Gửi tới các bạn tài liệu ôn thi cao học môn triết học mới nhất năm 2016. Tài liệu rất hữu ích cho các bạn muốn hệ thống lại kiến thức để thi cao học các chuyên ngành không chuyên triết và chuyên triết. Đặc biệt hữu ích cho các bạn có mong muốn, nguyện vọng thi cao học tại trường học viện chính trị quốc gia hồ chí minh. Mình đã tạo sẵn mục lục ở trang cuối cùng của tài liệu.Chúc các bạn ôn thi tốt và đạt kết quả mong muốn.
Trang 1NỘI DUNG CHÍNH ÔN TẬP MÔN TRIẾT 2016
Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin? Ý nghĩa phương pháp luận?
-*-Việc khám phá ra bản chất và cấu trúc của sự tồn tại của thế giới xung quanh ta, mà trướchết là thế giới những vật thể hữu hình, từ xưa đến nay, luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàngđầu trong lịch sử nhận thức của nhân loại Hầu hết các trường phái triết học bằng cách này haycách khác giải quyết vấn đề này Và bởi vậy, trong triết học, phạm trù vật chất xuất hiện
Lịch sử triết học đã chia triết học làm hai trường phái: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩaduy tâm - vấn đề xuyên suốt trong quá trình phát triển của lịch sử triết học:
- Các trường phái của triết học đều đi đến thống nhất triết học có hai bộ phận cấu thành
và gồm hai mặt: Vật chất và ý thức
- Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất là cái có trước (tính thứ nhất), ý thức là cái có sau(tính thứ hai) vật chất quy định ý thức - vật chất là một trong những phạm trù cơ bản, là nềntảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng
a.Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại
Nhìn chung các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại đều quy vật chất về một hay một vàidạng cụ thể của nó và xem chúng là khởi nguyên (thực thể) của thế giới
Trung Hoa: coi thực thể của thế giới là khí, phái Ngũ hành cho khởi nguyên là 5 yếu tố:
kim, mộc, thủy, hoả, thổ (ngũ hành) Lão Tử cho khởi nguyên là “Đạo”: mọi cái tự Đạo mà ra,rồi lại quay trở về với Đạo Đạo là mẹ của vạn vật
Ấn Độ: Phái Naya-Vaisêsika coi nguyên tử là thực thể của thế giới Có học thuyết cho
rằng khởi nguyên của thế giới gồm bốn yếu tố (Thuyết Tứ đại): Đất, nước, lửa, gió Phật giáocho vật chất là “Không”, mọi cái từ “Không” mà ra
Hy Lạp: Thực thể (entity) của thế giới là:
- Talét (642-547 TCN): Thực thể của thế giới là “Nước”
- Hêraclít (520-460 TCN): Thực thể của thế giới là “Lửa”
Đỉnh cao trong quan niệm Hy Lạp thời cổ đại là học thuyết nguyên tử của Lơxíp (500
-440 tr.CN) và Đêmôcrít (460-370 TCN) cho rằng, thực thể cấu tạo nên thế giới này là “Nguyêntử” Đó là các phần tử cực kỳ nhỏ, cứng, tuyệt đối không xâm nhập được, không quan sátđược và nói chung không cảm giác được Nguyên tử chỉ có thể nhận biết được nhờ tư duy
b Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV – XVIII
Trong thời kỳ này, đặc biệt là trong thế kỷ XVII – XVIII, nền khoa học tự nhiên – thựcnghiệm châu Âu, nhờ ứng dụng được những thành tựu cơ học và toán học, đã phát triển mộtcách mạnh mẽ ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về vật chất trong triết học Tuy nhiên, quanđiểm máy móc, siêu hình lúc đó vẫn chi phối những hiểu biết triết học về vật chất Các nhà triếthọc quy vật chất về những dạng theo ba khuynh hướng:
- Khuynh hướng kế tiếp thời cổ đại, quy vật chất về nguyên tử Chẳng hạn:
Trang 2+ Francis Bacon (1561-1626): Thế giới vật chất tồn tại khách quan Vũ trụ là vật chất,bao gồm những hạt nhỏ có thể phân chia đến vô tận.
+ Descartes (1596-1650): Vũ trụ là vật chất, bao gồm những hạt nhỏ luôn thay đổi vị trítrong không gian
- Các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà cơ học, quy vật chất về khối lượng
- Một số nhà triết học quy vật chất về những vật thể cụ thể Nhưng cũng đã có nhữngbước tiến trong quan niệm về vật chất Chẳng hạn:
+ Spinoza (1532-1677): Chỉ có tự nhiên là tồn tại, tự nhiên có nguyên nhân tự nó
+ Diderot (1713-1784): Trong vũ trụ, trong con người, trong mọi vật chỉ có một thực thểduy nhất là vật chất
+ Holbach (1723-1789): Vật chất là tất cả những gì tác động bằng cách nào đó vào cảmgiác của chúng ta
Tóm lại: Các quan niệm duy vật trước Mác về vật chất đều quy vật chất về những dạngtồn tại cụ thể, đồng nhất vật chất với các thuộc tính của nó (khối lượng, năng lượng ) Thựcchất là chưa có một cách hiểu khoa học về phạm trù vật chất
c Chủ nghĩa duy vật mácxít đã giải quyết một cách đúng đắn và khoa học về khái niệm vật chất và ý thức
Quan điểm của Mác – Ăngghen:
- Tính khách quan;
- Không tồn tại cảm tính;
- Vật chất luôn vận động, biến đổi và vô hạn;
- Tính khái quát của phạm trù vật chất
Cơ sở để V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: một
loạt phát minh khoa học đã tạo ra cuộc khủng hoảng (trưởng thành) của vật lý và cuộc khủnghoảng này đã bị chủ nghĩa duy tâm lợi dụng để tiến công chủ nghĩa duy vật Những phát minhmới này đã làm cho người ta cho rằng vật chất đã tiêu tan, cơ sở của chủ nghĩa duy vật đã biếnmất Bởi vì, trước đây, các nhà duy vật đã đồng nhất vật chất với nguyên tử, phần tử nhỏ bénhất, không thể phân chia được, nhưng giờ đây dưới nguyên tử còn có điện tử và các hạt cơbản; hay đồng nhất vật chất với khối lượng thì giờ đây khối lượng cũng có khả năng bằngkhông khi vẫn động đến một tốc độ nhất định
Một số phát minh trong lĩnh vực Vật lý cuối TK XIX – đầu TK XX:
- Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X
- Năm 1896, Bécceren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ…
- Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử…
- Năm 1901, Kaufman chứng minh khối lượng của điện tử thay đổi theo tốc độ vận độngcủa nó…
Trang 3Nhận xét của V.I.Lênin về những phát minh Vật lý cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
Làm tiêu tan giới hạn hiểu biết trước đây về vật chất, bác bỏ quan điểm siêu hình về vật chất.Nhận thức mới về nguyên tử chỉ bác bỏ quan niệm cũ về vật chất, không bác bỏ sự tồn tại vậtchất nói chung
Để bảo vệ quan điểm duy vật và phát triển triết học Mác, dựa trên việc khái quát những
thành tựu của khoa học, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán” (được Lênin viết năm 1908 xuất bản lần đầu năm 1909), V.I.Lênin đưa ra một định
nghĩa hoàn chỉnh về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách
quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến
bộ M.1980, trang 151)
Ở định nghĩa này, V.I.Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:
- Trước hết là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của
khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau Vật chất là một phạm trù triết học nên phải hiểu theo nghĩa:
+ Đó là sự xác định “góc độ” của việc xem xét để tránh nhầm lẫn giữa quan điểm của
triết học về bản chất của vật chất với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu trúc và nhữngthuộc tính cụ thể của các đối tượng vật chất khác nhau
+ Với tư cách là một phạm trù triết học, phạm trù vật chất phải thể hiện thế giới quan vàhướng đến sự giải quyết vấn đề cơ bản của triết học (mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại)
+ Vật chất là một phạm trù rộng nhất nên không thể định nghĩa bằng cách thông thườngtrong lôgic học: đem quy khái niệm rộng hơn Ví dụ như: tam giác cân là một tam giác có haigóc đáy bằng nhau Vật chất chỉ có thể định nghĩa được bằng cách đặt nó trong quan hệ đốilập với ý thức, xem cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào
- Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vật chất chính
là thuộc tính khách quan Điều này thể hiện:
+ Vật chất vô cùng, vô tận, nó có vô vàn những thuộc tính khác nhau rất đa dạng vàphong phú mà khoa học ngày càng phát triển thì càng tìm ra, phát hiện thêm những thuộc tínhmới của nó
Trong tất cả các thuộc tính của nó thì thuộc tính “thực tại khách quan”, tức là sự tồn tạibên ngoài, độc lập với ý thức của con người là thuộc tính chung, vĩnh hằng với mọi dạng, mọiđối tượng khác nhau của vật chất Chính vì vậy, Lênin xem “thực tại khách quan” là thuộc tínhduy nhất của vật chất
+ Thuộc tính “tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức” là tiêu chuẩn để phânbiệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất cả trong tự nhiên lẫn trong đời sống xãhội Tất cả những cái gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người đều là nhữngdạng khác nhau của vật chất Chẳng hạn, những quan hệ kinh tế - xã hội, những quan hệ sản
Trang 4xuất của xã hội , tuy không tồn tại dưới các dạng vật thể, cũng không mang các thuộc tínhkhối lượng, cũng không có cấu trúc phân tử, nguyên tử, nhưng chúng tồn tại khách quan, cótrước ý thức và quyết định ý thức Bởi vậy, chúng là vật chất dưới dạng xã hội.
Nội dung định nghĩa:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất
kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
Vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà là sự tồn tại hiệnthực, cụ thể, cảm tính Khi vật chất tác động đến giác quan của con người, đem lại cho conngười sự nhận thức về chính nó Như vậy, khả năng nhận thức của con người đối với vật chấtchính là xuất phát từ thuộc tính tồn tại cảm tính – tức tồn tại có thể nhận thức được của bản thânvật chất
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lêngiác quan của con người Khi khẳng định vật chất là cái được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh Lênin muốn nhấn mạnh rằng, bằng những phương pháp nhận thức khácnhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Bởivậy, về nguyên tắc, đối với thế giới vật chất chỉ có cái con người chưa nhận thức được, chứkhông thể có cái con người không nhận thức được Đó chính là cơ sở khoa học để đấu tranhchống “thuyết không thể biết”
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất Vật chất “được đem lại chocon người trong cảm giác”, nó là nguồn gốc, nguyên nhân của cảm giác, của ý thức, nó có trước
ý thức và tạo nên nội dung của ý thức Còn cảm giác, ý thức chỉ là sự “chép lại, chụp lại, phảnánh”, nó có sau so với vật chất Rõ ràng vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chấtquyết định ý thức
Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của Lênin: Với những nội dung cơ bản như trên, phạm
trù vật chất trong định nghĩa của Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn:
- Khẳng định quan điểm duy vật trong nhận thức luận: vật chất là tính thứ nhất (cótrước), là nguồn gốc khách quan của ý thức Định nghĩa là cơ sở khoa học bác bỏ chủ nghĩa duytâm về vấn đề cơ bản của triết học và về phạm trù vật chất, đảm bảo sự đứng vững của chủnghĩa duy vật trước sự phát triển mới của khoa học tự nhiên
- Khắc phục được các khiếm khuyết của các nhà duy vật thô sơ, máy móc trong quanniệm về vật chất, đồng thời đã phát triển triết học Mác lên một tầm cao mới…Tức là, làm chochủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo cơ
sở khoa học cho quan niệm duy vật trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử, chophép xác định được yếu tố vật chất trong lĩnh vực xã hội (tồn tại xã hội, các quan hệ sản xuất );đồng thời cũng tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủnghĩa duy vật lịch sử
- Giúp định hướng đối với các khoa học cụ thể trong việc nghiên cứu, tìm kiếm các dạngkhác nhau của vật chất …trên cơ sở trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho cácnhà khoa học tự nhiên Do vậy, định nghĩa đã có tác dụng đưa khoa học tự nhiên và nhất là vật
lý học thoát khỏi cuộc khủng hoảng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX để tiếp tục tiến lên
- Cho đến nay, mặc dù khoa học tự nhiên đã có những bước tiến rất dài so với khi địnhnghĩa vật chất của Lênin ra đời, nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị Định nghĩa vẫn là tiêu chuẩn cănbản nhất để phân biệt thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
Trang 5Câu 2: Nguồn gốc, bản chất của ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận của nó?
Vấn đề nguồn gốc, bản chất của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp của triết học, làtrung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử Nhằmchống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vậtsiêu hình Triết học Mác – Lênin đã dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật, của khoahọc và thực tiễn xã hội góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về nguồn gốc, bản chất của ý thức
a Các quan điểm khác nhau về ý thức
Triết học duy tâm: ý thức là cái có trước vật chất, tự tồn tại và là nguồn gốc của mọi sự
vật, hiện tượng.
