Ở nước ta, khái niệm “Kinh phí sự nghiệp môi trường” được định nghĩa theo quy định hiện hành là kinh phí cho “thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường do ngân sách nhà nước bảo đảm”, quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
Trần Thị Phương Hoa
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
Trần Thị Phương Hoa
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60.85.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN XUÂN HẢI
TS LÊ VĂN HỮU
HÀ NỘI – 2015
Trang 31
MỞ ĐẦU
Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việc triển khai thực hiện Nghị quyết đã tạo ra một bước chuyển biến lớn trong hoạt động bảo vệ môi trường Các Bộ, ngành và địa phương đã tổ chức triển khai các hoạt động về bảo vệ môi trường, thực hiện tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động bảo vệ môi trường không dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước Các hoạt động bảo vệ môi trường từng bước được đẩy mạnh, đồng thời tạo bước chuyển biến căn bản về nhận thức và trách nhiệm của các nhà quản lý, doanh nghiệp, cá nhân và cộng đồng xã hội trong công tác bảo vệ môi trường Hệ thống chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường được ban hành và ngày càng hoàn thiện
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều bất cập Một số Bộ, ngành đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường vẫn còn dàn trải, chưa tập trung vào giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, trọng điểm thuộc phạm vi đơn vị chủ trì Chính sách về bảo vệ môi trường bộc lộ một số tồn tại cần phải điều chỉnh, bổ sung kịp thời nhằm đáp ứng và thích hợp với
sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự phát triển nhanh của các khu đô thị, khu dân cư và sự phát triển kinh tế - xã hội
Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương” là cần thiết, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường của nước ta
Trang 4- Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường;
- Phân tích những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng kinh phí
sự nghiệp môi trường;
- Đề xuất sửa đổi một số nội dung, phương pháp quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường
Trang 53
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ KINH PHÍ MÔI TRƯỜNG
1.1 Khái niệm kinh phí sự nghiệp môi trường
Kinh phí sự nghiệp môi trường không phải là khái niệm thông dụng trong lĩnh vực quản lý tài chính công trên thế giới Ở nước ta, khái niệm “Kinh phí sự nghiệp môi trường” được định nghĩa theo quy định hiện hành là kinh phí cho “thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường do ngân sách nhà nước bảo đảm”, quy định tại Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 10 tháng 3 năm 2010 của liên Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường
1.2 Khái niệm đầu tư
Đầu tư hiểu theo nghĩa chung nhất là sự bỏ ra một khoản tiền (chi phí, kinh phí) cho một việc nào đó nhằm đạt được các mục tiêu nhất định
Như vậy, đầu tư cho bảo vệ môi trường là khoản tiền (chi phí, kinh phí) cho hoạt động bảo vệ môi trường nhằm đạt được mục tiêu về bảo vệ môi trường
Ở cấp độ quản lý vĩ mô, đầu tư cho bảo vệ môi trường là khoản tiền mà nhà nước chi ra, thường là từ nguồn ngân sách nhà nước cho mục tiêu bảo vệ môi trường Ở nhiều nước, các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho mục tiêu bảo vệ môi trường thường phân biệt thành hai khoản: khoản chi thường xuyên (thường là các khoản cố định hàng năm) và khoản chi không thường xuyên (thường là các khoản mua sắm trang thiết bị, tài sản, xây dựng cơ bản) Ở Việt Nam, theo Luật Ngân sách nhà nước, khoản chi thường xuyên được gọi là chi sự nghiệp và khoản chi không thường xuyên được gọi là chi đầu tư phát triển
Ở cấp độ quản lý vi mô (doanh nghiệp), đầu tư cho bảo vệ môi trường là khoản tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để hình thành tài sản của mình cho mục tiêu bảo
vệ môi trường
Trang 64
1.3 Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhà nước để duy trì, phát triển sự nghiệp bảo vệ môi trường theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp
1.4 Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
1.5 Khái niệm cơ chế phân bổ nguồn kinh phí
Cơ chế phân bổ nguồn kinh phí là những quy định của cơ quan có thẩm quyền để triển khai thực hiện, quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; là mối quan hệ điều phối, phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan, giữa
Bộ, ngành đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền và các tổ chức sử dụng nguồn kinh phí
2 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH CHO MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Hiện tại, trong các tài liệu quốc tế chưa có một định nghĩa cho khái niệm chi ngân sách cho môi trường Tuy vậy, các khoản chi tiêu nhằm mục tiêu BVMT thường bao gồm 4 mảng sau: Ngân sách nhà nước, bao gồm ngân sách Trung ương
và địa phương; Chi cho môi trường trong khu vực dịch vụ công nghiệp môi trường, bao gồm khu vực tư nhân và Nhà nước; Chi cho môi trường của doanh nghiệp; Chi cho môi trường do các hộ gia đình Do không có định nghĩa thống nhất về chi môi
Trang 75
trường nên khó có thể so sánh một cách tuyệt đối mức chi môi trường giữa các nước Nghiên cứu này tập trung so sánh các nước có khái niệm chi cho môi trường gần giống nhau, cụ thể là chỉ so sánh phần chi ngân sách sự nghiệp môi trường Số liệu được lấy từ các nguồn có độ tin cậy cao như các tổ chức thống kê của Liên minh Châu Âu, Liên Hợp quốc và các tạp chí khoa học [17]
2.1 Mức chi cho môi trường
a) So sánh mức chi theo GDP
Tổng chi cho bảo vệ môi trường của các nước thuộc khối liên minh châu Âu
EU là 1,77% GDP, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 0,44%; ngành công nghiệp dịch vụ môi trường chiếm 0,86% và doanh nghiệp chiếm 0,47% Có xu hướng chuyển dịch chi BVMT từ nhà nước sang ngành công nghiệp dịch vụ môi trường
