệ thống tẩy rửa tại Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ49 Hình 3.12 Xử lý linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Một thành viên cấp thoát nước và MT Bình Dương 50 Hình 3.13 Hầm chôn lấp CTNH 51 Hình 3.14 Hệ thống xử lý acquy, Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Môi trường Việt Xanh 52 Hình 3.15 Biểu đồ vi phạm về quản lý thông tin CTNH 55 Hình 3.16 Quy hoạch các khu liên hợp xử lý và trạm trung chuyển chất thải đến năm 2030 [20] 60 Hình 3.17 Đề xuất hoàn thiện cơ cấu tổ chức QLCTNH tại Bình Dương 80
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là vấn đề đang khá bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường Sự phát sinh CTNH ở Việt Nam rất đa dạng về nguồn cũng như chủng loại trong khi công tác phân loại tại nguồn còn kém càng dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý và xử lý
Thuật ngữ chất thải nguy hại (CTNH) được pháp quy hóa chính thức ở nước
ta từ khi Nghị định 155/1999/NĐ-CP chính thức được ban hành năm 1999 Thuật ngữ này dần trở nên quen thuộc sau khi một loạt các văn bản hướng dẫn và triển khai được ban hành trong các năm tiếp theo, với các mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển và trưởng thành là năm 2006 với Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề,
mã số quản lý CTNH và Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ban hành Danh mục CTNH kèm theo Cùng với đó là một hệ thống các văn bản liên quan như QCVN 02:2008/BTNMT ban hành năm 2008 sửa đổi thành QCVN 02:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế; QCVN 07: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng CTNH; QCVN 19: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ; QCVN 24: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp; QCVN 30: 2010/BTNMT ban hành năm 2010 và sửa đổi thành QCVN 30:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải công nghiệp Chính từ sự phát triển của các văn bản hướng dẫn và sự nỗ lực triển khai trong toàn ngành tài nguyên nên chỉ trong vòng chính thức tám năm, công tác quản lý CTNH đã đạt được những kết quả ban đầu rất đáng ghi nhận trên toàn quốc [1,2,3]
Những năm gần đây, với sự ra đời của Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 quy định về quản lý CTNH được triển khai áp dụng rộng
Trang 14tế tình hình thực hiện Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT cũng như xác định, đánh giá năng lực, tình hình quản lý CTNH của các Sở tài nguyên và môi trường trong thời gian qua làm tiền đề tăng cường công tác quản lý CTNH trong thời gian tới là hết sức cần thiết Bình Dương là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với tốc độ phát triển công nghiệp hóa nằm trong top đầu của cả nước, do đó
mô hình quản lý, những bài học kinh nghiệm và những đòi hỏi, thách thức trong công tác quản lý CTNH tại tỉnh Bình Dương là vô cùng quan trọng, và có thể nói là
mô hình điểm, phù hợp với mô hình quản lý tại các tỉnh thành trong tương lai [4]
Chính vì vậy, việc chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “Đánh giá quản lý CTNH
trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý”
vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá về công tác quản lý chất thải nguy hại tại Bình Dương Nội dung luận văn sẽ cung cấp thông tin, số liệu về cơ sở vật chất, hoạt động quản lý nhà nước cũng như nhân lực phục vụ công tác quản lý CTNH của thành phố cũng như có các đánh giá về tình hình quản lý CTNH của Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Bình Dương và đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý
2 Mục tiêu, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng CTNH tại các KCN, các cơ sở công nghiệp tại tỉnh Bình Dương, những hạn chế, bất cập về công tác quản lý CTNH hiện nay tại tỉnh Bình Dương và ở Việt Nam;
Trang 153
- Đề xuất được những giải pháp để khắc phục những hạn chế, bất cập, nâng cao hiệu quả quản lý CTNH công nghiệp của tỉnh Bình Dương nói riêng và quản lý CTNH nói chung tại Việt Nam
2.2 Đối tượng nghiên cứu
CTNH của hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi địa lý:
Phạm vi không gian của nghiên cứu được xác định là toàn bộ các KCN, các
cơ sở công nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh Bình Dương
lý CTNH trong bối cảnh hoạt động công nghiệp diễn ra sôi động hiện nay
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần đưa ra những giải pháp và kiến nghị phù hợp với tính chất và mục tiêu phát triển của tỉnh Bình Dương, góp phần quản lý môi trường ở các khu công nghiệp hướng tới phát triển bền vững
4 Kết cấu của Luận văn
Luận văn được trình bày trong 85 trang đánh máy khổ A4, được viết trong 3 chương sau, ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị:
- Chương 1 Tổng quan về Chất thải nguy hại;
- Chương 2 Địa điểm, thời gian, phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 16Philippin: CTNH là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, họat
tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người, và động vật
Mỹ: Được đề cập trong luật RCRA (the Resource Conservation and Recovery
