1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tài liệu ôn thi cao học môn triết học

43 163 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 127,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diệt đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về khả năng con người có thể tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ và trạng thái mà con người đạt được sau khi đã tiêu diệt được n

Trang 1

CÂU HỎI THI GIỮA KÌ

1 Trình bày những chức năng cơ bản của triết học và mối quan hệ của triết học với các môn học khác

2 Trình bày quan điểm “nhân – quả” trong thuyết Tứ Diệu Đế của triết học phật giáo và đưa ra nhận xét của mình về quan điểm này

3 Trình bày quan điểm “nhân – quả – thiện” trong thuyết Tứ Diệu Đế của triết học phật giáo và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với xã hội việt nam giai đoạn hiện nay

4 Trình bày những đặc trưng và cống hiến cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển của tư duy nhân loại

5 Phân tích sự khác nhau giữa khuynh hướng tu duy triết học phương Đông và khuynh hướng tư duy triếthọc phương Tây thời cổ đại

6 Trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học tây âu thời trung cổ và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội thời kỳ này

7 Trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học tây âu thời phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội thời kỳ này

8 Trình bày vai trò của triết học cổ điển Đức đối với sự ra đời của triết học Mác

9 Bằng sự ra đời và nội dung cơ bản của triết học phật giáo hoặc triết học nho gia, hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nổi tiếng, đời sống tinh thần của con người nói chung do điều kiện sống quy định

10 Trong tất cả học thuyết triết học trước Mác, theo anh/chị học thuyết nào ảnh hưởng nhiều nhất đến đờisống của người Việt Nam? Tóm tắt nội dung học thuyết đó và nêu lên ảnh hưởng của nó đối với dân tộc

ta trong giai đoạn hiện nay

11 Trình bày nội dung cơ bản quan điểm sống "chính danh" của triết học Nho gia và đưa ra một số nhận xét của mình về quan điểm này

1 Trình bày những chức năng cơ bản của triết học và mối quan hệ của triết học với các môn học khác

Chức năng cơ bản của triết học:

Triết học mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta, cho chúng ta hiểu về văn minh, văn hóa, hệ tư tưởng Triết học có chức năng nhận thức, nhận định, bình xét, đánh giá, giáo dục, tự giáo dục, trong đó chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận là quan trọng nhất

Chức năng thế giới quan:

Triết học là hệ thống lý luận chung nhất về thế giới, là hạt nhân lý luận của thế giới quan Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung quanh, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó Triết học trang bị cho con người hệ thống những quan điểm về thế giới; hệ thống này định hướng cho toàn bô cuộc cuộc sống của con người Thế giới quan thống nhất trong mình vũ trụ quan, ý thức hệ và nhân sinh quan của con người cụ thể Với tư cách là cơ sở thế giới quan, triết học vừa là cơ sở vũ trụ quan, cơ sở ý thức hệ, vừa là cơ sở nhân sinh quan

Với tư cách là cơ sở vũ trụ quan, triết học góp phần truy tìm lời giải cho hệ vấn đề bản thể vũ trụ

để xây dựng mô hình vũ trụ hợp lý và tiến đến làm sáng tỏ vị trí, vai trò của con người trong vũ trụ đó.Với tư cách là cơ sở ý thức hệ, triết học góp phần truy tìm lời giải cho vấn đề xã hội, về các giai – tầng trong xã hội để xác định những lợi ích sống còn và những lợi ích bất di bất dịch mà các giai – tầng nào đó phải theo đuổi Khao khát hướng đến lý trí của triết học hòa nhập với khát vọng hướng đến quyềnlực chính trị của các giai – tầng tạo thành nguồn cội của sức mạnh tinh thần – vật chất giúp các giai – tầngtrong xã hội tự ý thức về sự tồn tại của mình và thời đại của mình để giải quyết những xung đột trong xã hội, vươn lên làm chủ cuộc sống của chính mình và đóng góp vào tiến trình lịch sử nhân loại

Với tư cách là cơ sở nhân sinh quan, triết học góp phần truy tìm lời giải cho hệ vấn đề con người, về

sự sống – cái chết, về hạnh phúc, đau khổ của mỗi con người cá nhân trong thực tại cuộc sống Triết học góp phần hướng dẫn cho hành vi con người xuyên qua những xung đột nhân cách, những ràng buộc lợi ích để vươn lên trở thành con người chân chính giữa những cạm bẫy của đời thường

Trang 2

Chức năng phương pháp luận:

Bất cứ lý luận triết học nào, khi lý giải về thế giới xung quanh và bản thân con người, đồng thời cũng thể hiện phương pháp nhất định, chỉ đạo cho việc xây dựng và vận dụng phương pháp Triết học đóng vai trò định hướng cho con người trong quá trình tìm tòi, xây dựng, lựa chon, và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, và do đó, nó có ý nghĩa quyết định với việc thành bại trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.triết học là phương pháp luận phổ biến hướng dẫn cho hành vi con người trong hoạt động thực tiễn và nhận thức Như vậy, khi thức hiện chức năng phương pháp luận phổ biến, triết học xây dựng các phương pháp chung nhất hướng dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới cho con người

Với tư cách là cơ sở phương pháp luận phổ biến trong hoạt động nhận thức, triết học xây dựng các nguyên tắc tổng quát chỉ đạo lý trí con người trong việc khám phá ra bản chất của các hiện tượng đa dạng xảy ra trong thế giới xung quanh, phát triển nhận thức, nâng cao trình độ tư duy cho lý luận con người.Với tính cách là cơ sở phương pháp luận phổ biến trong hoạt động thực tiễn, triết học xây dựng các nguyên tắc tổng quát hướng dẫn cải tạo hiện thực cuộc sống vì lợi ích của giai – tầng nói riêng, của thời đại hay nhân loại nói chung Triết học không chỉ lý giải thế giới mà nó còn góp phần vào việc cải tạo thế giới

Bối cảnh ra đời (Sự hình thành các khoa học):

Nếu như Ấn Độ và Trung Quốc được coi là nôi văn minh, văn hóa của phương Đông và triết học

Ấn Độ, Trung Quốc là kinh điển cho triết học phương Đông thì Hi – La là các quốc gia tiêu biểu cho phương Tây, triết học Hi – La là triết học tiêu biểu cho triết học phương Tây Giữa triết học Hi Lạp và triết học La Mã thì triết học Hi Lạp tiểu biểu hơn, cho nên khi tìm hiểu văn minh, văn hóa, triết học, tư duy… của người phương Tây thời kì cổ đại ở góc độ đại cương ta chỉ tìm hiểu triết học Hi Lạp

Sự ra đời của triết học phương Tây cổ đại thể hiện rất rõ ở Hi – Lạp, nó gắn liền với sự ra đời và phát triển của giai cấp Xã hội Hi Lạp xuất hiện giai cấp vào thế kỉ XI đến thế kỉ thứ VIII TCN Sự ra đời của giai cấp dẫn tới việc phân công lao động: lao động chân tay và lao động trí óc Bằng lao động trí óc thì triết học ra đời vào thế kỉ thứ VIII TCN