Số liệu thống kê năm 2006 cho thấy, khu vực nhà nước giảm từ 0,7% xuống còn 0,44% GDP trong khi công nghiệp dịch vụ môi trường tăng từ 0,8% lên 0,86% GDP Nguyên nhân của sự chuyển dịch này là sự tăng cường tham gia của doanh nghiệp và ngành công nghiệp môi trường
Thực tế, phần lớn các nước phát triển trên thế giới, nguồn tài chính chi cho hoạt động BVMT được thống kê theo phần trăm GDP Các nước đang phát triển và trong đó có Việt Nam, nguồn tài chính chi cho hoạt động BVMT được thống kê theo phần trăm chi từ ngân sách nhà nước Kết quả điều tra từ 39 nước cho thấy, mức chi bình quân từ ngân sách nhà nước cho môi trường là 0,55%GDP Cao nhất
là Jordan 3,7%, tiếp đó là Butan 1,94%, Trung Quốc 1,49%, Đan Mạch 1,09% Thấp nhất là Ghana 0,02% Trong khu vực châu Á, cao nhất là Trung Quốc 1,49%, Nhật 0,44%, Hàn Quốc 0,39% Chi cho môi trường của Việt Nam năm 2010 là 0,386%, cao hơn Lào 0,06% và Thái Lan 0,2% (Hình 1) So sánh mức chi theo tỷ
lệ %GDP mới chỉ phản ánh được một phần bản chất của nguồn tài chính dành cho môi trường
b) So sánh theo mức chi trên bình quân đầu người
Phân tích cho thấy mức chi trung bình trên bình quân đầu người của 27 nước
Trang 86
có số liệu thống kê là 111 USD/ người Cao nhất là Hà Lan (597 USD/người), tiếp
đó là Thụy Sỹ (380 USD/người) Thấp nhất là Lào (0,3 USD/người) (Hình 2)
Hình 1: Chi tiêu môi trường của khu vực nhà nước tính theo % GDP
Hình 2 Mức chi cho môi trường tính theo bình quân đầu người (đơn vị USD)
của 27 nước có số liệu thống kê
Trang 97
So với một số nước trong khu vực (Hình 3), mức chi của Việt Nam chỉ cao hơn mức chi của Lào (0,3 USD/người), thấp hơn mức chi của Nhật Bản (168 USD/người), Hàn Quốc (68 USD/người), Trung Quốc (50 USD/người), Thái Lan (8 USD/người)
Hình 3: Mức chi môi trường khu vực nhà nước bình quân đầu người (đơn vị
USD) của một số nước châu Á
Nếu tính chi cho môi trường theo tỷ lệ % GDP thì mức của Việt Nam thấp hơn mức chi trung bình của các nước, ở mức 69% mức chi trung bình này (Hình 4) Nếu tính chi cho môi trường theo bình quân đầu người thì mức chi ở Việt Nam ở mức rất thấp, chỉ ở mức 4% của mức trung bình (Hình 5)
Trang 108
Hình 4 So sánh giữa mức chi cho môi trường của Việt Nam với mức chi
trung bình của các nước (tính theo tỷ lệ % GDP)
xu hướng tăng quyền kiểm soát và điều phối chi ngân sách cho môi trường cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp Trung ương Ví như ở Hàn Quốc, tỷ lệ chi ngân sách do Bộ Môi trường đảm nhận tăng từ 40% năm 2003 lên 80% năm
2005 và 98% năm 2007 (Hình 6) Ở Estonia, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính
Trang 119
những năm 2007 - 2008, tỷ lệ chi ngân sách cho môi trường ở cấp Trung ương vẫn được ưu tiên tăng 30% Một điểm đáng lưu ý khác là xu hướng tập trung hóa trách nhiệm và quyền hạn quản lý nhà nước về môi trường cho Bộ Môi trường không chỉ diễn ra trong lĩnh vực chi ngân sách mà còn ở các lĩnh vực quản lý nhà nước khác ở một số nước như Hàn Quốc và Nhật Bản
Hình 6 Tỷ lệ chi ngân sách môi trường do Bộ Môi trường Hàn Quốc chủ trì
tăng trong những năm gần đây
(Nguồn: Soocheol Lee 2010)
3 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH CHO MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM
3.1 Vai trò của ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường
Vai trò của NSNN cho BVMT không chỉ là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, củng cố, cải thiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường mà còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động môi trường nhằm bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững
Ngay cả khi có nhiều nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường, nhưng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường (từ nguồn ngân sách nhà nước) vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò của NSNN cho sự nghiệp môi trường ở Việt Nam như sau:
Trang 1210
Thứ nhất: nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường là nguồn tài chính để duy trì,
định hướng sự phát triển của hệ thống quản lý và BVMT theo đúng đường lối, chủ trương, mục tiêu của Nhà nước, bao gồm cả thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế
đã cam kết trong lĩnh vực BVMT Hoạt động BVMT nói chung bao gồm cả các hoạt động mà các đầu tư tư nhân (doanh nghiệp) không muốn hoặc do dự khi quyết định bỏ ra vì lý do kém hấp dẫn về lợi nhuận hoặc môi trường đầu tư không thuận lợi
Thứ hai: Chi NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố, tăng cường
số lượng và nâng cao chất lượng môi trường Hai yếu tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động BVMT
Thứ ba: Chi NSNN là nguồn cơ bản đảm bảo kinh phí để thực hiện các nội
dung, nhiệm vụ chi được quy định
Thứ tư: Thông qua cơ cấu, định mức chi cho BVMT có tác dụng điều chỉnh
cơ cấu, quy mô, giữa các vùng, miền là hết sức quan trọng, đảm bảo cho môi trường được cải thiện, bảo vệ theo đúng định hướng đường lối của Đảng và Nhà nước
Thứ năm: Chi NSNN còn có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu hút các
nguồn vốn khác đầu tư cho môi trường Mặt khác trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án môi trường thì sự chi tiêu này có thể là số vốn đối ứng quan trọng để thu hút các nguồn lực khác
3.2 Nguồn lực tài chính cho công tác bảo vệ môi trường
Trong những năm qua, đầu tư cho bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến tích cực Từ năm 2006, ngân sách cho bảo vệ môi trường đã được bố trí thành một nguồn riêng đó là chi sự nghiệp môi trường với quy mô không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước Giai đoạn 2011-2015, chi thường xuyên cho sự nghiệp bảo vệ môi trường được tăng dần hàng năm và cao hơn so với giai đoạn trước [3] Việc bảo đảm nguồn chi sự nghiệp môi trường nói trên là cố gắng lớn của Nhà nước trong việc đáp ứng các điều kiện cần thiết cho công tác bảo vệ môi trường Mặc dù, trong quản lý, phân bổ còn có những hạn chế, bất cập, đặc biệt tại các địa phương
