Trong khi, các NHTM hoạt động trên địa bàn có những tiềm năng và triển vọng phát triển theo hướng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, cung cấp nhiều hơn các nghiệp vụ và dịch vụ để đáp ứng
Trang 2ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG-I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
Trang
1-Chức Năng Của NHTM 01
1.1-Chức năng trung gian tài chính 01
1.2-Chức năng trung gian thanh toán 01
1.3-Chức năng cung cấp dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác 01 2-Hoạt Động Kinh Doanh Của NHTM 02
2.1-Hoạt Động Nghiệp Vụ 02
2.1.1-Huy Động Vốn 02
2.1.2-Vay Ngân Hàng Khác 03
2.1.3-Hoạt Động Tín Dụng Của NHTM
03
2.1.4-Nghiệp Vụ Đầu Tư 06
2.2-Dịch Vụ Ngân Hàng 07
2.2.1-Dịch Vụ Ngân Hàng Trên Thị Trường Chứng Khoán 07
2.2.2-Dịch Vụ Uûy Thác Cho Cá Nhân Và Các Doanh Nghiệp 07
2.2.3-Dịch Vụ Thanh Toán Quốc Tế 07
2.2.4-Dịch Vụ Bảo Lãnh 07
2.2.5-Dịch Vụ Thẻ Từ , Thẻ Tín Dụng 07
2.2.6-Những Dịch Vụ Ngân Hàng Khác 07
II-SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG 09
KINH DOANH NGÂN HÀNG
III-ĐIỂM QUA MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH ĐA DẠNG HOÁ 10
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1-Các NHTM Trên Thế Giới 10 2-Các NHTM Của Một Số Nước Đông Nam Aù 10
3-Các NHTM Việt Nam 12
4-Một Số Tác Dụng Của Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NH 12
4.1-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Phân Tán Và Giảm Thiểu Rủi Ro 13
4.2-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Làm Tăng Lợi Nhuận Của NHTM 13
4.3-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Thúc Đẩy Các Nghiệp Vụ Và
Dịch Vụ Cùng Phát Triển 13
4.4-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Làm Tăng Khả Năng Cạnh Tranh
Của Các NHTM Trong Nền Kinh Tế THị Trường 13
Trang 3ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
CHƯƠNG-II: THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
I-ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH
DƯƠNG
1-Quá Trình Hình Thành 14 2-Đặc Điểm Hoạt Động 14
2.1-Mạng Lưới Hoạt Động 14
2.2-Tổng Nguồn Vốn Hoạt Động Kinh Doanh 15
2.3-Các NHTM Là Các NHTM Quốc Doanh 15
II-THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI HỆ THỐNG
CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG 16 1-Nghiệp Vụ Huy Động Vốn 16
1.1-Tiền Gửi Thanh Toán 17
1.2-Tiền gửi có kỳ hạn 18
1.3-Tiền gửi tiết kiệm 18
1.4-Huy Động Bằng Phát Hành Giấy Tờ Có Giá 19 2-Nghiệp Vụ Tín Dụng 19
2.1-Tín Dụng Thế Chấp 19
2.2-Tín Dụng Đầu Tư 20
2.3-Chiết Khấu Thương Phiếu Và Các Giấy Tờ Có Giá 21 3-Nghiệp Vụ Đầu Tư 22 4-Hoạt Động Kinh Doanh Ngoại Tệ 22 5-Dịch Vụ Ngân Hàng 22
5.1-Dịch Vụ Thanh Toán 22
5.2-Dịch Vụ Chuyển Tiền 23
5.3-Dịch Vụ Bảo Lãnh 23
5.4-Dịch Ngoại Hối 23
III-ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG 23 1-Đánh Giá Hoạt Động Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ NH Trong Những Năm Qua 23
1.1-Nghiệp Vụ Huy Động Vốn 23
1.2-Nghiệp Vụ Tín Dụng 24
1.3-Nghiệp Vụ Đầu Tư 24
1.4-Hoạt Động Kinh Doanh Ngoại Tệ 24
1.5-Dịch Vụ Ngân Hàng 25 2-Những Nguyên Nhân Làm Hạn Chế Việc Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanhï Của Các NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương 26
2.1-Nguyên Nhân Chủ Quan 26
2.1-Nguyên Nhân Khách Quan 27
Trang 4ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
3-Những Nhận Định Về Tiềm Năng Và Dự Báo Triển Vọng Đa Dạng Hoá 27
Hoạt Động Của Các NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương 3.1-Nhận Định Về Tiềm Năng 27 3.2-Dự Báo Về Triển Vọng 29
CHƯƠNG-III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG I-QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NH 31
II-LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
1-Một Số Phương Án Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NH 32
1.1-Đa Dạng Hoá Toàn Bộ Các Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ NH 32
1.2-Đa Dạng Hoá Một Phần Các Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ NH 32
1.3-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Theo Từng Bước Có Chọn Lọc 33
2-Lựa Chon Phương Án Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NH 36
III-MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANHÏ CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG 36
1-Một Số Giải Pháp Chung 36
1.1-Hiện đại Hoá Công Nghệ NH 36
1.2-Phát triển nguồn Nhân Lực Đáp Ứng Yêu Cầu Đa Dạng Hoá 38
1.3-Thiết Lập Và Thực Hiện Hoạt Động Marketing 39
1.3.1-Thiết Lập Hoạt Động Marketing 39
1.3.2-Thực Hiện Hoạt Động Nghiên Cứu Thị Trường 39
1.3.3-Xây Dựng Chiến Lược Khách Hàng 39
1.4-Nâng Cao Chất Lượng Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ NH 40
2-Một Số Giải Pháp Cụ Thể Thực Hiện Trong Giai Đoạn Từ Nay Đến Năm 2005 2.1-Giải Pháp Củng Cố Và Đa Dạng Hoạt Động Huy Động Vốn 41
2.1.1-Đưa Ra Nhiều Hình Thức Huy Động Gồm Nhiều Kỳ Hạn Khác Nhau 41
2.1.2-Huy Động Vốn Thông Qua Các Hình Thức Tiền Gửi Trung Và Dài Hạn 2.1.3-Cân Đối Lại Nguồn Vốn Cho Tín Dụng Đầu Tư 42
2.2-Giải Pháp Củng Cố Và Đa Dạng Hoạt Độngï Tín Dụng 43
2.2.1-Vận Dụng Đúng Tính Chất Của Các Phương Thức Cho Vay 43
2.2.2-Mở Rộng Nghiệp Vụ Cấp Tín Dụng Dưới Hình Thức Cầm Cố Và 43
2.2.3-Aùp Dụng Phương Thức Cho Vay Luân Chuyển Vào Nghiệp Vụ Thấu Chi 2.2.4-Tham Gia Vào Hoạt Động Tín Dụng Liên Kết 44 2.2.5-Đưa Vào Hoạt Động Nghiệp Vụ tín Dụng Thuê Mua 44 2.2.6-Thực Hiện Nghiệp Vụ Tín Dụng Chứng Từ 45
2.2.7-Mở Rộng Tín Dụng Đối Với Các Doanh Nghiệp Tại Các Khu Công Nghiệp 2.2.8-Tín Dụng Tiêu Dùng 46
2.3-Giải Pháp Đa Dạng Hoạt Độngï Đầu Tư 47
2.4-Giải Pháp Đa Dạng Hoạt Động Kinh Doanh Ngoại Tệ 47
Trang 5ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
2.5-Giải Pháp Củng Cố Và Mở Rộng Dịch Vụ NH 48
2.5.1-Củng Cố Và Phát Triển Dịch Vụ Thanh Toán Qua Ngân Hàng 48 2.5.2-Cần Sử Dụng Dịch Vụ Bảo Lãnh Có Hiệu Quả 49
2.5.3-Đưa Vào Hoạt Động Dịch Vụ Thanh Toán Mua Bán Nhà 49 3-Một Số Giải Pháp Cụ Thể Thực Hiện Trong Giai Đoạn Năm 2006-2010 50
3.1-Huy Động Vốn Thông Qua Các Công Cụ Dùng Trong Thị Trường Tiền Tệ
3.2-Giải Pháp Đa Dạng Hoạt Động Tín Dụng 50 3.2.1-Tín Dụng Tài Trợ Cho Thuê 50 3.2.3-Tín Dụng Chấp Nhận 50 3.2.4-Thực Hiện Tín Dụng Thông Qua Nghiệp Vụ Mua Bán Nợ 50 3.3-Đầu tư mua bán chứng khoán 51
3.4-Thực Hiện Hợp Đồng Giao Dịch Quyền Chọn Để Mở Rộng Kinh Doanh Ngoại Tệ
3.5-Giải Pháp Đa Dạng Hoạt Động Dịch Vụ NH 52 3.5.1-Dịch Vụ Tư Vấn 52 3.5.2-Phát Triển Dịch Vụ NH Bán Lẻ 52
IV- CÁC KIẾN NGHỊ CHUNG ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 53 1-Kiến Nghị Đối Với Nhà Nước 53 2-Kiến Nghị Đối Với NH Nhà Nước 54 3-Kiến Nghị Đối Đối Với NHTM 54
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 6ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
LỜI MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
NH, phù hợp với tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế ở nước ta và thông lệ quốc tế
Quá trình đổi mới căn bản hoạt động NH đã mang lại kết quả quan trọng về
đa dạng hoá các loại hình NH Hệ thống các NHTM làm chức năng kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh và tự chủ tài chính, phát triển theo hướng đa dạng hoá, đa thành phần và đa chức năng Ngành NH đã tăng nhanh huy động vốn trong nước bằng việc mở rộng mạng lưới, đổi mới phương thức huy động như tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm và các công cụ huy động như kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, bên cạnh việc cải tiến thủ tục và có mức lãi suất phù hợp Đẩy mạnh cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật với số lượng vốn ngày càng lớn, cơ cấu đầu tư tín dụng đã thay đổi theo hướng đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng vốn cho vay trung và dài hạn để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Tuy nhiên, qua tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn Tỉnh Bình Dương trong những năm gần đây đã biểu hiện hoạt động kinh doanh chưa thực sự đa dạng, chủ yếu là các nghiệp vụ và dịch vụ NH truyền thống Trong khi, các NHTM hoạt động trên địa bàn có những tiềm năng và triển vọng phát triển theo hướng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, cung cấp nhiều hơn các nghiệp vụ và dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi cho sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, cùng với sự phát triển nhanh của các ngành kinh tế và thu hút ngày càng nhiều các dự án đầu tư nước ngoài
Trước tình hình kinh tế xã hội và môi trường hoạt động, đòi hỏi các NHTM trên địa bàn phải cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, tạo lập hệ thống hoạt động thích ứng với cơ chế thị trường, thực sự là công cụ phục vụ đắc lực cho các mục tiêu phát triển kinh tế Từ đó, việc nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và khoa học về tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn Tỉnh Bình Dương, đồng thời tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy đa dạng hoá hoạt động
Trang 7ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
kinh doanh là điều hết sức cần thiết để tìm ra hướng đi phù hợp với điều kiện kinh doanh của các NHTM và đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu cung ứng vốn và dịch vụ NH cho nền kinh tế
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài” Một số giải pháp nhằm thúc đẩy đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Tỉnh Bình Dương” để làm luận án tốt nghiệp cao học kinh tế sau những năm học tập, nghiên cứu tại Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tỉnh Bình Dương Trên cơ sở phân tích số liệu và tình hình thực hiện các nghiệp vụ và dịch vụ trong hoạt động kinh doanh để thấy được mức độ đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Thiết lập các phương án và lựa chọng phương án đa dạng hoá hoạt động kinh doanh phù hợp Từ đó, tìm ra những giải pháp nhằm góp phần đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Sử dụng phương pháp lịch sử, phân tích-tổng hợp để nghiên cứu đề tài
-Dựa vào kiến thức các môn học, đặc biệt là các môn chuyên ngành quản trị kinh doanh và trên cơ sở thông tin và số liệu thống kê, báo cáo tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Tỉnh Bình Dương, nghiên cứu thực trạng kinh doanh ngân hàng thương mại quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương để đưa ra các giải pháp
NỘI DUNG ĐỀ TÀI GỒM CÁC PHẦN
-Lời mở đầu
-Chương 1: Tổng quan về hoạt động của các Ngân hàng thương mại
-Chương 2: Thực trạng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tỉnh Bình Dương
-Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy đa dạng hoá hoạt động
kinh doanh ngân hàng của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn
Tỉnh Bình Dương
-Kết luận
-Phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 8ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
CHƯƠNG-I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I-HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1-Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại
Ngân hàng thương mại đã được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một
doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, là doanh nghiệp
tiến hành thường xuyên các nghiệp vụ huy động vốn, làm công tác tín dụng, cung
cấp phương tiện thanh toán, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung cấp các dịch
vụ tài chính khác.”