Loài người ra đời khoảng 4 triệu năm Khi loài người mới ra đời chưa có triết học và khoa học nào khác Nhận thức của con người khi đó rất ít và thô sơ Xã hội khi đó là xã hội công xã nguyên thủy Đó là lúc những bày nửa người nửa vật lang thang trên mặt đất Hiện tượng này kéo dài khoảng 4000 năm TCN, thì xã hội công xã nguyên thủy chuyển sang xã hội chiếm hữu nô lệ Xã hội có giai cấp đầu tiên củaloài người xuất hiện Hai giai cấp đó là: chủ nô và nô lệ Giữa hai giai cấp này thì giai cấp chủ nô có hai điều kiện mà giai cấp nô nệ không có: kinh tế và thời gian Giai cấp chủ nô có tiền của, có lương thực dư thừa, bởi toàn bộ thành quả lao động của người nô lệ đều thuộc về chủ nô Khi giai cấp chủ nô có điều kiện về kinh tế thì họ được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn tối thiểu Trong khi giai cấp nô lệ phải làm quần quật cả ngày thì giai cấp chủ nô không phải lao động Cho nên tuyệt đại đa số chủ nô dùng điều kiệnkinh tế và thời gian đó để thực hiện hai công việc chính: thực hiện các cuộc chiến để mở rộng lãnh thổ và quản lý lao động, quản lý trang trại… Tuy nhiên, có một số chủ nô cũng có hai điều kiện về kinh tế và thời gian nhưng họ không tham gia chiến tranh và quản lý lao động mà dùng những điều kiện đó để thực hiện những sở thích riêng của mình Một trong những hoạt động ấy là chu du Một người chủ nô đem theovài người nô lệ, lương thực, thực phẩm, tiền bạc… đi mọi nơi Và chính những người chủ nô đi nhiều nhưvậy mà họ phát hiện ra nhiều điều mà trước kia khi ở một chỗ họ không thấy Họ thấy trên thế giới này cónhững thứ giống nhau, khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời tiết, phong tục, tập quán… Trong đầu họ xuất hiện câu hỏi tại sao có sự giống nhau, khác nhau? Và khi con người biết tự đặt ra cho mình câu hỏi tại sao thì đấy cũng chính là lúc con người tự nâng mình lên một tâm cao mới, khoảng cách giữa người vàvật giãn ra một khoảng lớn Trước đây không phải không có câu hỏi tại sao mà những câu hỏi đó của con người ít hơn và đơn giản hơn và câu trả lời được lấy từ đấng sáng tạo Còn bây giờ những người chủ nô này nghi ngờ vai trò và sự tồn tại của đấng sáng tạo Nếu có đấng sáng tạo thì ai cũng tôn thờ đấng sáng tạo mà tại sao người này sống sung sướng còn người kia phải chịu khổ sở, chẳng lẽ đấng sáng tạo bất công đến mức như vậy Cho nên người ta muốn biết có hay không có đấng sáng tạo và nếu có thì sức mạnh của đấng sáng tạo đến đâu Từ chỗ biết đặt ra câu hỏi, con người đã nghi ngờ cách giải quyết của các thế hệ trước Khi con người biết hoài nghi trên cơ sở những gì mình quan sát, suy ngẫm thì con người lại nâng lên một tầm cao mới Cuối cùng những người chủ nô cố gắng giải thích hoài nghi của mình mà không dựa trên vai trò của đấng sáng tạo, không dựa và các thế hệ trước Lại một lần nữa con người nâng mình lên một tầm cao mới Quá trình những người chủ nô đi chu du, quan sát, nghiền ngẫm, biết đặt ra những câu hỏi, hoài nghi và tìm ra những câu trả lời mới diễn tra trong lịch sử trong hàng nghìn năm Và hiện tượng này dần dần hình thành nên một loại hình lao động mà sau này ta gọi là lao động trí óc Nhu

Trang 3

vậy đến đây lao động đã được chia ra thành lao động chân tay và lao động trí óc Lao động chân tay thuộc

về giai cấp nô lệ, lao động trí óc thuộc về một số người ở giai cấp chủ nô Bằng lao động trí óc, khoa học

đã ra đời vào khoảng thế kỉ VIII TCN

Vào thế kỉ VIII TCN khi khoa học ra đời thì chưa có phân loại các ngành khoa học mà tất cả các loại tri thức nằm trong khoa học duy nhất người Hi Lạp gọi là triết học tự nhiên hay đơn giản hơn gọi là triết học Cho nên tất cả những nhà triết học nghiên cứu tất cả các loại kiến thức Điều này kéo dài đến thế

kỉ XV, do nhu cầu của phát triển sản xuất, nhu cầu phát triển xã hội, con người cần thấy cần phải đi thật sâu vào từng lĩnh vực và dần dần hình thành các ngành khoa học Đến thế kỉ XV các ngành khoa học bắt đầu tách khỏi triết học Đến thế kỉ XVII, thế kỉ XVIII, các ngành khoa học cụ thể ồ ạt tách khỏi triết học

để trở thành các ngành khoa học như bây giờ Và cùng với sự tách ra của các ngành khoa học ra khỏi triết học vào thế kỉ giữa XVIII đặt ra một câu hỏi: sự tồn tại của triết học cần hay không cần? Bởi trước đây người ta muốn hiểu gì đều phải cần đến triết học, còn bây giờ người ta cần hiểu gì thì các ngành khoa học cung cấp kiến thức sâu hơn, rộng hơn Nhưng khi cuộc sống đặt ra câu hỏi ấy thì cũng tự cuộc sống trả lờicho nó: sự ra đời của các ngành khoa học là tất yếu và cần thiết, sự ra đời và tồn tại của các ngành khoa học và triết học cũng tất yếu và cần thiết, bởi vì giữa triết học và các ngành khoa học khác có mối quan hệmật thiết với nhau Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất Những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cáchđịnh hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu

Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể sẽ có kết quả rất sâu về lĩnh vực mình nghiên cứu nhưng sẽ không có kiến thức chung về tất cả các ngành khoa học khác Bởi kiến thức, tri thức của toàn bộ thế giới không chỉ là kiến thức của một loại hình khoa học cụ thể mà đó là cái tổng thể Mà người không biết kiến thức chung thì khi nghiên cứu cái riêng sẽ không đạt được kết quả tối ưu nhất Như vậy đến đây ít nhất ta thấy được triết học và các khoa học khác có hai mối quan hệ: có chung nguồn gốc và quá trình phát triển và kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất, những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cách định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu

2 Trình bày quan điểm “nhân – quả” trong thuyết Tứ Diệu Đế của triết học phật giáo và đưa ra nhận xét của mình về quan điểm này

Thuyết nhân quả của nhà Phật là một triết lý mang tính khoa học, qui luật tự nhiên của vũ trụ, không mang tính chất hình thức của sự thưởng phạt từ một đấng quyền năng nào Quan điểm đó thể hiện

rõ nét trong thuyết Tứ Diệu Đế

Tứ diệu đế tạo ra 2 cặp nhân - quả Nhưng hai cặp nhân quả này khác nhau về bản chất: cặp nhân – quả thứ nhất (khổ đế - tập đế) là cặp nhân quả ác vì nó gây nên nỗi khổ của cuộc đời, cặp nhân – quả thứ

2 là cặp nhân quả thiện vì nó đưa con người đến trạng thái niết bàn

Khổ đế là quan điểm của triết học Phật giáo về nỗi khổ của cuộc đời Triết học Phật giáo quan niệm đời là khổ và đời có rất nhiều nỗi khổ Nhưng khái quát lại có thể chia các nỗi khổ của cuộc đời con người thành 8 nỗi khổ chính (bát khổ):

1 Sinh khổ Sinh ra là tồn tại, mà tồn tại dưới dạng gì cũng khổ Tồn tại dưới dạng vô sinh, hữu sinh, thực vật, động vật, con người thì khổ kiểu vô sinh, hữu sinh, thực vật, động vật, con người

2 Lão khổ Ai cũng đến lúc già tóc bạc, lưng còng, má hóp, trán nhăn, đi không được, ăn ngủ không được trong khi đó trong người còn bao nhiêu đam mê, khát vọng mà tài bất tòng tâm, lực bất tòng tâm, tuệ bất tòng tâm