Trang 1311
song nguồn chi này cũng đã góp phần quan trọng hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ công tác bảo vệ môi trường (nhất là hoạt động quản lý môi trường) ở các Bộ, ngành và địa phương Nhiều điểm nóng, bức xúc về môi trường thuộc khu vực công ích đã được
bố trí kinh phí để xử lý; phần lớn các cơ sở y tế tuyến trung ương, tỉnh và các bãi rác, kho thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
đã và đang được đầu tư từ nguồn vốn sự nghiệp môi trường để xử lý, khắc phục
Kinh phí đầu tư phát triển cho công tác bảo vệ môi trường cũng đã được quan tâm bố trí hơn so với giai đoạn 2006 -2010, song vẫn còn rất hạn chế và chưa được tách thành một nguồn riêng như chi sự nghiệp môi trường Nhìn chung, việc
bố trí nguồn chi này chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là đối với nhu cầu triển khai một số dự án có vốn đầu tư lớn về hạ tầng kỹ thuật xử lý môi trường; khắc phục, cải tạo ô nhiễm tại các lưu vực sông, khu vực bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Bên cạnh 02 nguồn chi ngân sách quan trọng trên, kinh phí để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và một số đề án lớn về bảo vệ môi trường đã được quan tâm, bố trí nhưng còn hạn chế, chưa đáp ứng các mục tiêu, nội dung đã được phê duyệt Tính đến nay, Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 -2015 mới được cấp vốn là 983 tỷ đồng/5.863 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 16,8% tổng kinh phí được phê duyệt Giai đoạn 2010-2015, ngân sách sự nghiệp môi trường trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương để xử
lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích ở các địa phương là trên 2.200 tỷ đồng (chiếm 30% tổng chi ngân sách sự nghiệp môi trường
ở trung ương); hỗ trợ xử lý ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg với tổng kinh phí trên 240 tỷ đồng [3]
Giai đoạn 2011-2015 được đánh dấu bởi những bước tiến đáng kể trong việc huy động vốn hỗ trợ, vốn vay của các quốc gia, tổ chức quốc tế cho công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam Các nguồn vốn huy động được đã đóng góp một phần quan trọng cho đầu tư các công trình xử lý môi trường tập trung ở các địa phương (bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung, trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, lò đốt chất
Trang 1412
thải y tế, ) Trong giai đoạn 2009-2015 nguồn vốn ODA dành cho các dự án có liên quan đến môi trường đạt khoảng 3.739 triệu USD; trong đó vốn vay là 3.514 triệu USD, viện trợ không hoàn lại là 225 triệu USD [3]
Bên cạnh nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều
cơ chế, chính sách khuyến khích nhằm thúc đẩy nguồn vốn xã hội hóa cho công tác bảo vệ môi trường, huy động nguồn đầu tư từ các thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân Đến nay, đã có nhiều tổ chức và cá nhân tham gia đầu
tư phát triển vào lĩnh vực môi trường từ nhiều nguồn vốn, bước đầu hình thành hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích Một số lĩnh vực dịch vụ môi trường đã có
sự phát triển mạnh như: thu gom, vận chuyển rác thải, cơ sở xử lý rác thải; thu gom, vận chuyển chất thải rắn nguy hại (kể cả chất thải y tế); xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; xử lý nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ phân tán,…
3.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
Ở Trung ương, đã tiếp tục kiện toàn Tổng cục Môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thống nhất thực hiện chức năng quản lý môi trường trên phạm vi cả nước Tại các
Bộ, ngành đều đã thành lập các đơn vị chức năng quản lý môi trường Nhiều tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Ban quản lý khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh lớn cũng đã thành lập phòng, ban, bộ phận hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Bộ Công an và các phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường của 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã được thành lập nhằm góp phần nâng cao năng lực giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường [2]
Ở địa phương, cơ cấu tổ chức quản lý môi trường tiếp tục được kiện toàn từ cấp tỉnh đến cấp xã, đã có 63 Chi cục Bảo vệ môi trường, 62 Trung tâm Quan trắc môi trường; 708 Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và 11.148 cán bộ địa chính - xây dựng và môi trường cấp xã Như vậy, giai đoạn 2011-2015, số lượng các quận, huyện thành lập phòng Tài nguyên và Môi trường đã tăng lên so với giai
Trang 1513
đoạn trước, nhiều quận, huyện đã tăng cường cán bộ có chuyên môn môi trường; riêng các xã, phường hiện nay chủ yếu vẫn giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường cho cán bộ địa chính kiêm nhiệm, một số ít nơi đã bố trí cán bộ chuyên trách; một số nơi giao nhiệm vụ này cho cán bộ văn phòng Ủy ban nhân dân xã, phường [2]
Ở cấp độ liên vùng, Ủy ban lưu vực sông đã được thành lập như: 03 Ủy ban bảo vệ môi trường LVS Cầu, Nhuệ - Đáy và lưu vực hệ thống sông Đồng Nai do Thủ tướng Chính phủ thành lập; Ban Quản lý quy hoạch các lưu vực sông: Cửu Long, Đồng Nai, sông Hồng - Thái Bình do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập
Bên cạnh việc tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan quản
lý môi trường từ Trung ương đến địa phương, trong giai đoạn 2011-2015, việc điều chỉnh, phân công, phân cấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã từng bước được quan tâm Điều này được thể hiện rõ trong các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của các Bộ, ngành, địa phương đã được phân định cụ thể, thống nhất Theo Luật bảo
vệ môi trường 2005, chức năng quản lý môi trường một số lĩnh vực chuyên ngành như quản lý chất thải rắn, quản lý môi trường lưu vực sông, quản lý môi trường biển