Triết học duy vật trước Mác cho rằng: ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi
con người Nhưng sự phản ánh đó có tính thụ động, giản đơn, máy móc…
Quan niệm của Triết học Mác – Lênin: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan Hay ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan được di chuyển vào đầu óc con người
và cải biến đi
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, ý thức con người là sản phẩm của quá trình
phát triển tự nhiên và lịch sử - xã hội
b Nguồn gốc (origin) của ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên (natural origin):
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Lý thuyết phản ánh – cơ sở khoa họccủa lý luận về ý thức, bởi ý thức ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của các hình thứcphản ánh của thế giới vật chất.:
Phản ánh (reflection) là thuộc tính của mọi dạng vật chất Phản ánh là sự tái tạo nhữngđặc điểm của hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác tương tác giữachúng Trong quá trình đó, hệ thống nhận tác động mang thông tin của vật tác động Sự hìnhthành của ý thức chính là kết quả của quá trình phản ánh, nhưng đây là dạng phản ánh đặc biệt,cao nhất
Triết học Marx khẳng định, bộ óc người và thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiêncủa ý thức
- Ý thức là đặc tính riêng của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não người Bộnão người là cơ quan vật chất của ý thức Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong bộ não người, trên
cơ sở của các quá trình sinh lý – thần kinh của não
- Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng riêng có của con người, được phát triển từ thuộctính phản ánh có ở mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất nàynhững đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng
- Các tổ chức, hệ thống vật chất tiến hóa, thuộc tính phản ánh của chúng cũng phát triển từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Phản ánh của ý thức con người là hình thức phản ánh
Trang 6cao nhất của thế giới vật chất (cao hơn các hình thức phản ánh vật lý, phản ánh hóa học của thếgiới tự nhiên vô sinh; phản ánh sinh học của thế giới tự nhiên hữu sinh, tâm lý động vật củađộng vật bậc cao ).
- Ý thức là thuộc tính của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộnão người Bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới vật chất xung quanh) và sự tác động củathế giới vật chất xung quanh lên bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nguồn gốc xã hội (social origin): Bộ óc và thế giới khách quan chỉ là điều kiện cần để
có ý thức Chính lao động, ngôn ngữ và quan hệ xã hội là nguồn gốc xã hội, nguồn gốc quantrọng nhất của ý thức Vì vậy, ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
- Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành con người và xã hội loài người nhờhoạt động lao động và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ
- Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người và xã hội loài ngườikhác hoàn toàn với các loài động vật khác
- Trong quá trình lao động, con người đã biết chế tạo các công cụ để sản xuất ra của cải vậtchất Công cụ ngày càng phát triển làm tăng khả năng của con người tác động vào tự nhiên,khám phá và tìm hiểu tự nhiên, bắt tự nhiên bộc lộ những thuộc tính của mình
- Lao động của con người là hoạt động có mục đích, tác động vào thế giới khách quan làmbiến đổi thế giới khách quan, cải tạo thế giới khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của conngười Quá trình đó cũng làm biến đổi chính bản thân con người, làm cho con người ngày càngnhận thức sâu sắc hơn thế giới khách quan
- Chính nhờ có quá trình lao động, bộ não người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làmcho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển Hoạt động lao độngcủa con người đã đưa lại cho bộ não người năng lực phản ánh sáng tạo về thế giới
- Hoạt động lao động của con người đồng thời cũng là phương thức hình thành và pháttriển của ý thức Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được ở bênngoài quá trình con người lao động làm biến đổi thế giới xung quanh
- Lao động sản xuất là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ Trong lao động,con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm Từ đó ngônngữ ra đời và phát triển cùng với lao động
- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện đểcon người giao tiếp với nhau, phản ánh một cách khái quát sự vật Nhờ có ngôn ngữ, con ngườitổng kết kinh nghiệm thực tiễn, trao đổi thông tin cho nhau, trao đổi tri thức từ thế hệ này sangthế hệ khác
- Ngôn ngữ là phương tiện vật chất không thể thiếu được của quá trình phản ánh khái quáthóa, trừu tượng hóa, tức là quá trình hình thành ý thức Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kíchthích chủ yếu” biến bộ não vật thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ýthức
Trang 7Lao động và ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành và pháttriển ý thức.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng làm rõ nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức.Nếu nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần thì nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để hình thành ýthức của con người Như vậy, ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tựnhiên và lịch sử - xã hội Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức làthực tiễn xã hội Ý thức là một hiện tượng xã hội Đó là cơ sở khoa học để chúng ta vạch rõquan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về ý thức
c Bản chất (essence, nature) của ý thức:
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức như một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, làcái có trước sinh ra vật chất Chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chấthoặc coi ý thức là sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất Cả hai quan điểm đó về ýthức đều sai lầm
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo thế giới vật chất vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một cách chủ động,sáng tạo; thông qua thực tiễn của con người Hay có thể hiểu:
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Chủ quan theo nghĩa ý thức là hìnhảnh sự vật được thực hiện trong bộ não con người, là sự phản ánh thế giới khách quan thôngqua “lăng tính chủ quan của mỗi người”; gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa,
có định hướng, có lựa chọn nhằm tạo ra những tri thức về sự vật, hiện tượng của thế giới kháchquan Ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý Ý thứclấy cái khách quan làm tiền đề Nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan có nghĩa ý thức là sự phản ánh sángtạo, tích cực thế giới khách quan Ý thức là sự thống nhất của thế giới khách quan và chủ quan.Phản ánh (reflection) và sáng tạo (creation) là hai mặt không thể tách rời và thuộc bản chất của
ý thức
- Phản ánh ý thức là sáng tạo, do nhu cầu thực tiễn quy định Nhu cầu thực tiễn đòi hỏichủ thể phải nhận thức cái được phản ánh Sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh,dựa trên cơ sở phản ánh Tức là:
+ Trên cơ sở cái đã có, ý thức có thể tạo ra những tri thức mới về sự vật, thậm chí có thểtưởng tượng ra những cái không có trong thực tế
+ Tính sáng tạo còn thể hiện, ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ranhững ảo tưởng, huyền thoại, những giải thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng, kháiquát, thậm chí ở một số người còn có khả năng đặc biệt như: tiên tri, thôi miên, ngoại cảm
Trang 8- Phản ánh ý thức là tích cực, sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt độngthực tiễn xã hội và là sản phẩm của các quan hệ xã hội Ý thức chịu sự chi phối chủ yếu của cácquy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp của xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của conngười quy định Ý thức mang bản chất xã hội
Thực chất của nhận thức là quá trình thống nhất của 3 khâu:
Chủ thể (con người subject) trao đổi thông tin với khách thể (đối tượng phản ánh object)
Chủ thể tiến hành mô hình hoá (modeling) đối tượng trong tư duy (thought) (sáng tạolại hiện thực)
- Chủ thể chuyển mô hình trong tư duy ra hiện thực khách quan ( objective reality) thôngqua thực tiễn (practice) Như vậy, ý thức là sản phẩm của quá trình nhận thức
d Kết cấu của ý thức:
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp Có nhiều cách tiếp cận
để nghiên cứu về kết cấu của ý thức song về cơ bản là có hai cách chia là: chia theo các yếu tốhợp thành và theo chiều sâu của nội tâm
Theo các yếu tố hợp thành: ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tình cảm,
niềm tin, lý trí, ý chí trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi
Tiếp cận theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, ý thức bao gồm tự ý thức, tiềm
thức, vô thức
e Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên, xã hội - lịch sử,nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là thực tiễn xã hội Ý thức làmột hiện tượng xã hội Đó là cơ sở lý luận khoa học để chúng ta bác bỏ tính phản khoa học, sailầm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật tầm thường về ý thức
- Phải khách quan trong nhận thức và hành động; nhận thức và hành động phải xuất phát
từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Không xuất phát từ ý muốn chủquan, lấy ý muốn chủ quan làm cơ sở định ra chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế
- Phát huy tính năng động chủ quan, sáng tạo của ý thức, phát huy nhân tố con người:giáo dục nâng cao trình độ tri thức khoa học cho nhân dân, cán bộ, đảng viên; bồi dưỡng nhiệttình cách mạng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên; vận dụng đúng đắn cơ sởquan hệ lợi ích, động cơ trong sáng, thái độ khách quan khoa học không vụ lợi; chống thụ động,
ỷ lại, bảo thủ, trì trệ
- Khắc phục, ngăn chặn bệnh chủ quan, duy ý chí: khuynh hướng tuyệt đối hoá của nhân
tố chủ quan, của ý chí, xa rời hiện thực, bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình thay cho sựyếu kém của tri thức; bệnh chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ hành động giản đơn, nóng vộichạy theo nguyện vọng chủ quan; định ra chủ trương chính sách xa rời hiện thực khách quan;phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ của toàn Đảng Tôn trọng và hành độngtheo quy luật khách quan; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tổ chức, phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu
Trang 9Câu 3: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận?
Vấn đề mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức là vấn đề đặc biệt quan trọngtrong triết học Mác – Lênin Việc giải quyết vấn đề này trên lập trường duy vật biện chứng thểhiện rõ tính khoa học và cách mạng và cũng là cơ sở cho việc giải quyết những nội dung kháccủa học thuyết triết học Mác – Lênin
1 Các khái niệm
Dựa trên việc khái quát những thành tựu của khoa học và sự phát triển của triết học,
trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực
tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, tập 18,
Nxb Tiến bộ M.1980, trang 151)
Như vậy, có thể thấy:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất
kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lêngiác quan của con người
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất
Quan niệm của Triết học Mác – Lênin: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan Hay ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan được di chuyển vào đầu óc con người
và cải biến đi Hoặc có thể hiểu: ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo thế giới vật chất vào
bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan
Ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử - xã hội.Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là thực tiễn xã hội Ý thức làmột hiện tượng xã hội Đó là cơ sở khoa học để chúng ta vạch rõ quan niệm sai lầm của chủnghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về ý thức
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
a Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập đối với ý thức và lànguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất có tổ chức cao, là cơ quan phản ánh đểhình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trìnhphản ánh thế giới khách quan
- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan.Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung của ý thức
Trang 10- Sự quyết định của vật chất đối với ý thức còn biểu hiện ở hình thái vật chất trong mốiquan hệ với ý thức là hoạt động thực tiễn của con người, bao gồm: hoạt động sản xuất ra của cảivật chất; đấu tranh chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm nghiên cứu khoa học, trong đóhoạt động sản xuất ra của cải vật chất giữ vai trò quyết định Trong hoạt động thực tiễn yếu tốvật chất chính là phương tiện, điều kiện, công cụ mà con người sử dụng để tác động và cải tạothế giới khách quan
- Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được biểu hiện ở vai trò của kinh
tế đối với chính trị, của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, của tồn tại xã hội đối với ýthức xã hội; kinh tế, đời sống vật chất, tồn tại xã hội mà thay đổi thì sớm hay muộn chính trị, đờisống tinh thần, ý thức xã hội cũng phải thay đổi theo
- Biểu hiện của yếu tố vật chất quyết định yếu tố tri thức được thể hiện: mọi mục đích, dựkiến của con người đặt ra đều dựa trên cơ sở những điều kiện hoàn cảnh vật chất cho phép,những điều kiện khách quan
b Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất
Khẳng định vai trò của vật chất đối với ý thức, chủ nghĩa duy vật mác xít đồng thời vạch
rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất Biểu hiện của mối quan hệgiữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tươngđối và tác động trở lại tồn tại xã hội
- Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thểtác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễncủa con người
+ Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn củacon người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất Sự tác động của ý thức đối với vật chấtthông qua hoạt động của con người Sức mạnh của ý thức tuỳ thuộc vào mức độ thâm nhập, phổbiến vào con người vào trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn
+ Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, ở mức độ nhất định, có thể kìm hãmhoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người Nói tớivai trò của ý thức về thực chất là nói tới vai trò của con người, bởi ý thức là ý thức của conngười Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thay đổi được gì trong hiện thực, cho nênmuốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn Con người dựa trên những tri thứccủa mình về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu,phương hướng, biện pháp và ý chí thực hiện mục tiêu ấy
- Vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giớihiện thực được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giớikhách quan và các điều kiện khách quan Hay nói cách khác, sự tác động của ý thức đối với vật
Trang 11chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vậnđộng của vật chất được Và suy cho cùng, dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánhthế giới vật chất.