1.1-Chức năng trung gian tài chính
-NHTM huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay đáp ứng các
nhu cầu sản xuất kinh doanh, sinh hoạt và đời sống Là người đi vay, ngoài vốn tự
có, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành
nguồn vốn kinh doanh Là người cho vay, NHTM sẽ sử dụng nguồn vốn của mình
đáp ứng mọi nhu cầu về vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các khách hàng
-NHTM làm trung gian giữa đơn vị phát hành chứng khoán với những nhà
đầu tư chứng khoán NHTM làm trung gian để người cần vay vốn gặp được người
đầu tư
Thực hiện chức năng trung gian tài chính, NHTM vừa huy động triệt để
nguồn vốn trong xã hội vừa kích thích quá trình luân chuyển vốn nhằm tái sản
xuất mở rộng NHTM đã biến các khoản tiền từ chổ là phương tiện cất trữ đang
nằm trong trạng thái đứng yên được tập trung lại và trở thành nguồn vốn cho vay
phục vụ quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trường và
phát triển
1.2-Chức năng trung gian thanh toán
NHTM cung cấp cho xã hội các phương tiện thanh toán trong nước và quốc
tế Với các nghiệp vụ và dịch vụ, NH tổ chức công tác thanh toán không dùng tiền
mặt, NH không chỉ là người thủ quỹ, bảo quản tiền cho khách hàng mà còn thực
hiện thanh toán chuyển khoản, bù trừ giữa các khách hàng theo sự ủy nhiệm của
họ Qua đó, tạo điều kiện cho sự ra đời tiền ghi sổ cùng với các phương tiện thanh
toán như séc, thư tín dụng…
Trang 9ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Qua chức năng này, NHTM đã trực tiếp tiết kiệm một khoản chi phí lưu thông cho xã hội như chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển tiền Mặt khác, với quá trình thanh toán bằng bút tệ qua các NHTM đã hình thành một cơ chế tạo tiền của hệ thống NH
1.3-Chức năng cung cấp dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác
Qua thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng Các NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh đa dạng, góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh
2-Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại
NH là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và được xếp vào ngành kinh doanh dịch vụ Hoạt động kinh doanh NH được chia làm hai loại có tính chất khác nhau là hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ NH
2.1-Hoạt Động Nghiệp Vụ
“Hoạt động nghiệp vụ là những hoạt động mà NH đi tìm kiếm vốn hoặc cung ứng vốn cho khách hàng” Trong đó bao gồm các nghiệp vụ:
2.1.1-Huy Động Vốn
Đây là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM, bởi vì để có tiền cho vay và kinh doanh các lĩnh vực khác, NHTM không thể chỉ dựa vào nguồn vốn điều lệ của mình mà phải huy động vốn trên thị trường Các hình thức huy động vốn rất đa dạng để phù hợp với từng NH và từng loại khách hàng
-Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút
ra bất cứ lúc nào và không cần báo trước cho NH Mục đích của khách hàng gửi tiền thanh toán là để an toàn, tiện lợi trong thanh toán, đáp ứng các dịch vụ NH -Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ được rút tiền khi thời hạn gửi tiền ấn định đã kết thúc Nếu khách hàng rút tiền trước thời hạn quy định, NH sẽ tước bỏ tiền lãi của số tiền gửi này Tiền gửi có kỳ hạn phù hợp với những khách hàng có khoản tiền nhàn rỗi chưa sử dụng ngay
-Tiền gửi tiết kiệm: Là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền vào NH, bao gồm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn NH sẽ cấp cho khách hàng sổ tiết kiệm để khách hàng quản lý và giao dịch
-Các hình thức huy động vốn khác: NHTM phát hành các chứng chỉ tiền gửi, các giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn như kỳ phiếu NH, trái phiếu NH để huy động vốn trên thị trường phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn trong từng khoảng thời gian
Tại Việt Nam, bằng các hình thức động huy động vốn nói trên, trong những năm qua nguồn vốn huy động của các NHTM tăng lên với tốc độ rất cao, đã thu hút được nguồn vốn rất lớn trong nước để phục vụ nền kinh tế (Phụ lục 1) Tuy
Trang 10ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
nhiên, chỉ có hai hình thức huy động vốn chủ yếu và phổ biến là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm Do tiền gửi thanh toán phần lớn là tiền gửi của các tổ chức kinh tế dùng để giao dịch thường xuyên trong kinh doanh; và do tiền gửi tiết kiệm thu hút từ tiền nhàn rỗi trong dân cư với mục đích để dành, hay tiền tạm thời nhàn rỗi do người dân chưa có cơ hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nên gửi vào
NH dưới hình thức tiết kiệm để thu lãi tiết kiệm Đối với hình thức huy động bằng tiền gửi có kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu vốn huy động Do lãi suất tiền gửi chưa thực sự kích thích khách hàng gửi tiền và hình thức này kém linh hoạt vì khách hàng bị tước bỏ tiền lãi khi cần tiền phải rút trước hạn Đối với các hình thức huy động khác, các NHTM nước ta chỉ có huy động từ việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu NH theo từng khoảng thời gian kinh doanh nhất định 2.1.2-Vay Ngân Hàng Khác
Để mở rộng nguồn vốn hoạt động hoặc đáp ứng khả năng thanh toán và chi trả cho khách hàng, các NHTM có thể vay vốn của các NHTM khác trong và ngoài nước, hoặc vay của NH Trung ương dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, tái thế chấp, vay thanh toán bù trừ cả nội tệ lẫn ngoại tệ
Nghiệp vụ vay NH khác của các NHTM Việt Nam được thực hiện từ năm
1991 và được quy định bằng các văn bản pháp lý Như thông tư số 173/TT-NH ngày 30/09/1991 của NHNN hướng dẫn cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ đối với các NHTM Đến năm 1993 được mở rộng thêm hình thức vay vốn lẫn nhau giữa các NHTM khi ra đời thị trường nội tệ liên NH theo Quyết định 136/QĐ-NH2 của NHNN
2.1.3-Hoạt Động Tín Dụng Của NHTM
Đây là hoạt động chủ lực của NHTM, nguồn thu từ hoạt động tín dụng
chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp vụ của NH Tuy nhiên hoạt động tín dụng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất
-Thấu chi: Là nghiệp vụ khách hàng được NH cho phép chi vượt quá số
dư thực có trên tài khoản tiền gửi trong một giới hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng Đây là một kỹ thuật tín dụng linh hoạt, giúp khách hàng sử dụng vốn linh động và nghiệp vụ này thường áp dụng cho các khách hàng có khả năng tài chính lành mạnh và có uy tín Hạn mức thấu chi được NH tái xét tùy thuộc vào từng khách hàng
-Chiết khấu thương phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho NH để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi suất chiết khấu và phí chiết khấu thương phiếu
-Tín dụng chấp nhận: Là tín dụng mà NH chấp nhận thương phiếu, hối phiếu hoặc chứng từ có giá khác mà khách hàng lập, với điều kiện khách hàng hoàn trả tiền vay khi thương phiếu tới hạn chi trả Khác với tín dụng chiết khấu ở
Trang 11ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
chổ NH là người chi trả thương phiếu, hối phiếu Người phát hành sau khi được ngân hàng chấp nhận có thể sử dụng thương phiếu, hối phiếu đó để chi trả tiền hàng hay chiết khấu ở NH
-Tín dụng thế chấp: Tín dụng thế chấp hay còn gọi là tín dụng ứng trước Là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời gian nhất định bằng việc thế chấp các giấy tờ có giá, hàng hoá, tài sản
-Tín dụng trả góp: Hình thức cấp tín dụng mà khách hàng trả dần số tiền vay theo định kỳ, thường là cho vay tiêu dùng, trong đó chủ yếu là cho vay tiêu dùng đối với những khách hàng có thu nhập ổn định
-Tín dụng đầu tư : Các khoản cho vay trung hạn và dài hạn, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng, mua máy móc thiết bị của các dự án đầu tư
-Tín dụng bao thanh toán : NHTM tài trợ cho các khoản phải thu chưa đến hạn của doanh nghiệp dưới hình thức mua lại hoặc cho vay căn cứ vào các khoản phải thu
-Tín dụng liên kết: Khi một NH đứng ra làm NH đầu mối đàm phán với khách hàng theo các điều kiện do các ngân hàng liên kết đưa ra
-Tín dụng thuê mua: Nghiệp vụ tín dụng này được thực hiện trong việc mua máy móc thiết bị, nhà máy…Quyền sở hữu của tài sản chỉ được chuyển sang cho người thuê khi nào khoản trả góp cuối cùng đã hoàn thành
-Tài trợ cho thuê: Là một hợp đồng, trong đó khách hàng chấp nhận trả một khoản tiền thuê theo thoả thuận và được sử dụng tài sản thuộc sở hữu của
NH
-Tín dụng chứng từ: Đơn vị nhập khẩu yêu cầu NH phục vụ mở một thư tín dụng với cam kết sẽ thanh toán khi đơn vị xuất khẩu thực hiện đúng và đầy đủ những điều kiện quy định trong thư tín dụng Khi đó, NH cấp cho đơn vị nhập khẩu một khoản tín dụng
Hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam cũng được xem là hoạt động chủ lực của NHTM, lợi nhuận từ hoạt động cho vay thường chiếm khoảng 75-80% lợi nhuận của các NHTM (Phụ lục 1) Trong đó, các NHTM nước ta chủ yếu hoạt động tín dụng dưới hình thức tín dụng thế chấp và tín dụng đầu tư Đây là hai hình thức tín dụng truyền thống phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam là nước nông nghiệp, đang trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước
Cũng do điều kiện môi trường kinh tế, xã hội; nên các hình thức tín dụng khác áp dụng chưa đầy đủ và còn thực hiện ở bước khởi đầu Đối với nghiệp vụ thấu chi, là loại cho vay theo tài khoản vãng lai bắt nguồn từ các nước tư bản, được Liên Xô trước đây vận dụng vào những năm 1960 và được gọi tên là cho vay theo tài khoản đặc biệt đối với các xí nghiệp có tình hình tài chính tốt Việt Nam đã học tập Liên Xô về tài khoản cho vay đặc biệt và áp dụng đại trà bằng
Trang 12ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng đối với các công ty thương mại quốc doanh Tuy nhiên, do khuôn khổ luật pháp chưa nghiêm ngặt, chưa đồng bộ nên rất dễ xảy ra thất thoát vốn của NH do phát hành séc quá số dư, quá hạn mức tín dụng, sử dụng vốn sai mục đích,…Từ đó phương thức cho vay này bị thu hẹp dần và thay thế bằng phương thức cho vay theo từng lần Trong những năm gần đây một số NHTM đã áp dụng trở lại phương thức cho vay theo số dư, nhưng còn ở mức cầm chừng và vận dụng đầy đủ nội dung để phát huy các đặc tính ưu việt của phương thức cho vay này
Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu và tín dụng chấp nhận, các NHTM chỉ áp dụng bước đầu và đối với các loại giấy tờ có giá Do đến tháng 6/2000 Pháp lệnh thương phiếu mới được công bố và đến ngày 05/07/2001, Chính Phủ ban hành Nghị định 32/2001/NĐ-CP, hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh thương phiếu
Tín dụng trả góp, áp dụng vào Việt Nam đối với cho vay tiêu dùng và dựa vào cơ sở pháp lý cho vay thực hiện theo Quyết định số 18/QĐ-NH5 ngày 16/02/1994 của NHNN ban hành Thể lệ cho vay vốn phát triển kinh tế gia đình và cho vay tiêu dùng Hoạt động được một thời gian, sau đó các NHTM rất khó khăn trong thu hồi nợ và cho vay tiêu dùng mất dần Đến năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định về giao dịch bảo đảm 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999, không quy định trường hợp nào NHTM được phép cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, thì cho vay tiêu dùng rộ lên trở lại Tuy nhiên, một số NHTM đang triển khai thực hiện tốt, lại có nhiều ý kiến của các ngành chức năng liên quan đến người lao động NHNN Việt Nam đã ra văn bản số 938/CV-CSTT3, ngày 3/12/1999 và cho tạm ngưng loại cho vay này, với lý do:”Việc quản lý tiền lương, trợ cấp của cán bộ công nhân viên thực hiện việc khấu trừ các khoản thu nhập này để thu nợ đến hạn theo thoả thuận hoặc khi người vay không trả được nợ là chưa phù hợp ,