và hải đảo, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học, được phân công cho các Bộ, ngành có liên quan cùng tham gia thực hiện Tuy nhiên hiện nay, theo phân công của Chính phủ tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu, Bộ Tài nguyên và Môi trường thống nhất quản
lý nhà nước về chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường
4 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Qua nghiên cứu kinh nghiệm chi ngân sách nhà nước cho BVMT của một số nước trên thế giới, rút ra một số nhận định và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Trang 1614
Thứ nhất, việc đánh giá mức chi và hiệu quả chi cho môi trường được các
chính phủ và các tổ chức tài trợ quốc tế rất quan tâm EU đã xây dựng hướng dẫn về cách thống kê chi cho môi trường trong ngân sách nhà nước, khối công nghiệp dịch
vụ môi trường và các doanh nghiệp Ngân hàng Thế giới cũng có những nghiên cứu độc lập về mức chi và hiệu quả chi môi trường ở các nước đối tác Thông tin về chi môi trường rất hữu ích cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư cho môi trường cũng như xác định các định hướng chiến lược cho công tác BVMT
Thứ hai, tỷ lệ chi cho môi trường có xu hướng chuyển từ ngân sách nhà nước
sang khối doanh nghiệp, dịch vụ môi trường Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải chi trả” và “người hưởng lợi phải chi trả” Nguồn ngân sách nhà nước phân bổ để quản lý các vấn đề môi trường thông qua các nội dung ưu tiên trọng tâm được xác định hàng năm mang tính liên vùng và địa phương, được giao hàng năm do cơ quan quản lý nhà nước về môi trường theo dõi, đánh giá
Nguồn kinh phí chi cho BVMT được sử dụng từ các nguồn thu thuế môi trường tính theo tỷ lệ % GDP năm 2010: cao nhất là Đan Mạch (4,03%), thấp nhất
là Mỹ (0,78%)
Tại một số nước trên thế giới nguồn thu chính để chi cho BVMT là từ việc
xử lý, thu gom rác thải Tại Australia, Chính phủ quy định người dân phải trả cho các doanh nghiệp thu gom 212,6 USD/tấn rác hỗn hợp, sau đó doanh nghiệp trích nộp vào NSNN 78,5 USD/tấn rác Đây là bài học về “người gây ô nhiễm phải chi trả tiền” Về chính sách, pháp luật: Chính phủ chỉ ban hành các đạo Luật, quy định khung về BVMT, sau đó giao cho địa phương ban hành các quy định chi tiết phù hợp với các điều kiện đặc thù Đồng thời giao cho cơ quan chuyên môn về môi trường lập kế hoạch quản lý, phân bổ nguồn kinh phí (dựa trên 02 tiêu chí chính là dân số và diện tích), đồng thời giám sát, đánh giá các chỉ tiêu môi trường từ Chính phủ đến địa phương theo nguồn kinh phí được giao
Thứ ba, khi phát triển ở mức nhất định, tỷ lệ chi môi trường theo GDP sẽ
giảm Theo đó khi đạt đến trình độ phát triển nhất định, các vấn đề ô nhiễm và suy
Trang 1715
thoái môi trường sẽ giảm do tuân thủ luật pháp nghiêm, ý thức BVMT được nâng cao và áp dụng công nghệ tiên tiến làm tăng hiệu suất xử lý các vấn đề môi trường Theo số liệu thống kê của 39 nước có số liệu thống kê, mức chi ngân sách cho môi trường theo tỷ lệ %GDP sẽ có xu hướng giảm khi GDP bình quân đầu người đạt mức khoảng 2.500 USD (Hình 7) Tuy nhiên, tỷ lệ chi môi trường theo đầu người vẫn có xu hướng tăng cùng với mức tăng của GDP (Hình 8)
Hình 7 Mối tương quan giữa chi môi trường tính theo %GDP và GDP bình
quân đầu người
Hình 8 Mối tương quan giữa chi môi trường bình quân đầu người và GDP bình
quân đầu người Thứ tư, để tăng cường hiệu quả công tác BVMT ở Việt Nam, cần tăng mức
chi ngân sách cho môi trường Là một nước đang phát triển với GDP bình quân đầu người khoảng 1.100 USD, Việt Nam cần tiếp tục tăng mức chi ngân sách cho môi trường Như đã trình bày ở trên, mức chi ngân sách hiện tại ở Việt Nam tính theo tỷ
lệ %GDP mới ở mức 69% của mức trung bình Như vậy để đạt được mức trung
Trang 18Đồng thời, tăng cường vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc chủ trì, điều phối, kiểm tra chi môi trường ở các Bộ, ngành và địa phương để kịp thời nắm bắt thông tin và có những quyết sách phù hợp với tình hình thực tế
Trang 1917
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của trung ương giai đoạn 2011 – 2015
- Phạm vi nghiên cứu: Các Bộ, ngành và cơ quan trung ương
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước như các Bộ, ngành và cơ quan trung ương, các thông tin từ các địa phương Các phương pháp chính được thực hiện trong luận văn là phương pháp kế thừa, phương pháp điều tra thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu và phương pháp chuyên gia
2.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa kết quả các công trình, dự án đã nghiên cứu về công tác quản lý và
sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường
Kế thừa các kết quả tổng hợp, báo cáo về tình hình quản lý trong hoạt động bảo vệ môi trường của các Bộ, cơ quan trung ương những năm qua
2.2 Phương pháp điều tra thu thập, phân tích các tài liệu và số liệu
Điều tra khảo sát, thu thập dữ liệu về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương tại các Bộ, cơ quan trung ương và một số địa phương sử dụng nguồn kinh phí này
Thu thập tài liệu, số liệu từ các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố
về quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước nói chung, kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương nói riêng của nước ta giai đoạn 2011 - 2015
Số liệu được tổng hợp, xử lý và phân tích theo phương pháp thống kê thông thường
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Hỏi ý kiến và trao đổi với các cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về môi trường của các Bộ, ngành và cơ quan trung ương
Tham khảo ý kiến chuyên gia để loại trừ các nội dung không phù hợp, bổ sung các nội dung tương thích với việc đánh giá bằng hình thức trao đổi, hội thảo
Trang 2018
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG
Trong những năm qua, việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường tiếp tục được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề cập một cách toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách đối với công tác bảo vệ môi trường Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và đặc biệt là Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cùng nhiều chương trình, chiến lược, kế hoạch chuyên ngành khác
Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường cũng đã có những bước phát triển mới với việc Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi và thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 với nhiều quy định mới đề cập đến những vấn đề nóng đang đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường giai đoạn hiện nay như: vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu; thúc đẩy tăng trưởng xanh, cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường gắn với phát triển bền vững; xây dựng quy hoạch môi trường; bổ sung quy định nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, cụ thể hóa quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường
Ngay sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được thông qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 08 văn bản quy định chi tiết hướng dẫn, thi hành Luật; đang khẩn trương hoàn thành, trình Chính phủ ban hành 01 Nghị
Trang 2119
định; đã ban hành theo thẩm quyền 10 trong tổng số 31 Thông tư, 02 Thông tư liên tịch dự kiến xây dựng, ban hành để quy định chi tiết thi hành Luật Các địa phương cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức triển khai Luật; xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch về bảo vệ môi trường 5 năm và hàng năm, các quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố; quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố [3]
Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cũng được
rà soát, sửa đổi và ban hành đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn Giai đoạn
2008-2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, chuyển đổi và xây dựng mới 47 lượt QCVN; trong đó có 14 QCVN về chất lượng môi trường xung quanh (nước, không khí, trầm tích, tiếng ồn, độ rung) và 33 QCVN về chất thải (khí thải, nước thải, chất thải rắn, phế liệu, ) Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội xây dựng, ban hành 05 quy chuẩn riêng cho Thủ đô
Hà Nội theo Thông tư số 51/2014/TT-BTNMT ngày 05/9/2014 Năm 2015, theo kế hoạch Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục rà soát, xây dựng và ban hành 18 QCVN để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý môi trường; nghiên cứu, rà soát
và xây dựng 17 TCVN trong lĩnh vực môi trường [3]
Một số các văn bản quan trọng làm cơ sở đề xuất các nhiệm vụ chi từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; phân công cụ thể trách nhiệm của cơ quan tài nguyên và môi trường, cơ quan tài chính trong quá trình lập và phân bổ dự toán kinh phí sự nghiệp môi trường như:
1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:
Luật bao gồm 20 Chương, 170Điều Trong đó, tại Điều 147 quy định về Chi ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường cụ thể như sau:
- Chi hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường gồm:
Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, quy trình kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật môi trường, chương trình, đề
án về bảo vệ môi trường;
Trang 22Các hoạt động quản lý bảo vệ môi trường khác
- Chi đầu tư phát triển bảo vệ môi trường gồm chi cho các dự án xây dựng, cải tạo công trình xử lý chất thải, xây dựng và trang bị trạm quan trắc và phân tích môi trường do Nhà nước quản lý; đầu tư phương tiện, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo tồn đa dạng sinh học; cải tạo nguồn nước bị ô nhiễm, trồng và chăm sóc cây xanh tại nơi công cộng, khu vực công ích
- Việc xây dựng dự toán và quản lý sử dụng ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước
2 Luật Đa dạng sinh học năm 2008:
Luật bao gồm 8 Chương, 78 Điều Trong đó, tại Điều 73, quy định về nguồn lực tài chính cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, được hình thành từ các nguồn sau:
Trang 2321
khác theo quy định của pháp luật
3 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước Trong đó Thủ tướng Chính phủ quyết định định mức phân bổ ngân sách trong thời kỳ ổn định ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương và địa phương Căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng Chính phủ ban hành, khả năng tài chính - ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách ở địa phương Thủ tướng Chính phủ quyết định các chế
độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước Đối với một
số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu để phù hợp đặc điểm của địa phương, Thủ tướng Chính phủ quy định khung và giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách đối với các ngành, lĩnh vực sau khi thống nhất với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương
4 Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2011 Trên cơ sở tổng dự toán chi sự nghiệp môi trường của ngân sách nhà nước hàng năm, trong đó ngân sách trung ương 15%, ngân sách địa phương 85% (chi sự nghiệp môi trường của ngân sách địa phương được phân bổ theo các tiêu chí: Dành 48% phân bổ theo số dân số đô thị và mật độ dân số, 45% phân bổ cho yếu tố tác động môi trường của sản xuất công nghiệp theo giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn từng địa phương, 2% phân bổ đảm bảo môi trường khu bảo tồn thiên nhiên và dành 5% phân bổ cho yếu tố tác động từ rừng tự nhiên đảm bảo môi trường thiên nhiên theo diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn từng địa phương)
Trang 2422
5 Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2009 của Chính phủ quy định về ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, vốn; miễn, giảm thuế, phí đối với hoạt động bảo vệ môi trường; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm từ hoạt động bảo vệ môi trường