Tóm lại, theo Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là
nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người; vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời pháthuy tính năng động chủ quan của mình
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trong hoạt động thực tiễncũng hoạt động nhận thức cần phái quán triệt những nguyên tắc mang tính phương pháp luậnsau:
a Nguyên tắc khách quan trong nhận thức và hoạt động
- Nguyên tắc khách quan là hệ quả tất yếu của quan điểm duy vật biện chứng về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh của vật chất, chonên trong nhận thức và hành động phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễnphải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan Mọi chủtrương, đường lối, chính sách, kế hoạch, mục tiêu đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, từnhững điều kiện, tiền đề
- Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sựvật, hiện tượng thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ýmuốn chủ quan của mình làm cơ sở định ra chính sách, không lấy ý chí áp đặt cho thực tế Nắmvững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, duy ý chí,nóng vội, định kiến, không trung thực
- Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hànhđộng theo quy luật khách quan
b Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của nhân tố con người
- Nguyên tắc khách quan không bài trừ mà còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động chủquan, phát huy tính sáng tạo của ý thức
- Vai trò tích cực của ý thức là ở chỗ nhận thức được thế giới khách quan, làm cho conngười hình thành mục đích, phương hướng, biện pháp và ý chí cần thiết cho hoạt động thực tiễncủa mình
- Trong hoạt động thực tiễn phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học cho nhândân nói chung, nâng cao trình độ cho cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện nền văn minh trítuệ ngày nay Mặt khác, phải củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí cách mạng cho nhân dân, rènluyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình cáchmạng và tri thức khoa học
- Để thực hiện nguyên tắc khách quan và phát huy tính năng động chủ quan của con người,phải vận dụng đúng các quan hệ lợi ích, phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan,khoa học, không vụ lới (Ví dụ về: Khen – thưởng; lợi ích cá nhân – tập thể - xã hội )
- Phải chống thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ
c Khắc phục và ngăn ngừa bệnh chủ quan, duy ý chí
- Chủ quan, duy ý chí là một căn bệnh khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước xã hội chủnghĩa trước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 12- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách sáng tạo, sáng tạo trên cơ sở của sựphản ánh Vì vậy, nếu cường điệu tính sáng tạo của ý thức sẽ rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí.Bệnh chủ quan, duy ý chí là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, của ý chí,
xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình thay thế cho sự yếu kém
về tri thức khoa học (với một mo cơm, một quả cà và một tấm lòng cách mạng là chúng ta có thể
xây dựng chủ nghĩa cộng sản).
- Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí là lối suy nghĩ, hành động giản đơn, nóng vội, chạytheo nguyên vọng chủ quan Nó biểu hiện khá rõ trong khi định ra chủ trương và chính sách xarời hiện thực khách quan
Ví dụ về sai lầm trước đổi mới của chúng ta: Một là, xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất một cách ồ ạt, trong khi đó nó đang tạo địa bàn cho sự phát triển lực lượng sản
xuất Hai là, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách tràn lan, trong khi trình độ
lực lượng sản xuất còn thấp kém và phát triển không đồng đều Chính những điều này đã làmnền kinh tế - xã hội nước ta rơi vào khủng hoảng, trì trệ
Trong quá trình đổi mới chúng ta đã khắc phục những sai lầm chủ quan đó: Xây dựng
nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ đa hình thức sở hữu Đổi mới quá trình tổ chứcquản lý sản xuất và các hình thức phân phối
- Bệnh chủ quan, duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức, sự yếu kém về tri thức khoa học, trithức lý luận, không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Bệnh chủ quan, duy ý chí còn có nguồngốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu, bao cấpcũng tạo ra những điều kiện cho sự ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí
- Để khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí phải sử dụng động bộ nhiều biện pháp Trướchết, phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng Tronghoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Phải đổi mới cơ chếkinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì trệ,quan liêu
Tóm lại, trong quá trình đổi mới hiện nay của chúng ta cần phải xác định: Mọi chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đều dựa trên cơ sở của những điều kiệnvật chất khách quan và vì lợi ích của nhân dân
Hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế phải dựa trên tiềm năng và điều kiện vật chất củanước ta Tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức
Phát triển mạnh mẽ khoa học – công nghệ, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học – côngnghệ vào các lĩnh vực sản xuất Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân
Phát huy tính năng động chủ quan, sáng tạo của nhân tố con người trong hoạt động thựctiễn
Phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống
xã hội Cùng với việc chăm lo phát triển kinh tế cần phải chú trọng xây dựng đời sống văn hóatinh thần, phát triển giáo dục - đào tạo, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 13Câu 4: Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luận của nó?
Trong hệ thống của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là mộttrong hai nguyên lý cơ bản Nguyên lý này đã trả lời một cách khoa học những câu hỏi đã đượcđặt ra về mối liên hệ giữa các sự vật trong thế giới là:
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quá trình khác nhau.Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập,tách rời nhau? Nếu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại, thì nhân tố nào quy định sự liên hệđó?
Trong lịch sử triết học đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau thậm chí đối lập nhaukhi nhận thức về thế giới, về mối liên hệ của các sự vật trong thế giới
Những quan điểm duy tâm về mối liên hệ trong thế giới, mặc dù thừa nhận sự tồn tại củacác mối liên hệ Nhưng họ cho rằng: Cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại của các sự vật,hiện tượng, quá trình là ở các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người
Quan điểm siêu hình cho rằng: trong thế giới, các sự vật, hiện tượng tồn tại tách rời, cô lậpnhau, giữa chúng không có những mối liên hệ ràng buộc, qua lại với nhau Nếu có thì chỉ có nhữngmối liên hệ hời hợt bên ngoài mà không có mối liên hệ bên trong
Như vậy, các quan điểm duy tâm và siêu hình đã không thể nhận thức hoặc không muốnthừa nhận tính khách quan của mối liên hệ trong thế giới
Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng: các sự vật, hiện tượng trong thế giới liên hệ với nhau một cách phổ biến, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau trong một thể thống nhất Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một mình, riêng rẽ, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều phụ thuộc lẫn nhau trong sự vận động chuyển hoá chung của thế giới vật chất
Theo quan điểm duy vật biện chứng: mối liên hệ phổ biến là phạm trù dùng để chỉ sự tác động, liên hệ, ràng buộc và chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
- Mối liên hệ nói trên là phổ biến vì: mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong những mối liên
hệ, tác động và không loại trừ một lĩnh vực nào (cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy) Nhờ
có mối liên hệ mà có sự vận động và do đó, mới có sự tồn tại của vật chất, hay nói cách khác mốiliên hệ là phổ biến, là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật hiện tượng, thể hiện tính kháchquan, tính thống nhất vật chất của thế giới Mối liên hệ đó chẳng những diễn ra ở mọi sự vật vàhiện tượng ở mọi lĩnh vực mà còn diễn ra đối với các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sựvật và hiện tượng
Trang 14Trong lĩnh vực nhận thức, giữa các hình thức của nhận thức, giữa các giai đoạn nhậnthức cũng có quan hệ với nhau (quan hệ giữa nhận thức cảm tính - trực quan sinh động và nhậnthức lý tính – tư duy trừu tượng),…
- Mối liên hệ phổ biến đó là khách quan: Các sự vật trong thế giới vật chất rất đa dạngnên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, phổ biến nhưng đều mang tính khách quan chứkhông do thần linh, nó bắt nguồn từ tính đồng nhất vật chất của thế giới; thế giới dù đa dạng vàphong phú như thế nào chăng nữa nhưng bản chất của nó là vật chất Có mối liên hệ giữa cáchiện tượng vật chất với hiện tượng tinh thần, song, những mối liên hệ tinh thần chỉ là sự phảnánh và là sản phẩm của các mối liên hệ vật chất
- Mối liên hệ đó là đa dạng và nhiều vẻ: nghiên cứu hiện thực khách quan, chúng ta cóthể phân chia chúng thành từng loại tuỳ theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hayhẹp, trình độ nông sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp,… Vì thế, chúng ta có thể khái quát chúngthành nhiều mối liên hệ: Bên trong – bên ngoài, trực tiếp – gián tiếp, cơ bản – không cơ bản,Chủ yếu - thứ yếu,…
- Sự phân loại các liên hệ như trên chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ làmột hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói chung
Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự chuyển hóa như vậy có thểdiễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách quancủa chính sự vật và hiện tượng
Tuy nhiên, vẫn phải phân loại các mối liên hệ, vì vị trí của từng mối liên hệ trong việcquy định sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng không hoàn toàn như nhau
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Khi xem xét và nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải có quan điểm toàn diện
+ Theo quan điểm này, khi xem xét sự vật, hiện tượng phải xem xét tất cả các mặt, tất cảcác mối liên hệ của sự vật hiện tượng, kể cả các mắt, khâu trung gian
+ Tuy nhiên, không được xem xét riêng rẽ, biệt lập từng mặt, cũng không được xem xéttất cả các mặt một cách tràn lan, ngang nhau, mà phải bao quát được tất cả các mặt để rút ra mặtchủ yếu Đồng thời phải nghiên cứu sự tác động qua lại của sự vật đó với các sự vật khác
+ Đối lập với quan điểm toàn diện là phương pháp tư duy siêu hình phiến diện, mộtchiều, cục bộ, tuyệt đối hay tách rời sự vật khỏi mối liên hệ phổ biến Phương pháp này sẽ dẫntới việc đánh giá sai sự vật, dẫn tới thái độ cứng nhắc và bệnh dập khuôn trong suy nghĩ vàhành động
+ Quan điểm toàn diện vừa khác với Chủ nghĩa chiết trung và khác với Thuật ngụy biện.
Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau, nhưng lại kết hợp
một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật
Thuật ngụy biện cũng để ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ khác nhau của sự vật, nhưng
lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất
+ Tuy nhiên, quan điểm toàn diện cũng không đồng nghĩa với phương pháp xem xét sựvật một cách chung chung, hời hợt, qua loa, đại khái, không nắm vững các chi tiết và không
Trang 15tính đến các điều kiện cụ thể Bởi vậy, quan điểm toàn diện phải gắn liền và bao hàm quan điểmlịch sử cụ thể.
+ Quan điểm lịch sử cụ thể, phải nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể, cặn kẽ từng mặt, từng mối liên
hệ của sự vật Phải nghiên cứu toàn bộ quá trình vận động của nó trong quá khứ, hiện tại vàphải dự đoán tương lai của nó nữa, để từ đó có thể rút ra được những kết luận cụ thể về tínhchất và phương hướng cải tạo sự vật hiện tượng
Ví dụ: Đánh giá mô hình hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc những năm 60 – 70 của
thế kỷ XX Nếu chúng ta không đặt nó vào trong hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của miền Bắc lúc
đó Thì chúng ta, một là không thấy được một số giá trị tích cực của nó trong điều kiện lịch sửlúc đó; hai là, sẽ không thấy được hết những nguyên nhân bên trong và bên ngoài dẫn đến việcduy trì quá lâu cách làm ăn như vậy, khi hoàn cảnh đất nước đã thay đổi
Từ những điều vừa trình bày trên đây có thể rút ra kết luận rằng, quá trình hình thànhquan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật
sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là: đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể -> đến nhận thứcmột mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật -> đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của
sự vật đó -> và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chấtcủa sự vật
- Trong hoạt động thực tiễn, để cải tạo sự vật chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễnlàm biến đổi những mối liên hệ nội tại của chính sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa các
sự vật đó với sự vật khác Đồng thời, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiệnkhác nhau
- Các mối liên hệ có vai trò không giống nhau, do đó, để thúc đẩy sự vật phát triển phảiphân loại được các mối liên hệ; nhận thức được các mối liên hệ cơ bản quy định bản chất của
sự vật và giải quyết mối liên hệ đó
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn cũng đòi hỏi chúng ta phải kếthợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” (V.I.Lênin) Chính từ đóĐảng ta đã xác định, trong quá trình đổi mới thì phải đổi mới toàn diện, trọng tâm là đổi mớikinh tế, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế
Trang 16Câu 5: Trình bày nội dung của nguyên lý về sự phát triển và ý nghĩa phương pháp luận của nó?
Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duyvật Nguyên lý này đã chỉ rõ, sự phát triển diễn ra như thế nào, bằng cách nào? Nguồn gốc của
sự phát triển là gì?
Khi xem xét trả lời câu hỏi trên, trong lịch sử triết học cũng xuất hiện sự đối lập về thếgiới quan, phương pháp luận: có quan điểm duy vật và duy tâm, có quan điểm biện chứng vàsiêu hình về sự phát triển
1 Khi trả lời câu hỏi “Sự phát triển diễn ra như thế nào, bằng cách nào?” Đã làm nảy sinh quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng.