xa lạ với bản chất chế độ ta, bởi vì tiền lương là nguồn thu nhập cơ bản nhằm tái sản xuất sức lao động giản đơn và mở rộng cho người lao động Nếu thực hiện biện pháp này, người lao động sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về đời sống.” Ngay sau đó, ngày 29/12/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay, cho phép các NHTM cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo Trên cơ sở này, NHNN hướng dẫn cho vay không có đảm bảo bằng tài sản đối với cán bộ công nhân viên và thu nợ từ tiền lương, trợ cấp và các khoản thu nhập khác theo văn bản số 34/CV-NHNN1 ngày 07/01/2000 và số 98/CV-NHNN1 ngày 28/01/2000 Từ đó vấn đề pháp lý về cho vay tiêu dùng được quy định cụ thể, nhưng cho vay tín chấp sâu rộng đối với dân cư vẫn còn gặp khó khăn đối với các NHTM
Trang 13ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Đối với tín dụng bao thanh toán tại Việt Nam, các NHTM chưa hoạt động hình thức mua lại nợ phải thu, chỉ thực hiện cho vay căn cứ vào các khoản phải thu dưới dạng cho vay bù đắp thiếu hụt thanh toán tạm thời và ở một số NH đối với khách hàng có uy tín
Hoạt động tín dụng liên kết ở nước ta được gọi là cho vay hợp vốn, đã manh nha từ những năm 1989-1990, cho đến năm 1998 đi vào chính thức khi NHNN ban hành Quy chế đồng tài trợ theo quyết định số 154 ngày 29/04/1998, tạo cơ sở pháp lý và nghiệp vụ
cho quan hệ đồng tài trợ nói chung và cho vay hợp vốn nói riêng Qua các năm, cho vay
hợp vốn đã tạo ra nguồn vốn rất lớn để đáp ứng cho các dự án đầu tư có giá trị cao, đầu tư cơ sở hạ tầng, điện, xăng dầu, cải tạo và đổi mới máy móc thiết bị,… cho các ngành kinh tế (Phụ lục 1)
Tín dụng chứng từ trước đây là hoạt động của NH Ngoại thương, nay được thực hiện bởi hầu hết các NHTM Việt Nam và do các hội sở chính của NHTM hay các NHTM cấp Tỉnh, Thành Phố đảm trách
2.1.4-Nghiệp Vụ Đầu Tư
NHTM tham gia vốn vào các loại chứng khoán nhà nước, chứng khoán công
ty NHTM tiến hành đầu tư chứng khoán nhằm cung cấp cho NHTM tính đa dạng trong hoạt động, tăng lợi tức và giúp thanh khoản Các NHTM tham gia vào thành lập công ty và dự phần vào các cổ phiếu sáng lập, qua đó thực hiện được các nghiệp vụ tín dụng an toàn
Nghiệp vụ đầu tư của các NHTM nước ta chủ yếu là đầu tư vào tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà nước từ khi thị trường đấu thầu tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà nước chính thức khai trương đi vào hoạt động vào tháng 6/1995 Hoạt động này chủ yếu tập trung vào 3 NHTM quốc doanh là NH công thương, NH Ngoại thương và NH Đầu tư và Phát triển Hình thức huy động vốn này đã mở ra một kênh phát hành mới, huy động được hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm (Phụ lục 1), với lãi suất và chi phí huy động thấp, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu chi tiêu của ngân sách Nhà nước, cho các dự án phát triển ở trung ương và các địa phương Đối với NHTM, đây là hoạt động vừa góp phần đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh cao, sử dụng tối đa nguồn vốn huy động được, linh hoạt trong sử dụng vốn khả dụng Đồng thời có thể mua bán lại trên thị trường thứ cấp, thế chấp để vay vốn tại NHNN hay trên thị trường nội tệ liên NH, có thể chiết khấu và tham gia nghiệp vụ thị trường mở
Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, còn khá mới mẻ và hoạt động này được tách bạch thành công ty chứng khoán của các NHTM theo Thông tư hướng dẫn số 04/1999/TT-NHNN5, ngày 2/11/1999 của NHNN Để thành lập công ty chứng khoán, NHTM phải hội đủ các điều kiện: Đã có thời gian hoạt động tối
Trang 14ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
thiểu là 5 năm; hoạt động kinh doanh có lãi, có nợ quá hạn dưới 5% dư nợ cho vay; bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra nội bộ hoạt động có hiệu quả; không vi phạm các quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động NH và các quy định khác của pháp luật; vốn điều lệ không thấp hơn theo quy định của pháp luật; có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho kinh doanh chứng khoán Các công ty chứng khoán của một số NHTM như NH Đầu tư và Phát Triển, NHTM Cổ phần Á Châu, NHTM Cổ phần Quân Đội, thực hiện các loại hình: Môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư (Phụ lục 1)
Hoạt động tham gia cổ phần vào các công ty của các NHTM chưa phổ biến, một vài NHTM khi thực hiện dưới hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh như
NH Ngoại thương, NH Công thương đã áp dụng
2.1.5-Hoạt Động Kinh Doanh Ngoại Tệ
Các NHTM còn kinh doanh mua bán ngoại tệ trên thị trường hối đoái Hoạt động chủ yếu là mua bán trực tiếp với khách hàng, mua bán trên thị trường hối đoái, hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền gửi ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ có khả năng mang lại lợi nhuận lớn cho các NHTM Ngoài ra còn đáp ứng cho nhu cầu thanh toán của NH, giúp cho NHTM tự bảo vệ tài sản khi đầu tư vào một loại tiền có tính ổn định cao hơn Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM Việt Nam chỉ tham gia ở thị trường trong nước và có các loại giao dịch là giao dịch giao ngay, giao dịch có kỳ hạn và giao dịch hoán đổi Trong đó hầu hết các NHTM thực hiện giao dịch giao ngay trong kinh doanh ngoại tệ
2.2-Dịch Vụ Ngân Hàng
2.2.1-Dịch Vụ Ngân Hàng Trên Thị Trường Chứng Khoán
-Trên thị trường sơ cấp, NH cung cấp dịch vụ như tư vấn về mặt pháp luật cho việc thành lập và phát hành chứng khoán công ty, lựa chọn chứng khoán phát hành, lợi suất chứng khoán, làm đại lý phát hành chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán…
-Trên thị trường thứ cấp, NH cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ chứng khoán cho khách hàng, tư vấn về mặt giá cả chứng khoán khi mua bán, làm dịch vụ đại diện cho khách hàng trong việc lưu giữ và quản lý chứng khoán
2.2.2-Dịch Vụ Uûy Thác Cho Cá Nhân Và Các Doanh Nghiệp
Dịch vụ ủy thác thanh lý các tài sản, NH đóng vai trò giám hộ và bảo quản tài sản trong các trường hợp như tài sản thừa kế, thanh lý Dịch vụ uỷ thác,
NH sẽ đảm đương việc trợ cấp cho công nhân viên, phân chia lợi nhuận thay doanh nghiệp
2.2.3-Dịch Vụ Thanh Toán Quốc Tế
NH thực hiện nhiều dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm thanh toán chuyển tiền, thanh toán nhờ thu, tín dụng chứng từ…
Trang 15ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
2.2.4-Dịch Vụ Bảo Lãnh
NHTM nhận bảo đảm cho khách hàng như bảo lảnh để khách hàng đi vay
ngân hàng khác, để khách hàng mua chịu hàng hoá, đấu thầu, đặt cọc,…
2.2.5-Dịch Vụ Thẻ Từ , Thẻ Tín Dụng
NH cung cấp thẻ trong đó có chứa một mã số nhận dạng cá nhân bí mật, cho
phép khách hàng thực hiện những giao dịch tài chính thông qua tài khoản của họ
bằng cách sử dụng hệ thống thu phát ngân tự động tại các máy rút tiền Đối với
thẻ tín dụng, khách hàng dùng thẻ tín dụng thanh toán các khoản chi trong hạn
mức tín dụng
2.2.6-Những Dịch Vụ Ngân Hàng Khác
-Dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản an toàn vật có giá theo yêu cầu khách
hàng
- Dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này sang tài
khoản khác ở cùng hoặc khác NH thông qua phương tiện như séc, lệnh chi
-Dịch vụ thu hộ và chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh
toán tại NH thông qua lệnh của chủ tài khoản Dịch vụ chi lương cho các doanh
nghiệp theo nhu cầu chi hộ tiền lương hàng tháng cho doanh nghiệp, tiền chi hộ
được trích từ tài khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp
-Dịch vụ khấu trừ tự động, theo đó nếu khách hàng yêu cầu, NH sẽ tự
động trích tài khoản khách hàng để thanh toán các hoá đơn đòi tiền do các cơ
quan dịch vụ khác gửi đến như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền thuê nhà…
-Dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ, kinh tế, luật pháp và các thông tin kinh
tế Dịch vụ thiết lập dự án đầu tư, phân tích kinh tế, đàm phán trong ký kết hợp
đồng,…
Dịch vụ NH rất đa dạng, mỗi dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong mối
liên hệ hỗ trợ lẫn nhau và tạo điều kiện cho các nghiệp vụ NH phát triển ngày
càng đa dạng; đem lại cho nền kinh tế bằng những đóng góp tích cực, có tác dụng
thúc đẩy nền kinh tế phát triển Chẳng hạn như thanh toán qua NH tạo cho sự lưu
thông hàng hoá và tiền tệ nhanh chóng, an toàn và tiện lợi Sử dụng dịch vụ NH
qua điện thoại, internet có những ưu thế vượt trội, giảm chi phí xây dựng nhiều
chi nhánh, giảm thời giản và tiết kiệm nhiều chi phí cho xã hội (Phụ lục 2) Dịch
vụ thanh toán quốc tế giúp cho hoạt động ngoại thương tiến hành trôi chảy, tăng
thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất và tiêu
dùng trong nước (Phụ lục 1) Dịch vụ thẻ thanh toán đem lại sự tiện lợi, an toàn
cho người sử dụng, giúp cho NH làm phong phú các hình thức thanh toán, tăng
hiệu quả thanh toán, mở rộng đối tượng và tăng doanh số thanh toán;… Tuy nhiên, để dịch vụ NH ra đời và phát triển đòi hỏi có những điều kiện
tương ứng Từ điều kiện nền kinh tế (Phụ lục 2), nên các NHTM Việt Nam thường
hoạt động trong các dịch vụ truyền thống như thanh toán, chuyển tiền Các dịch
Trang 16ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
vụ NH trên thị trường chứng khoán, dịch vụ ủy thác cho cá nhân và các doanh nghiệp, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ thanh toán, dịch vụ tư vấn là còn mới mẻ Như dịch vụ NH trên thị trường chứng khoán chỉ mới xuất hiện ở một vài NHTM từ hai năm trở lại đây Đối với dịch vụ thanh toán quốc tế, phần lớn các NHTM Việt Nam còn non trẻ với tuổi trưởng thành khoảng 10 năm so với tuổi hàng trăm năm của các NH nước ngoài Do trước năm 1990 thanh toán quốc tế của Việt Nam chỉ thực hiện qua NH Ngoại thương, nên so với NH nước ngoài, các NHTM Việt Nam còn thiếu nhiều kinh nghiệm Dịch vụ thẻ thanh toán, thị trường Việt Nam chỉ mới có một tỷ lệ rất nhỏ sử dụng và chỉ khoảng trên 10 NHTM thực hiện Dịch vụ bảo lãnh được NHTM sử dụng, nhưng chưa thường xuyên và phần lớn là bảo lãnh vay nợ Dịch vụ cho thuê két sắt chỉ NH Công thương thực hiện; dịch vụ ủy thác, dịch vụ khấu trừ tự động, dịch vụ tư vấn, chưa được triển khai để áp dụng rộng rãi vào Việt Nam
II-SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NGÂN HÀNG
Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh NH là “NHTM thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ, dịch vụ cho tất cả các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế”
Đa dạng hoạt động kinh doanh NH là yêu cầu khách quan của nền kinh tế Bởi vì -Nền kinh tế thị trường càng phát triển, Số lượng doanh nghiệp tăng lên, thu hút đầu tư nước ngoài tăng cao, đời sống dân cư được nâng dần Do đó, những đòi hỏi đa dạng hoạt động kinh doanh NH để đáp ứng nhu cầu cung cấp nhiều loại nghiệp vụ và dịch vụ nhanh chóng, linh hoạt và có chất lượng Đặc biệt, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đòi hỏi các NHTM phải trở thành trung gian tài chính hiệu quả để có thể huy động được nhiều nguồn lực trong và ngoài nước, mở rộng đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh, phát triển các hoạt động kinh doanh truyền thống như đẩy mạnh hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán, ngân qũy, chiết khấu, kinh doanh ngoại hối; việc đa dạng hoá để tăng sức mạnh và tiềm lực cho các NHTM là yêu cầu hết sức cần thiết để phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế
-Với xu hướng chung là xây dựng hệ thống NHTM thực hiện tất cả các hoạt động NH phục vụ cho mọi đối tượng từ các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đến người tiêu dùng trên các thị trường khác nhau Nhằm thực hiện được tất cả các dịch vụ cần thiết phục vụ khách hàng trong thời gian ngắn nhất, tạo ra lợi thế so với các NHTM truyền thống, giảm đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên gọn nhẹ, giảm đến mức tối đa chi phí hoạt động NH và tiết kiệm được chi phí giao dịch cho khách hàng Các NHTM tập trung phát triển các dịch vụ hiện
Trang 17ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
đại theo từng bước như chuyển tiền nhanh, dịch vụ NH tại nhà, NH điện thoại, NH Internet, NH điện tử,…
-Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh diễn ra sôi động không chỉ giữa các NHTM mà kể cả các tổ chức kinh doanh về hoạt động cho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm, qũy đầu tư và phát triển, công ty tài chính, và sự gia nhập của các tổ chức này đã gây ra sự suy giảm thị phần của các NHTM Do vậy, trong quá trình đó NHTM nào vận dụng khai thác và có lợi thế bằng hoạt động kinh doanh có chất lượng cao thì sẽ tồn tại và phát triển, thị phần ngày càng mở rộng, đạt được lợi nhuận cao và để tạo ra vị thế của mình trong cạnh tranh buộc các NHTM phải thay đổi, cải tiến hoạt động sao cho thích ứng với yêu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nền kinh tế Ngược lại, các NHTM với hoạt động đơn lẻ, kém chất lượng thì không tránh khỏi sự thua thiệt
-Xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế đã tạo nên một nền kinh tế thế giới ngày càng liên kết chặt chẽ Trong đó, diễn biến thị trường tài chính một nước có ảnh hưởng quan trọng đến thị trường tài chính nước khác Bên cạnh, thị trường tài chính thế giới đang thay đổi nhanh chóng với những công cụ tài chính mới cùng với công nghệ NH có những bước tiến nhảy vọt Từ đó làm cho hoạt động của NH Việt Nam phải đổi mới, tiến kịp, hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế giới
III-ĐIỂM QUA MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH ĐA DẠNG HOÁ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1-Các NHTM Trên Thế Giới
Vào những năm 70, hầu hết các NHTM trên thế giới đều chịu sự quản lý hết sức chặt chẽ của Chính phủ thông qua việc ấn định lãi suất tiền gửi, quản lý chặt chẽ chuyển đổi ngoại tệ, hạn chế mở thêm chi nhánh, giới hạn mức cho vay tối đa cũng như giới hạn phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính Những hạn chế này đã tạo điều kiện cho các NHTM kinh doanh thuận lợi Các NHTM không phải ứng phó với với những biến đổi đột xuất từ thị trường Tính cạnh tranh trong kinh doanh không căng thẳng, vì Chính phủ khống chế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của các NHTM được tiến hành trôi chảy Các NHTM vẫn an tâm hoạt động theo quan điểm “bán cái gì ngân hàng mình có”, không cần quan tâm đến thị trường, không quan tâm đến nhu cầu của khách hàng
Sau thời kỳ này, thị trường tài chính tại hầu hết các nước đã thay đổi do nới lỏng quản lý của chính phủ Việc cho phép luân chuyển vốn tự do giữa các nước châu Âu vào những năm 80, giảm đáng kể các điều kiện thành lập các NHTM mới trong và ngoài nước đã làm tăng nhanh chóng số lượng các thành viên mới tham gia thị trường NH, những chính sách của chính phủ nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các NH Tất cả điều kiện đó đã tạo nên không khí cạnh tranh sôi nổi và buộc các NHTM phải quan tâm đến thị trường, đến khách hàng
Trang 18ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Các NHTM chú ý hơn đến việc đa dạng hoá hoạt động và phát triển danh mục các nghiệp vụ và dịch vụ mới bên cạnh việc chú ý mở rộng thêm các chi nhánh mới
Bên cạnh các yếu tố cạnh tranh, những thay đổi lớn trong môi trường văn hoá, xã hội và công nghệ vào nửa cuối thập kỷ 80 đã thúc đẩy các NHTM phải xác định kỹ lưỡng vị thế cạnh tranh của NH mình trên thị trường, đồng thời phát hiện cơ hội kinh doanh phù hợp nhằm đảm bảo những dịch vụ chào bán thu lợi nhuận Các NHTM phải đa dạng hoạt động kinh doanh để đáp ứng cho xu hướng tiêu dùng mới có trình độ dân trí ngày càng cao cũng như sự hiểu biết về kinh tế của khách hàng
Từ những năm 90 đến nay, qua thực tế đã chứng minh cho thấy NH nào có khả năng điều chỉnh quá trình cung ứng dịch vụ và danh mục dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường với tốc độ nhanh nhất, NH đó sẽ thành công, Các NHTM sử dụng các công cụ mới giúp họ ứng phó với thị trường một cách tốt hơn, đảm bảo chào bán cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất, đảm bảo tính thanh khoản cao, rủi ro trong kinh doanh thấp và lợi nhuận thu được ngày càng cao Sự ứng dụng rộng rãi công nghệ tin học hiện đại trong lĩnh vực NH đã phát triển hệ thống dịch vụ NH sang một thời kỳ mới, trong đó cho phép các NHTM chào bán các dịch vụ
NH điện tử rất hiện đại
2-Các NHTM Của Một Số Nước Đông Nam Aù
Sau cuộc khủng hoảng vừa qua, các NHTM của một số nước Đông Nam Á đã mất đáng kể nguồn thu nhập của NH có được từ mức chênh lệch lãi suất trong các khoản cho vay sản xuất, xây dựng, kinh doanh bất động sản Bởi do sự cạnh tranh quyết liệt hơn từ các thị trường chứng khoán, mức chênh lệch lãi suất ngày càng thu hẹp và các quy chế khắc khe hơn làm hạn chế các NHTM mở rộng cho vay Trong các quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh bởi cuộc khủng hoảng thì nhu cầu tìm các nguồn thu nhập mới là vấn đề sống còn của các NHTM Thậm chí các quốc gia như Singapore và Philippines, nơi các NHTM ít bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng cũng có nhu cầu bức xúc về đổi mới, tái cơ cấu để thích nghi với cuộc cạnh tranh mới và sự thay đổi của điều kiện thị trường Để bù đắp sự giảm thu nhập do tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm, các NHTM đã tìm cách mở rộng cung cấp các nghiệp vụ, dịch vụ NH, định hướng lại hàng loạt các hoạt động, hướng đến người tiêu dùng và đầu tư mạnh vào công nghệ
Tại Thái Lan NH Standard Charterd Nakornthon ở Băng cốc, định hướng lĩnh vực then chốt cần đẩy mạnh là cho vay tiêu dùng; NH Citibank ở Thái Lan và tại các nước Đông Nam Á khác có hơn một nửa các khoản cho vay là cho vay tiêu dùng hay dịch vụ ngân hàng bán lẻ và từ đó làm thay đổi về cơ cấu một cách tích cực trong định hướng đầu tư của các NHTM
Trang 19ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Đối với các NH nhỏ của Thái Lan, như Bank of Asia có chi phí vốn và chi phí nghiệp vụ cao vào năm 1995, NH này đã đổi hướng hoạt động bằng cách tập trung sử dụng công nghệ mới, kết nối và tập trung dữ liệu trong toàn hệ thống để cung cấp dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng Bank of Asia đã đạt được nhiều kết quả đáng kể trong gia tăng cổ tức, tăng gấp đôi lượng khách gửi tiền từ 450.000 lên 900.000 khách hàng, cắt giảm chi phí huy động vốn, chi phí nghiệp vụ giảm, chi phí tiền lương từ 55% trong tổng chi phí vào năm 1995 giảm còn 30% vào năm
2000 (Phụ lục 3)
Các NHTM tại Thái Lan đang cung ứng nhiều hơn các quyền lựa chọn vay lẻ Những nghiệp vụ mà trước đây họ ít để ý đến, nay đã mở các trang Web để cung ứng cho vay tiêu dùng và cho vay thế chấp Thai Farmers Bank và NHTM Siam đã bắt đầu phát triển dịch vụ NH điện tử từ tháng 5 năm 2000 (Phụ lục 3) Một số NH Thái Lan khác đã học tập để tham gia vào thị trường ngày càng đa dạng, như Thai Military Bank đã bắt đầu mở cửa vào những ngày thứ bảy để phục vụ khách hàng và đây cũng là NH đầu tiên của Thái Lan phát triển dịch vụ NH điện thoại di động
Tại một số nước khác như Singapore, có thị trường NH phát triển hơn cũng đang có nhiều thay đổi, tính cạnh tranh ngày càng cao Do Chính phủ nước này sẽ mở cửa thị trường NH vào năm tới, nên các NHTM Singapore phải chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để ứng phó với điều kiện cạnh tranh mới Singapore đã đi trước một bước trong cung ứng các dịch vụ tài chính qua internet, như Overseas Union Bank đã đầu tư khoảng 175 triệu USD (Phụ lục 3), để mua các hệ thống cung cấp các dịch vụ mới, phát triển các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hiện đại, bao gồm các dịch vụ NH internet và giao dịch cổ phiếu trực tuyến
3-Các NHTM Việt Nam
- Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã khai trương hệ thống NH bán lẻ VCB-2010 vào tháng 10 năm 1999 nhằm thay đổi quy trình xử lý nghiệp vụ của
NH theo hệ thống chuẩn hoá, khoa học, cung cấp nhiều dịch vụ hiện đại như trả lương tự động, quản lý vốn tự động, thanh toán thẻ Với mô hình một cửa trong giao dịch, khách hàng được cung cấp nhiều loại dịch vụ tại một quầy với thời gian phục vụ giảm tối đa Hệ thống VCB-2010 là nền tảng để xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ NH điện tử cho khách hàng
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ, ngân hàng tại nhà qua thực hiện nối mạng với một số khách hàng lớn để cung cấp dịch vụ NH tại nhà Thành lập công ty chứng khoán cung cấp 5 loại hình kinh doanh (Phụ lục 3), tham gia hoạt động bảo hiểm dưới hình thức công ty liên doanh bảo hiểm
Trang 20ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu với việc triển khai dịch vụ thanh toán tiền mua bán nhà qua NH từ năm 1997, phát hành thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thẻ cho vay trả góp NHTM cổ phần Á Châu cũng được xem như điển hình về phát triển dịch vụ NH, ngày 20/12/2000 đã phát hành thẻ tín dụng đầu tiên ở Việt Nam với mô hình mới là thẻ liên kết SaiGonTouris-ACB và thẻ SaiGonCo.op-ACB, hiện có hơn 2000 đại lý thanh toán Dịch vụ NH tại nhà cũng được cung cấp qua nối mạng với khách hàng; tạo thuận lợi cho khách hàng truy cập các thông tin về số dư tài khoản , tỷ giá ngoại tệ, lãi suất, các sản phẩm dịch vụ NH, biểu phí dịch vụ Với lợi thế có hệ thống mạng lưới rộng đã tạo dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tìm đối tác, tính đến tháng 3 năm 2001 đã thu hút 50 doanh nghiệp (Phụ lục 3)
-Có một số NHTM cổ phần đã chú ý quan tâm đến sức mua của khách hàng NHTM cổ phần Á Châu và NHTM cổ phần Sài gòn Thương tín đưa vào hoạt động tín dụng các khoản vay mới như cho vay theo dự án BOT; cho vay mua hàng trả góp; cho vay đối với cán bộ, công nhân viên trả dần từ lương; cho vay hộ kinh doanh ở các chợ trả lãi và góp vốn mỗi ngày, tuần; cho vay mua nhà trả góp với thời hạn đến 10 năm,…
- Các chi nhánh NH nước ngoài như Chi nhánh CitiBank tại Việt Nam cung cấp dịch vụ bao gồm việc chi trả và thu nhận nội địa, giúp khách hàng nhận và chuyển tiền ngay trong ngày ở 61 tỉnh thành trong cả nước Hongkong Bank cung cấp dịch vụ NH điện thoại, giúp khách hàng truy cập vào tài khoản 24/24 và cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ khách hàng (Phụ lục 3)
4-Một Số Tác Dụng Của Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NH
Từ kinh nghiệm thực tế của các NHTM, một lần nữa cho thấy đa dạng hoá
hoạt động kinh doanh là hết sức cần thiết cho các NHTM trong điều kiện kinh doanh có nhiều biến đổi theo xu hướng phát triển và có sự cạnh tranh rất lớn Đồng thời cho thấy đa dạng hoá hoạt động kinh doanh có tác dụng rất lớn đối với NHTM, được thể hiện qua một số mặt như sau:
4.1-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Phân Tán Và Giảm Thiểu Rủi Ro
kinh doanh của NHTM