và các ưu đãi, hỗ trợ khác đối với hoạt động và sản phẩm từ hoạt động bảo vệ môi trường
6 Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn
đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
7 Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 38/2011/QĐ-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 58/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách nhà nước cho một số cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích
8 Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”
9 Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước
10 Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trọng đến năm 2020
11 Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BTNMT-BTC ngày 29 tháng 4 năm
2008 của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường – Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán công tác bảo vệ môi trường thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường
12 Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 10 tháng 3 năm
Trang 2523
2010 về việc hướng dẫn quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường
Tại Khoản 1, Điều 2 của Thông tư liên tịch, quy định nội dung chi của kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương cụ thể như sau:
- Đảm bảo hoạt động của hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia theo Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020 do các cơ quan, đơn vị trung ương quản lý (bao gồm
cả mạng lưới trạm quan trắc và phân tích môi trường); thực hiện các chương trình quan trắc hiện trạng môi trường, các tác động đối với môi trường
- Hỗ trợ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm các nội dung: xây dựng dự án, điều tra khảo sát, phân tích đánh giá tình hình ô nhiễm, thực hiện xử lý ô nhiễm môi trường, mua bản quyền công nghệ xử lý chất thải (nếu có), kiểm tra, nghiệm thu dự án:
Dự án xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích do trung ương quản lý (đối với dự án có tính chất chi sự nghiệp bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường), thuộc danh mục dự án theo Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Quyết định
số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích
Thu gom, vận chuyển, xử lý giảm thiểu, tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải tồn lưu, kiểm soát các nguồn thải và các điểm ô nhiễm môi trường tồn lưu do trung ương quản lý
Dự án xử lý chất thải cho một số bệnh viện, cơ sở y tế, trường học, các cơ sở giam giữ của nhà nước do trung ương quản lý không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp
Trang 26- Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên của Nhà nước; quản lý cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân giống một số loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng do trung ương quản lý
- Xây dựng và duy trì hoạt động hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi
trường quốc gia (bao gồm thu thập, xử lý và trao đổi thông tin); hệ thống thông tin cảnh báo môi trường cộng đồng
- Báo cáo môi trường định kỳ và đột xuất; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường
- Hoạt động nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường đến cấp tỉnh
- Chi giải thưởng, khen thưởng cấp quốc gia về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân có thành tích đóng góp trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường được cấp
có thẩm quyền quyết định;
- Hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban điều hành, Văn phòng thường trực về bảo
vệ môi trường được cấp có thẩm quyền quyết định; vốn đối ứng các dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường (nếu có)
Trang 2725
- Hỗ trợ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
- Hỗ trợ cho các địa phương theo các dự án được cấp có thẩm quyền quyết định
- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, sẽ bố trí chi từ nguồn thu phí được để lại để thực hiện)
- Các hoạt động khác có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường
2 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM
1 Tình hình chung về phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường
Theo Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoạt động bảo vệ môi trường cần được đa dạng hóa các nguồn đầu tư Riêng ngân sách nhà nước cần có mục chi riêng cho hoạt động sự nghiệp môi trường và tăng chi để bảo đảm đến năm 2006 đạt mức chi không dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Hàng năm, căn cứ Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2011, đối với nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường, trên
cơ sở tổng dự toán chi sự nghiệp môi trường của ngân sách nhà nước, trong đó ngân sách trung ương 15%, ngân sách địa phương 85%
Trong giai đoạn 2011-2015, về cơ bản tổng kinh phí chi sự nghiệp môi trường đã đảm bảo ở mức không dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước theo quy định Tỷ lệ chi ngân sách trung ương là 14% và địa phương là 86% trong tổng chi 1% sự nghiệp môi trường gần đáp ứng quy định tại Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Trong đó, chi sự nghiệp môi trường ở ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương chiếm
Trang 2826
tới 35%, chủ yếu để hỗ trợ xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích ở các địa phương có khó khăn về nguồn thu; chi ở các Bộ, ngành, cơ quan trung ương để thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao chiếm khoảng 35%)
Bảng 1: Phân bổ ngân sách sự nghiệp môi trường giai đoạn 2011-2015
Đơn vị: triệu đồng
T
Tổng cộng (và so với tổng chi)
Phân bổ dự toán hằng năm
2.2 Quy trình xây dựng và tổng hợp kinh phí sự nghiệp môi trường