3 Bệnh khổ Con người bị một bệnh sinh lý nào đó thì dù nặng hay nhẹ cũng rất khổ, thậm chí khổ cho cả người khác Ngày nay con người ta còn mắc các bệnh không phải sinh lý: bệnh tự kiêu, tự cao, bệnh công thần, bệnh tự ti…

4 Tử khổ Nhiều người nói con người ta chết rồi biết đâu là khổ nhưng không phải Chết là lúc duyên tan của ngũ uẩn rồi, cái thụ, tưởng không còn Người ta không còn thấy cái khổ chứ không phải cáikhổ không còn Người thân thương xót khóc lóc Và khi con người chết thì phải táng: thiên táng, địa táng,hỏa táng, thủy táng, khẩu táng Nhưng dù táng theo kiểu nào cũng có cái khổ riêng

5 Ái biệt ly khổ Yêu nhau mà phải xa nhau là khổ

6 Oán hội khổ Cái mình không thích, không ưa, không mong, không cầu mà trong cuộc sống mình

cứ phải gặp

Trang 4

7 Cầu bất đắc khổ Điều mình mong, mình muốn, mình ưa mà mình không đạt được Nhưng con người toàn mong những cái xa vời: mắt thích nhìn cái đẹp, tai muốn nghe cái hay, mũi thích ngửi cái thơm, lưỡi thích nếm cái ngon nhưng con người thích 1000 điều thì 999 điều bất đắc 1 cái cầu đắc thì nảysinh ra 1000 cái cầu mới nhưng bất đắc Và cứ thế cả cuộc đời con người tạo ra nỗi khổ và đuổi theo nỗi khổ.

8 Ngũ uẩn khổ Duyên hợp của ngũ uẩn làm cho con người khổ 5 giác quan của con người làm chongười ta khổ: mắt thích nhìn cái đẹp, tai muốn nghe cái hay, mũi thích ngửi cái thơm, lưỡi thích nếm cái ngon

Sinh, lão, bệnh, tử là những cái khổ về mặt sinh lý Ái biệt ly khổ, oán hội khổ, cầu bất đắc khổ là 3 cái khổ về mặt tâm lý Ngũ uẩn khổ là hội tụ cả cái khổ về mặt tâm lý và sinh lý Cả cuộc đời con người

từ lúc sinh ra đến lúc chết đi lúc nào cũng khổ Đức phật từng nói với con trai: “Này La Hầu La hãy xem kìa nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển”

Cái khổ là cái có thực, hiện hữu Chính vì vậy học thuyết này khuyên con người đừng bao giờ quên nỗi khổ, bởi quên cái khổ là quên cái có thực, mà quên cái có thực thì sẽ rơi vào cái giả dối Đã khổ vì cái giả tướng rồi, bây giờ lại quên cái khổ thì cái khổ cứ chồng chất lên Để không bao giờ quên nỗi khổ thì học thuyết này khuyên con người sống cuộc đời tam thường bất túc (3 điều bình thường cơ bản nhưng không nên đầy đủ): ăn, mặc, ở không nên quá đầy đủ Cho nên Phật tử nguyên thủy là phải chân đi dép

cỏ, đầu đội nón lá, mặc bộ quần áo bằng vải thô màu nâu (màu của đất đai, vĩnh hằng, thường trụ) hoặc vàng (là màu quý phái nhất của nhà Phật), đằng trước đeo một cái tráp, tay chống gậy Đó là cuộc sống tam thường bất túc Gia phong của Phật tử:

Áo rách đùm mây đun cháo sứ,

Bình xưa đựng nguyệt uống trà xưa

Ta cảm thấy một sự bất túc, nhưng đằng sau cái sự bất túc ấy ta lại cẩm nhận được một cái gì đó rất thánh thiện Cái bất túc bình thường không ai muôn, cái thánh thiện bình thường khó ai đạt được Phật tử khất thực là để chứng kiến nỗi khổ của chúng sinh, để nỗi khổ của cuộc đời thấm vào từng uẩn của người mình, để không bao giờ quên đời là bể khổ

Sau khi nhận thức được đời là khổ thì học thuyết truy tìm nguyên nhân gây ra nỗi khổ, tất cả nhũng nguyên nhân đó được thể hiên trong tập đế Tập đế là quan điểm triết học phật giáo về những nguyên nhân gây ra nỗi khổ Học thuyết này cho rằng có nhiều nguyên nhân nhưng có 12 nguyên nhân chính là người ta gọi là thập nhị nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhân, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử Nhưng trong 12 nguyên nhân này có 3 nguyên nhân chính: tham, sân, si Tham là lòng tham của con người., lòng tham của con ngươi không có đáy không có giới hạn Khi xuất hiện lòng tham thì con người tìm cách thỏa mãn lòng tham của mình Mà con người tham 1000 điều thì 999 điều là bất đắc nên con người trở nên sân hận Khi đã sân hận rồi thì con người trở nên si mê đến độ nhiều khi mình đánh mấtchính bản thân mình

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra nỗi khổ là trạng thái vô minh (tối tăm về mặt trí tuệ, sự kém hiểu biết), từ đó xuất hiện ái dục Theo Phật giáo sự tối tăm về mặt trí tuệ, sự dốt nát, kém hiểu biết của con người là đầu mối của mọi đầu mối Bởi cái điều con người biết thì như hạt cát mà cái điều con người chưa biết thì như sa mạc do đời người hữu hạn, năng lực và tầm nhìn hữu hạn trong khi thế giới này vô hạn Trong muôn vàn cái vô minh thì vô mình được gọi là khởi đầu của vô minh, của sự đau khổ

là do con người không biết mình là ai nên con người làm mình khổ, làm cho người khác khổ

Trong cuộc đời ta cảm thấy ta là cái rốn của vũ trụ, biết tất cả… cảm giác đó xuất hiện khi con người ta thành công và thành công liên tục Trong cuộc đời con người cảm thấy mình bé nhỏ như hạt cát

ấy là cảm giác thường xuất hiện khi con người ta thất bại và nhất là thất bại liên tục Nhưng khi tĩnh tâm lại con người suy nghĩ lại thấy mình không phải thiên thần cũng không phải là cái rốn của vũ trụ, cũng không phải là hạt cát Vậy ta là ai? Người Trung Quốc nói: con người ta chỉ biết ta là ai khi con người ta biết điểm dừng Nhưng điều này khó vô cùng bởi con người không biết dừng đúng lúc, vì con người quá tham

Trang 5

Theo Phật giáo giá như con người hiểu được mình hay vạn vật chỉ là thực thể vô thường, vô ngã thì lòng tham của con người sẽ ít hơn nhưng tiếc là con người không hiểu được điều đó, cứ tưởng mình là thật, vạn vật là thật nên nổi tham ái dục, muốn tất cả đều là của mình Và khi lòng tham xuất hiện thì con người tạo nghiệp ác, tích nghiệp ác và chìm vào bể khổ.