Theo nghiệp vụ truyền thống, NHTM thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, trong khi hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro Vì quản lý hoạt động tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài khó kiểm soát như diễn biến các yếu tố của nền kinh tế, hoạt động của khách hàng, luật pháp…, NH ở thế bị động sau khi cung cấp tín dụng cho khách hàng Trên thực tế có nhiều NHTM đầu tư tín dung nhưng không thu hồi được nợ, lợi nhuận kém, thậm chí bị mất vốn dẫn đến phá sản Trong khi có những NHTM đa dạng hoá hoạt động sẽ làm giảm đi những bất trắc và hạn chế rủi ro kinh doanh
Trang 21ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
4.2-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Làm Tăng Lợi Nhuận NHTM
Khi thực hiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, với việc quản lý hữu hiệu các hoạt động NHTM sẽ có thêm thu nhập Mặt khác, NHTM sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng; từ đó giảm các chi phí quản lý, chi phí hoạt động, góp phần tăng thêm lợi nhuận
4.3-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Thúc Đẩy Các Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ NH Cùng Phát Triển
Các nghiệp vụ và dịch vụ của NHTM có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại nhau tạo thành một thể thống nhất và thúc đẩy nhau cùng phát triển Nghiệp vụ huy động vốn tạo nguồn vốn cho việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng và phát triển dịch vụ Ngược lại, nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ hoạt động hữu hiệu sẽ tạo điều kiện để thu hút khách hàng cho nghiệp vụ huy động vốn bằng các nguồn tiền nhàn rỗi của khách hàng
4.4-Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh Sẽ Làm Tăng Khả Năng Cạnh Tranh Của Các NHTM Trong Nền Kinh Tế THị Trường
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều NHTM với các hình thức sở hữu khác nhau, đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt NHTM nào muốn tồn tại và phát triển, đạt được lợi nhuận cao, tạo được vị thế của mình trong cạnh tranh đều phải thay đổi cũng như cải tiến các hoạt động sao cho đáp ứng kịp thời, phục vụ tốt các nhu cầu đa dạng của khách hàng Để đạt được điều này NHTM phải đa dạng hóa hoạt động kinh doanh Qua đó giúp cho các NHTM giữ được khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng mới trên các thị trường khác nhau, sẽ làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng trưởng hoạt động kinh doanh , ứng phó tốt hơn khi những điều kiện môi trường thay đổi và làm tăng khả năng cạnh tranh của các NHTM trong nền kinh tế thị trường
Tóm lại: Hoạt động kinh doanh của NHTM rất đa dạng và ngày càng phát
triển theo xu hướng hoạt động kinh doanh của NHTM hiện đại Hoạt động kinh tế ngày càng có những biến đổi và phát triển, đòi hỏi những nhu cầu càng cao trong giao dịch đối với các NHTM Mặt khác, cạnh tranh trong kinh doanh và xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đã làm cho việc đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của các NHTM trở thành tất yếu; cũng như đem đến những tác dụng mạnh mẽ cho các NHTM
Trang 22ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
1-Quá Trình Hình Thành Các NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Sau khi chuyển sang hệ thống NH hai cấp, Tỉnh Sông Bé (cũ) ngoài Chi nhánh NHNN, chỉ có hai chi nhánh NHTM là 1 Chi nhánh NH Phát triển Nông nghiệp cấp tỉnh (hiện nay là NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) với 8 chi nhánh cấp huyện, thị và 1 Chi nhánh NH Đầu tư và Phát triển cấp tỉnh Đến năm
1993, Chi nhánh NH Công thương tỉnh và NH Thương mại cổ phần Mai Phương được thành lập để cùng với các chi nhánh hiện có đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương
Cuối năm 1996, sau khi tách Tỉnh Sông Bé thành hai và trên địa bàn Tỉnh Bình Dương có 3 chi nhánh cấp tỉnh là NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với 4 chi nhánh NH cấp huyện, NH Đầu tư và Phát triển, NH công thương, các NHTM cổ phần có NHTM cổ phần Mai Phương và Chi nhánh NH Thương mại cổ phần Việt Hoa
Năm 1999, Chi nhánh NH Ngoại thương được thành lập Với chương trình cải cách, đổi mới cơ cấu một cách toàn diện và mạnh mẽ hệ thống NH bao gồm đổi mới cơ cấu NHNN, cơ cấu NHTM quốc doanh, cơ cấu lại hệ thống NHTM cổ phần, xây dựng NH chính sách, tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại Các NHTM cổ phần trên địa bàn tỉnh Bình Dương không đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình cơ cấu lại nên đã ngừng hoạt động vào năm
2000 Hiện nay hệ thống các NHTM trên địa bàn chỉ có các NHTM quốc doanh, đã phát triển nhanh về mạng lưới hoạt động và tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh
2-Đặc Điểm Hoạt Động Của Các NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
2.1-Mạng Lưới Hoạt Động
-NHTM cấp tỉnh: 4 NH là NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, NH Đầu tư và Phát triển, NH Công thương và NH Ngoại thương
-NHTM cấp huyện, thị: Có 9 NH, gồm 7 NH tại 7 huyện, thị thuộc NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; 2 NH tại 2 khu công nghiệp, trong đó có 1 NH thuộc NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và 1 NH thuộc NH Công thương
Trang 23ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
-Phòng giao dịch NH: Có 9 phòng giao dịch, gồm 7 Phòng giao dịch của NH
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 1 Phòng giao dịch của NH Công thương và
1 phòng giao dịch của NH Đầu tư và Phát triển
Tóm lại: Mạng lưới hoạt động kinh doanh của các NHTM (Sơ Đồ-Mạng
Lưới Hoạt Động) rộng Khắp Địa Bàn Tỉnh Đây là điều kiện thuận lợi cho các
NHTM khai thác được nguồn vốn trong dân cư, mở rộng hoạt động kinh doanh
đến các đối tượng khách hàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho các doanh
nghiệp và dân cư trong tỉnh
2.2-Tổng Nguồn Vốn Hoạt Động Kinh Doanh
BẢNG A-TỔNG NGUỒN VỐN HOẠT ĐỘNG
ĐVT: Triệu đồng
Như vậy, tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn
tăng trưởng nhanh Năm 1999 tốc độ tăng về cân đối tài sản là 20, 92% so với
năm 1998, trong đó do tăng do NH Ngoại thương mới thành lập là 1,92%, còn lại
19% là tốc độ tăng của 3 NHTM hoạt động trước đó Năm 2000, tính chung 4
NHTM tăng 56,61% so với năm 1999 là do sự mở rộng mạng lưới cũng như tăng
quy mô kinh doanh
2.3- Các NHTM là Các Các NHTM Quốc Doanh
Các NHTM trên địa bàn Tỉnh Bình Dương hiện tại là các NHTM quốc
doanh, với mức độ tập trung thị phần rất cao Được biểu hiện qua một số yếu tố
2-Tỷ trọng vốn hoạt động bình quân
Nguồn : Bảng cân đối tài sản của NHNN Bình Dương năm 1998, 1999, 2000
-Mức độ tập trung thị phần cao là do yếu tố lịch sử, theo phân công trong cơ
chế cũ, các NHTM thực hiện các nghiệp vụ và dịch vụ theo chiều ngang từ đầu tư
Trang 24ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
xây dựng - sản xuất nguyên liệu - chế biến sản phẩm - xuất nhập khẩu hàng hoá Các NHTM hoạt động chuyên sâu theo từng lĩnh vực; trong đó, NH Đầu tư và Phát triển tập trung vào cho vay xây dựng cơ bản theo khế hoạch của Nhà nước và cho vay các dự án, khách hàng của NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc vùng nguyên liệu và chuyên phục vụ trong ngành nông-lâm-thủy sản, Khách hàng của NH Công thương thuộc lĩnh vực chế biến sản phẩm và phục vụ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng bằng Đồng Việt Nam, khách hàng của NH Ngoại thương thuộc lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu và chuyên về các hoạt động NH liên quan đến sử dụng ngoại tệ
-Khi bước sang hoạt động theo cơ chế thị trường, khách hàng được quyền tự chọn NH để giao dịch, các NHTM đã đưa vào hoạt động những nghiệp vụ và dịch vụ cần thiết như nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu, đầu tư tín dụng trung và dài hạn…, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và không còn ranh giới phân chia theo từng lĩnh vực hoạt động Tuy vậy, mỗi NHTM đều có lợi thế riêng nhờ vào mối quan hệ lâu dài với các khách hàng quen thuộc, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn có khối lượng giao dịch cao
-Các NHTM sử dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh hiện đại hơn so với các Tổ chức tín dụng khác hiện nay trên địa bàn là NH Phục vụ Người Nghèo và Qũy Tín dụng Nhân dân Các nhân viên NHTM có kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao hơn so với các nhân viên của các Tổ chức tín dụng khác
-Từ cuối năm 1998, hệ thống các NHTM quốc doanh Việt Nam tăng vốn điều lệ lên gấp đôi và đạt 5.500 tỷ đồng theo Quyết định số 985/QĐ-TTg ngày 24/09/1998 của Thủ tướng Chính phủ và được NHNN cho vay tái cấp vốn 3.350 tỷ đồng để bù đắp những khoản nợ khoanh, cũng như làm tăng sức mạnh cho các NHTM quốc doanh
-Chính phủ và NH Nhà nước tạo điều kiện mở rộng tín dụng cho các NHTM quốc doanh thông qua các dự án, các khoản tín dụng thuộc khoản cho vay khác như cho vay vốn đặc biệt, cho vay thanh toán công nợ, cho vay đầu tư xây dựng cơ bản theo kế hoạch của Nhà nước, làm tăng thị phần dư nợ tín dụng của các NHTM quốc doanh Cụ thể, trong những năm vừa qua, các NHTM tại Bình Dương đã cho vay thuộc khoản cho vay đầu tư xây dựng cơ bản theo kế hoạch của Nhà nước đã tăng trưởng như sau:
Trang 25ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
BẢNG C- DƯ NỢ THUỘC KHOẢN CHO VAY KHÁC CỦA CÁC NHTM
ĐVT: Triệu đồng
KHOẢN MỤC TÍNH 1998 1999 2000
Nguồn : Tính từ Bảng cân đối tài sản của NHNN Bình Dương năm 1998,1999,2000
II-THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI HỆ THỐNG
CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
1-Nghiệp Vụ Huy Động Vốn
Huy động vốn của các NHTM tại Bình Dương bình quân qua các năm chiếm 94,92% tổng vốn huy động trên địa bàn tỉnh và tăng trưởng liên tục từ 17,91% năm 1999 lên 31,59% năm 2000 Vốn huy động bằng đồng Việt Nam chiếm tỷ trọng chủ yếu, với mức tăng so với năm trước của năm 1999 là 15,57%, năm 2000 là 22,16% Tỷ trọng huy động vốn bằng ngoại tệ nâng dần lên trong cơ cấu vốn huy động, từ 4,29% năm 1998, đến 6,19% năm 1999, lên 12,92% năm 2000 (Bảng 1)
BIỂU ĐỒ 1- CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG QUA 3
NĂM
1998-1999-2000
NĂ
PHAT HANH GIAY TO
CO GIANguồn : Bảng cân đối tài sản của NHNN Bình Dương năm 1998,1999,2000
Trang 26ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
1.1-Tiền Gửi Thanh Toán
Nguồn tiền gửi thanh toán của các NHTM tại địa bàn Bình Dương tăng dần
tỷ trọng qua các năm, từ 18,82% năm 1998, lên 27,26% năm 1999 và 29,02% năm
2000, đạt mức huy động tương ứng là 129.002 triệu đồng, 220.380 triệu đồng và 308.715 triệu đồng (Bảng 4) Tiền gửi thanh toán có tốc độ tăng trưởng cao, tăng 70,83% năm 1999 so với năm 1998 và 40,08% năm 2000 so với năm 1999 (Bảng 5) Tiền gửi thanh toán tăng lên trong những năm qua do các yếu tố:
-Những năm vừa qua, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động có quy mô và chất lượng hoạt động ngày càng tăng, có 1.605 đơn vị sản xuất kinh tăng từ năm 1998 đến năm 2000 (Bảng 22 ) Các doanh nghiệp duy trì số tiền gửi lớn để thực hiện các giao dịch kinh tế qua tài khoản tại các NHTM
-Các NHTM mở rộng quy mô hoạt động, NH Ngoại thương được thành lập vào cuối năm 1999 và đầu năm 2000 thành lập 2 chi nhánh thuộc NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và NH Công thương tại khu công nghiệp, đã thu hút được các khách hàng là các doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi thanh toán
-Tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng lên, do chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước được thông thoáng hơn Từ năm 1999, NHNN đã thay đổi chính sách về quản lý ngoại hối, giảm lượng kết hối từ 80%, xuống còn 50%, rồi 40% theo Quyết định 61/2001/QĐ-TTg, ngày 25/04/2001 của Chính phủ về nghiệp vụ bán và mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức Tỷ lệ kết hối giảm làm giảm rủi ro tỷ giá đối với các doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tại các NHTM
-Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp tăng lên 18,37% năm 1999 và 29,63% năm 2000 (Bảng 27) Trong bối cảnh kết hối giảm dần, một lượng ngoại tệ của các doanh nghiệp được tồn trữ để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán hàng hoá nhập khẩu cũng tăng lên, góp phần tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn tại các NHTM trên địa bàn
Đây là nguồn vốn có tính luân chuyển cao, loại tiền gửi không kỳ hạn các NHTM có thể sử dụng một tỷ lệ nhất định để cho vay trung dài hạn, tỷ lệ an toàn theo quy định được phép sử dụng tối đa là 25% trên số vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn Khi sử dụng được nguồn vốn này cho vay trung dài hạn sẽ rất thuận lợi cho các NHTM vì có chi phí đầu vào thấp, tạo cho NHTM tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên, việc sử dụng thiếu cân nhắc nguồn vốn này cũng dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán của các NHTM
Trang 27ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
1.2-Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng thấp nhất trong cơ cấu huy động vốn, có tỷ trọng cao nhất trong 3 năm là 5,65% với mức 45.652 triệu đồng vào năm 1999 và giảm dần tỷ trọng vào năm 2000 chỉ còn 4,28% , ở mức 45.489 triệu đồng (Bảng 4) Hầu hết huy động vốn có kỳ hạn là các khoản tiền gửi dưới 12 tháng, hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên chỉ thực hiện đối với huy động bằng Đồng Việt Nam Tuy nhiên, năm 1998, 1999 không thực hiện, đến
năm 2000 chỉ thực hiện được 37 triệu đồng (Bảng 2) Do vậy, hình thức huy động
tiền gửi có kỳ hạn thực tế của các NHTM tại địa bàn tỉnh Bình Dương là huy động vốn ngắn hạn
Nguồn tiền gửi có kỳ hạn đóng vai trò quan trọng cho các NHTM trên địa
bàn trong thực hiện kế hoạch tín dụng, giúp NHTM thuận lợi cân đối được nguồn vốn và sử dụng vốn cho vay hơn nguồn huy động không kỳ hạn Đặc biệt là trong điều kiện vốn còn thấp, nhu cầu vốn tín dụng tăng nhanh, việc sử dụng vốn có kỳ hạn sẽ tạo được khả năng thanh khoản tốt hơn Nhưng hoạt động huy động vốn có kỳ hạn rất thấp, chưa phát huy được ưu thế của nguồn vốn này để tạo thuận lợi cho các NHTM trên địa bàn Nguyên nhân chủ yếu là sự thiếu linh hoạt cho khách hàng khi rút vốn trước hạn không được hưởng lãi; trong khi lãi tiền gửi thời gian qua thường điều chỉnh theo xu hướng giảm dần Mặt khác, với kỳ hạn dài nhưng tiền gửi chưa được bảo hiểm nhằm bảo toàn giá trị và có lãi thực sự cho khách hàng
1.3-Tiền gửi tiết kiệm
Trong các hình thức huy động vốn, tiền gửi tiết kiệm có tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định, tăng 33,99% năm 1999 và 39, 24 % năm 2000 (Bảng 5) Là hình thức huy động chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn huy động và tăng dần tỷ trọng qua từng năm, từ 47,28% năm 1998, 53,72% năm 1999, tăng lên 56,84% năm 2000; có mức huy động tương ứng là 324.097 triệu đồng, 434.249 triệu đồng, 604.648 triệu đồng (Bảng 4) Trong đó, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm tỷ trọng rất cao và tăng từ 92,72% năm 1998, lên 92,71% năm 1999 và 93,61% năm 2000 (Bảng 3) Đối với tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, do việc điều chỉnh tăng lãi tiền gửi tiết kiệm vào những tháng cuối năm 2000 và tỷ giá hối đoái tăng đã thu hút được dân cư gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tăng lên, nên tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ nâng cao trong cơ cấu huy động vốn ngoại tệ, từ 54,40% năm 1998 tăng lên 65,50% năm 1999, 66,72% năm 2000, từ đó góp phần tăng nguồn vốn huy động
Trang 28ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn huy động chủ yếu và đóng vai trò quan trọng đối với các NHTM trên địa bàn, thu hút khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư và tăng cao liên tục qua từng năm để đưa vào cân đối đáng kể nhu cầu vốn tín dụng tăng mỗi năm càng cao Tuy nhiên, đến nay hình thức huy động vốn bằng tiết kiệm chỉ có các kỳ hạn ngắn hạn thường là 3 tháng, 6 tháng,12 tháng, chưa có hình thức huy động kỳ hạn dài để tạo nguồn vốn dài hạn cho hoạt động kinh doanh
1.4-Huy Động Bằng Phát Hành Giấy Tờ Có Giá
Hình thức huy động bằng phát hành các giấy tờ có giá có tốc độ giảm dần qua các năm, giảm 46,91% năm 1999 và 2,96% năm 2000 (Bảng 5) Do đó, chiếm tỷ trọng thấp và tỷ trọng giảm dần, từ 29,68% năm 1998, 13,36% năm 1999 và còn 9,86% năm 2000; mức huy động đạt tương ứng 203.471 triệu đồng, 108.025 triệu đồng và 104.831 triệu đồng (Bảng 4) Hình thức huy động này chỉ thực hiện đối với việc huy động bằng đồng Việt Nam, chưa thực hiện trong huy động vốn bằng ngoại tệ, trong khi xu hướng huy động vốn bằng ngoại tệ có xu hướng tăng cao với tốc độ tăng gần hơn 7 lần năm 1999 và 17,4 lần năm 2000 và chủ yếu vẫn là tiền gửi tiết kiệm (Bảng 2)
Tóm lại: Cũng như các NHTM tại Việt Nam, các NHTM trên địa bàn Tỉnh
Bình Dương thực hiện huy động vốn theo các hình thức: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và phát hành giấy tờ có giá Trong đó chủ yếu vẫn là hai hình thức tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán Nguồn vốn huy động của các NHTM tăng nhanh, tương ứng với các năm 1998,1999 và 2000 đạt mức 685.500 triệu đồng, 808.306 triệu đồng và 1.063.683 triệu đồng; đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng 75,31%, 75,31% và 60,72%, (Bảng 1,12)
2-Nghiệp Vụ Tín Dụng
Các NHTM tại Bình Dương đã tập trung các nguồn lực để đưa hoạt động tín dụng tăng trưởng nhanh, đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn có tốc độ tăng trường kinh tế cao Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng 17,92% năm 1999 và tăng rất cao đến 63,21% vào năm 2000 (Bảng 10) Mức dư nợ tín dụng năm 1998: 910.191 triệu đồng, năm 1999: 1.073.293 triệu đồng và năm 2000: 1.751.669 triệu đồng Trong đó, dư nợ cho vay Đồng Việt Nam là chủ yếu, chiếm trên 97% tổng dư nợ; dư nợ ngoại tệ có tỷ trọng rất thấp, cao nhất các năm qua chỉ có 2,74% vào năm 2000 Các NHTM trên địa bàn chỉ cho vay khu vực kinh tế trong nước và phần lớn là kinh tế nhà nước, cho vay khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bắt đầu từ năm 2000 với tỷ trọng rất thấp là 1,26% (Bảng 13) Nghiệp vụ tín dụng của các NHTM hiện tại chủ yếu gồm tín dụng thế chấp, tín dụng đầu tư, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
Trang 29ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
BIỂU ĐỒ 2- CƠ CẤU CÁC NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG 3 NĂM
Nguồn : Bảng cân đối tài sản của NHNN Bình Dương năm 1998,1999,2000
2.1-Tín Dụng Thế Chấp
Từ khi Chính Phủ ban hành Nghị định 178/1999/NĐ-CP, ngày 29/12/1999 về đảm bảo tiền vay của các Tổ chức tín dụng, đã đưa ra nhiều điểm thông thoáng hơn trong việc nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của các NHTM Ngày 20/04/2000 NH Nhà nước đã ban hành Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện Nghị định 178 Tuy nhiên, khi bước vào thực hiện còn có nhiều khó khăn trong thực tế trong việc lựa chọn khách hàng đủ điều kiện Đến nay vẫn chưa có NHTM nào trên địa bàn đưa ra tiêu chí lựa chọn khách hàng vay không có đảm bảo một cách thực sự Nên hầu hết các khoản cho vay ngắn hạn đều được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng thế chấp
Dư nợ tín dụng thế chấp có tốc độ tăng 7,30% năm 1999 và tăng rất cao đến 66,79% năm 2000 (Bảng 10) Tỷ trọng dư nợ tín dụng thế chấp luôn chiếm ưu thế trên 60% trong tổng dư nợ (Bảng 9), với mức dư nợ qua các năm: 609.907 triệu đồng, 654.420 triệu đồng và 1.091.511 triệu đồng Trong đó, chủ yếu là cho vay khu vực kinh tế trong nước với cho vay bằng Đồng Việt Nam chiếm tỷ trọng cao, chiếm 99,10% năm 1998, 99,30% năm 1999 và 97,27% năm 2000 (Bảng 8) Đạt được tốc độ tăng trưởng dư nợ cao của các NHTM do:
Trang 30ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tại địa phương đã thúc đẩy hoạt động tín dụng của các NHTM tăng quy mô và tốc độ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mới thành lập đi vào hoạt động nhộn nhịp và các khách hàng hoạt động sản xuất kinh doanh cá thể tiếp cận vốn vay của các NHTM có mạng lưới rộng khắp trên địa bàn
-Được sự hỗ trợ rất lớn về nguồn vốn của các NHTM Việt Nam từ nguồn vốn điều hoà trong hệ thống và sử dụng nguồn vay NH khác để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho các doanh nghiệp (Bảng 7,12) NH Nhà nước điều chỉnh lãi suất tiền vay giảm dần, tạo cho khách hàng vay vốn có cơ hội tốt hơn trong việc sử dụng vốn vay để thu lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh
-Hệ thống các NHTM trong tỉnh chỉ có các NHTM quốc doanh, nên ít chịu ảnh hưởng của cạnh tranh như khi có hệ thống các NHTM khác như NHTM cổ phần, NHTM của nước ngoài như một số địa phương khác như Thành phố Hồ Chí Minh
-Các NHTM duy trì được mối quan hệ tốt đối với một số khách hàng lớn như các công ty cao su, các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh … Đây là những khách hàng có quan hệ tín dụng thường xuyên và khối lượng giao dịch lớn, có quan hệ lâu dài với các NHTM trên địa bàn
2.2-Tín Dụng Đầu Tư
Tín dụng đầu tư có tốc độ tăng trưởng cao, tăng 36,73% năm 1999 và 59,64% năm 2000 (Bảng 10); mức dư nợ tương ứng với các năm 1998, 1999 và năm 2000 là 300.284 triệu đồng, 410.572 triệu đồng và 655.436 triệu đồng; giữ được tỷ trọng tương đối ổn định trong cơ cấu tín dụng với tỷ lệ 32,99%, 38,25% và 37,42% (Bảng 9) Sự tăng trưởng nhanh của tín dụng đầu tư do tác động bởi một số nhân tố, bao gồm:
-NH Nhà nước cho phép các NHTM được dùng một phần vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn Các NHTM chú trọng hơn đến tín dụng đầu tư, đáp ứng nhu cầu vốn đổi mới máy móc thiết bị, đầu tư mờ rộng sản xuất của các doanh nghiệp
-Dư nợ đầu tư xây dưng cơ bản theo kế hoạch nhà nước tăng nhanh, trong đó một số dự án nổi bật như : Dự án nâng cấp và mở rộng Quốc lộ 13, Dự án nâng cấp và mở rộng đường ĐT 743, Dự án xây dựng nhà máy của Công ty gốm sứ Bạch Mã,…
Trang 31ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
2.3-Chiết Khấu Thương Phiếu Và Các Giấy Tờ Có Giá
Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá là nghiệp vụ mới đưa vào hoạt động trong những năm gần đây, nhưng hoạt động với một tỷ trọng rất thấp trong
cơ cấu dư nợ tín dụng và giảm dần tỷ trọng từ 0,78%, đạt mức 8.301 triệu đồng năm 1999 xuống còn 0,27%, ở mức 4.722 triệu đồng vào năm 2000 (Bảng 9) Mặt khác, có tốc độ giảm rất mạnh, giảm 42,12% năm 2000 so với năm 1999 (Bảng 10) và duy nhất chỉ có một NH đưa vào hoạt động nghiệp vụ này là NH Đầu tư và Phát triển
Nguyên do, đây là nghiệp vụ chưa được quan tâm của các NHTM, chiết khấu các loại giấy tờ có giá như sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chưa có hoạt động chiết khấu thương phiếu Hơn nữa, vì nguồn vốn kinh doanh chủ yếu tập trung vào cho vay theo tín dụng thế chấp và tín dụng đầu tư chưa huy động đủ nguồn để đáp ứng (Bảng 12)
Tóm lại: Hiện nay, tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, đem lại nguồn