Act-1976), chất thải (dạng rắn, dạng lỏng, bán rắn-semisolid, và các bình khí) có thể được coi là CTNH khi nằm trong danh mục chất thải, CTNH (gồm 4 danh sách) có một trong 4 đặc tính (khi phân tích): cháy-nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) công bố là CTNH Bên cạnh đó, CTNH còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở liều lượng nhỏ Đối với các chất chưa có chứng minh của nghiên cứu dịch tễ trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán tác dụng độc tính của chúng lên con người
Việt Nam: Tiếp cận khái niệm CTNH từ khi tham gia Công ước quốc tế
BASEL 1989 (sau đây gọi tắt là Công ước BASEL) về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các CTNH và việc tiêu hủy chúng, thì CTNH được cho là các chất thải thuộc
Trang 175
một trong những loại ghi trong phụ bản I của Công ước BASEL, trừ khi các chất thải này không có 1 tính chất gì ghi trong phụ bản III của Công ước BASEL.Nếu các phế thải nêu trên ít nhất một trong các thuộc tính được nêu trong danh sách các đặc tính nguy hiểm của chất thải như: vật liệu dễ nổ, dễ cháy, ăn mòn, gây dịch bệnh, có độc tính,…)
Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, lần đầu tiên CTNH được luật hóa tại Điều 23 “Tổ chức, cá nhân sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ, huỷ bỏ các chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ, phải tuân theo quy định về an toàn cho người, sinh vật, không gây suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường Chính phủ quy định danh mục các chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ” [5]
Trên cơ sở đó, ngày 16 tháng 7 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế QLCTNH; tại Khoản 2 Điều 3
đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm hết sức cụ thể:“CTNH là chất thải có chứa các chất
hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người Danh mục các CTNH được ghi trong Phụ lục 1 kèm theo Quy chế này Danh mục này do cơ quan quản lý nhà nước về BVMT cấp trung ương quy định”
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, khái niệm này tiếp tục được luật hóa tại Khoản 11, Điều 3: “CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ
nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” và khái niệm này đang được sử dụng rộng rãi trong QLCTNH hiện nay [6]
Hiện nay, chúng ta mới chỉ coi CTNH ở thể rắn và thể lỏng là CTNH cần phải quản lý còn thể khí, hơi chưa được coi là CTNH, dù dạng chất thải này trong thực tế đôi khi cực kỳ nguy hại cho sức khỏe và môi trường sinh thải Trong danh mục CTNH hiện nay, CTNH được phân thành hai nhóm:
- Nhóm một sao “*”: Là nhóm chỉ được khẳng định là CTNH khi được phân định (có kết quả phân tích) và có ít nhất 01 chất nguy hại thành phần vượt ngưỡng QCVN 07:2008/BTNMT về ngưỡng CTNH Khi một CTNH nhóm “*” nếu không
Trang 186
có kết quả phân định thì phải quản lý như CTNH (vỏ bao bì nhiễm thành phần nguy hại, bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải, tro bay, tro xỉ lò đốt chất thải công nghiệp, giẻ lau dính thành phần nguy hại,…)
- Nhóm hai sao “**”: Được quy ước đương nhiên là CTNH, không cần phải
có kết quả phân định như: dầu thải, pin ắc quy thải, hóa chất, cặn sơn, mực in, nước nhiễm dầu, [6]
1.1.1.2 CTNH của hoạt động công nghiệp
Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005, chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác Một khối chất thải được gọi là CTNH khi khối chất thải đó chứa ít nhất một trong các yếu tố: độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác Từ khái niệm trên ta nhận thấy: CTNH công nghiệp là chất thải phát sinh từ khu vực sản xuất công nghiệp có chứa ít nhất một trong các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc,… [6]
Theo quy định của Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm
2011 của Bộ TN&MT về việc ban hành quy chế quản lý CTNH thì một khối chất thải chỉ được gọi là CTNH khi nó thuộc danh mục ban hành kèm theo Thông tư
này, như vậy ta có thể hiểu một cách đầy đủ: CTNH công nghiệp là chất thải phát
sinh từ các tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ, thuộc danh mục CTNH hoặc có chứa ít nhất một trong những yếu tố nguy hại theo quy định của pháp luật [4]
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu CTNH công nghiệp, đây cũng chính là phạm vi và mục tiêu nghiên cứu nhằm đề xuất hoàn thiện mô hình quản lý hiệu quả CTNH công nghiệp
1.1.2 Phân loại CTNH, CTNH của hoạt động công nghiệp
Mục đích của việc phân loại CTNH là để tăng cường thông tin liên quan đến CTNH Tuỳ vào mục đích, yêu cầu sử dụng thông tin c ụ thể mà có các cách phân loại khác nhau:
1.1.2.1 Hệ thống phân loại chung
Đây là hệ thống phân loại dành cho những người có chuyên môn nhằm đảm bảo tính thống nhất về các danh mục được pháp luật quy định và thuật ngữ
Trang 197
sử dụng Hệ thống phân loại này dựa trên Danh mục được xác định cụ thể trong các văn bản pháp luật đã đư ợc ban hành và đặc tính của CTNH được quy định cụ thể trong Công ước Basel về vận chuyển CTNH xuyên biên giới và Quy chế QLCTNH của Việt Nam