Như vậy, hai đế đầu tiên của tứ diệu đế tạo thành một cặp nhân – quả Khổ đế là kết quả còn tập đế

là nguyên nhân

Khác với các học thuyết khác Phật giáo trình bày kết quả trước nguyên nhân sau Trước tiên, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy cái thảm cảnh hiện tại của cõi đời Cái thảm cảnh bi đát này có nằm ngay trước mắt ta, bên tai ta, ngay trong chính mỗi chúng ta; những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ được, chứ không phải những sự thật xa lạ ở đâu đâu Ðã là một chúng sinh, ai không có sinh, ai không đau ốm, ai không già, ai không chết ? Và những trạng thái ấy đều mang theo tính chất khổ cả Ðã có thân, tất phải khổ Ðó là một chân lý rõ ràng, giản dị, không ai là không nhận thấy, nếu có một chút ít nhận xét Khi chỉ cho mọi người thấy cái khổ ở trước mắt, ở chung quanh và chính trong mỗi chúng ta rồi, đức Phật mới đi qua giai đoạn thứ hai, là chỉ cho chúng sanh thấy nguồn gốc, lý do của những nỗi khổ

ấy Ngài đã từ hiện tại đi dần về quá khứ, đã từ bề mặt đi dần xuống bề sâu, đã từ cái dễ thấy đến cái khó thấy Như thế là lý luận của Đức Phật đã đặt căn bản lên thực tại, lên những điều có thể chứng nghiệm được, chứ không phải xa lạ, viễn vong, mơ hồ

Diệt đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về khả năng con người có thể tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ và trạng thái mà con người đạt được sau khi đã tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ

Theo Phật giáo con người có khả năng tiêu diệt những nguyên nhân gây ra những nỗi khổ bằng cách tạo nghiệp thiện và tích nghiệp thiện Trạng thái mà con người đạt được sau khi tiêu diệt được nhữngnguyên nhân gây khổ được gọi là thường trụ (niết bàn) Thường trụ là trạng thái đối lập với vô thường Khi con người đạt đến trạng thái này thì con người được giải thoát Theo quan điểm của Phật giáo người chưa đạt được trạng thái niết bàn thì sau khi chết linh hồn tách khỏi thể xác và vẫn nằm trong vòng luân hồi và vẫn khổ Còn người đạt trạng thái niết bàn thì sau khi chết linh hồn vẫn tách khỏi thể xác nhưng thoát khỏi vòng luân hồi và tìm lại được đúng bản thân nó, đúng thế giới của nó và nó tồn tại ở đó hạnh phúc vĩnh cửu Đó là lúc con người hoàn toàn được giải thoát Trạng thái thường trụ không thể mô tả giải thích với nhau được Bởi đây là trạng thái tự mình chứng ngộ, tức là người nào đạt đến nó thì hiểu về nó chứ không thể giải thích, mô tả cho nhau được

Tư tưởng nhà Phật thể hiện qua lời răn, lời dạy và có những câu truyện ngụ ngôn, trong đó có câu truyện: con cá và con rùa:

Thuở xưa có một con cá Cá chỉ biết trong nước và không biết gì ngoại trừ nước Một hôm, cá mãi

mê bơi lội trong ao đầm quen thuộc như mọi hôm thì gặp lại chị Rùa Hỏi ra thì rày lâu rùa đi dạo trên đất liền.

Cá hỏi: "Chào chị rùa, chị đi đâu mà mấy hôm rày tôi không gặp?"

- Này chị cá, chào chị Hôm rày tôi đi một vòng lên trên đất khô Rùa trả lời

- Đất khô à! Cá lấy làm ngạc nhiên Chị nói đất khô, vậy đất khô là gì? Đất làm sao khô được? Tôi chưa bao giờ thấy cái gì mà khô Đất khô chắc là không có gì hết.

Bản tánh ôn hòa, Rùa nhỏ nhẹ đáp:

- Được, tốt lắm, nếu chị muốn nghĩ như vậy cũng tốt Không ai ngăn cản chị đâu Tuy nhiên, chỗ mà tôi

đi mấy hôm rày đất khô thật

- Này chị rùa, đâu chị nói rõ lại coi Đất khô mà chị nói ra làm sao, giống như cái gì? Nó có ẩm ướt không?

- Không, đất khô không ẩm ướt

- Đất khô có mát mẻ và êm dịu, dễ chịu không?

- Không, đất khô không mát mẻ và êm dịu, dễ chịu

- Đất khô trong suốt và ánh sáng rọi xuyên qua được không?

- Không, đất khô không trong suốt và ánh sáng không rọi xuyên qua được

Trang 6

- Đất khô có mềm mại và dịu dàng để mình bơi lội trong ấy không?

- Không, đất khô không mềm mại, dịu dàng và mình không thể bơi lội trong lòng đất

- Đất có di chuyển và trôi chảy thành dòng không?

- Không, đất không di chuyển và trôi chảy thành dòng

- Đất có nổi sóng và tan ra thành bọt kông? Cá rất bực mình với loạt câu trả lời "không, không, …" của rùa

- Không, đất không nổi sóng Rùa thành thật trả lời.

Cá bỗng nhiên lộ vẻ hân hoan của người đắc thắng và vang lên:

- Thấy chưa, thật quả như tôi đã nói chớ gì nữa! Tôi đã bảo rằng đất khô của chị là hư vô, không có gì hết Tôi hỏi và chị đã xác nhận rằng đất khô và không ẩm ướt, không mát mẻ, không êm dịu và không trong suốt và ánh sáng không rọi xuyên qua được, không mềm mại và dễ chịu để mình có hể bơi lội trong

ấy, đất cũng không di chuyển và trôi thành dòng, cũng không nổi sóng và cũng không tan rã thành bọt Không phải gì hết thì có phải là hư vô không?

Rùa đáp:

- Được, tốt lắm Này chị cá, nếu chị quả quyết rằng đất là hư vô, không có gì hết, thì chị cứ tiếp tục nghĩ như thế Thật ra, người nào đã biết nước và đất liền rồi sẽ nói rằng chị chỉ là con cá dại dột, vì chị quả quyết rằng cái gì mà chị không biết là không có gì hết, hư vô Nói là hư vô bởi vì chị không bao giờ biết Đến đây, rùa bỏ cá ở lại một mình với ao đầm nhỏ bé, quay đầu lội đi và suy tưởng đến một cuộc viễn du khác trên đất khô, nơi mà cá tưởng tượng là hư vô…

Trạng thái niết bàn cũng vậy, không ai có thể giải thích được, nhưng khi đạt được rồi thì người ta không nói về niết bàn nữa, còn nếu nói về nó thì tức là chưa đạt đến

Theo Đức Phật, trạng thái niết bàn là trạng thái trong suốt về mặt tâm linh, trong suốt đến mức ở đó không còn ranh giới giữa các giá trị: giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, tốt xấu…

 Như vậy diệt dế chính là đế nói về sự giải thoát

Đạo đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về chiều hướng và những con đường mà con người phải trải qua để đạt đến trạng thái niết bàn Về chiều hướng, để giải thoát con người phải đi từ giới đến định và tuệ Giới là những gì mà con người không được làm, trong những điều không được làm thì có 5 điều cơ bản con người không được vi phạm cho dù ở đâu và khi nào:

Ngũ giới:

Bất sát giới: không được giết hại một sinh linh nào, dù là to hay nhỏ Con người muốn sống trọn kiếp của mình thì hãy để vạn vật sống trọn kiếp của nó Phật tử ăn chay là vì vậy bởi ăn chay là không muốn sát sinh, phá giới này Khi Đức Phật còn tại thế thì người chỉ cấm không được ăn 5 loại thịt: thịt người, thịt hổ, thịt rắn, thịt chó, và không được ăn những thịt vì mình nên mới có Sau này Phật tử quy ước với nhau là không ăn tất cả các loại thịt để tránh sát sinh

Bất tà đạo: Không được ăn trộm, cắp Giàu sống giàu, nghèo sống nghèo, an bần lạc đạo, chứ khôngphải thấy người ta có của ăn của để là mình sinh lòng tham đào hào khoét vách trộm cắp, đó là mọi, rợ,

di, tặc Ngày xưa Phật tổ chỉ nói đến ăn trộm, ăn cắp vật chất, còn ngày nay người ta ăn trộm cả vật chất lẫn tinh thần: đạo nhạc, đạo văn, đạo phim…