thu nhập cao nhất, chiếm trên 90% tổng thu nhập của các NHTM tại Bình Dương (Bảng 16) Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu chỉ hai nghiệp vụ tín dụng thế chấp và tín dụng đầu tư và cho vay chủ yếu là khu vực kinh tế nhà nước; chưa thực sự tham gia được vốn tín dụng vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp các thanh phần kinh tế khác để mở rộng và đa dạng hoá hoạt động tín dụng
3-Nghiệp Vụ Đầu Tư
Trong 4 NHTM tại tỉnh Bình Dương, chỉ có NH Công thương đưa nghiệp vụ đầu tư vào hoạt động kể từ năm 1999 và đầu tư duy nhất vào Trái phiếu kho bạc Nhà nước Mức đầu tư năm 2000 là 6,3 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng 5,5% so với năm
1999 (Bảng 14)
Như vậy, hoạt động đầu tư của các NHTM trên địa bàn rất đơn lẻ, chỉ một
NH, một hình thức đầu tư và ở mức đầu tư thấp Nguyên do, các NHTM thiếu các nguồn lực để tham gia rộng và đa dạng hoạt động đầu tư Trong đó, chủ yếu là thiếu vốn và nhân lực
4-Hoạt Động Kinh Doanh Ngoại Tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt mức dao động từ 20 tỷ đến 22,6 tỷ từ năm 1998 đến năm 2000, tốc độ tăng của năm 2000 là 13,39% so với năm 1999 (Bảng 15)
Trang 32ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Kinh doanh ngoại tệ là hoạt động đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các NHTM, nhất là trong điều kiện mở rộng giao thương quốc tế Trong khi, các NHTM tại Bình Dương có doanh số hoạt động chưa đạt tới 2 triệu USD/năm và hoạt động dưới hình thức mua bán giao ngay, chưa mở rộng ra các hình thức giao dịch có kỳ hạn, giao dịch hoán đổi Điều này do thiếu sự phối hợp đồng bộ với các nghiệp vụ và dịch vụ có liên quan như huy động vốn ngoại tệ, tín dụng ngoại tệ, thanh toán quốc tế Mặt khác, hoạt động thanh toán quốc tế vẫn còn bị giới hạn do thanh toán gián tiếp qua Sở giao dịch các NHTM trong hệ thống
5-Dịch Vụ Ngân Hàng
Tổng doanh thu thu dịch vụ NH của các NHTM tại tỉnh Bình Dương tăng trong các năm vừa qua, với mức doanh thu cao nhất là 10,1 tỷ đồng, chưa bằng 10% so với doanh thu của lãi cho vay (Bảng 16) Những dịch vụ NH hiện có của các NHTM chủ yếu gồm: Dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ bảo
lãnh, dịch vụ ngoại hối
5.1-Dịch Vụ Thanh Toán
Đây là loại dịch vụ truyền thống của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Dương Doanh thu về dịch vụ thanh toán năm 1998: 3.513 triệu đồng, năm 1999: 6.992 triệu đồng, năm 2000: 7.623 triệu đồng, tỷ trọng qua các năm đều trên 70% tổng doanh thu dịch vụ (Bảng 16)ï Trong đó có các loại dịch vụ thanh toán séc, thanh toán chứng từ xuất nhập khẩu, thanh toán chứng từ nhờ thu và các loại thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng khác
5.2-Dịch Vụ Chuyển Tiền
Dịch vụ chuyển tiền có mức doanh thu thấp nhất, năm 1999: 72 triệu đồng, năm 2000: 95 triệu đồng, chiếm tỷ tbọng tối đa 0,94% so với tổng doanh thu dịch vụ trong những năm vừa qua (Bảng 16,17) Hoạt động gồm thanh toán chuyển tiền trong và ngoài nước, phục vụ cho khác hàng và trong nội bộ ngành NH
5.3-Dịch Vụ Bảo Lãnh
Dịch vụ bảo lãnh chỉ đưa vào hoạt động tại NH Đầu tư và Phát triển từ năm
1999 với doanh thu 1.523 triệu đồng và 1.571 triệu đồng vào năm 2000 Theo Báo cáo tổng kết hoạt động NH của Chi nhánh NHNN tỉnh, dịch vụ bảo lãnh chủ yếu là bảo lãnh vay nợ nước ngoài Mức tăng trưởng còn thấp và tỷ trọng thu dịch vụ bảo lãnh đạt 15,47% năm 1999 và 15,50% năm 2000 (Bảng 16, 17)
5.4-Dịch Ngoại Hối
Doanh thu về dịch vụ ngoại hối chiếm tỷ trọng 16,48% năm 1998, 12,78% năm 1999 và 8,37% năm 2000, có múc doanh thu tướng ứng 693 triệu đồng,1.258
Trang 33ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
triệu đồng và 849 triệu đồng Tốc độ tăng qua các năm chưa ổn định, năm 1999 tăng rất cao đến 81,53%, đến năm 2000 lại giảm 32,51% (Bảng 16, 17) Gồm các hình thức như dịch vụ kiểm tra ngoại tệ, tiếp nhận và chi trả kiều hối
Tóm lại: Hoạt động dịch vụ NH tại các NHTM trên địa bàn chủ yếu thực
hiện các dịch vụ truyền thống như dịch vụ thanh toán, các loại hình dịch vụ chưa thực sự đa dạng, doanh thu dịch vụ đạt ở mức thấp, tốc độ tăng trưởng qua các năm chưa ổn định
III-ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
1-Đánh Giá Hoạt Động Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ NH Trong Những Năm Qua
1.1-Nghiệp Vụ Huy Động Vốn
Nguồn vốn huy động vốn tăng nhanh hàng năm với tốc độ cao, chiếm 94,92% thị phần vốn huy động (Bảng B), để đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn để phát triển kinh tế tại địa phương Nhưng tỷ trọng so với tổng nguồn vốn kinh doanh giảm dần từ 65,14% năm 1998, 63,52% năm 1999 và chỉ còn 53,37 % vào năm 2000 (Bảng 6) Vốn huy động tăng nhanh vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu vốn tăng hàng năm Tính toàn bộ vốn huy động đáp ứng riêng cho nhu cầu vốn tín dụng, chỉ đáp ứng được từ 75,31% năm 1998, 75,31% năm 1999, rồi lại giảm chỉ còn đáp ứng 60,72% tổng nhu cầu vốn tín dụng (Bảng 12) Nên đã vay từ NH khác để bổ sung nhu cầu vốn kinh doanh hàng năm với tốc độ tăng ngày càng cao, từ 19,82% năm 1999 đến 78,57% vào năm 2000 (Bảng 7) Từ đó, tỷ trọng của nguồn vốn vay tăng cao và nâng dần lên trong tổng nguồn vốn kinh doanh hàng năm, từ 24,43% vào năm 1988 lên 24,75% năm 1999 và 27,60% năm 2000
Các hình thức huy động vốn chưa thực sự đa dạng, còn đơn điệu, mặc dù mạng lưới huy động đã mở rộng khắp địa bàn Phương tiện NH áp dụng trong việc cung ứng các nghiệp vụ và dịch vụ cho khách hàng nhất là trong quan hệ gửi và lãnh tiền của dân chúng với ngân hàng được thực hiện chủ yếu là thủ công và trực tiếp Người gửi tiền tiết kiệm chỉ nhận lãi tiền gửi, còn các tiện ích khác hầu như chưa có như thanh toán, chi trả, chuyển đổi, chiết khấu, mua bán…
1.2-Nghiệp Vụ Tín Dụng
Hoạt động tín dụng tăng rất nhanh trong những năm gần đây, là hoạt động kinh doanh chủ yếu tại các NHTM tại Bình Dương, góp phần cung ứng khối lượng lớn vốn tín dụng cho phát triển kinh tế với thị phần tín dụng là 94,18% (Bảng B)
Trang 34ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Tuy nhiên, cho vay chủ yếu là khu vực kinh tế trong nước, phần lớn là doanh nghiệp nhà nước Vốn cho vay hầu hết là Đồng Việt Nam, chưa đẩy mạnh cho vay bằng ngoại tệ trong điều kiện huy động vốn ngoại tệ tăng nhanh
Nghiệp vụ tín dụng chưa đa dạng, chủ yếu hai nghiệp vụ là tín dụng thế chấp và tín dụng đầu tư Đối với tín dụng theo nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá hoạt động còn ở mức rất thấp Vì chỉ tính riêng khoản cho vay theo kế hoạch nhà nước trong nghiệp vụ tín dụng đầu tư đã gấp từ 20 đến 36 lần so với toàn bộ nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
Sự thiếu đa dạng của nghiệp vụ tín dụng còn biểu hiện là chỉ duy nhất một trong bốn NHTM trên địa đưa vào hoạt động chiết khấu thương phiếu và còn ở bước đầu thực hiện Mặt khác, có những quan niệm về cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM chỉ là cho vay với lãi suất thấp, chưa chú ý đến việc cung cấp tín dụng như thế nào là phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng, sự tiện ích, nghiệp vụ tín dụng còn đơn độc chỉ là cho vay Cụ thể, qua khảo sát tại bốn NHTM và một số doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn vào tháng 9 và tháng 10 năm 2001 cho thấy: Đối với NH, có ba trong bốn NHTM thường giữ bí mật về lãi suất cho vay và hầu như xem đó là bí quyết kinh doanh Đối với các doanh nghiệp, chưa thật sự thoả mãn về khối lượng cũng như các loại hình tín dụng, nên có hiện tượng chuyển sang NHTM khác tại Thành phố Hồ Chí Minh để vay vốn với số lượng lớn và phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3-Nghiệp Vụ Đầu Tư
Nghiệp vụ đầu tư của các NHTM tại Bình Dương còn đơn lẻ, hiện chỉ có một hoạt động đầu tư duy nhất là đầu tư duy nhất vào Trái phiếu kho bạc Nhà nước và cũng chỉ có một NHTM duy nhất trong bốn NHTM đang hoạt động kinh doanh tại tỉnh đưa nghiệp vụ đầu tư vào hoạt động kể từ năm 1999 và ở mức đầu tư thấp
1.4-Hoạt Động Kinh Doanh Ngoại Tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa phát huy hết vai trò của NHTM trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ Vì xét về mặt tổ chức, chưa có NHTM nào trên địa bàn có bộ phận chức năng làm chuyên về kinh doanh ngoại tệ, nội dung hoạt động cũng chỉ giới hạn ở việc mua bán ngoại tệ giao ngay cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thực hiện thanh toán qua NH Hơn nữa, khối lượng giao dịch hàng năm còn quá thấp so với địa bàn trọng điểm về thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế cao hàng năm, trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 35ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
1.5-Dịch Vụ Ngân Hàng
Hoạt động thanh toán qua NH, nhờ những bước tiến mới trong thanh toán là việc áp dụng chương trình thanh toán điện tử, tạo điều kiện cho công tác thanh toán nhanh, làm tăng nguồn thu của dịch vụ thanh toán, đưa dịch vụ thanh toán và ngân qũy trở thành dịch vụ chủ yếu trong toàn bộ hoạt động dịch vụ tại các NHTM trên địa bàn Bình Dương Trong khi, các dịch vụ khác chưa được chú trọng hay chỉ mới đưa vào hoạt động như dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ ngoại hối, còn ở mức tăng trưởng thấp, thậm chí giảm dần và chưa rộng khắp các NHTM đang hoạt động tại địa phương
Tóm Lại: Hoạt động kinh doanh của các NHTM tại tỉnh Bình Dương đã có
những bước phát triển nhanh trong lĩnh vực huy động vốn và tăng trưởng nhanh về tín dụng, để đáp ứng nhu cầu vốn tăng nhanh trong hoạt động kinh tế và đầu tư trên địa bàn Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh NH chưa thực sự đa dạng hoá, các hoạt động còn đơn điệu, phiến diện, chưa được mở rộng để đáp ứng kịp nhu cầu đòi hỏi cần thiết của các hoạt động kinh tế đang tăng trưởng nhanh hiện nay Cụ thể trong đó:
Trong hoạt động huy động vốn, chủ yếu tập trung huy động bằng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chưa khai thác được nguồn tiền gửi có kỳ hạn và tăng cường nghiệp vụ phát hành các giấy tờ có giá Về loại vốn huy động, chưa
đa dạng các kỳ hạn huy động vốn, chỉ tập trung chủ yếu vào vốn ngắn hạn
Hoạt động tín dụng, tín dụng thế chấp và tín dụng đầu tư chiếm tỷ trọng cao, tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá chỉ có một trong các NHTM thực hiện trong thời gian gần đây; các hình thức tín dụng khác, hầu như chưa thực hiện như thấu chi, tín dụng chấp nhận, tín dụng trả góp, tín dụng bao thanh toán, tín dụng thuê mua, tài trợ cho thuê, tín dụng chứng từ Mặt khác, việc vận dụng các phương thức tín dụng, phần lớn chỉ đơn độc phương thức tín dụng từng lần
Hoạt động đầu tư còn đơn điệu, chỉ một NHTM thực hiện dưới hình thức đầu
tư vào Trái phiếu kho bạc Nhà nước, chưa tham gia vào hoạt động dự phần cổ phiếu công ty, hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, thực hiện giao dịch mua bán giao ngay, chưa mở rộng giao dịch có kỳ hạn, giao dịch hoán đổi
Trang 36ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Dịch vụ NH, chủ yếu làm dịch vụ thanh toán; các dịch vụ như chuyển tiền, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ ngoại hối còn hoạt động ở mức thấp; chưa tham gia vào các dịch vụ trên thị trường chứng khoán, dịch vụ ủy thác, thu chi hộ, khấu trừ tự động, dịch vụ thẻ thanh toán, dịch vụ tư vấn
2-Những Nguyên Nhân Làm Hạn Chế Việc Đa Dạng Hoá Hoạt Động
Kinh Doanh Của Các NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
2.1-Nguyên Nhân Chủ Quan