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư liên tịch số BTC-BTNMT ngày 10 tháng 3 năm 2010 về việc hướng dẫn quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch và dự toán phát triển kinh tế, xã hội của năm kế hoạch, quy trình xây dựng và tổng hợp kế hoạch bảo vệ môi trường được thực hiện theo các bước sau:
45/2010/TTLT Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản hướng dẫn xây dựng
kế hoạch và dự toán kinh phí sự nghiệp môi trường các Bộ, ngành và địa phương Các Bộ, ngành và địa phương gửi bản đề xuất kế hoạch bảo vệ môi trường về Bộ
Trang 2927
Tài nguyên và Môi trường trước ngày 20 tháng 7 hàng năm
- Tháng 8, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp và tổ chức các buổi thảo luận kế hoạch và dự toán kinh phí sự nghiệp môi trường với các bộ, ngành có sự tham dự của Bộ Tài chính
- Sau khi thảo luận và thống nhất kế hoạch, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, đề xuất gửi Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Bộ Tài chính tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua
- Thông báo nội dung kinh phí sự nghiệp môi trường cho các Bộ, ngành và
hỗ trợ các địa phương sau khi Quốc hội thông qua và có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
3.1 Thực trạng phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương giai đoạn 2011 – 2015
Hàng năm, kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương được phân bổ để triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường, cụ thể: Phân bổ cho 31 Bộ, cơ quan Trung ương; Phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn; Phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; Hỗ trợ Chương trình "Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo phương thức dựa trên kết quả tại 08 tỉnh đồng bằng sông Hồng”; Hỗ trợ giá điện gió thông qua Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Bổ sung vốn điều lệ của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Bổ sung có mục tiêu cho 03 tỉnh Quảng Ninh, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu để khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường trong khai thác than và dầu khí và dành một phần lớn kinh phí để hỗ trợ các địa phương xử lý các cơ sở công ích gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trang 3116 Bộ Tài nguyên và môi trường 190.000 195.000 270.000 185.000 340.000
17 Uỷ ban Dân tộc 1.600 1.700 1.000 750 1.000
18 Viện khoa học và công nghệ
Việt Nam 5.000 2.600 2.600 2.600 3.500
19 Viện khoa học và xã hội Việt
20 Đại học Quốc gia Hà nội 450 1.500 1.500 1.200 1.436
21 Đại học Quốc gia thành phố Hồ
24 Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 1.628 800 800 600 1.000
25 Hội Nông dân Việt Nam 7.000 6.200 3.000 3.200 6.000
26 Tổng liên đoàn lao động Việt
27 Liên minh hợp tác xã Việt Nam 2.550 1.350 1.200 1.050 2.750
Trang 3230
Nguồn [2]
Trong giai đoạn 2011-2015, kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương được phân bổ chủ yếu cho việc hỗ trợ 31 Bộ ngành thực hiện các công tác quản lý nhà nước về môi trường và hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương xử lý các cơ sở công ích gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Đối với nguồn chi hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương, giai đoạn
2010-2015, nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương đã hỗ trợ xử lý cho 90 bãi rác thải đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, 220 dự án xây dựng các công trình xử lý nước thải và chất thải rắn cho các bệnh viện đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, 30 dự án xử lý các cơ sở bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật Đến nay, nhiều cơ sở công ích gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã được xử lý
ô nhiễm môi trường và được ra khỏi danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường
Đối với nguồn chi cho các Bộ, ngành nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường trung ương đã đảm bảo cho các Bộ, ngành thực hiện các công tác quản lý nhà nước
về môi trường Nhiều văn bản quản lý nhà nước về môi trường đã được ban hành và
28 Liên hiệp các hội khoa học và
29 Hội Cựu chiến binh Việt Nam 1.000 900 800 600 1.000
30 Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ
Trang 3331
đưa vào thực hiện như Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2014 đã được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
3.2 Thực trạng các hoạt động bảo vệ môi trường
Với kinh phí sự nghiệp được giao, các Bộ, cơ quan trung ương đã triển khai thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường cụ thể như sau:
3.2.1 Phòng ngừa, giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu lên môi trường
a) Hoạt động đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
Trong thời gian qua, công tác đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được thực hiện nền nếp, chú trọng nâng cao chất lượng để góp phần phòng ngừa ô nhiễm, giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường Nội dung, quy trình, thủ tục thẩm định ĐMC, ĐTM được quy định rõ ràng, minh bạch hơn theo hướng cải cách hành chính nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về chất lượng của công tác thẩm định Đã bổ sung một số điểm mới quan trọng trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 như: công cụ quy hoạch bảo vệ môi trường; rà soát lại danh mục các đối tượng phải lập ĐMC/ĐTM; quy định yêu cầu về chứng chỉ tư vấn ĐMC/ĐTM; hình thành danh mục dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không phải lập kế hoạch bảo vệ môi trường Đặc biệt, đã bổ sung yêu cầu lồng ghép nội dung về biến đổi khí hậu trong báo cáo ĐMC và nội dung đánh giá sức khỏe cộng đồng trong ĐTM
Để nâng cao chất lượng công tác ĐMC và ĐTM, các hướng dẫn kỹ thuật chuyên ngành đã được xây dựng và ban hành như: hướng dẫn kỹ thuật ĐMC chuyên ngành cho các loại hình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp vùng và cấp tỉnh, quy hoạch phát triển giao thông đường bộ, quy hoạch phát triển khu công nghiệp; hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo ĐTM chuyên ngành cho các loại