Việc áp dụng hệ thống phân loại theo đặc tính của CTNH hoặc theo danh mục nhằm đảm bảo cho hoạt động phân loại, lưu giữ, vận chuyển CTNH được an toàn tuyệt đối, hạn chế những tương tác do CTNH gây ra: cháy, nổ, ăn mòn, phản ứng hoá học,… Ngoài ra, mỗi loại CTNH có phương pháp xử lý phù hợp với đặc tính riêng nên việc phân loại này còn giúp cho hoạt động xử lý CTNH được thuận tiện, nhanh chóng, triệt để và tiết kiệm tối đa chi phí xử lý
1.1.2.2 Phân loại theo luật định
Phân loại theo luật định là hệ thống phân loại được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia
- Theo Công ước Basel: Căn cứ vào 20 nguồn phát sinh CTNH (từ Y1 – Y18, Y46, Y47) và theo 27 thành phần chứa trong CTNH (từ Y19 – Y45)- Phụ lục I
và II Phụ lục III phân loại theo đặc tính của CTNH gồm 10 nhóm sau: (1) Vật liệu/phế thải dễ nổ; (2) Vật liệu/phế thải dễ cháy; (3) Vật liệu/phế thải là nguyên liệu đốt cháy– Peroxyde hữu cơ; (4) Vật liệu/phế thải có độc tính cấp; (5) Vật liệu/phế thải gây lây lan dịch bệnh; (6) Vật liệu/phế thải ăn mòn; (7) Vật liệu/phế thải giải phóng khí độc khi tiếp xúc với không khí và nước; (8) Vật liệu/phế thải có thể gây tác hại cho con người; (9) Vật liệu/phế thải có thể gây tác hại cho hệ sinh thái; (10) Vật liệu/phế thải sau tiêu huỷ có thể phát sinh sản phẩm có chứa một trong các đặc tính nêu trên [21]
- Theo Quy chế QLCTNH ban hành kèm theo Thông tư số BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ TN&MT, việc phân loại cũng theo hai nhóm chính: Phân loại theo đặc tính gồm bảy nhóm và phân loại theo nguồn và dòng thải chính gồm 19 nhóm
Trang 2012/2011/TT-8
Ngoài ra, còn có hệ thống phân loại dành cho công tác quản lý: Hệ thống phân loại này nhằm đảm bảo nguyên tắc CTNH được kiểm soát chặt chẽ từ nơi phát sinh, quá trình vận chuyển đến nơi xử lý, thải bỏ cuối cùng Hệ thống phân loại này gồm 02 hệ thống thành phần: (1) Hệ thống phân loại theo nguồn phát sinh; (2) Hệ thống phân loại theo đặc điểm CTNH [4]
1.1.3 Tính chất và thành phần của CTNH công nghiệp
1.1.3.1 Tính chất của CTNH
Các chất thải được phân loại là CTNH khi có ít nhất một trong các tính chất sau:
- Dễ cháy: Chất lỏng dễ cháy là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng
chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550C; chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị
ma sát trong các điều kiện vận chuyển; chất thải có khả năng tự bốc cháy là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa Đặc tính dễ cháy sẽ gây ra hỏa hoạn, bỏng, làm ô nhiễm không khí và nguồn nước
Hình 1.1 CTNH công nghiệp
- Dễ nổ: Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng có thể nổ do kết quả của phản ứng
hóa học khi tiếp xúc với lửa hoặc do bị va đập, ma sát sẽ tạo ra các loại khí ở nhiệt
độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh Chính vì dễ nổ nên chúng có thể gây tổn thương da, bỏng và thậm chí là tử vong; phá hủy công trình và
Trang 219
thậm chí chết người
- Ăn mòn: Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương
nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5)
Hình 1.2 CTNH phát sinh từ nông nghiệp
- Oxi hoá: Các chất thải có khả năng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt
mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất
đó, việc ôxy hoá sẽ gây ra cháy nổ, gây nhiễm độc nguồn nước và không khí
- Gây nhiễm trùng: Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho
là gây bệnh cho con người và động vật
- Có độc tính bao gồm: Độc tính cấp làcác chất thải có thể gây tử vong, tổn
thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khoẻ qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua
da Độc tính từ từ hoặc mãn tính là các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc thiếu các biện pháp đảm bảo an toàn khi tiếp xúc nên ngấm qua da Sinh khí độc là các chất thải chứa các thành phần mà khi tiếp xúc với không khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí
Trang 2210
độc, gây nguy hiểm đến con người và sinh vật, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng
- Có độc tính sinh thái: Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức
hoặc từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học hoặc tác hại đến các hệ sinh vật
- Dễ lây nhiễm: Chất thải nếu không được quản lý chặt chẽ, không đảm bảo
an toàn trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý thì các rủi ro, sự cố sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng Tùy thuộc vào đặc tính và bản chất của chất thải mà khi thải vào môi trường sẽ gây nên các tác động khác nhau, lan truyền dịch bệnh [4]
Hình 1.3 CTNH phát sinh từ y tế
1.1.3.2 Thành phần của CTNH công nghiệp:
- Dung môi hữu cơ;
Trang 2311
- Bóng đèn huỳnh quang thải, pin ắc quy thải,…
- Các chất độc thải: axit, cyanua, anilin,… [4]
1.1.4 Những ảnh hưởng/tác hại của CTNH công nghiệp
1.1.4.1 Tác hại với môi trường
Theo kết quả điều tra của Viện sức khỏe môi trường Thuộc Viện Công nghệ Môi trường và Trung tâm tư vấn, chuyển giao công nghệ thuộc Tổng cục Môi trường, những tác động môi trường cơ bản liên quan đến việc chôn lấp các CTNH không đúng quy cách hoặc do sự phát thải các thành phần nguy hại ra môi trường do quá trình bay hơi, lan truyền theo dòng nước hoặc thấm xuống đất Nước mặt bị ô nhiễm kéo theo sự ô nhiễm của đất và không khí