1.1 Quan điểm siêu hình về con đường, cách thức của sự phát triển cho rằng:
- Phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi vềchất Tất cả tính muôn vẻ của các sự vật và hiện tượng trên thế giới là sự nhất thành bất biếntrong toàn bộ quá trình tồn tại của nó
- Sự phát triển chỉ là thay đổi số lượng của từng loại đang có, không có sự nảy sinhnhững loại mới với những tính quy định mới về chất, có thay đổi về chất chăng nữa thì đó cũngchỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín
- Quan điểm siêu hình về sự phát triển cũng xem sự phát triển như là một quá trình tiếnlên liên tục, không có những bước quanh co phức tạp
Như vậy, việc thừa nhận hay không thừa nhận sự phát triển vẫn không đủ căn cứ để phânbiệt một quan điểm biện chứng với một quan điểm siêu hình Điều chủ yếu để phân định hai quanđiểm đó là phải làm rõ quá trình phát triển diễn ra như thế nào
1.2 Quan điểm duy vật biện chứng về con đường, cách thức của sự phát triển cho rằng:
- Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từthấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
- Phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển sẽ nảysinh những tính quy định mới cao hơn về chất, nhờ vậy, làm tăng khả năng hoàn thiện cả cơ cấu
tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cùng chức năng vốn có của nó
- Quan điểm biện chứng về phát triển thừa nhận tính phức tạp, không trực tuyến của bảnthân quá trình đó
Sự phát triển trong hiện thực và trong tư duy diễn ra bằng con đường quanh co, phức tạp,trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối
- Về cách thức và khuynh hướng của sự phát triển, quan điểm duy vật biện chứng chỉ rõ:
Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất; sự pháttriển diễn ra theo đường xoáy ốc, nghĩa là trong quá trình phát triển dường như có sự quay trởlại điểm xuất phát, nhưng trên cơ sở mới cao hơn
Trang 172 Khi trả lời câu hỏi “Cái gì là nguồn gốc của sự phát triển?” đã làm nảy sinh quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm.
2.1 Quan điểm duy tâm về nguồn gốc của sự phát triển
Những người theo quan điểm duy tâm thường tìm nguồn gốc của sự phát triển ở các lựclượng siêu tự nhiên hay ở ý thức của con người
Hêghen lý giải sự phát triển của tự nhiên và xã hội do ý niệm tuyệt đối quy định Nhữngngười theo quan điểm duy tâm và tôn giáo tìm nguồn gốc của sự phát triển ở thần linh, ở thượngđế nói chung là cũng ở các lực lượng siêu nhiên, phi vật chất
2.2 Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc của sự phát triển
- Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn của sự vậtquy định
- Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là quá trình tự thân của mọi sự vật
và hiện tượng Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan, độc lập với ý thức của con người
- Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ thừa nhận tính khách quan của sự phát triển, nócòn khẳng định tính phổ biến của sự phát triển với nghĩa là sự phát triển ấy diễn ra ở tất cả mọilĩnh vực – từ tự nhiên đến xã hội và tư duy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, phạmtrù phản ánh hiện thực ấy
- Trong hiện thực khách quan, tùy thuộc vào hình thức cụ thể của các dạng vật chất, sựphát triển sẽ được thực hiện hết sức khác nhau
+ Trong giới hữu cơ, sự phát triển biểu hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi của
cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngàycàng hoàn thiện hơn, ở khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và mội trường
+ Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở năng lực chin phục tự nhiên, cải tạo xã hội đểtiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người
+ Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ,đúng đắn hơn đối với hiện thực tự nhiên và xã hội
Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển cho ta chìa khóa của “sự tự vận động”của tất thảy mọi cái đang tồn tại, chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành các mặt đối lập”, của sự “tiêudiệt cái cũ” và sự “nảy sinh ra cái mới”
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Quan điểm duy vật biện chứng đã cung cấp cho ta phương pháp luận khoa học để nhậnthức và cải tạo thế giới
Tự nhiên, xã hội và tư duy nằm trong quá trình phát triển không ngừng Bản chất khách
quan của quá trình đó đòi hỏi chúng ta, để phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có quan điểm phát triển.
Trang 18- Quan điểm phát triển đòi hỏi, khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt nó trong sựvận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng.
- Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vậthoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến, tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về
Sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong những giai đoạn khác nhau là hết sức khácnhau, do vậy, khi quán triệt quan điểm phát triển phải gắn chặt với quan điểm lịch sử - cụ thể:
Quan điểm lịch sử cụ thể, phải nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể, cặn kẽ từng mặt, từng mối liên hệcủa sự vật Phải nghiên cứu toàn bộ quá trình vận động của nó trong quá khứ, hiện tại và phải
dự đoán tương lai của nó nữa, để từ đó có thể rút ra được những kết luận cụ thể về tính chất vàphương hướng cải tạo sự vật hiện tượng
Ví dụ: Đánh giá mô hình hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc những năm 60 – 70 của
thế kỷ XX Nếu chúng ta không đặt nó vào trong hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của miền Bắc lúc
đó Thì chúng ta, một là không thấy được một số giá trị tích cực của nó trong điều kiện lịch sửlúc đó; hai là, sẽ không thấy được hết những nguyên nhân bên trong và bên ngoài dẫn đến việcduy trì quá lâu cách làm ăn như vậy, khi hoàn cảnh đất nước đã thay đổi
Trang 19Câu 6: Cặp phạm trù cái riêng và cái chung?
Mỗi bộ môn khoa học đều có phạm trù riêng của mình Chẳng hạn, đó là phạm trù nănglượng, khối lượng trong vật lý học; biến dị, di truyền trong sinh học; hàng hóa, giá trị trong kinh tế học
Như vậy, có thể hiểu: Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt,những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc mộtlĩnh vực nhất định
Khác với các phạm trù của các khoa học cụ thể khác, trong triết học: Phạm trù Triết học
là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơbản và phổ biến nhất không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định nào đấy của hiện thực mà củatoàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy
Các phạm trù triết học, mặc dù là sản phẩm của tư duy, nhưng luôn mang tính kháchquan và tính biện chứng
Như vậy, so với phạm trù triết học, phạm trù của các bộ môn khoa học khác có phạm vikhái quát hẹp hơn Song điểm cơ bản phân biệt phạm trù triết học với phạm trù của các mônkhoa học khác là ở chỗ: phạm trù triết học bao giờ cũng mang tính quy định về thế giới quan vàphương pháp luận
Trong phép biện chứng duy vật, với tư cách là một khoa học, các phạm trù (các quy luậtkhông cơ bản) được sắp xếp thành từng cặp: cái chung – cái riêng; nguyên nhân – kết quả; tấtnhiên – ngẫu nhiên; nội dung – hình thức; bản chất – hiện tượng; khả năng – hiện thực
Cái chung – cái riêng là một trong những cặp phạm trù cơ bản nhất của phép biện chứngduy vật Liên quan đến cặp phạm trù này còn có các phạm trù cái đơn nhất, cái đặc thù và cáiphổ biến Cặp phạm trù này thường được trình bày đầu tiên khi nghiên cứu với những nội dung
cơ bản sau:
1 Định nghĩa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất, cái đặc thù và cái phổ biến
1.1 Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá
trình hay một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể thống nhất tồn tại tương đối độc lậpvới cá cái riêng khác
Với tư cách là một sự vật, cái riêng không lặp lại Khi hiểu nó là một chỉnh thể, tức làmuốn nói đến cấu tạo của sự vật cụ thể, bao gồm các yếu tố cấu thành nên nó Mặt khác, mộtthuộc tính của sự vật, hiện tượng, quá trình cũng có thể coi kà một cái riêng, nó có quá trình rađời, vận động, phát triển của nó một cách tương đối độc lập
Ví dụ: Một hành tinh nào đấy hay một thực vật, động vật nào đấy là cái riêng trong giới
tự nhiên Cái riêng trong lịch sử xã hội là một sự kiện riêng lẻ nào đó, như là cuộc cách mạngtháng Tám của Việt nam chẳng hạn Một con người nào đó: Huệ, Trang, cũng là cái riêng.Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật gia nhập vào một nhóm các sự vật rộng hơn, phổ
Trang 20biến hơn Sự tồn tại cá biệt đó của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộctính không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác.
1.2 Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính được lặp
lại trong một số hay nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình
Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại Ví dụ như quy luật cung
- cầu, qui luật giá trị thặng dư là những đặc điểm chung mà mọi nền kinh tế thị trường bắt buộcphải tuân theo
1.3 Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những mặt chỉ
có ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở những sự vật khác
Ví dụ: chiều cao, cân nặng, vóc dáng, vân tay của một người là cái đơn nhất Nó cho biết
những đặc điểm của chỉ riêng người đó, không lặp lại ở một người nào khác
1.4 Cái đặc thù là cái cái chung của một nhóm các sự vật và hiện tượng trong lĩnh vực
nghiên cứu Cái đặc thù còn được hiểu là hình thức biểu hiện của cái phổ biến trong cái riêng
1.5 Cái phổ biến là cái chung của tất cả các sự vật và hiện tượng trong lĩnh vực mà
chúng ta đang nghiên cứu
Phép biện chứng duy vật khẳng định sự tồn tại khách quan của cả cái phổ biến lẫn cái đặcthù và cái đơn nhất Trong tính hiện thực của nó, chúng không tồn tại tách rời nhau Cái phổbiến, cái đặc thù, cái đơn nhất là ba mặt cấu thành một chỉnh thể thống nhất của sự vật, hiệntượng hay một quá trình (cái riêng)
Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, trong điều kiện nhất định, cái đơn nhất cóthể “trở thành” cái đặc thù; cái đặc thù “trở thành” cái phổ biến, và ngược lại
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung được quan niệm khácnhau
Phái duy thực tuyên bố rằng cái chung tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào cái riêng và
sinh ra cái riêng Cái riêng không tồn tại, nếu có tồn tại thì cũng là do cái chung sản sinh ra vàmang tính tạm thời Cái riêng được sinh ra trong một thời gian nhất định rồi mất đi; trong khi
đó, cái chung tồn tại vĩnh viễn, không trải qua một sự biến đổi nào Trong quan điểm củaPlatôn: cái chung là những ý niệm tồn tại độc lập bên cạnh những cái riêng
Đối lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học phái duy danh như P Abơla
(1079-1142), Đơnxcốt (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại riêng biệt với nhữngchất lượng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm cái chung chỉ là sản phẩm của tư duycủa con người
Thấy được và khắc phục hạn chế của hai quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng
cho rằng cái chung và cái riêng có mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồntại một cách khách quan
Trang 21Trong khi thừa nhận tính hiện thực trong sự tồn tại của cả cái riêng và cái chung, phépbiện chứng duy vật chỉ ra rằng:
2.1 Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại.
Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng
Ví dụ: qui luật bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì
không phải là nhà tư bản, nhưng qui luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu hiện củacác nhà tư bản (cái riêng)
2.2 Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung Nghĩa là không có cái
riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập Vì bất cứ cái riêng nào cũng đều tồn tại trong muôn vàn mốiliên hệ qua lại với các sự vật, hiện tượng, quá trình khác chung quanh mình Có sự liên hệ ấy là
vì giữa chúng có những điểm giống nhau (cái chung) nhất định
Ví dụ: Mỗi con người là một cái riêng nhưng mỗi con người không thể tồn tại ngoài mối
liên hệ với tự nhiên và xã hội Nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung - cầu, quyluật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đó là cái chung Như vậy sựvật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung
2.3 Cái chung là bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn bộ nhưng phong phú hơn cái chung
- Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơnnhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên
hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền vớibản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng
Có thể khái quát một công thức như sau:
Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất
Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng một cách tuyệt đối, nhưng trong mộtchừng mực nào đó thì nó có thể nói được một cách chính xác quan hệ bao trùm giữa cái chung
chung có thể được phát hiện Về điểm này, Lênin nói: " Cái riêng chỉ có thể tồn tại trong mối
liên hệ dẫn tới cái chung"
Ví dụ: Nguyên tử của mọi nguyên tố đều khác nhau, đều là cái " riêng", chúng có trọng
lượng nguyên tử của mình, có hoá trị của mình, có điện tích hạt nhân của mình, có cấu tạo vỏnguyên tử của mình Nhưng tất cả những nguyên tử đều có cái chung: trong mọi nguyên tử
Trang 22đều có hạt nhân, vỏ điện tử, đều có những hạt nguyên tố; hạt nhân của mọi nguyên tử đều cóthể bị phá vỡ Chính nhờ có những đặc tính chung cho mọi nguyên tử mà khoa học mới có khảnăng biến nguyên tử của một nguyên tố này thành nguyên tử của một nguyên tố khác Nguyên
tử, cũng như bất cứ hiện tượng nào khác trong thế giới khách quan, là sự thống nhất của cáikhác nhau và cái giống nhau, cái đơn nhất và cái phổ biến
- Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cái đơn nhất vàngược lại
Ví dụ: trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường, khoán sản phẩm chỉ là cái đơn nhất,
còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường lại dần trởthành cái chung, còn kinh tế tập trung bao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một sốngành như an ninh quốc phòng
- Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương đối Cónhững đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhưng nếu xét ở trong nhóm sựvật khác lại là cái chung
Ví dụ: Cây cối là một đặc điểm chung khi xét tập hợp các cây như bạch đàn, phượng vĩ,
bàng… nhưng nếu xét trong phạm vi thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất chỉ cácloại cây, mà ngoài ra thực vật còn có cỏ, bụi rậm, nấm
Xét một ví dụ khác, qui luật cung- cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trường, nhưngtrong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử thì nó lại chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng chokinh tế thị trường mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác như kinh tế tự cung
tự cấp chẳng hạn
- Trong một số trường hợp ta đồng nhất cái riêng với cái chung, khẳng định cái riêng làcái chung
Ví dụ như những câu sau: “hoa hồng là hoa”, “kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN là kinh tế thị trường” Những trường hợp đó thể hiện mâu thuẫn giữa cái riêng và cáichung Quan hệ bao trùm của cái riêng đối với cái chung đã trở thành quan hệ ngang bằng Tuynhiên những định nghĩa như trên chỉ nhằm mục đích tách sự vật ra khỏi những phạm vi khôngthuộc sự vật ấy, chứ không dùng để chỉ toàn bộ những đặc tính của sự vật
- Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng, trong những điều kiện nhất định “cáiđơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơnnhất”, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất”
có lợi cho con người trở thành”cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”
2.4 Trong những điều kiện nhất định cái riêng có thể “chuyển hóa” thành cái chung
và ngược lại Điều này cần phải hiểu theo nghĩa là, khi xét trong mối quan hệ này thì nó là cái
riêng, nhưng khi xét trong mối quan hệ khác nói lại là cái chung, và ngược lại
3 Ý nghĩa phương pháp luận
3.1 Đối với nhận thức
Trang 23- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng nên muốn phát hiện ra cáichung, cần xuất phát từ những cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ cụ thểchứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người.