Bất tà dâm (không được dâm ô): Khi chưa xuống tóc đi tu thì dần dần phải đi từ chỗ đoạn dục đến chỗ diệt dục, cong khi đã xuống tóc đi tu rồi thì phải đoạn dục

Bất vọng ngữ (không được nói dối): Với ai, ở đâu, lúc nào cũng phải nói thật

Bất ẩm tửu (không được uống rượu): ngày xưa thì chỉ có rượu nhưng mà tư tưởng bất ẩm tửu ở đây

có nghĩa là không được dùng những chất có thể thay đổi đen tâm, tối tuệ

5 điều này này thực rất khó giữ Trong đó, bất tà dâm là điều khó giữ nhất

Định – là việc con người làm để giữ cho tâm tĩnh lại Bản thân của chúng ta bị quá nhiều điều

bên ngoài tác động đến làm cho tâm của chúng ta không được tĩnh Định làm cho tâm của chúng ta tĩnh lại không chịu sự tác động của ngoại cảnh Có nhiều cách để định tâm, nhưng theo Phật giáo thì cách tốt nhất là ngồi thiền Có nhiều cách thiền, ai cũng có thể thiền và thiền ở bất cứ đâu nhưng mối cách đều có quy định của nó Thiền không đúng có thể phản tác dụng, đã không định tâm được mà còn làm loạn tâm

Trang 7

mà người ta gọi là tẩu hỏa nhập ma Để hạn chế tác động của bên ngoài trong quá trình thiền thì người ta xây dựng thiền viện Từ ngồi thiền để định tâm, từ trạng thái định dẫn tới trạng thái tuệ - khai sáng về mặttrí tuệ Tuệ là trạng thái con người xóa được vô minh, đạt đến trạng thái cực kì trong sạch về mặt tâm linh(niết bàn).

Thiền: sau khi ngồi đúng tư thế, hạ hai mi mắt, chọn trong tâm thức của mình một điểm và mình dùng toàn bộ tâm và tuệ vào điểm đó, và đến một lúc nào đó ta sẽ thấy điểm đó sáng lên và đến lúc nào

đó ta sẽ nghe được những âm thanh rất bình thường, rất dễ chịu nhưng khi chưa ngồi thiền thì ta không hềnghe thấy Mức độ đó mà con người đạt được gọi là quán thế âm – trạng thái con người thiền định mà làm chủ âm thanh của trần thế Khi đạt được trạng thái quán thế âm rồi thì con người tiếp tục tập trung vào điểm sáng và con người bắt đầu nhận thấy mình, bắt đầu nhận ra những người thân của mình có thể chưa bao giờ từng gặp, đến lúc nào đó cảm thấy cả xã hội đang diễn ra trong đầu mình Và khi đã đạt đến trạng thái đó thì con người vẫn tiếp tục sống nhưng đến khi chết đi thì phần hồn lìa khỏi xác nhưng nó không bị cuốn vào vòng luân hồi mà nó tìm được thế giới của nó tìm được bản thân của nó

Những con đường mà con người phải trải qua Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy (suy nghĩ về con đường thành đạo cho đúng, về bản thân mình, về phần hồn, phần xác của mình…), chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến (con người luôn phải vươn lên phía trước của con đường thành đạo), chính niệm, chính định Bát chính đạo nhiều điều hơn và khó thực hiện hơn ngũ giới Ví dụ trong ngũ giớithì bất vọng ngữ, con người nói dối thì phá giới còn nói sai thì không phá giới nhưng trong bát chính đạo thì con người không chỉ không được nói dối mà còn phải nói đúng Nên thực hiện được điều ấy cực kì khó

Trong mối quan hệ giữa diệt đế và đạo đế thì đạo đế là nhân, diệt đế là quả Như vậy tứ diệu đế tạo

ra 2 cặp nhân - quả Nhưng hai cặp nhân quả này khác nhau về bản chất: cặp nhân – quả thứ nhất (khổ đế

- tập đế) là cặp nhân – quả ác vì nó gây nên nỗi khổ của cuộc đời, cặp nhân – quả thứ 2 là cặp nhân quả thiện vì nó đưa con người đến trạng thái niết bàn

Quá trình con người tìm hiểu tứ diệu đế, để hiểu và làm theo tứ diệu đế thì nhà Phật gọi là tu Thực chất tu là quán trình con người tự tìm hiểu mình để sống cho phù hợp với đạo, tức là phù hợp với con đường giải thoát Và khi con người tu thì thành chính quả ở nhiều cấp độ căn cứ vào tâm và kết quả con người đạt được Học thuyết Phật giáo đánh giá rất cao vai trò của chữ tâm Tu là tu ở tâm Trong kinh

điển nhà Phật có câu truyện: Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua

A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh xá Kỳ Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?” Kỳ Bà nói:

“Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật” Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền Bà thấy vua A Xà Thế lam công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?” Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau” Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng:

- Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ Mong cho con giải thoát tất cả hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si Mong cho con tịnh hóa tất cả những cấu uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.

Đêm ấy tất cả Các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy, khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn Khi trông thấy ngọn đèn còn cháy sáng, đầy dầu và bấc mới, ngài nghĩ: “Không lý gì để

Trang 8

cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày,” và ngài cố thổi tắt Nhưng cây đèn vẫn cháy Ngài lấy tay bóp, lấy y chụp lên cho nó tắt, mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng Đức Phật vẫn nhìn ngài từ lúc đầu, và bảo:

- Mục Kiền Liên, có phải ông muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Ông không làm được đâu Ông không di chuyển được nó, chứ đừng nói là dập cho nó tắt Nếu ông đem được bốn biển mà tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được, tại sao? Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô cùng.

Khi Đức Phật nói lời này, thì bà lão ăn xin đi đến ngài, và ngài nói lời thọ kí cho bà trong tương lai

Nhận xét của mình về quan điểm này:

Triết học Phật giáo là triết học về giải thoát Đây là đặc trưng chung của triết học Ấn Độ Tất cả những nội dung trong tứ diệu đế đều nhằm giúp con người thoát khỏi cuộc sống đầy máu và nước mắt.Triết học Phật giáo là triết học về bình đẳng Không có ranh giới giữa các đẳng cấp trong học thuyếtnày Trong khi xã hội phân chia thành 4 đẳng cấp thì theo học thuyết này mọi người đều bình đẳng, đều

do duyên hợp của ngũ uẩn tạo thành, mọi người đều có phần hồn và phần xác, vận hành theo trạng thái luân hồi, bị chi phối bởi nghiệp báo Sự khác nhau chỉ do con người tạo ra đắp vào mình

Triết học Phật giáo là triết học về từ bi, bác ái Từ bi là hiểu, cảm thông, chia sẻ với nỗi khổ của chúng sinh Học thuyết này khuyên con người yêu thương nhau, đừng nên giết người, trộm cắp, tà dâm, hãy đối xử sáng suốt, khuyên con người giúp đỡ nhau, giúp được người khác gì thì cứ giúp

Triết học Phật giáo là triết học về đạo đức Tất cả nội dung trong học thuyết đều liên quan đến các phạn trù đạo đức Nếu xét ở khía cạnh đạo đức học thì đạo đức học Phật giáo là một trong những học thuyết lớn, đảm bảo tính chặt chẽ và tính thống nhất Xét về mặt triết học thì học thuyết Phật giáo là triết học về con người