CTNH được chôn lấp ở những bãi rác không hợp vệ sinh, rò rỉ gây ô nhiễm đất, nước mặt và nước ngầm, từ đây, các thành phần nguy hại trong nước được phát tán theo dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm có thể dễ dàng phát tán nhanh, gây ô nhiễm môi trường nước trong phạm vi rộng lớn
Khi CTNH thải trực tiếp vào môi trường đất, vô tình làm hủy đi hệ sinh thái của khu vực thải rác Việc chôn lấp, lưu giữ CTNH là một việc làm cần thiết tại các nhà máy QLCTNH hay đôi khi tại nơi phát sinh CTNH, xem Hình 1.4 sau đây
Trang 2412
Hình 1.4 Môi trường đất bị phơi nhiễm CTNH công nghiệp
Tuy nhiên, nếu chôn lấp các CTNH không đúng quy cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với nước mặt và nước ngầm Ở một số công ty được thanh tra, kiểm tra, do không nhận dạng đầy đủ chủng loại CTNH, không được che, đậy
kỹ, không được thu gom triệt để, khả năng rò rỉ các thành phần nguy hạivào lớp đất tầng dưới và gây nhiễm bẩn nước ngầm có thể được xem như một nguy cơ lâu dài,
có thể tạo ra rủi ro đến môi trường nước ngầm
Ô nhiễm do CTNH (dầu thải) không được thu gom quản lýđúng quy định có thể nhận thấy rất rõ tại các cơ sở sản xuất cơ khí, dịch vụ sửa chữa ô tô, xe máy, các phân xưởng cơ điện của Doanh nghiệp,…
Có những trường hợp ô nhiễm không khí rất nghiêm trọng do QLCTNHkém; dung môi, hóa chất thải không được đựng trong thùng kín hoặc các loại bao bì nhiễm thành phần nguy hại lưu giữ quá lâu trong khu vực sản xuất gây bay hơi, các
cơ sở sản xuất tấm lợp xi măng amiăng thải hàng trăm tấn bùn trong cơ sở, làm phát sinh bụi gây ô nhiễm không khí mà không có một biện pháp kiểm soát nào dẫn đến phát tán bụi nguy hại ra khu vực xung quanh, chi tiết xem Hình 1.5
Hình 1.5 Một khu vực môi trường không khí bị ô nhiễm
1.1.4.2 Tác hại đến sức khỏe con người
Trang 2513
Các chất nguy hại gây tác động đến con người do có sự tiếp xúc chất thải với môi trường và con người Chất nguy hại được phát thải vào môi trường và con người hoạt động trong môi trường đó bị tiếp xúc với chất nguy hại Ví dụ, con người sử dụng bao bì nhiễm bẩn chất nguy hại (điển hình là các vỏ thùng đựng hoá chất thải) cho các mục đích sinh hoạt Ở Việt Nam nguồn nước mặt và nước ngầm thường được dùng làm nguồn nước uống, sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Bất cứ sự ô nhiễm nào đối với nguồn nước đều có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân địa phương Theo kết quả nghiên cứu của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, chất nguy hại tác động đến sức khỏe qua đường hô hấp, qua da do thường xuyên tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm; chất độc hại xâm nhập vào cơ thể do tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm bẩn hay do sử dụng những dụng cụ nhà bếp không sạch làm nhiễm bẩn thức ăn, qua động tác ăn uống hay hút thuốc…
Do CTNH có tính chất dễ cháy, nổ, hoạt tính hoá học cao, gây ăn mòn, nên ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người, gây bỏng, rộp da, gây mù mắt, ; đồng thời khi diễn ra quá trình cháy, nổ còn phát sinh thêm nhiều chất độc hại thứ cấp khác, gây ngạt do mất oxy có thể dẫn đến tử vong Ngoài ra, CTNH còn phá hủy vật liệu nhanh chóng, xâm nhập vào các vật dụng do đó chúng gián tiếp có ảnh hưởng đến sự an toàn và sức khoẻ của con người Chất nguy hại gây tổn thương cho các cơ quan trong cơ thể, kích thích, dị ứng, gây độc cấp tính và mạn tính có thể gây đột biến gen, lây nhiễm, rối loạn chức năng tế bào,… dẫn đến các tác động nghiêm trọng, làm phát sinh dịch bệnh, gây ung thư cho con người và động vật, ảnh hưởng
đến sự di truyền, suy giảm chất lượng con giống và sức khỏe, xem Hình 1.6 sau
Trang 2614
Hình 1.6 Thối chân do đèn tiết kiệm điện
Con người khi tiếp xúc với chất nguy hại có thể biểu hiện nhiễm độc qua các triệu chứng lâm sàng và rối loạn chức năng, biểu hiện ở đường tiêu hoá là tăng tiết nước bọt, kích thích đường tiêu hoá, nôn, tiêu chảy, chảy máu đường tiêu hoá, vàng
da Biểu hiện ở đường hô hấp: tím tái, thở nông, ngừng thở, phù phổi Biểu hiện rối loạn tim mạch: mạch chậm, mạch nhanh, trụy mạch, ngừng tim Các rối loạn thần kinh, cảm giác và điều nhiệt: hôn mê, kích thích và vật vã, nhức đầu nặng, chóng mặt, điếc, hoa mắt, co giãn đồng tử, tăng giảm thân nhiệt, rối loạn bài tiết: vô niệu
- Dung môi: Các dung môi hữu cơ có thể tan trong môi trường mỡ cũng như
nước Các dung môi thân mỡ khi tan trong môi trường sẽ tích tụ trong mỡ bao gồm
cả hệ thần kinh Hơi của dung môi rất dễ được hấp thu qua phổi Có nhiều loại dung môi hữu cơ gây độc tính cấp và mãn tính cho con người và động vật khi tiếp xúc Một số dung môi hữu cơ thường gặp là benzen, toluen, xylen, etylbenzen, xyclohexan Các dung môi này có thể hấp thụ qua phổi và qua da Khi tiếp xúc ở liều cao gây độc tính cấp suy giảm thần kinh trung ương, gây chóng mặt, nhức đầu, ngộp thở dẫn đến rối loạn tiêu hóa Benzen tích lũy trong các mô mỡ và tủy xương gây bệnh bạch cầu, xáo trộn ADN di truyền Liều hấp thụ benzen từ 10-15mg có thể
tử vong
- Các hydrocacbon: Các chất halogen hóa chủ yếu là nhóm clo hữu cơ,
chúng đều là các chất dễ bay hơi và rất độc, đặc biệt chúng dễ gây mê, gây ngạt, ảnh
Trang 2715