- Mặt khác, nắm được cái chung là chìa khóa để phát hiện và giải quyết những vấn đềriêng
3.2 Đối với hoạt động thực tiễn
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng như là một bộ phận của cái riêng, bộ phận đó nằmtrong sự tác động qua lại với những mặt còn lại của cái riêng – những mặt không gia nhập vàocái chung – làm cho cái chung đó không tồn tại dưới dạng thuần khiết, mà tồn tại trong cáiriêng dưới dạng cải biến Vì vậy, bất cứ luận điểm chung nào khi áp dụng vào từng trường hợpriêng cũng cần được cá biệt hóa
Nếu không chú ý sự cá biệt hóa đó, đem áp dụng một cách nguyên xi cái chung, tuyệt đốihóa cái chung sẽ rơi vào sai lầm giáo điều Ngược lại, nếu xem thường cái chung, chỉ chú ý đếncái đơn nhất, tuyệt đối hóa cái đơn nhất sẽ dẫn đến vô nguyên tắc, xét lại
Chẳng hạn, khi Nghị quyết của Đảng (cái chung) được đưa ra thì việc vận dụng nó vàotừng địa phương, từng đơn vị (cái riêng) thì phải được cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện cụthể của từng địa phương, từng đơn vị, từng lĩnh vực
- Vì cái riêng không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ đưa đến cái chung, cho nên để giảiquyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả, không thể lảng tránh việc giải quyết những vấn
đề chung – những vấn đề lý luận liên quan đến những vấn đề riêng
Nếu không giải quyết những vấn đề lý luận chung thì sẽ không tránh khỏi sa vào tình trạng
mò mẫm, tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa và khi đó khó tránh khỏi thất bại
Chẳng hạn, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong điều kiện hiện nay,
cần phải làm rõ những vấn đề về: bản chất, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủnghĩa xã hội, lý luận về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hàng loạtcác vấn đề lý luận khác
- Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất
có thể chuyển hóa thành cái chung, ngược lại, cái chung có thể chuyển hóa thành cái đơn nhất,nên trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất tiêu biểu choquy luật phát triển chuyển thành cái chung, và ngược lại, chuyển cái chung thành cái đơn nhất,nếu sự tồn tại của cái chung không còn hợp quy luật phát triển
Trang 24Câu 7: Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
Mỗi bộ môn khoa học đều có phạm trù riêng của mình Chẳng hạn, đó là phạm trù nănglượng, khối lượng trong vật lý học; biến dị, di truyền trong sinh học; hàng hóa, giá trị trong kinh tế học
Như vậy, có thể hiểu: Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt,những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc mộtlĩnh vực nhất định
Khác với các phạm trù của các khoa học cụ thể khác, trong triết học: Phạm trù Triết học
là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơbản và phổ biến nhất không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định nào đấy của hiện thực mà củatoàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy
Các phạm trù triết học, mặc dù là sản phẩm của tư duy, nhưng luôn mang tính kháchquan và tính biện chứng
Như vậy, so với phạm trù triết học, phạm trù của các bộ môn khoa học khác có phạm vikhái quát hẹp hơn Song điểm cơ bản phân biệt phạm trù triết học với phạm trù của các mônkhoa học khác là ở chỗ: phạm trù triết học bao giờ cũng mang tính quy định về thế giới quan vàphương pháp luận
Trong phép biện chứng duy vật, với tư cách là một khoa học, các phạm trù (các quy luậtkhông cơ bản) được sắp xếp thành từng cặp: các chung – cái riêng; nguyên nhân – kết quả; tấtnhiên – ngẫu nhiên; nội dung – hình thức; bản chất – hiện tượng; khả năng – hiện thực
.Nguyên nhân – Kết quả là một trong những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng
duy vật Đây là một trong sáu cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật nhằm giải thích rõ hơnquan hệ sản sinh trong thế giới khách quan và tính chất phức tạp của quá trình cái mới xuất hiệnthay thế cho những cái cũ Cặp phạm trù này thường được khái quát trình bày với những nộidung cơ bản sau:
1 Định nghĩa nguyên nhân và kết quả
1.1 Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt,
các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một biến đổinhất định nào đó
1.2 Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn
nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra
Trong thực tế nhận thức, chúng ta cần phải phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, điềukiện:
Nguyên cớ: là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời với nguyên nhân, nhưng nó
chỉ là quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả
Điều kiện: là những sự vật hiện tượng gắn liền với nguyên nhân tác động vào nguyên
nhân, làm cho nguyên nhân phát huy tác dụng, nhưng điều kiện không trực tiếp sinh ra kết quả
Trang 252 Một số tính chất, đặc điểm của mối liên hệ nhân quả
2.1 Tính chất của mối liên hệ nhân quả
- Tính khách quan: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ nhân
- quả là mối liên hệ khách quan của bản thân các sự vật Nó tồn tại ngoài ý muốn của conngười, không phụ thuộc vào ta có nhận thức được nó hay không
Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, bất kỳ hiện tượng nào cũng đều là kếtquả của nguyên nhân này hoặc kết quả của nguyên nhân khác
Con người chỉ có thể tìm ra mối liên hệ nhân – quả trong giới tự nhiên khách quan chứkhông phải là tạo ra nó từ trong đầu óc
- Tính phổ biến: Mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất
định gây ra, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi
Tư tưởng cho rằng mối liên hệ nhân – quả bao trùm tất cả mọi hiện tượng của hiện thực,không trừ một hiện tượng nào là nội dung cơ bản của nguyên tắc quyết định luận – một nguyêntắc hết sức quan trọng của nhận thức khoa học
- Tính tất yếu: Một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định
sẽ gây ra kết quả tương ứng với nó Hay có thể hiểu, nếu các nguyên nhân và các hoàn cảnhcàng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do chúng gây nên cũng càng ít khác nhau bấy nhiêu
2.2 Đặc điểm của mối liên hệ nhân – quả
- Quan hệ nhân – quả là mối quan hệ mang tính kế tiếp về mặt thời gian, nguyên nhân cótrước, kết quả có sau Kết quả chỉ xuất hiện khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động
Nhưng không phải bất cứ sự kế tiếp nào về mặt thời gian cũng là quan hệ nhân – quả.Chẳng hạn như, giữa ngày và đêm; giữa bốn mùa trong một năm
Cái phân biệt liên hệ nhân quả với liên hệ nối tiếp về mặt thời gian chính là ở chỗ,nguyên nhân và kết quả còn có mối quan hệ sản sinh, mối quan hệ mà trong đó nguyên nhânsinh ra kết quả
- Quá trình nguyên nhân chuyển thành kết quả thường phải có những điều kiện nhất định
Do vậy, nhiều khi nguyên nhân giống nhau, nhưng điều kiện khác nhau sẽ cho ra những kết quảkhác nhau
Chẳng hạn, trứng cá Rô phi khi gặp điều kiện thích hợp tất yếu sẽ nở ra ca Rô phi con,nhưng giới tính của cá con lại phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ
- Quan hệ nhân quả là mối quan hệ khá phức tạp, thể hiện một nguyên nhân có thể sinh ranhiều kết quả và ngược lại một kết quả nhiều khi phải do nhiều nguyên nhân mới tạo ra được
Trang 263 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
3.1 Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nhưng kết quả sau khi được sinh ra lại tác động trở lại nguyên nhân và sự tác động qua lại giữa chúng sẽ làm cho cả hai cùng biến đổi, phát triển.
Ví dụ: Sản xuất vật chất là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả là sự ra đời của các
ngành khoa học Đến lượt nó, khi các ngành khoa học ra đời sẽ tác động trở lại quá trình sảnxuất vật chất, làm cho quá trình sản xuất phát triển nhanh chóng hơn Sự phát triển nhanh chóngcủa các ngành khoa học lại là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các ngành khoa học mới
3.2 Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau tùy theo những mối quan
hệ nhất định Cái trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác lại là kết
quả, và ngược lại
Một hiện tượng nào đó với tính cách là một kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra,đến lượt mình, nó trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba Quá trình đó cứ tiếp tụcmãi không bao giờ kết thúc, tạo nên chuỗi nhân quả vô cùng tận
Ví dụ: Trong mối quan hệ giữa tư hữu – giai cấp, thì tư hữu là nguyên nhân, giai cấp là
kết quả của sự phát triển chế độ tư hữu; nhưng trong mối quan hệ giữa giai cấp – nhà nước, thìlúc này giai cấp lại là nguyên nhân của sự ra đời của nhà nước
3.3 Phân loại nguyên nhân
Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có thểchia các nguyên nhân ra thành nhiều loại khác nhau:
* Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân không chủ yếu:
- Những nguyên nhân nào mà thiếu chúng thì kết quả sẽ không xảy ra gọi là nguyên nhânchủ yếu
- Những nguyên nhân nào mà sự có mặt của chúng chỉ quyết định những đặc điểm nhấtthời, không ổn định, cá biệt của hiện tượng thì gọi là nguyên nhân không chủ yếu
* Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài:
- Nguyên nhân bên trong là sự tác động lẫn nhau giữa những mặt, những yếu tố của cùngmột sự vật nào đó và gây ra những biến đổi nhất định
- Nguyên nhân bên ngoài là sự tác động lẫn nhau giữa những sự vật khác nhau và gây ranhững biến đổi thích hợp trong những sự vật ấy
Nói chung, nguyên nhân bên trong giữ vai trò quyết định sự hình thành và phát triển củacác sự vật Nguyên nhân bên ngoài chỉ phát huy được tác dụng thông qua những nguyên nhânbên trong Tuy nhiên, sự phân định dạng nguyên nhân này cũng mang tính tương đối, và phảiđược xác định trong những phạm vi, quan hệ nhất định
* Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:
- Nguyên nhân khách quan là nguyên nhân xuất hiện và tác động độc lập với ý thức củacon người
Trang 27- Nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân xuất hiện và tác động phụ thuộc vào ý thức,hành động của con người.