Triết học Phật giáo là triết học vô thần Không có hình ảnh thượng đế hay thần linh trong học thuyếtnày Phật giáo thừa nhận vũ trụ có nhiều tầng, con người có phần hồn phần xác nhưng không thừa nhận

có đấng sáng tạo Cho nên khi mới ra đời học thuyết này đã bị coi là tà giáo Tiếc rằng sau này người ta khác lên mình học thuyết này một tấm áo phủ đầy thần thành

Triết học Phật giáo là triết học hướng nội Triết học, tư duy, học thuyết là của con người Khi học thuyết, tư duy đó hướng về con người, nói nhiều về con người, xã hội loài người thì đó là hướng nội học thuyết Phật giáo chủ yếu nói về con người, xã hội loài người

Bên cạnh những điểm sáng, học thuyết này còn có những điểm mờ, điểm tối học thuyết Phật giáo

có quan điểm về giải thoát con người khác quan điểm về giải phóng con người của chúng ta hiện nay Triết học Phật giáo giải thoát con người ở kiếp sau, giải thoát linh hồn của con người Còn chúng ta nói đến giải phóng con người là con người ở hiện thực, tức là làm sao để con người có được cuộc sống vật chất dồi dào, tinh thần phong phú

Về con đường giải thoát, triết học Phật giáo khuyên con người nên cắt giảm nhu cầu Trong khi đó nhu cầu của con người càng ngày càng phát triển Từ chỗ con người ăn no, mặc ấm tiến đến cho ăn ngon, mặc đẹp

Học thuyết này đề cập đến những nguyên nhân gây ra nỗi khổ cả con người: sinh, lão, bệnh, tử nhưng có một nguyên nhân nằm trong nội tại xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là cái khổ do áp bức đẳng cấp Màchính nỗi khổ về mặt xã hội mới là nguyên nhân để các học thuyết tìm cách giải thoát con người

Học thuyết Phật giáo giải thoát con người về mặt tâm linh, nhưng hoạt động về mặt sản xuất làm ra của cải vật chất thì học thuyết này không đề cập đến

Học thuyết này khuyên con người đi từ chỗ đoạn dục đến diệt dục Mà con người đều phải đều phải đảm bảo 3 chức năng: sản xuất ra của cải vật chất, giá trị tinh thần và duy trì nòi giống

3 Trình bày quan điểm “nhân – quả – thiện” trong thuyết Tứ Diệu Đế của triết học phật giáo và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với xã hội việt nam giai đoạn hiện nay

Quan điểm “nhân – quả – thiện” trong thuyết Tứ Diệu Đế:

Trang 9

Trong mối quan hệ giữa diệt đế và đạo đế thì đạo đế là nhân, diệt đế là quả Như vậy tứ diệu đế tạo

ra 2 cặp nhân - quả Nhưng hai cặp nhân quả này khác nhau về bản chất: cặp nhân – quả thứ nhất (khổ đế

- tập đế) là cặp nhân quả ác vì nó gây nên nỗi khổ của cuộc đời, cặp nhân – quả thứ 2 là cặp nhân quả thiện vì nó đưa con người đến trạng thái niết bàn

Diệt đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về khả năng con người có thể tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ và trạng thái mà con người đạt được sau khi đã tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ

Theo Phật giáo con người có khả năng tiêu diệt những nguyên nhân gây ra những nỗi khổ bằng cách tạo nghiệp thiện và tích nghiệp thiện Trạng thái mà con người đạt được sau khi tiêu diệt được nhữngnguyên nhân gây khổ được gọi là thường trụ (niết bàn) Thường trụ là trạng thái đối lập với vô thường Khi con người đạt đến trạng thái này thì con người được giải thoát Theo quan điểm của Phật giáo người chưa đạt được trạng thái niết bàn thì sau khi chết linh hồn tách khỏi thể xác và vẫn nằm trong vòng luân hồi và vẫn khổ Còn người đạt trạng thái niết bàn thì sau khi chết linh hồn vẫn tách khỏi thể xác nhưng thoát khỏi vòng luân hồi và tìm lại được đúng bản thân nó, đúng thế giới của nó và nó tồn tại ở đó hạnh phúc vĩnh cửu Đó là lúc con người hoàn toàn được giải thoát Trạng thái thường trụ không thể mô tả giải thích với nhau được Bởi đây là trạng thái tự mình chứng ngộ, tức là người nào đạt đến nó thì hiểu về nó chứ không thể giải thích, mô tả cho nhau được

Tư tưởng nhà Phật thể hiện qua lời răn, lời dạy và có những câu truyện ngụ ngôn, trong đó có câu truyện: con cá và con rùa:

Thuở xưa có một con cá Cá chỉ biết trong nước và không biết gì ngoại trừ nước Một hôm, cá mãi

mê bơi lội trong ao đầm quen thuộc như mọi hôm thì gặp lại chị Rùa Hỏi ra thì rày lâu rùa đi dạo trên đất liền.

Cá hỏi: "Chào chị rùa, chị đi đâu mà mấy hôm rày tôi không gặp?"

- Này chị cá, chào chị Hôm rày tôi đi một vòng lên trên đất khô Rùa trả lời

- Đất khô à! Cá lấy làm ngạc nhiên Chị nói đất khô, vậy đất khô là gì? Đất làm sao khô được? Tôi chưa bao giờ thấy cái gì mà khô Đất khô chắc là không có gì hết.

Bản tánh ôn hòa, Rùa nhỏ nhẹ đáp:

- Được, tốt lắm, nếu chị muốn nghĩ như vậy cũng tốt Không ai ngăn cản chị đâu Tuy nhiên, chỗ mà tôi

đi mấy hôm rày đất khô thật

- Này chị rùa, đâu chị nói rõ lại coi Đất khô mà chị nói ra làm sao, giống như cái gì? Nó có ẩm ướt không?

- Không, đất khô không ẩm ướt

- Đất khô có mát mẻ và êm dịu, dễ chịu không?

- Không, đất khô không mát mẻ và êm dịu, dễ chịu

- Đất khô trong suốt và ánh sáng rọi xuyên qua được không?

- Không, đất khô không trong suốt và ánh sáng không rọi xuyên qua được

- Đất khô có mềm mại và dịu dàng để mình bơi lội trong ấy không?

- Không, đất khô không mềm mại, dịu dàng và mình không thể bơi lội trong lòng đất

- Đất có di chuyển và trôi chảy thành dòng không?

- Không, đất không di chuyển và trôi chảy thành dòng

- Đất có nổi sóng và tan ra thành bọt kông? Cá rất bực mình với loạt câu trả lời "không, không, …" của rùa

- Không, đất không nổi sóng Rùa thành thật trả lời.

Cá bỗng nhiên lộ vẻ hân hoan của người đắc thắng và vang lên:

- Thấy chưa, thật quả như tôi đã nói chớ gì nữa! Tôi đã bảo rằng đất khô của chị là hư vô, không có gì hết Tôi hỏi và chị đã xác nhận rằng đất khô và không ẩm ướt, không mát mẻ, không êm dịu và không trong suốt và ánh sáng không rọi xuyên qua được, không mềm mại và dễ chịu để mình có hể bơi lội trong

ấy, đất cũng không di chuyển và trôi thành dòng, cũng không nổi sóng và cũng không tan rã thành bọt Không phải gì hết thì có phải là hư vô không?