-Các NHTM Việt Nam đã triển khai thực hiện việc xây dựng đề án chiến lược phát triển kinh doanh Nhưng các NHTM chưa xây dựng được một cách bài bản, còn mang nặng nội dung và hình thức của kế hoạch kinh doanh đơn thuần, Xây dựng chiến lược kinh doanh còn mang tính chủ quan, chưa xác định được các giải pháp xây dựng và củng cố các nguồn lực cho kinh doanh, nâng cao các yếu tố đảm bảo khả năng cạnh tranh
-Các NHTM trên địa bàn chưa có bộ phận tiếp thị chuyên nghiệp, chỉ ở bước đầu ứng dụng, chưa thật sự chủ động tiếp cận thị trường một cách khoa học và có hệ thống, thực hiện còn thiếu bài bản và phiến diện, chủ yếu tập trung vào bề nổi như quảng cáo, khuyến mãi khi cần thiết trong trường hợp huy động vốn Chỉ một vài hình thức đơn lẻ và gián đoạn trong thời gian ngắn như thông báo trên Đài phát thanh, truyền hình địa phương hay dùng băng-rôn để đăng tải thông báo về các đợt phát hành các kỳ phiếu Trong khi các hoạt động chủ yếu có ý nghĩa quyết định sự thành công trong hoạt đông marketing như nghiên cứu khách hàng, phân tích và xác định thị trường mục tiêu, định vị hình ảnh, nâng cao chất lượng nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng hầu như còn mờ nhạt
-Nguồn vốn kinh doanh còn thấp so với nhu cầu, còn lệ thuộc vào nguồn vốn điều chuyển từ trung ương, làm cho việc đáp ứng nhu cầu vốn lớn và kịp thời cho các doanh nghiệp bị hạn chế; cũng như thiếu khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh NH Trong khi, các NHTM chưa quan tâm đúng mức, khuyến khích và có những biện pháp hữu hiệu để huy động vốn qua tài khoản cá nhân, cũng như các hình thức huy động vốn dài hạn
-Chiến lược thu hút khách hàng chưa phù hợp, chỉ tập trung vào các khách hàng truyền thống, chưa thu hút được nhiều khách hàng mới trong nghiệp vụ tín dụng Đặc biệt là các khách hàng hoạt động trong các khu công nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong khi chưa chú trọng đến cải tiến và nâng cao chất lượng tín dụng, đa dạng các nghiệp vụ để thoả mãn nhu cầu khách hàng, đã dẫn đến hệ quả là có một số khách hàng chuyển sang giao dịch với các NHTM tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 37ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
-Thiếu vận dụng linh hoạt các phương thức cho vay, các NHTM tại Bình Dương thường ít áp dụng phương thức cho vay luân chuyển mà chỉ cho vay theo hạn mức, do việc các ngân hàng quá cân nhắc đến đảm bảo tiền vay nên mỗi lần cho vay thường làm nhiều thủ tục mất rất nhiều thời gian, làm cho vốn tín dụng thường không tiếp cận kịp thời đối tượng vay vốn Bên cạnh, các ngân hàng thường cạnh tranh bằng cách hạ lãi suất mà ít quan tâm đến phương cách cho vay quyết định hiệu quả sử dụng vốn chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào lãi suất
-Hoạt động dịch vụ NH đã đưa vào kinh doanh một vài loại hình Nhưng chưa có định hướng rõ ràng và còn ở mức độ quan tâm rất thấp, chỉ thực hiện khi dịch vụ phát sinh từ nghiệp vụ có liên quan, chưa chủ động tạo ra các dịch vụ mới có tính thúc đẩy các nghiệp vụ và dịch vụ khác cùng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng
-Các NHTM chỉ phục vụ trong giờ hành chính, đôi khi làm mất khả năng giao dịch cho nhiều khách hàng như cán bộ, công nhân viên chỉ tiện giao dịch ngoài giờ Trong khi chưa thực hiện các dịch vụ NH lưu động
-Các NHTM chưa chú trọng đến đào tạo nguồn nhân lực để dáp ứng trước yêu cầu phát triển của ngành, nhiều cán bộ được đào tạo từ những năm về trước chưa được đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới để có phong cách làm việc năng động sáng tạo, thích nghi mau chóng với những biến đổi nhanh của nền kinh tế hiện nay
2.1-Nguyên Nhân Khách Quan
-Nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ đã tạo cho tầng lớp dân cư tâm lý ưa thích tiền mặt, khi giao dịch muốn sở hữu ngay số tiền thanh toán Trong khi, hoạt động thanh toán của NHTM trên địa bàn còn lệ thuộc vào nhiều quy định từ các NHTM Việt Nam, thủ tục chưa cải tiến giản đơn, nên chưa phù hợp với trình độ chung của dân cư
-Do sự cạnh tranh của ngành Bưu điện trong việc huy động vốn và một số dịch vụ mà Bưu điện có phần lợi thế hơn Cụ thể như về dịch vụ chuyển tiền: Các NHTM thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ ngân hàng này đến ngân hàng khác, chưa thực hiện chuyển đến tay người nhận như dịch vụ chuyển tiền của bưu điện (Bảng19) Quy định về thủ tục chuyển tiền chưa được cải tiến để tạo tâm lý thoải mái cho người gửi như phải đối chiếu, tra soát về giấy tờ tùy thân của người gửi lẫn người nhận
Trang 38ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
-Một số ngành như điện, nước, bưu chính viễn thông, thuế…,có liên quan đến dịch vụ thanh toán chưa ủng hộ tích cực, tạo điều kiện cho các dịch vụ thanh toán qua tài khoản NH của doanh nghiệp và cá nhân
-Hoạt động kinh doanh còn những vướng mắc về quy định luật pháp Một số nội dung quy định lại quá chi tiết, đôi khi làm hạn chế khả năng vận dụng của các NHTM Ngược lại, có quy định chung chung hay thiếu đồng bộ cũng gây không ít khó khăn cho các NHTM vận dụng trong từng trường hợp cụ thể (Phụ lục 4)
3-Những Nhận Định Về Tiềm Năng Và Dự Báo Triển Vọng Đa Dạng Hoá
Hoạt Động Của Các NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
3.1-Nhận Định Về Tiềm Năng
Các NHTM trên địa bàn Tỉnh Bình Dương, hoạt động trên địa bàn thuộc vùng Đông Nam bộ, là tỉnh nằm trong Vùng Phát triển Kinh tế Trọng điểm Phía Nam, giáp trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học-kỹ thuật là Thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống đường bộ khá tốt, hệ thống thông tin liên lạc phát triển, gần cảng biển, cảng đường sắt và sân bay Với diện tích tự nhiên 2.681 km″; tính đến cuối năm 2000, tỉnh có dân số 742,8 ngàn người (Bảng 23), cơ cấu hành chính gồm 7 huyện, thị và 79 xã, phường, thị trấn; có nhiều thế mạnh về nông sản, khoáng sản, vật liệu xây dựng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
Những năm vừa qua, Tỉnh Bình Dương phát triển liên tục, GDP tăng bình quân hàng năm 14%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 32,4%, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,5%, giá trị dịch vụ tăng 10,97%, kim ngạch xuất khẩu tăng 28,2%, thu nhập bình quân đầu người tăng 10,4% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp trong GDP, đến năm 2000 cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng là 58%-25,1%-16,9% Các doanh nghiệp phát triển đa dạng và tăng lên mỗi năm, đến cuối năm 2000 hiện có 15.884 cơ sở sản xuất kinh doanh (Bảng 22, 23, 28)
-Sản xuất công nghiệp: Một số ngành có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao như may mặc, da giày, chế biến thực phẩm, gốm sứ, khai thác khoáng sản … Các ngành nghề truyền thống của tỉnh tiếp tục phát triển, công nghệ từng bước đổi mới, thị trường tiêu thụ được mở rộng, một số mặt hàng đạt tỷ lệ xuất khẩu cao Từ khi tỉnh đưa ra chủ trương thu hút vốn đầu tư mà từ một tỉnh nông nghiệp, Bình Dương đã trở thành địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp
Trang 39ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
thuộc hàng đầu và đứng thứ tư cả nước về thu hút vốn đầu tư Nhìn chung, công nghiệp của tỉnh trong các năm qua phát triển liên tục, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất (Bảng 24, 28)
-Sản xuất nông lâm nghiệp: Sản lượng hàng hoá chủ yếu là cây công nghiệp, Cao su 53.116 tấn, hạt Điều 2.286 tấn Bình Dương là tỉnh có số lượng trang trại lớn trong vùng Đông Nam Bộ, toàn tỉnh hiện có 1.725 trang trại với tổng diện tích 17.529 ha, tổng vốn đầu tư khoảng hơn 286 tỷ đồng, chủ yếu là trồng cây dài ngày Mức thu nhập bình quân hàng năm của mỗi trang trại đạt từ 50 triệu đồng trở lên Ngành nông nghiệp đã đóng góp vào việc thay đổi kinh tế xã hội nông thôn (Bảng 24, 28)
-Thương mại: Tổng mức lưu chuyển hàng hoá nội thương tăng bình quân hàng năm 24%-28%, với cơ cấu: Kinh tế nhà nước chiếm 26,6%, kinh tế tư nhân chiếm 66,2%, khu vực đầu tư nước ngoài 7,2% Mạng lưới thương mại và dịch vụ ngày càng mở rộng, năm 2000 có hơn 20.000 hộ kinh doanh, tăng hơn 9.000 hộ so với năm 1996 Kinh doanh du lịch tăng bình quân 11%/năm, trong đó kinh tế nhà nước chiếm 86,5% (Bảng 22, 24, 28)
Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân mỗi năm 23,5%, năm 2000 đạt 518,8 triệu USD; trong đó các mặt hàng nông sản và lâm sản chiếm 33%, hàng công nghệ phẩn chiếm 67% Kim ngạch xuất khẩu của một số đơn vị có vốn trong nước tăng khá như hàng may mặc, da giày, mủ cao su… Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 23,5% mỗi năm, năm 2000 đạt 518,8 triệu USD; chủ yếu nhập vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất (Bảng 24, 28)
-Đầu tư và phát triển: Đầu tư trong nước tăng khá nhanh, toàn tỉnh hiện có 15.884 đơn vị sản xuất kinh doanh Đến hết năm 2000 đã có 366 dự án đầu tư nước ngoài với khoảng 2,4 tỷ USD được đầu tư trong và ngoài 13 khu công nghiệp của tỉnh
Đầu tư cơ sở hạ tầng của tỉnh tăng lên: Đầu tư nâng cấp 142 km các trục đường giao thông chính đi qua tỉnh và 1.355 km đường giao thông nông thôn Hoạt động giao thông vận tải ngày càng đáp ứng nhu cầu xã hội, giá trị sản xuất vận tải tăng bình quân 20,8%/ năm Mở rộng hệ thống bưu chính, viễn thông và mạng lưới bưu cục trên khắp địa bàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt Hiện có 5,93 máy điện thoại/100 dân, tăng 2,8 lần so với năm 1996 Giá trị sản xuất ngành bưu chính viễn thông tăng 26,1%/năm Xây dựng mạng lưới điện khắp địa bàn, giá trị sản xuất ngành điện tăng 35,38% so năm 1996 (Bảng 23, 26, 28)
Trang 40ChươngIII–Giải Pháp Đa Dạng Hoá Hoạt Động Kinh Doanh NHTM Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
Tóm lại: Các NHTM trên địa bàn hoạt động trong điều kiện có khá nhiều
thuận lợi, hoạt động trong môi trường kinh doanh gồm nhiều động lực thúc đẩy
cho sự phát triển và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh NH Trong môi trường có
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, các ngành sản xuất chủ yếu có tốc độ tăng nhanh,
hoạt động thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài có hiệu quả, cơ sở hạ tầng
được nâng cấp ngày càng tương thích với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội; thu
nhập bình quân đầu người tăng lên khá cao hàng năm; và có một cơ cấu kinh tế
với công nghiệp, dịch vụ là các ngành chiếm ưu thế Đó là những điều kiện tốt
cho các NHTM hoạt động trong thời gian vừa qua Đồng thời, ẩn chứa nhiều tiềm
năng còn chưa khai thác của của các NHTM trên địa bàn để mở rộng quy mô kinh
doanh bằng việc đa dạng hoá hoạt động kinh doanh NH
3.2-Dự Báo Về Triển Vọng
Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010 là
tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ, tăng cường hoạt động thu hút đầu tư, chú trọng phát triển công nghệ hiện
đại, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường trong nước và xuất khẩu
BẢNG D- CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ CHỦ YẾU
(Theo chiến lược phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương giai đoạn 2001-2010)
CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU ĐÊN NĂM
4-Cơ cấu GDP: công nghiệp-dịch vụ-nông
USD Hiện nay, Bình Dương đang tích cực chuyển hướng để phù hợp với thời điểm
thực tế Theo đó tỉnh đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp vừa và nhỏ của địa phương Đa dạng
hoá các loại hình đầu tư để các nhà đầu tư lựa chọn các phương thức Đẩy mạnh