hưởng đến hệ thần kinh, gan thận như: Triclometan, tetraclorocacbon, tricloroetylen…các hợp chất phức tạp còn có khuynh hướng tích tụ trong cơ thể động thực vật khi hấp thu chúng như PCBs, DDT
- Các Kim loại nặng: Các kim loại nặng gây hại đáng kể cho môi trường
Với hàm lượng cao chúng gây rối loạn, ức chế hoạt động của sinh vật Tác động nguy hại đáng quan tâm của chúng là lên sức khỏe con người Sự xâm nhập của chúng vào cơ thể diễn ra trong thời gian dài nên khó có thể phát hiện và ngăn ngừa Một số kim loại nặng tiêu biểu là Cr (VI), Hg, As, Cd…
- Các chất có độc tính cao: Chất lỏng: thủy ngân, dung dịch các chất rắn ở
trên, hợp chất vòng thơm… Chất rắn như: Antimon, cadimi, chì, bery, asen, selen, muối cyanua và các hợp chất của chúng; chất khí như: Hydrocyanua, photgen, khí halogen, dẫn xuất của halogen…chất gây đột biến như: carcinogens, asbetos PCBs… [17,18,19]
1.1.5 Yêu cầu về an toàn trong QLCTNH
Để đảm bảo an toàn, việc lưu giữ tam thời, vận chuyển và xử lý CTNH được quy định rất cụ thể về điều kiện thu gom, trang thiết bị lưu giữ, phương tiện vận chuyển, việc bảo quản trước và sau xử lý, cụ thể như sau:
- Bao bì chứa CTNH phải có chất lượng tốt, có khả năng chống được sự ăn mòn, không bị gỉ, không phản ứng hoá học với CTNH chứa bên trong, có khả năng chống thấm hoặc thẩm thấu, rò rỉ, đặc biệt tại điểm tiếp nối và vị trí nạp, xả chất thải; bao bì mềm có ít nhất 02 lớp vỏ Chịu được va chạm, không bị hư hỏng, rách
vỡ vỏ bởi trọng lượng chất thải trong quá trình sử dụng thông thường Bao bì mềm được buộc kín và bao bì cứng có nắp đậy kín để đảm bảo ngăn chất thải rò rỉ hoặc bay hơi ra ngoài Chất thải lỏng, bùn thải dạng nhão hoặc chất thải có các thành phần nguy hại dễ bay hơi phải chứa trong bao bì cứng không vượt quá 90% dung tích hoặc mức chứa cao nhất cách giới hạn trên của bao bì là 10 cm
- CTNH phát sinh phải được phân loại, bao bì phải được dán nhãn rõ ràng, dễ đọc, không bị mờ và phai màu Nhãn bao gồm các thông tin sau: Tên và mã CTNH; dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6707:2009 về
Trang 28Thiết bị lưu chứa CTNH ở thể lỏng hoặc có thành phần nguy hại dễ bay hơi phải có nắp đậy kín, biện pháp kiểm soát bay hơi, mức chứa cao nhất cách giới hạn trên của thiết bị lưu chứa 10cm Trường hợp không cần nắp đậy kín thì phải có mái hoặc biện pháp che nắng, mưa và biện pháp kiểm soát gió trực tiếp vào bên trong
- Khu vực lưu giữ tạm thời hoặc trung chuyển CTNH phải có cao độ nền đảm bảo không bị ngập nước; bằng vật liệu chống thấm, chịu được tải trọng; có tường bằng vật liệu không cháy; có mái che kín nắng, mưa (trừ các thiết bị lưu chứa CTNH với dung tích lớn hơn 05m3 thì được đặt ngoài trời) Có phân chia các ô riêng cho từng loại CTNH hoặc nhóm CTNH, có vách ngăn không cháy, có rãnh thu chất lỏng về một hố ga thấp hơn sàn
Khu vực lưu giữ tạm thời hoặc trung chuyển CTNH ở thể lỏng phải có tường, đê, hoặc gờ bao quanh toàn bộ hoặc từng phần của khu vực hoặc một biện pháp cách ly thứ cấp khác để dự phòng CTNH phát tán ra ngoài môi trường trong trường hợp có sự cố CTNH dễ cháy, nổ phải bảo đảm khoảng cách không dưới 10m với lò đốt, lò hơi và các thiết bị đốt khác
Trong từng ô hoặc bộ phận của khu vực lưu giữ tạm thời phải có dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa phù hợp, có sơ đồ thoát hiểm, ký hiệu hướng dẫn thoát hiểm,
có các bảng hướng dẫn rút gọn về quy trình vận hành an toàn, có quy trình ứng phó
sự cố, có nội quy về an toàn lao động và bảo vệ sức khoẻ với kích thước và ở vị trí thuận tiện quan sát cho người vận hành, được in rõ ràng, dễ đọc, không bị mờ
Trang 2917
- Vận chuyển bằng xe tải thùng lắp cố định, phải lắp đặt thùng hoặc hộp thu chất lỏng dự phòng bên dưới đáy thùng Xe tải thùng hở phải được phủ bạt kín Xe tải bồn (hay còn gọi là xe xitéc) và khoang chứa tàu thuỷ đối với CTNH ở thể lỏng phải có biện pháp kiểm soát bay hơi, đặc biệt tại điểm nạp, xả, mức chứa cao nhất cách giới hạn trên của bồn hoặc khoang chứa là 10cm
Phương tiện vận chuyển CTNH phải được lắp đặt hệ thống định vị vệ tinh (GPS), trang bị các dụng cụ cứu hỏa; có vật liệu thấm hút và xẻng; có hộp sơ cứu vết thương; bình chứa dung dịch so da gia dụng; có thiết bị thông tin liên lạc; có dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa có thể tháo, lắp linh hoạt tuỳ theo loại CTNH được vận chuyển ít nhất ở hai bên của phương tiện; có biển thông báo sự cố cho các đối tượng giao thông khác Không chở các CTNH có khả năng phản ứng hoá học với nhau trong quá trình vận chuyển
- Hệ thống hoặc thiết bị xử lý CTNH phải có công nghệ, công suất phù hợp
và được đăng ký cấp phép xử lý CTNH cần được phân loại, kiểm tra trước và sau khi được xử lý cuối cùng, đảm bảo xử lý an toàn Hệ thống hoặc thiết bị xử lý CTNH ở nhiệt độ cao có khả năng gây sự cố cháy nổ phải có cơ chế cảnh báo và tự động ngắt khi ở tình trạng vận hành không an toàn song song với cơ chế ngắt bằng tay Có công trình BVMT để xử lý khí thải phát sinh từ hoạt động xử lý đạt các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành [4]
1.2 Tình hình quản lý CTNH của hoạt động công nghiệp trên thế giới và