Nếu hoạt động của con người phù hợp với quan hệ nhân quả khách quan thì sẽ đẩy nhanh
sự phát triển của các sự vật, hiện tượng, trong trường hợp ngược lại, sẽ kìm hãm sự phát triểnấy
4 Ý nghĩa phương pháp luận
4.1 Đối với nhận thức
Quá trình nhận thức sự vật là quá trình phát hiện nguyên nhân để hiểu đúng sự vật đó Vìmọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong của nó nên nhiệm vụ củanhận thức nói chung và của nhận thức khoa học nói riêng là đi tìm những nguyên nhân hiệnchưa được phát hiện để có thể hiểu đúng hiện tượng
Trong quá trình đi tìm nguyên nhân cần phải lưu ý:
- Chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng ở trong chính các hiện tượng chứ không thể
ở ngoài nó
- Khi tìm nguyên nhân của hiện tượng nào đó cần tìm các sự kiện, những mối liên hệ đãxảy ra trước khi hiện tượng xuất hiện Song cần lưu ý rằng không phải mọi sự kiện xảy ra trướcđều là nguyên nhân của sự kiện xảy ra sau
- Xác định nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần hết sức tỉ mỉ, thận trọng, vạch racho được hiệu quả tác động của từng mặt, từng sự kiện, từng mối liên hệ cũng như các tổ hợpkhác nhau của chúng trong việc nảy sinh hiện tượng mới; chỉ trên cơ sở đó mới có thể xác địnhđúng về nguyên nhân sinh ra hiện tượng
- Một hiện tượng trong mối liên hệ này là kết quả, trong mối liên hệ khác có thể lànguyên nhân, nên để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy, cần xem xét nó trong nhưng quan hệ
mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong những quan hệ nó giữ mà nó là kết quả
4.2 Đối với hoạt động thực tiễn
- Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó, cần loại bỏ nguyên nhân làm nảy sinh ra nó
- Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện, cần tạo ra nguyên nhân cùng những điều kiệncần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát sinh tác dụng
- Vì hiện tượng có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân tác động riêng lẻ hoặc đồng thời,nên trong hoạt động thực tiễn cần tùy hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp hành độngthích hợp, không nên hành động rập khuôn theo phương pháp cũ
- Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân bên trong giữ vai trò quyết định đối với sự xuấthiện, vận động và tiêu vong của hiện tượng, nên trong hoạt động thực tiễn trước hết cần tìm ranguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân bên trong để có phương pháp, biện pháp tác động chophù hợp
- Để đẩy nhanh (hay kìm hãm, hoặc loại trừ) sự phát triển của một hiện tượng xã hội nào
đó, cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều (hay lệch hoặc ngược chiều)với chiều vận động của mối quan hệ nhân quả khách quan
Trang 28Câu 8: Quy luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)?
1 Một số nhận thức chung về quy luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cơ sở của các mối liên hệ giữa các sựvật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Nhìn vào thế giới khách quan chúng tathấy có rất nhiều sự vật, hiện tượng tồn tại, giữa chúng có mối liên hệ với nhau, mà triết họcMác – Lênin gọi là mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, trong các mối liên hệ ấy, có những mối liên
hệ ảnh hưởng đến sự vận động, phát triển của sự vật, nhưng cũng có những mối liên hệ quyếtđịnh sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Những mối liên hệ như vậy được gọi là quyluật
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất yếu, lặp đi lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng, haygiữa các nhân tố cấu thành các sự vật, hiện tượng
Sự vật, hiện tượng trong tự nhiên tồn tại đa dạng, phong phú, nhiều vẻ, do đó, có rấtnhiều các loại quy luật tồn tại:
- Nếu xét trên cơ sở lĩnh vực tác động của quy luật thì có: quy luật tồn tại trong tự nhiên, quyluật tồn tại trong lĩnh vực xã hội, có quy luật tồn tại trong lĩnh vực tư duy
- Nếu xét trên cơ sở phạm vi tác động thì có: quy luật riêng, quy luật chung và quy luậtphổ biến
Theo quan điểm duy vật biện chứng, dù là quy luật nào đi chăng nữa thì con người cũngđều không thể sáng tạo ra hoặc tùy ý hủy bỏ Quy luật chỉ chấm dứt sự tồn tại và tác động của
nó khi sự vật mang quy luật đó thay đổi, khi điều kiện cho sự tồn tại của nó mất đi
Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổbiến tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Những quy luật cơ bản trongphép biện chứng duy vật đó là: 1) Quy luật về sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thànhnhững sự thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng chất); 2) Quy luật về sự thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn); 3) Quy luật phủ định củaphủ định
2 Vị trí, vai trò của quy luật
Quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâuthuẫn) Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó giữ vai trò hạt nhâncủa phép biện chứng, bởi vì quy luật này chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động,phát triển của sự vật, hiện tượng
V.I.Lênin nói, nắm được quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là người tanắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó cần phải được giải thích thêm
3 Nội dung của quy luật
Trang 29Nội dung của quy luật này được nhận thức thông qua việc nhận thức các phạm trù cơ bảncủa nó là: mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập, sự đấu tranh của các mặtđối lập
3.1 Mặt đối lập
Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những tính quy định
có khuynh hướng vận động, biến đổi nhau trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trongcùng một sự vật hay hệ thống sự vật tác động qua lại với nhau tạo nên sự vận động, biến đổicủa sự vật
Ví dụ:
Quá trình đồng hóa và dị hóa trong cơ thể sinh vật (tự nhiên)
Các giai cấp cơ bản đối kháng nhau trong một hình thái kinh tế - xã hội, như giữa giaicấp vô sản và giai cấp tư sản trong hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa (xã hội)
Giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm, giữa nhu cầu nhận thức của con người vàkhả năng nhận thức của con người, giữa chân lý và sai lầm, giữa cái biết và cái chưa biết (tưduy)
Trong lịch sử tư tưởng triết học vấn đề mâu thuẫn được đặt ra tương đối sớm Chẳng hạntrong quan niệm của Hêraclít (520 – 460 tr.CN), trong sự vận động biện chứng vĩnh viễn củamình, các sự vật đều có khuynh hướng chuyển sang mặt đối lập Ông nói, cùng một cái trongchúng ta cái sống và cái chết, cái thức và cái ngủ, cái trẻ và cái già, cái này mà biến đổi thìthành cái kia; và ngược lại, cái kia mà biến đổi thì thành cái này Cái lạnh nóng lên, cái nónglạnh đi; cái ướt khô đi, cái khô ướt lại
Hay trong quan niệm của Hàn Phi Tử (khoảng 280 – 233 tr.CN), tư tưởng của Hàn Phi
Tử là muốn quản lý xã hội bằng pháp trị thì phải đẩy lùi tư tưởng quản lý xã hội bằng đạo đứccủa Khổng Tử ra
3.2 Mâu thuẫn
a Mâu thuẫn biện chứng
Theo quan điểm duy vật biện chứng, chính các mặt đối lập nằm trong một chỉnh thể cóliên hệ khăng khít với nhau, nương tựa vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau, mặt này lấy mặt kialàm tiền đề tồn tại đã tạo thành mâu thuẫn biện chứng
Ví dụ:
Sự tồn tại của một nguyên tử là do có sự tác động của “lực hút” và “lực đẩy” giữa cácđiện tử và hạt nhân nguyên tử Hay sự tồn tại của hệ mặt trời cũng chính là do sự tác động củalực hút và lực đẩy giữa các hành tinh cấu thành
Sự thống nhất và đối lập về lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản với giai cấp vô sản trong xãhội tư bản chủ nghĩa
Trang 30Như vậy, không phải mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫnbiện chứng chỉ được tạo bởi các mặt đối lập nằm trong một chỉnh thể có quan hệ với nhau tạonên sự vận động, biến đổi của sự vật.
b Phân loại mâu thuẫn
Mâu thuẫn tồn tại khách quan, đa dạng, phong phú và nhiều vẻ Tính đa dạng của cácmâu thuẫn được quyết định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điềukiện mà trong đó sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập được triển khai, bởi trình độ tổ chứccủa hệ thống trong đó mâu thuẫn tồn tại
Ở mức độ khái quát nhất người ta phân mâu thuẫn ra thành các loại cơ bản sau:
- Mâu thuẫn bên trong – Mâu thuẫn bên ngoài;
- Mâu thuẫn cơ bản – Mâu thuẫn không cơ bản;
- Mâu thuẫn chủ yếu – Mâu thuẫn thứ yếu;
- Mâu thuẫn đối kháng – Mâu thuẫn không đối kháng
Trong tất cả các loại mâu thuẫn trên thì mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫnbên trong giữ vai trò quan trọng, thường giữ vai trò ảnh hưởng quyết định đến sự vận động vàphát triển của sự vật
Mâu thuẫn đối kháng (chỉ tồn tại trong lĩnh vực xã hội) là mâu thuẫn giữa những giaicấp, lực lượng xã hội mà lợi ích cơ bản là đối lập nhau, không thể điều hòa được, mà trước hết
là lợi ích kinh tế, chẳng hạn, mâu thuẫn nô lệ và chủ nô trong xã hội chiếm hữu nô lệ; giữanông dân và địa chủ trong xã hội phong kiến; mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sảntrong xã hội tư bản chủ nghĩa
3.3 Sự thống nhất của các mặt đối lập
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập được hiểu theo hai nghĩa:
- Thứ nhất, đó là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi phải có nhau giữa các mặt đối lập, sựtồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề
- Thứ hai, thống nhất của các mặt đối lập còn được hiểu đó là sự đồng nhất, sự phù hợp,
sự tác động ngang nhau Đó là sự kết hợp hài hòa, cân đối giữa các mặt đối lập, là thể cân bằnggiữa chúng
Ví dụ: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong xã hội tồn tại hai mặt đối lập:
Những yếu tố xã hội chủ nghĩa và những yếu tố phi xã hội chủ nghĩa thống nhất và đấu tranhvới nhau
3.4 Sự đấu tranh của các mặt đối lập
- Các mặt đối lập tồn tại trong sự vật, hiện tượng, hai mặt này có khuynh hướng pháttriển ngược chiều nhau, luôn bài trừ, phủ định lẫn nhau Vì vậy, sự đấu tranh giữa các mặt đốilập thường xuyên diễn ra
Ví dụ: Giai cấp vô sản luôn đấu tranh chống lại giai cấp tư sản trong hình thái kinh tế
-xã hội tư bản chủ nghĩa, dự đấu tranh đó do hai giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau
Trang 31- Sự thống nhất 1 phát triển, vận động là tuyệt đối.
3.5 Nội dung khái quát của quy luật
Nội dung thực chất của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là mọi sựvật hiện tượng đều chứa đựng những mặt, nhưng khuynh hướng đối lập tạo thành mâu thuẫntrong bản thân nó, những mâu thuẫn này phát triển đến độ gay gắt và khi có điều kiện chínmuồi thì hai mặt đối lập chuyển hoá cho nhau dẫn tới sự mất đi cái cũ và sự ra đời của cái mới
Sự thống nhất cũ bị phá vỡ, sự thống nhất mới được thiết lập và lại xuất hiện cuộc đấu tranh giữnhững mặt đối lập mới Chính sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đã trở thanhxung lực nội tại tạo nên nguồn gốc và động lực cho sự phát triển trong thế giới khách quan
Với ý nghĩa đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, độnglực bên trong của mọi sự vận động và phát triển
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Việc nghiên cứu quy luật mâu thuẫn có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối vớinhận thức và hoạt động thực tiễn Nó giúp chúng ta biết được nguồn gốc của sự vận động, pháttriển, trên cơ sở đó có biện pháp tác động phù hợp
4.1 Đối với nhận thức
- Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến nên việc nhận thức mâu thuẫn là cực kỳ quan trọng.Bởi vì tiến trình nhận thức mâu thuân của chúng ta diễn ra như sau: Trước hết chúng tanhận thức sự vật như một thực thể đồng nhất -> Phát hiện ra sự khác nhau -> Phát hiện ra cácmặt đối lập -> Nghiên cứu các mặt đối lập ta biết được mâu thuẫn của nó -> Biết được nguồngốc của sự vận động, phát triển của nó
- Khi phân tích mâu thuẫn:
+ Phải xem xét toàn diện các mặt đối lập;
+ Theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó;
+ Tìm hiểu những điều kiện làm cho những mặt đó biến đổi;
+ Đánh giá đúng tính chất và vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn trong từng giaiđoạn;
+ Xem những mặt đối lập đó có những yếu tố gì chung;
+ Xem mâu thuẫn đó có gì giống với những mâu thuẫn khác và có những đặc điểm gìriêng, khác với những mâu thuẫn khác Tức là, phải phân biệt được các loại mâu thuẫn để giảiquyết kịp thời đưa sự vật phát triển tiến lên
4.2 Đối với hoạt động thực tiễn
Hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi sự vật là quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó Muốnvậy:
- Phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm ra phương thức, phươngtiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải quyết mâuthuẫn một cách thực tế
- Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên, chúng ta khôngđược giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa có đủ điều kiện, cũng không để cho việcgiải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, chủ động thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn
- Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình thức cụ thểkhác nhau) chứ không phải bằng con đường điều hòa mâu thuẫn Đối với các mâu thuẫn khácnhau cần có phương pháp giải quyết khác nhau Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từngloại mâu thuẫn
Trang 32Câu 9: Trình bày nội dung của quy luật từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận?