Rùa đáp:

- Được, tốt lắm Này chị cá, nếu chị quả quyết rằng đất là hư vô, không có gì hết, thì chị cứ tiếp tục nghĩ như thế Thật ra, người nào đã biết nước và đất liền rồi sẽ nói rằng chị chỉ là con cá dại dột, vì chị quả quyết rằng cái gì mà chị không biết là không có gì hết, hư vô Nói là hư vô bởi vì chị không bao giờ biết Đến đây, rùa bỏ cá ở lại một mình với ao đầm nhỏ bé, quay đầu lội đi và suy tưởng đến một cuộc viễn du khác trên đất khô, nơi mà cá tưởng tượng là hư vô…

Trang 10

Trạng thái niết bàn cũng vậy, không ai có thể giải thích được, nhưng khi đạt được rồi thì người ta không nói về niết bàn nữa, còn nếu nói về nó thì tức là chưa đạt đến.

Theo Đức Phật, trạng thái niết bàn là trạng thái trong suốt về mặt tâm linh, trong suốt đến mức ở đó không còn ranh giới giữa các giá trị: giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, tốt xấu…

 Như vậy diệt dế chính là đế nói về sự giải thoát

Đạo đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về chiều hướng và những con đường mà con người phải trải qua để đạt đến trạng thái niết bàn Về chiều hướng, để giải thoát con người phải đi từ giới đến định và tuệ Giới là những gì mà con người không được làm, trong những điều không được làm thì có 5 điều cơ bản con người không được vi phạm cho dù ở đâu và khi nào:

Ngũ giới:

Bất sát giới: không được giết hại một sinh linh nào, dù là to hay nhỏ Con người muốn sống trọn kiếp của mình thì hãy để vạn vật sống trọn kiếp của nó Phật tử ăn chay là vì vậy bởi ăn chay là không muốn sát sinh, phá giới này Khi Đức Phật còn tại thế thì người chỉ cấm không được ăn 5 loại thịt: thịt người, thịt hổ, thịt rắn, thịt chó, và không được ăn những thịt vì mình nên mới có Sau này Phật tử quy ước với nhau là không ăn tất cả các loại thịt để tránh sát sinh

Bất tà đạo: Không được ăn trộm, cắp Giàu sống giàu, nghèo sống nghèo, an bần lạc đạo, chứ khôngphải thấy người ta có của ăn của để là mình sinh lòng tham đào hào khoét vách trộm cắp, đó là mọi, rợ,

di, tặc Ngày xưa Phật tổ chỉ nói đến ăn trộm, ăn cắp vật chất, còn ngày nay người ta ăn trộm cả vật chất lẫn tinh thần: đạo nhạc, đạo văn, đạo phim…

Bất tà dâm (không được dâm ô): Khi chưa xuống tóc đi tu thì dần dần phải đi từ chỗ đoạn dục đến chỗ diệt dục, cong khi đã xuống tóc đi tu rồi thì phải đoạn dục

Bất vọng ngữ (không được nói dối): Với ai, ở đâu, lúc nào cũng phải nói thật

Bất ẩm tửu (không được uống rượu): ngày xưa thì chỉ có rượu nhưng mà tư tưởng bất ẩm tửu ở đây

có nghĩa là không được dùng những chất có thể thay đổi đen tâm, tối tuệ

5 điều này này thực rất khó giữ Trong đó, bất tà dâm là điều khó giữ nhất

Định – là việc con người làm để giữ cho tâm tĩnh lại Bản thân của chúng ta bị quá nhiều điều

bên ngoài tác động đến làm cho tâm của chúng ta không được tĩnh Định làm cho tâm của chúng ta tĩnh lại không chịu sự tác động của ngoại cảnh Có nhiều cách để định tâm, nhưng theo Phật giáo thì cách tốt nhất là ngồi thiền Có nhiều cách thiền, ai cũng có thể thiền và thiền ở bất cứ đâu nhưng mối cách đều có quy định của nó Thiền không đúng có thể phản tác dụng, đã không định tâm được mà còn làm loạn tâm

mà người ta gọi là tẩu hỏa nhập ma Để hạn chế tác động của bên ngoài trong quá trình thiền thì người ta xây dựng thiền viện Từ ngồi thiền để định tâm, từ trạng thái định dẫn tới trạng thái tuệ - khai sáng về mặttrí tuệ Tuệ là trạng thái con người xóa được vô minh, đạt đến trạng thái cực kì trong sạch về mặt tâm linh(niết bàn)

Thiền: sau khi ngồi đúng tư thế, hạ hai mi mắt, chọn trong tâm thức của mình một điểm và mình dùng toàn bộ tâm và tuệ vào điểm đó, và đến một lúc nào đó ta sẽ thấy điểm đó sáng lên và đến lúc nào

đó ta sẽ nghe được những âm thanh rất bình thường, rất dễ chịu nhưng khi chưa ngồi thiền thì ta không hềnghe thấy Mức độ đó mà con người đạt được gọi là quán thế âm – trạng thái con người thiền định mà làm chủ âm thanh của trần thế Khi đạt được trạng thái quán thế âm rồi thì con người tiếp tục tập trung vào điểm sáng và con người bắt đầu nhận thấy mình, bắt đầu nhận ra những người thân của mình có thể chưa bao giờ từng gặp, đến lúc nào đó cảm thấy cả xã hội đang diễn ra trong đầu mình Và khi đã đạt đến trạng thái đó thì con người vẫn tiếp tục sống nhưng đến khi chết đi thì phần hồn lìa khỏi xác nhưng nó không bị cuốn vào vòng luân hồi mà nó tìm được thế giới của nó tìm được bản thân của nó

Những con đường mà con người phải trải qua Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy (suy nghĩ về con đường thành đạo cho đúng, về bản thân mình, về phần hồn, phần xác của mình…), chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến (con người luôn phải vươn lên phía trước của con đường thành đạo), chính niệm, chính định Bát chính đạo nhiều điều hơn và khó thực hiện hơn ngũ giới Ví dụ trong ngũ giớithì bất vọng ngữ, con người nói dối thì phá giới còn nói sai thì không phá giới nhưng trong bát chính đạo thì con người không chỉ không được nói dối mà còn phải nói đúng Nên thực hiện được điều ấy cực kì khó

Quá trình con người tìm hiểu tứ diệu đế, để hiểu và làm theo tứ diệu đế thì nhà Phật gọi là tu Thực chất tu là quán trình con người tự tìm hiểu mình để sống cho phù hợp với đạo, tức là phù hợp với con đường giải thoát Và khi con người tu thì thành chính quả ở nhiều cấp độ căn cứ vào tâm và kết quả con người đạt được Học thuyết Phật giáo đánh giá rất cao vai trò của chữ tâm Tu là tu ở tâm Trong kinh

điển nhà Phật có câu truyện: Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua

A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh xá Kỳ

Trang 11

Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?” Kỳ Bà nói:

“Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật” Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền Bà thấy vua A Xà Thế lam công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?” Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau” Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng:

- Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ Mong cho con giải thoát tất cả hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si Mong cho con tịnh hóa tất cả những cấu uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.

Đêm ấy tất cả Các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy, khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn Khi trông thấy ngọn đèn còn cháy sáng, đầy dầu và bấc mới, ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày,” và ngài cố thổi tắt Nhưng cây đèn vẫn cháy Ngài lấy tay bóp, lấy y chụp lên cho nó tắt, mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng Đức Phật vẫn nhìn ngài từ lúc đầu, và bảo:

- Mục Kiền Liên, có phải ông muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Ông không làm được đâu Ông không di chuyển được nó, chứ đừng nói là dập cho nó tắt Nếu ông đem được bốn biển mà tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được, tại sao? Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô cùng.