ở Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Tuỳ từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải của riêng mình Tuy nhiên, các nước phát triển trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ
lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học,
chôn lấp, rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của
một số nước trên thế giới thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi
Trang 3018
chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thuỵ Sĩ (33%), trong khi Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt; Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi
sinh nhiều nhất (30%), Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha (80%) Dưới đây là những mô tả tổng quan về tình hình quản lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn nguy hại nói riêng tại một số nước trong khu vực và thế giới:
- Trung Quốc: Với công nghệ tái chế phát triển đã tận dụng lại một phần đáng
kể CTNH, còn lại chất thải được thải vào nước và đất Biện pháp xử lý thông thường
là đưa vào các bãi rác hở, trong đó có một số ô chôn lấp hợp vệ sinh Phần lớn CTNH của các khu vực kinh tế, một số xí nghiệp có khả năng xử lý tại chỗ Trung Quốc cũng đã đề ra Luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm bẩn do chất thải rắn (1995), trong
đó quy định các ngành công nghiệp phải đăng ký việc phát sinh chất thải, nước thải,
đồng thời phải đăng ký việc chứa đựng, xử lý và tiêu huỷ chất thải, liệt kê các chất thải từ các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp hoá chất
- Hồng Kông: Với hệ thống thu gom vận chuyển và thiết bị xử lý hiện đại, công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hoá/lý đã xử lý được hầu hết lượng CTNH tại Hồng Kông Tại đây, người ta đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất quy chế chung về sự tiêu huỷ chất thải, đặc biệt là chất thải hoá học Nhờ hệ thống nghiền nhỏ để chôn lấp, hệ thống kiểm soát chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu huỷ 100 chất thải, nhất là chất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải nói chung và CTNH nói riêng
- Ấn Độ: CTNH chủ yếu được thải vào đất và nước, hoặc đổ tại chỗ hoặc tại bãi rác công cộng Hiện nay, Ấn Độ đã đầu tư xây dựng thiết bị xử lý bằng phương pháp chôn lấp với vốn vay từ WB/IFC và đẩy mạnh kêu gọi đầu tư từ thành phần kinh tế tư nhân
- Philippine: Nói chung CTNH được đổ vào nước hay đổ vào bãi rác công cộng Hiện tại ở Philippine chưa có công trình xử lý CTNH tập trung, một số ít chất
Trang 3119
thải được xử lý tại chỗ Hiện đang có một đề án nghiên cứu về xử lý chôn lấp CTNH do EU tài trợ
- Singapore: Để giải quyết CTNH, Singapore đã có giải pháp công nghệ trình
độ thấp để xử lý hoá lý, thu hồi dung môi hữu cơ và lò đốt trong nhiều năm, chủ yếu dùng thiết bị cũ, hệ thống tiên tiến hiện đại đã được đề nghị nhưng chưa được thực hiện Hiện tại chất thải được phân loại, một phần được tái chế, phần còn lại được đưa vào 4 nhà máy thiêu huỷ Singapore đã xây dựng nhà máy thứ 5 với công suất 2.500 tấn/ngày để xử lý chất thải Nhiệt lượng trong quá trình thiêu huỷ được thu hồi để chạy máy phát điện, Công nghệ thiêu huỷ chất thải đang được thay thế bằng các công nghệ hiện đại hơn, đảm bảo được các tiêu chuẩn về môi trường Dầu cặn, sơn thừa được tái chế sử dụng thì các nhà máy xí nghiệp phải chịu chi phí xử lý chúng
Việc thu gom chất thải hầu hết do các công ty tư nhân đảm nhận, nhà nước hỗ trợ tiền xây đựng nhà máy xử lý, thiêu huỷ chất thải Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý chất thải trên phạm vi toàn quốc Hàng tháng, người dân có nghĩa vụ đóng góp phí thu chất thải tuỳ theo diện tích sử dụng đất của từng hộ
- Srilanca: Hiện tại không có quy trình QLCTNH chuyên dụng Thông thường, CTNH được đổ vào bãi rác không chống thấm Hiện nay, Srilanca đang xây dựng các bãi chôn rác vệ sinh để xử lý các chất thải đô thị Một chiến lược QLCTNH đang được dự thảo bởi ERM (do WB tài trợ) Nhìn chung, CTNH tại Srilanca cũng chưa được quan tâm đúng mức
- Thái Lan: CTNH tại Thái Lan đã được đưa vào hệ thống xử lý trung tâm với công nghệ xử lý thấp, hệ thống xử lý này được vận hành từ năm 1998 và phương thức xử lý chủ yếu là xử lý hoá/lý ổn định và chôn lấp an toàn cùng với hệ thống phối trộn hữu cơ (cho đốt trong lò xi măng) Ngoài ra, phương thức xử lý hoá/lý kết hợp với đốt cũng được áp dụng tại Thái Lan
- Pháp: Các CTNH nói riêng và chất thải nói chung chỉ được thiêu huỷ khoảng 40%, số còn lại chưa được xử lý hợp vệ sinh Hàng năm, có tới khoảng 20 triệu tấn chất thải không được xử lý đã chất đống ở những nơi hoang vu và không người khai thác Ngoài ra, do phí lưu giữ chất thải ở Pháp khá rẻ nên các nước láng giềng đã
Trang 3220
không do dự mang chất thải của quốc gia mình sang đổ ở các bãi chất thải tại Pháp Tại đây có khoảng hơn 20.000 bãi chất thải hoang và tình trạng đổ thải bừa bãi như vậy đang được Chính phủ Pháp tìm mọi cách chấm dứt