1 Một số nhận thức chung về quy luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cơ sở của các mối liên hệ giữa các sựvật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Nhìn vào thế giới khách quan chúng tathấy có rất nhiều sự vật, hiện tượng tồn tại, giữa chúng có mối liên hệ với nhau, mà triết họcMác – Lênin gọi là mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, trong các mối liên hệ ấy, có những mối liên
hệ ảnh hưởng đến sự vận động, phát triển của sự vật, nhưng cũng có những mối liên hệ quyếtđịnh sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Những mối liên hệ như vậy được gọi là quyluật
Như vậy, có thể hiểu, quy luật là mối liên hệ bản chất, tất yếu, lặp đi lặp lại giữa các
sự vật, hiện tượng, hay giữa các nhân tố cấu thành các sự vật, hiện tượng.
Sự vật, hiện tượng trong tự nhiên tồn tại đa dạng, phong phú, nhiều vẻ, do đó, có rấtnhiều các loại quy luật tồn tại:
- Nếu xét trên cơ sở lĩnh vực tác động của quy luật thì có: quy luật tồn tại trong tự nhiên, quyluật tồn tại trong lĩnh vực xã hội, có quy luật tồn tại trong lĩnh vực tư duy
- Nếu xét trên cơ sở phạm vi tác động thì có: quy luật riêng, quy luật chung và quy luậtphổ biến
Theo quan điểm duy vật biện chứng, dù là quy luật nào đi chăng nữa thì con người cũngđều không thể sáng tạo ra hoặc tùy ý hủy bỏ Quy luật chỉ chấm dứt sự tồn tại và tác động của
nó khi sự vật mang quy luật đó thay đổi, khi điều kiện cho sự tồn tại của nó mất đi
Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổbiến tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Những quy luật cơ bản trongphép biện chứng duy vật đó là: 1) Quy luật về sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thànhnhững sự thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng chất); 2) Quy luật về sự thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn); 3) Quy luật phủ định củaphủ định
2 Vị trí, vai trò của quy luật
Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch racách thức của sự vận động phát triển thông qua sự tác động giữa lượng và chất của sự vật.Nghĩa là, từ những thay đổi dần dần về lượng, lúc đầu chưa làm thay đổi căn bản về chất của sựvật, đến một thời điểm nhất định – vượt quá giới hạn độ, chất và lượng cũ mất đi, chất và lượngmới ra đời Chất mới lại tác động vào lượng mới cứ như vậy, sự vật, hiện tượng ở trong quátrình vận động, biến đổi, phát triển không ngừng
3 Nội dung của quy luật
Trang 33Việc nhận thức quy luật này thông qua việc nhận thức các khái niệm, phạm trù cơ bảncủa nó, cũng như mối quan hệ giữa các phạm trù đó, như: chất, lượng, độ, điểm nút và bướcnhảy.
3.1 Chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất của các thuộc tính làm cho nó là nó và phân biệt nó với những cái khác.
- Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính khác nhau và mỗi thuộc tính đó cũng có những đặctrưng về chất của riêng mình Do đó, mỗi một thuộc tính lại trở thành một chất Với tư cách đó,mỗi sự vật bao gồm nhiều chất khác nhau
Tuy nhiên, các thuộc tính của sự vật có vị trí khác nhau, trong đó có những thuộc tính là
cơ bản và có những thuộc tính là không cơ bản Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo tạothành chất căn bản của sự vật Do đó, tuy ở mỗi sự vật có nhiều chất khác nhau nhưng chỉ cómột chất căn bản là đặc trưng cho nó đó là loại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quyết định
sự tồn tại hay mất đi của sự vật
- Chất của sự vật, không chỉ được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành nên nó màcòn bởi cấu trúc bên trong của sự vật Bởi phương thức liên kết, sắp xếp các yếu tố cấu thành sựvật đó Vì vậy, sự thay đổi về chất của sự vật không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi của các yếu
tố cấu thành nên nó mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi về phương thức tổ chức sắp xếp, phươngthức liên hệ giữa các yếu tố đó với nhau
Ví dụ: Cũng là con người đó, năng lực trình độ đó Nếu để như cũ thì hoạt động của đơn
vị trì trệ Nếu đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, phương thức, cách thức sắp xếp tổ chức,phương pháp làm việc thì nó tạo nên sức mạnh của đơn vị đó Và cũng như vậy, nếu cho cán bộhọc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng tạo nên sự thay đổi về chất
3.2 Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính vốn có của sự vật,
về quy mô trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật hay số lượng các thuộc tính của nó.
- Lượng nói lên kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, tổng số ít hay nhiều, caohay thấp, đậm hay nhạt và trong thực tế lượng có thể xác định cụ thể, chính xác bằng cáccông cụ đo lường
- Lượng cũng có thể chỉ được xác định trên cơ sở những căn cứ có tính tương đối Cónhững lượng là nhân tố quyết định bên trong của sự vật Nhưng có những lượng chỉ nói lênnhân tố bên ngoài của sự vật Vì vậy, sự biểu thị của lượng là hết sức đa dạng, lượng và chấtgắn bó với nhau Nếu một sự vật có nhiều chất thì tương tự như vậy, sự vật đó cũng có nhiềulượng
Chất và lượng là 2 mặt quy định lẫn nhau, không thể tách rời, mỗi một chất nhất định baogiờ cũng có lượng tương ứng với nó Không có chất và lượng thuần tuý tách khỏi nhau
3.2 Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đối về chất
- Bất kỳ sự vật nào cũng có chất và lượng trong quá trình tồn tại và vận động của sự vật thìchất và lượng cũng có sự biến đổi Tuy nhiên sự biến đổi của chất và lượng không diễn ra độc lập
Trang 34tách rời nhau, trái lại nó gắn bó chặt chẽ với nhau, sự biến đổi của mặt này sẽ tác động làm ảnhhưởng đến sự biến đổi của mặt kia và ngược lại
- Chúng ta cần chú ý rằng, không phải bất kỳ một sự thay đổi nào về lượng cũng trực tiếp
và ngay lập tức làm thay đổi căn bản sự vật Lượng có thể biến đổi trong một phạm vi giới hạnnhất định mà chưa làm cho chất thay đổi Chỉ khi vượt qua phạm vi giới hạn đó thì mới có sựbiến đổi về chất, phạm vi giới hạn đó được gọi là Độ
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất Nó là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật ấy Trong giới hạn của Độ về cơ bản chất và lượng thống nhất với nhau
- Về mặt tốc độ thì lượng thay đổi trước và nhanh hơn chất, sự vận động và biến đổi của
sự vật bao giờ cũng được bắt đầu từ những sự biến đổi về lượng và quá trình này diễn ra mộtcách tiệm tiến theo chiều hướng tăng dần, hoặc giảm dần và khi sự thay đổi đó đạt tới điểm giớihạn thì sẽ xảy ra sự thay đổi về chất Điểm giới hạn đó được gọi là Điểm nút
Điểm nút là những điểm giới hạn mà ở đó bất kỳ sự biến đổi nào về lượng cũng đưa ngay sự biến đổi về chất Chất cũ mất đi và chất mới ra đời, sự thống nhất cũ bị phá vỡ, sự thống nhất mới được tạo lập Lại xuất hiện điểm nút mới Điều này không phải diễn ra từ từ
mà nhanh chóng, đột biến và quá trình đó gọi là bước nhảy
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do nhưng thay đổi về lượng trước đó gây ra.
- Bất kỳ một sự thay đổi căn bản nào về chất của sự vật cũng đều chỉ được thực hiệnthông qua bước nhảy Đó là sự đứt đoạn của sự tiệm tiến trong sự phát triển của sự vật nếu chỉbằng phạm trù về tính tiệm tiến thì chúng ta không thể giải thích sự xuất hiện chất mới, sự rađời sự vật mới Lê nin nhấn mạnh: " Tính tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt, thì không giảithích được gì cả"
- Sự thay đổi về chất của sự vật, diễn ra hết sức đa dạng với nhiều hình thức, nhiều bướcnhảy khác nhau, có thể phân loại bước nhảy như sau:
Xét về mặt thời gian của sự thay đổi về chất và tính chất của sự vật đó thì phân thành
bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần
Bước nhảy đột biến là bước nhảy biến đổi một cách nhanh chóng nhất (thậm chí chỉ là
khoảnh khắc) của sự vật như những vụ nổ hạt nhân, những phản ứng hạt nhân
Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra trong một thời gian dài Những
chất mới được hình thành dần dần, những cái cũ đào thải từng bước Cần chú ý: bước nhảy dầndần khác sự thay đổi dần dần về lượng ở chỗ sự thay đổi về lượng diễn ra trong khuôn khổ củachất đang có và bước nhảy dần dần lại là sự chuyển hóa từng bước từ chất này sang chất khác
Nó là sự đứt đoạn của tính liên tục
- Xét về quy mô có thể chia thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ
Bước nhảy toàn bộ là sự thay đổi căn bản về chất của tất cả các mặt, các yếu tố, các lĩnh
vực cấu tạo thành sự vật
Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy chỉ làm thay đổi về chất một số mặt, một số yếu tố,
một số bộ phận của sự vật
Trang 35Thông thường đối với các sự vật phức tạp về tính chất, cấu trúc thì bước nhảy thườngdiễn ra theo con đường từ những thay đổi về chất cục bộ dẫn đến thay đổi về chất toàn bộ.
- Nếu xem xét sự thay đổi về chất trên lĩnh vực xã hội thì có thể phân chia thành thay đổi
mang tính cách mạng và thay đổi mang tính tiến hóa
Tính cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự cải tạo căn bản về chất
của sự vật, không phụ thuộc vào cái đó diễn ra như thế nào
Tính tiến hóa là sự thay đổi về lượng cùng với những sự biến đổi về chất nhưng là chất
không căn bản
Cần chú ý: Cách mạng là khái niệm hẹp hơn bước nhảy bởi vì nó chỉ là sự cải tạo, thay
đổi đổi chất căn bản và sự thay đổi đó mang tính tiến bộ chuyển hóa lên nấc thang phát triểncao hơn, còn nếu sự thay đổi đó mà làm cho xã hội có bước thụt lùi thì đó là phản cách mạng
Tóm lại, khi một chất hình thành, trong lòng nó luôn diễn ra sự thay đổi về lượng Sự
biến đổi về lượng khi đến điểm nút tạo ra sự biến đổi về chất thông qua các bước nhảy Chấtmới tiến bộ hình thành làm cho lượng của nó biến đổi với tốc độ và quy mô lớn hơn Nhưng khilượng mới biến đổi đến điểm nút lại tạo ra sự biến đổi về chất và cứ như vậy tạo nên sự biến đổiphát triển không ngừng Đó chính là phương thức vận động, phát triển trong thế giới kháchquan
4 Ý nghĩa phương pháp luận
4.1 Đối với nhận thức
Để có một tri thức đầy đủ về sự vật thì phải nhận thức cả về lượng và chất của nó, phảiđánh giá đúng đắn vị trí, vai trò, ý nghĩa của mỗi một loại thay đổi của chất và lượng đối với sựphát triển
Khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng chúng ta sẽ có tri thức hoàn chỉnh
về sự vật đó
4.2 Đối với hoạt động thực tiễn
- Vì sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nêntrong hoạt động thực tiễn phải dựa trên việc hiểu đúng đắn vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi sựthay đổi nói trên để hành động có hiệu quả
- Chống khuynh hướng “tả” khuynh, chủ quan, nóng vội, chưa có sự tích lũy về lượng đãmuốn thực hiện bước nhảy về chất Hoặc coi nhẹ sự tích lũy về lượng, chỉ nhấn mạnh bướcnhảy dễ dẫn đến phiêu lưu, mạo hiểm
- Chống khuy hướng “hữu” khuynh, bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bướcnhảy về chất khi đã có đủ tích lũy về lượng
- Muốn duy trì sự vật ở trạng thái nào đó phải năm được giới hạn độ, không để lượngthay đổi vượt quá giới hạn của độ
- Trong xã hội sự vận động của sự biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngượlại, phụ thuộc đáng kể vào vai trò của nhân tố chủ quan do những hoạt động hợp quy luật haykhông hợp quy luật của con người Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao trong hoạt động, cần rút ranhững vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động của con người
Trang 36Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượngthành nhưng thay đổi về chất, từ sự thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cáchmạng
Cần phải có trình độ khách quan khoa học và phải quyết tâm thực hiện bước nhảy khi cóđiều kiện chín muồi, cần chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám đổi mới, thực hiện bướcnhảy bước ngoặt làm thay đổi cục diện tình hình để làm cho sự vật phát triển được
Thời kỳ bao cấp trước đổi mới, sai lầm cơ bản mà chúng ta mắc phải là bệnh chủ quannóng vội, là tư tưởng đốt cháy giai đoạn, mặc dù lực lượng chưa phát triển, chưa có một tiền đề
để tạo ra một xã hội mới hoàn toàn về chất, nhưng chúng ta đã tiến hành xây dựng chủ nghĩa xãhội một cách chủ quan, đã xây dựng một nền kinh tế với hai hình thức sở hữu: sở hữu quốc dân
xã hội chủ nghĩa và sở hữu tập thể Điều đó đã làm cho nền kinh tế phát triển thụt lùi đi tớikhủng hoảng Chính vì vậy, Đại lần thứ IX của Đảng đã khẳng định “ Đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa…ưu tiên phát triển phát triển lực lượng sản xuất”
Ở Việt nam hiện nay việc thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới trên từng lĩnh vực đờisống xã hội sẽ tạo ra bước nhảy về chất tại lĩnh vực đó, qua đó tạo điều kiện thực hiện sự nhảyvọt toàn bộ các lĩnh vực trong đời sống xã hội Cần phải biết kiên trì, chuẩn bị nhưng điều kiệncho bước nhảy bằng các tích lũy về lượng, phải khắc phục tư tưởng nôn nóng, tả khuynh đốtcháy giai đoạn chỉ muốn thực hiện bước nhảy lớn khi chưa có điều kiện./
Trang 37Câu 10: Quy luật phủ định của phủ định?