Trang 3432
hình dự án: nhà máy điện hạt nhân, khai thác than bằng công nghệ khí hóa, xây dựng khu du lịch và xử lý chất thải nguy hại bằng công nghệ đốt; xây dựng 07 hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo ĐTM đối với dự án chế biến đất hiếm, xây dựng công trình thủy lợi, xây dựng đường sắt trên cao, xây dựng cơ sở sản xuất tinh bột
mì, xây dựng cơ sở sản xuất phân hữu cơ vi sinh, xây dựng cơ sở xử lý, tái chế chất thải nguy hại Tiếp tục nghiên cứu xây dựng các hướng dẫn lập, thẩm định báo cáo ĐMC, ĐTM cho các loại hình quy hoạch, dự án quan trọng khác
Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực ĐMC Đã có hơn 700 cán bộ của các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan tư vấn, nghiên cứu, đào tạo tham gia học tập; đào tạo được hơn 30 giảng viên về ĐMC Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã tổ chức một số khóa tập huấn ĐMC cho cán bộ của Bộ, một số Bộ và địa phương liên quan; Bộ Công Thương đã tổ chức 3 khóa tập huấn ĐMC cho 70 cán bộ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức 04 khóa tập huấn ĐMC cho 170 cán bộ của Bộ và một số Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Xây dựng đã tổ chức một số khóa tập huấn ĐMC cho cán bộ các Sở Xây dựng, Sở Kiến trúc quy hoạch
Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2011-2015, đã có 106 dự án chiến lược, quy hoạch đã thực hiện ĐMC, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thẩm định 71
dự án, các Bộ, ngành khác là 21 dự án, địa phương là 14 dự án; hơn 9.000 dự án đầu
tư đã thực hiện báo cáo ĐTM, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt hơn 1.200 báo cáo, các Bộ, ngành và địa phương thẩm định, phê duyệt hơn 100 báo cáo và các địa phương là hơn 8.000 báo cáo
Yêu cầu kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường trước khi dự án
đi vào hoạt động tiếp tục được quy định cụ thể, rõ đối tượng hơn trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 nhằm bảo đảm các dự án phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo báo cáo ĐTM, kế hoạch bảo vệ môi trường đã được phê duyệt, xác nhận Theo đó các dự án đầu tư lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường phải
Trang 35b) Tình hình xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Công tác rà soát, đánh giá, phân loại, lập danh mục và tổ chức thực hiện xử
lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã được triển khai quyết liệt, có hiệu quả Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, lập danh mục 435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử lý triệt để giai đoạn đến năm 2020 theo tiêu chí quy định tại Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT, làm cơ sở trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, trong đó đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 không còn cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Để đạt được mục tiêu đề ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu xây dựng một hành lang pháp lý khá đồng bộ từ các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho đến các chế tài xử lý nghiêm khắc, có tính răn đe, góp phần quan trọng thúc đẩy tiến độ
xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên phạm vi cả nước Bên cạnh các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sẽ được đưa vào danh mục để công khai thông tin, tăng cường
sự giám sát của cộng đồng trong việc thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để Đối với cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích, trách nhiệm xử lý là của Nhà nước do đó việc đưa vào danh mục nhằm xác định trọng điểm ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, các nguồn vốn huy động hợp pháp khác để khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường Từ năm 2016, sẽ áp dụng chỉ tiêu
Trang 3634
giảm phát sinh cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đối với từng địa phương
để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của địa phương Hiện nay, Quyết định số 1788/QĐ-TTg đang được các Bộ, ngành
và địa phương tích cực triển khai thực hiện
c) Kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu
Hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong giai đoạn vừa qua tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp Một số tổ chức, cá nhân đã “lợi dụng” chính sách của Nhà nước về nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất để đưa rác thải vào nước ta Nhằm ngăn chặn, kiểm soát tình trạng này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã có những quy định cụ thể hơn về điều kiện phế liệu được phép nhập khẩu, điều kiện đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu, không được buôn bán, kinh doanh phế liệu nhập khẩu
Trong giai đoạn 2011-2015, số lượng các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu phế liệu có nhiều biến động Theo thống kê của các tỉnh, thành phố trong
cả nước, trong hai năm 2011 và 2012, có khoảng 400 doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, chủ yếu là nhóm phế liệu sắt, thép (khoảng 2,2 triệu đến 2,5 triệu tấn/năm), phế liệu nhựa (khoảng 800 ngàn tấn/năm), phế liệu giấy (khoảng 700 ngàn tấn/năm) Giai đoạn năm 2013-2015 chỉ còn khoảng 200 đến 250 doanh nghiệp, tập trung vào nhóm phế liệu sắt, thép (khoảng 2,5 triệu tấn/năm), phế liệu giấy, nhựa (khoảng 1,2 triệu đến 1,5 triệu tấn/năm), phế liệu nhôm (xấp xỉ 886 triệu tấn/năm), phế liệu đồng (khoảng 22 triệu tấn/năm), tổng các phế liệu khác (khoảng 1,1 triệu tấn/năm)
Thực hiện các quy định về kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan hải quan, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố theo dõi, cập nhật thường xuyên tình hình nhập khẩu, sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, phát hiện và xử lý đối với các trường hợp vi phạm; tập trung xử lý dứt điểm các