- Hà Lan: Việc xử lý chất thải của Hà Lan được sự tham gia tổng lực của chính quyền, xã hội cũng như các cơ quan chuyên ngành CTNH được xử lý bằng nhiều cách khác nhau, trong đó phần lớn được thiêu huỷ, một phần được tái chế Trước đây, Hà Lan tiến hành thiêu huỷ CTNH ở ngoài biển, nhưng từ năm 1990 trở lại đây, Hà Lan đã tập trung xử lý CTNH tại 5 khu vực trên phạm vi toàn quốc, thường do các xí nghiệp tư nhân với sự tham gia của nhiều công ty tiến hành dưới sự giám sát của các cơ quan chuyên môn Hàng năm, Hà Lan phát sinh trên 20 triệu tấn chất thải, 60% trong số này được đổ ở các bãi chứa, phần còn lại được đưa vào các lò thiêu huỷ hoặc tái chế Để BVMT, Chính phủ Hà Lan đã đề ra mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm để giảm chi phí xử lý Công nghệ xử lý CTNH chủ yếu được áp dụng là thiêu huỷ, nhiệt năng do các lò thiêu huỷ sinh ra sẽ được hoà nhập vào mạng lưới năng lượng chung của đất nước
Ngoài ra, Hà Lan còn đạt được bước chuyển biến lớn trong việc mở rộng chương trình giáo dục trong trường học, trong các xí nghiệp công nghiệp và những người nội trợ về sự cần thiết phải đảm bảo môi trường sống trong sạch; ở nhiều nơi, các chất thải được phân loại ngay từ nguồn phát thải nhất là đối với CTNH Việc thiêu huỷ CTNH được tiến hành ở những lò đốt hiện đại với kỹ thuật mới nhất, hoặc việc tổ chức sản xuất được ứng dụng những quy trình đặc biệt nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu mới, thuận lợi cho công việc xử lý chất thải [16]
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình QLCTNH của hoạt động công nghiệp
Nguyên tắc QLCTNH là phải quản lý chặt chẽ và khép kín từ khi phát sinh đến khi được xử lý an toàn; Ở Việt Nam, CTNH được quản lý theo quy trình khép kín (theo vòng đời), cụ thể xem Hình 1.7 sau
Phát sinh Phân loại Lưu giữ an toàn
Trang 331.2.2.2 Một số Công nghệ xử lý chất thải phổ biến ở Việt Nam
Có nhiều phương pháp xử lý CTNH, tuy nhiên, do điều kiện phát triển, khả năng đầu tư, ở Việt Nam hiện nay có 09 nhóm công nghệ xử lý CTNH được sử dụng khá phổ biến và đã được cấp giấy phép để xử lý CTNH của công nghiệp trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, số lượng hệ thống xử lý và công suất xử lý, cụ thể như Bảng 1.1 sau đây
Bảng 1.1 Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam
TT Tên công nghệ Số cơ sở
áp dụng
Số mô đun hệ thống
Công suất phổ biến
Đóng gói CTNH Vận chuyển
Xử lý an toàn
Trang 3422
8 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 6 6 0,5 – 200 tấn/ngày
1.2.2.3 Các văn bản quy phạm pháp luật QLCTNH ở Việt Nam
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;
- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế QLCTNH;
- Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2050;
- Quyết định số 789/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011 - 2020
- Thông tư số 13/2007/TT-BX của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ
về quản lý chất thải rắn;
- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp và khu đô thị đến năm 2020
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050
Trang 35- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về QLCTNH;
- Thông tư số 32/2013/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (Ban hành QCVN 50:2013/BTNMT về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước)
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các khu đô thị và công nghiệp
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD hướng dẫn các quy định về BVMT đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn
- Thông tư số 39/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn việc thi thành Nghị định số 174/2007/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn
- TCVN 6696:2000 quy định về BVMT cho các bãi chôn lấp hợp vệ sinh
- TCVN 6705:2009 quy định về phân loại chất thải rắn thông thường
- TCVN 6706:2009 quy định về phân loại CTNH
- TCVN 6707:2009 dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa CTNH
- TCVN 7380:2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Yêu cầu kỹ thuật
- TCVN 7381:2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Phương pháp đánh giá và thẩm định
- TCXDVN 261:2001 Bãi chôn lấp - Tiêu chuẩn thiết kế
- TCXDVN 320:2004 Bãi chôn lấp CTNH - Tiêu chuẩn thiết kế
- QCVN 02:2008/BTNMT về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế
Trang 361.2.3 Tình hình QLCTNH công nghiệp tại tỉnh Bình Dương
CTNH công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương chủ yếu phát sinh từ các KCN và các cơ sở công nghiệp phân tán ngoài các KCN Theo báo cáo của các chủ nguồn thải đăng ký tại Sở TN&MT tỉnh Bình Dương, số liệu phát sinh năm 2013 khoảng trên 92.000 tấn; Tuy nhiên, theo báo cáo của các chủ hành nghề quản lý CTNH, thực tế trong năm 2013, có 25 chủ hành nghề quản lý CTNH đã thu gom,
xử lý 40.885 tấn CTNH các loại cho thấy thực tế và đăng ký có sự chênh lệch rất lớn, trong khi kết quả thanh, kiểm tra 42/42 cơ sở được thanh tra đã thu gom đầy đủ
và chuyển giao xử lý theo quy định [13,14,15]
Dự báo lượng CTCNNH phát sinh trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm
2015 là 50.000 tấn, đến 2020 là 100.000 tấn và đến năm 2025 là 150.000 tấn [16], chi tiết xem Hình 1.5
Thành phần CTNH phát sinh trên địa bàn tình Bình Dương khá đa dạng, tuy nhiên, có thể phân loại thành phần CTNH gồm các thành phần chủ yếu sau:
- Bùn thải, bao bì mềm thải, cặn dung môi, dầu thải, giẻ lau, ;