1 Một số nhận thức chung về quy luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cơ sở của các mối liên hệ giữa các sựvật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Nhìn vào thế giới khách quan chúng tathấy có rất nhiều sự vật, hiện tượng tồn tại, giữa chúng có mối liên hệ với nhau, mà triết họcMác – Lênin gọi là mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, trong các mối liên hệ ấy, có những mối liên
hệ ảnh hưởng đến sự vận động, phát triển của sự vật, nhưng cũng có những mối liên hệ quyếtđịnh sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Những mối liên hệ như vậy được gọi là quyluật
Như vậy, có thể hiểu, quy luật là mối liên hệ bản chất, tất yếu, lặp đi lặp lại giữa các
sự vật, hiện tượng, hay giữa các nhân tố cấu thành các sự vật, hiện tượng.
Sự vật, hiện tượng trong tự nhiên tồn tại đa dạng, phong phú, nhiều vẻ, do đó, có rấtnhiều các loại quy luật tồn tại:
- Nếu xét trên cơ sở lĩnh vực tác động của quy luật thì có: quy luật tồn tại trong tự nhiên, quyluật tồn tại trong lĩnh vực xã hội, có quy luật tồn tại trong lĩnh vực tư duy
- Nếu xét trên cơ sở phạm vi tác động thì có: quy luật riêng, quy luật chung và quy luậtphổ biến
Theo quan điểm duy vật biện chứng, dù là quy luật nào đi chăng nữa thì con người cũngđều không thể sáng tạo ra hoặc tùy ý hủy bỏ Quy luật chỉ chấm dứt sự tồn tại và tác động của
nó khi sự vật mang quy luật đó thay đổi, khi điều kiện cho sự tồn tại của nó mất đi
Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổbiến tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Những quy luật cơ bản trongphép biện chứng duy vật đó là: 1) Quy luật về sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thànhnhững sự thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng chất); 2) Quy luật về sự thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn); 3) Quy luật phủ định củaphủ định
2 Vị trí, vai trò của quy luật
Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch rakhuynh hướng của sự phát triển của sự vật và con đương phát triển của sự vật
3 Nội dung của quy luật
Việc nhận thức quy luật này được thông quan việc nhận thức những khái niệm, phạm trù
cơ bản, như: phủ định, phủ định biện chứng
3.1 Theo nghĩa thông thường phủ định là sự không thừa nhận, sự loại bỏ, thay thế
những sự vật, hiện tượng nào đó Sự thay thế đó được thể hiện, có thể nhờ sức mạnh bên ngoàilàm cái cũ bị phá hủy và cái mới dựng lên, cũng có thể, sự thay đổi được thể hiện thông quaviệc giải quyết mâu thuẫn nội tại của sự vật bị phủ định Qua đó cái cũ mất đi, cái mới ra đời
Trang 383.2 Phủ định biện chứng: Phép biện chứng duy vật không đề cập đến sự phủ định nói
chung mà chỉ quan tâm nhấn mạnh đến những sự phủ định làm tiền đề tạo điều kiện sự pháttriển
Phủ định biện chứng là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trên cơ sở mất đi của
sự vật cũ và nảy sinh sự vật mới, do kết quả của sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Hay nói cách khác, phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển của sự vật, hiện tượng, là mắt khâu của con đường dẫn đến sự ra đời của cái mới, cái tiến bộ hơn sự vật, hiện tượng bị phủ định.
3.3 Đặc điểm của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng có hai đặc trưng (đặc điểm) cơ bản sau:
- Thứ nhất, phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định sự phủ định này là kết quả của sự
tác động qua lại giữa các nhân tố tạo thành sự vật Nó mang tính khách quan, nó nằm trong quytrình vận động và biến đổi của sự vật
- Thứ hai, sự phủ định mang tính kế thừa, không phải là đơn thuần thủ tiêu phá hủy hoàn
toàn cái cũ, cái bị phủ định Sự kế thừa của phủ định biện chứng thể hiện ở chỗ, nó duy trì một
số yếu tố, một số đặc trưng của cái bị phủ định Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa phủđịnh biện chứng với phủ định siêu hình, nó làm cho sự phủ định không tạo ra sự cắt đứt với quá
khứ V.I.Lênin khẳng định; “ Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không
suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ
là cái đặc trưng và cái bản chất trong phủ định biện chứng mà là sự phủ định trong cái vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì của cái khẳng định.”
Thực chất của sự phát triển là sự biến đổi mà giai đoạn sau còn bảo tồn tất cả những gì đãđược tạo ra từ giai đoạn trước và nâng nó lên ở một trình độ mới cao hơn Vì vậy, phủ định biệnchứng trở thành vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và phát triển Đây là điểm khác biệt cơ bảngiữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình
Những người theo quan điểm siêu hình đã xem xét phủ định giản đơn chỉ là sự xóa bỏhoàn toàn cái cũ, chấm dứt sự liên hệ vận động, sự phát triển của bản thân sự vật Không thấyđược tiền đề của sự nảy sinh ra cái mới được chuẩn bị từ trong cái cũ Mặt khác khi nói đến kếthừa thì họ lại hiểu nó như là sự giữ lại nguyên xi toàn bộ, không có cải tạo lọc bỏ Họ lắp ghépcác yếu tố của cái cũ vào trong cái mới, một cách giản đơn áp đặt máy móc
3.4 Khái quát nội dung của quy luật
- Phủ định biện chứng mới nói lên một giai đoạn một nấc thang, trong quá trình phát triển
để cái mới ra đời Một sự vật mới xuất hiện cần phải trải qua nhiều phủ định biện chứng Do đó,trong cái mới có sự lặp lại một số đặc trưng cơ bản của cái xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sởcao hơn và đến đây một chu kỳ phát triển mới được hoàn thành
Trang 39Như vậy, phủ định biện chứng phải diễn ra ít nhất hai lần và mỗi lần phủ định đó lại cómột đặc điểm khác biệt:
+ Phủ định biện chứng lần một tạo ra sự độc lập với cái ban đầu - Đó là bước trung gian
của quá trình phát triển và kết quả của lần phủ định này đã hàm chứa những nhân tố cho sự phủđịnh tiếp theo Tuy nhiên, kết quả của nó có thể dẫn đến sự tiến bộ hay là cái mới xuất hiện,cũng có thể còn là bước thụt lùi tạm thời so với cái ban đầu
+ Phủ định lần hai (tức là phủ định của phủ định), dẫn đến sự ra đời của cái mới một
cách trọn vẹn Trong cái mới đó nó vừa mang đặc trưng độc lập với cái trung gian về mặt hìnhthức, vừa như có sự có sự quay trở lại với điểm xuất phát ban đầu nhưng không phải lặp lạinguyên xi như cái ban đầu mà trên một trình độ cao hơn ở trong cái mới Với tư cách là kết quảphủ định lần hai, có sự tổng hợp tất cả nhưng yếu tố tích cực của cái xuất phát ban đầu và giá trịtích cực của cái trung gian Do đó, nội dung của nó toàn diện hơn, phong phú hơn so với cáixuất phát ban đầu và cả cái trung gian
Ví dụ: Hạt lúa cây lúa…hạt lúa (Trong cây lúa bao hàm chứa trong nó sự phủ định tiếp
theo, phủ định lần hai thành nhưng hạt lúa nó khắc phục nhưng đặc điểm tố chất của hạt lúa banđầu nhưng trên cơ sở cao hơn)
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất, khuynh hướng tiến lên của sự pháttriển, song sự phát triển đi lên đó không phải diễn ra theo con đường thẳng tắp mà theo đườngxoáy ốc Với đặc trưng là tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại như ban đầu, tínhtiến lên
Mỗi một vòng mới của đường xoáy ốc, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển nhưngdường như lại có xu hướng quay trở về điểm xuất phát ban đầu Sự nối tiếp của các vòng thểhiện tính vô tận của quá trình phát triển, tính không có giới hạn của sự đi lên, từ thấp đến cao
V.I.Lênin khẳng định: "Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới
hình thức khác ở trình độ cao hơn, sự phát triển có thể nói là theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng".
- Cần chú ý, số lần phủ định trong một chu kỳ phát triển trên thực tế có thể nhiều hơn hailần, điều này tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng đối tượng cụ thể của mỗi sự vật, hiệntượng
Tóm lại: Quy luật phủ định của phủ định nói lên mối liên hệ, sự kế thừa, giữa cái khẳng
định và cái phủ định Do có sự biến đổi đó phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạchtrơn, xoá bỏ tất cả những gì đã đạt được từ những giai đoạn trước đó mà nó thực sự là điều kiệncho sự phát triển Nó duy trì và gìn giữ những nội dung tích cực của các giai đoạn trước, bổsung thêm những thuộc tính mới làm cho sự vật phát triển theo đường xoáy ốc
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 40- Do phủ định của phủ định là vòng khâu của sự phát triển nên muốn phát triển được phảibiết phủ định, tránh tư tưởng bảo thủ,trì trệ, thoả mãn, với những gì đã có, không chịu đổi mớitrong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.
- Do phát triển luôn đi theo đường xoắn ốc, nghĩa là vừa lặp lại vừa nâng cao lên Vì vậy,trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội phải biết khai thác, kế thừa các giá trị truyền thống tốtđẹp của dân tộc, của nhân loại
- Đối với di sản của quá khứ phải bảo tồn, phải lưu giữ để các thế hệ nối tiếp nhau có thểphát huy trong tiến trình phát triển của lịch sử, phải tuyệt đối tránh tư tưởng phủ định sạch trơn,đồng thời cũng chống tư tưởng kế thừa nguyên xi, không đổi mới, không chọn lọc
- Ngày nay, hơn bao giờ hết, lịch sử loài người đang chuyển biến mạnh mẽ Điều này đòihỏi phải nhìn nhận đánh giá lại các giai đoạn lịch sử đã qua để rút ra những bài học cần thiếtcho sự phát triển Việc đánh giá đó đòi hỏi phải thực sự khách quan khoa học, phải tránh mọimặc cảm, mọi định kiến xã hội
- Đối với Việt nam chúng ta đang tiến hành sự nghiệp đối mới theo định hướng XHCNvới mục đích nhằm làm chuyển biến nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang CNH, HĐH.Đương nhiên trong quá trình đó phải thực hiện sự phủ định bản chất đối với cái cũ, về thựcchất, nó đã nhằm phủ định cái cũ, để cho ra đời cái mới Trong quá trình đó, cần phải biết giữgìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc kế thừa và phát huy nhưng thành tích chúng ta đã đạt được
từ trước đến nay và dùng nhưng giá trị đó là một trong nhưng cơ sở tiền đề tạo ra cái mới
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta chủ trươngcùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, phải xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc vănhoá dân tộc Chủ trương đó yêu cầu phải kế thừa và phát huy được mọi thành tựu văn hoá tronglịch sử Việt Nam và lịch sử nhân loại, tránh chủ nghĩa hư vô trong quá trình xây dựng và pháttriển đất nước Cần chống lại tư tưởng bảo thủ, không dám đổi mới, phủ định cái cũ để pháttriển cái mới Đồng thời, chống thái độ phủ định sạch trơn, hoặc khôi phục nguyên xi tất cả cái
cũ, cái lạc hậu Nghiên cứu, nắm vững phép biện chứng duy vật, thấu suốt những nguyên tắc,phương pháp luận của nó càng cần thiết để đổi mới tư duy, thực hiện thành công sự nghiệp đổimới ở nước ta hiện nay./