- Xỉ lò đốt, một số loại bùn thải, bóng đèn huỳnh quang, ;
- Các loại hóa chất thải, dung môi thải;
- Hộp mực in thải, pin, ắc quy thải,
- Các loại vỏ bao bì cứng, thùng phuy, kim loại, nhựa, nhiễm thành phần nguy hại;
Trang 3725
Hình 1.8 Biểu đồ dự báo phát sinh CTNH [16]
CHƯƠNG 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu bao gồm toàn bộ tỉnh Bình Dương
Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu được xác định như sau:
Tỉnh Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, chiếm diện tích 2.695,22km2, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh, với 01 thành phố (Thủ Dầu Một), 04 thị
xã (Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên và Bến Cát) và 04 huyện (Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bắc Tân Uyên và Bàu Bàng) [17]
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Thủ Dầu Một, có tọa độ
11o09’44” vĩ Bắc – 106o37’30” kinh Đông, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30km theo đường Quốc lộ 13 Đây cũng là trung tâm công nghiệp của cả tỉnh
Trang 3826
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương [16]
2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5 - tháng 9 năm 2015
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp như sau:
- Phương pháp hồi cứu tài liệu thứ cấp: thu thập, tổng hợp và phân tích các
tài liệu sẵn có trong nước và quốc tế về CTNH để xây dựng cơ sở lý luận và đánh
giá tình hình thực tế; thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn
tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó đánh giá
chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Trong luận văn sử dụng phương pháp
Trang 3927
này để lựa chọn các thông tin, dữ liệu từ các số liệu, báo cáo, của Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương; kế thừa các thông tin về công nghệ xử lý tại các biên bản kiểm tra điều kiện hành nghề đối với một số đơn vị hành nghề khác mà học viên không trực tiếp tới khảo sát tại tỉnh Bình Dương, kế thừa một số kết quả phân tích về công nghệ xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường đã nghiên cứu trước đây
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu thống kê: Tổng hợp những số liệu
thực tế thu thập được trên địa bàn tỉnh Bình Dương; xử lý số liệu một cách định lượng Ở giai đoạn đầu, tiến hành tổng hợp, thu thập các tài liệu có liên quan phục
vụ các số liệu trong luận văn Tiến hành thống kê số liệu dựa trên các hồ sơ đăng ký hành nghề quản lý CTNH và báo cáo quản lý CTNH định kỳ của các đơn vị hành nghề quản lý CTNH đã được cấp phép, các báo cáo quản lý CTNH của tỉnh Bình Dương, các nguồn tài liệu, tư liệu và số liệu thông tin trong nước khác
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, kiểm tra hiện trường: Thực hiện tại
các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra có phát sinh CTNH công nghiệp Dựa trên kết quả kiểm tra hiện trường của các đoàn thanh tra, kiểm tra được ghi nhận bằng Biên bản thanh tra Cụ thể: điều tra, khảo sát thực địa tại khu công nghiệp, cơ
sở của một số chủ vận chuyển, chủ xử lý CTNH tại tỉnh Bình Dương Trong thời gian thực hiện luận văn, học viên đã tiến hành kết hợp công tác, điều tra khảo sát 03 đợt tại các khu công nghiệp, cơ sở chủ vận chuyển, xử lý và tại Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương Cụ thể:
+ Ngày 11-12/6/2015 thực hiện điều tra, khảo sát tại Công ty TNHH phát triển bền vững An Điền (huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương)
+ Ngày 22-23/8/2015 điều tra, khảo sát tại Công ty TNHH Sản xuất Dịch vụ Môi trườngViệt Xanh (KCN Nam Tân Uyên, Bình Dương)
+ Tháng 9/2014 tiến hành làm việc với Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương
Các đợt điều tra khảo sát của học viên được thực hiện kết hợp với nhiệm vụ kiểm tra, cấp phép hành nghề quản lý CTNH các doanh nghiệp và làm việc với Sở TN&MT địa phương do Tổng cục Môi trường tổ chức Tại các đợt điều tra, khảo
Trang 4028
sát, học viên đã tiến hành thu nhận tài liệu, đánh giá tình trạng, điều kiện hành nghề của các trang thiết bị tại các doanh nghiệp và thu thập các thông tin về tình hình quản lý CTNH của tỉnh Bình Dương phục vụ cho luận văn
- Phương pháp phân tích hệ thống: Đánh giá, phân tích sự đồng bộ theo hệ
thống các văn bản liên quan đến CTNH, các văn bản quy phạm pháp luật giữa các ngành và theo ngành dọc: từ Trung ương đến địa phương;
- Phương pháp chuyên gia: Huy động kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm
chuyên gia liên ngành về lĩnh vực nghiên cứu, từ đó sẽ cho các kết quả có tính thực tiễn và khoa học cao, tránh được những trùng lặp với những nghiên cứu đã có, đồng thời kế thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt được Phương pháp này được thực hiện thông qua việc tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực quản lý CTNH tại tỉnh Bình Dương, các chuyên gia về CTNH tại khu vực phía Nam là thành viên nhóm tư vấn cấp phép hành nghề quản lý CTNH, cũng như các chuyên gia khác tại Tổng cục Môi trường Phương pháp được tác giả sử dụng để đánh giá
về mặt công nghệ xử lý CTNH, đưa ra các đề xuất để tăng cường công tác quản lý của tỉnh Bình Dương