Khi Đức Phật nói lời này, thì bà lão ăn xin đi đến ngài, và ngài nói lời thọ kí cho bà trong tương lai

Ảnh hưởng của nó đối với xã hội việt nam giai đoạn hiện nay:

Triết học Phật giáo ảnh hưởng đến Người Việt Nam cho đến ngày nay mặc dù Phật giáo không còn

là chủ thuyết của Việt Nam Cho dù là người đã tìm hiểu, học tập hay đang bắt đầu tìm hiểu về giáo lý Phật giáo thì Phật giáo cũng vẫn đã, đang và sẽ vẫn chịu ảnh hưởng Ảnh hưởng của Phật giáo đến con người không vào lúc công danh đang lên, tiền tài đang vào, tình duyên đang mặn nồng mà học thuyết này thường ảnh hưởng vào những lúc con người bị sa cơ, lỡ bước Học thuyết này ra đời vào lúc cuộc đời con người bế tắc và nó ảnh hưởng đến con người khi con người gặp lúc bế tắc của cuộc đời

Học thuyết này đến Việt Nam thì bị Việt Nam hóa Đức Phật dạy bất sát thì phật tử Việt Nam cũng không sát sinh nhưng khi cần thì phật tử Việt Nam giết và giết rất nhiều Giặc xâm lăng đến, Phật tử buộckinh kệ, cởi áo cà sa, giương cờ đấu tranh chống giặc ngoại xâm Va khi giặc bị đẩy lùi rồi thì vẫn những con người ấy lau sạch máu ở lưỡi gươm, cởi áo giáp, đem trả những gì triều đình tặng để nhận lại tấm cà sa

Đức Phật dạy phật tử không lấy của ai một cái gì bởi mỗi đồng tiền bát gạo đều là mồ hôi nước mắt của chúng sinh Phật tử Việt Nam cũng không xin ai, không lấy của ai, nhưng khi cần phật tử Việt Nam sẵn sàng xin và không chỉ một người đứng ra xin mà cả một cộng đồng phật tử đứng ra xin thậm chí xin nhiều Phật tử Việt Nam đem tất cả những gì xin được đóng thành thùng, căng biểu ngữ, giương cao ngọn

cờ nhà Phật chở hàng xe xuống nơi chúng sinh bị gặp nạn thiên tai, đến những vùng sâu vùng xa gặp khó khăn để cứu trợ

Đức Phật dạy tất cả mọi người cần phải học Phật tử Việt Nam học nhưng không chỉ dừng lại ở học tam tạng: tạng kinh, tạng luận và tạng luật Phật tử Việt Nam đã có mặt ở gần như tất cả các trường đại học, cao đẳng Phật tử học để lấy bằng cử nhân, thạc sĩ, tiễn sĩ Phật tử học rất nghiêm túc và tham gia tất

Trang 12

cả các hoạt động đoàn thể, vui chơi, giải trí như những học viên khác Số trường Phật học và số sư sãi được đào tạo ở các trường này ngày một nhiều, kể cả số người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ Phật học, triết học được đào tạo ở các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu trên địa bàn cả nước cũng ngày một tăng; số kinh sách Phật giáo xuất bản cũng mỗi năm một tăng.

Phong tục tập quán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa của mỗi dân tộc Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng phật giáo khá nhiều Các tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sinh và bố thí đều xuất phát từ quan điểm nhà Phật Ăn chay xuất phát từ quan niệm từ bi của phật giáo Vì khi đã trở về với phật pháp, mỗi người phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới căn bản là không sát sinh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài Ăn chay và thờ phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam Việc thờ phật trong dân gian cũng có nhiều điều thú vị Người phật tử, người mộ đạo thờ phật đã đành, nhiều người không phải là phật tử cũng dùng tượng phật hay tranh ảnh có yếu tố phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm Theo quan niệm của nhóm người này, phật giáo là một thành tựu về tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại Cũng xuất phát

từ tinh thần từ bi của đạo phật tục lệ bố thí và phóng sanh đã ăn sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng Đến ngày rằm và mùng một, người Việt thường hay mua chim, cá, rùa để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng sanh Người Việt cũng thích làm phúc bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó, hoạnnạn, vào các ngày lễ hội lớn họ tập trung về chùa Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức trên này càng bị thu hẹp Thay vào đó mọi người tham gia vào những đợt cứu trợ, tương tế cho các đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảng sống gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo lý của dân tộc lá làng đùm lá rách

Bất tà đạo, bất tà dâm, bất vọng ngữ, bất ẩm tửu cũng ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam không kém Bất tà đạo và bất tà dâm không chỉ được thể hiện qua phạm trù đạo đức mà còn trở thành thể

lệ, thành văn bản bản pháp luật của nhà nước ta Luật pháp quy định công dân không được trộm cắp tài sản vật chất và tinh thần của người khác Ngày xưa Phật tổ chỉ nói đến ăn trộm, ăn cắp vật chất, còn ngày nay người ta ăn trộm cả vật chất lẫn tinh thần: đạo nhạc, đạo văn, đạo phim… Còn bất vọng ngữ và bất

ẩm tửu thể hiện nhiều như một phạm trù đạo đức hơn Điều đó thể hiện trong ca dao, phim ảnh, nghệ thuật rất nhiều

Ca dao có câu:

Giàu đâu những kẻ ngủ trưa,

Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày

hay

Rượu nhạt uống lắm cũng say

Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

Bất vọng ngữ thì được coi là một đức tính mà con người cần phải có Cha ông ta vẫn thường dạy con cháu không được nói dối Ngày nay đức tính không được nói dối được giảng dạy cho học sinh lớp 1 trong môn đạo đức, trong đó có câu truyện về cậu bé nói dối:

“Ở một khu làng nọ có một chú bé chăn cừu rất nghịch ngợm và hay nói dối Một hôm, đang chăn cừu ngoài đồng chú bỗng chạy về làng kêu toáng lên rằng:

- Cứu tôi với, có chó sói về bắt đàn cừu

Thế là mọi người trong làng cùng chạy ra xem tình hình thế nào để tìm cách đuổi sói đi Nhưng mọi người đã bị mắc lừa chú bé vì chẳng có chó sói nào cả Trong lúc mọi người tức giận thì chú được một trận cười khoái trá

Mấy hôm sau, chó sói về thật, chú liền kêu cứu mọi người nhưng lần này thì không ai giúp chú nữa vì người ta cũng nghĩ rằng chú lại nói dối như hôm trước Kết quả là đàn cừu bị chó sói thịt mất

Qua câu chuyện này, chúng ta cùng rút ra bài học rằng trong cuộc sống, phải luôn thật thà, trung thực.” Nếu không sẽ có lúc phải trả giá cho sự dối trá của mình

Điều đó cho thấy tính kế thừa và coi trọng của nhân dân ta với quan điểm bất vọng ngữ của Phật giáo

Quan niệm ngày sóc vọng là những ngày trưởng tịnh, sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên Ông Bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tính của họ Bên cạnh việc đi chùa sám hối vào ngày rằm, mùng một , người Việt Nam còn có tập tục khác là đi viếng chùa, lễ Phật vào những ngày hội lớn như ngày rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật Đản) và rằm tháng bảy (lễ vu lan) Đây là một tập tục, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống người Việt

Trang 13

Theo quan điểm của Phật giáo thì để giữ cho tâm tĩnh lại thì cách tốt nhất là ngồi thiền Ngày nay, các thiền viện được xây dựng rất nhiều ở những nơi thanh tịnh để cho những người tu hành có không gianthiền định Dưới áp lực của cuộc sống, công việc con người bị stress rất nhiều Họ tìm đến thiền như một phương pháp giúp hình thành thói quen tập trung tư tưởng để làm đúng công việc mà mình muốn và đanglàm, giúp điều chỉnh lại trạng thái mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc gây ra Ở Việt Nam, các trung tâm dạy thiền mọc lên ở nhiều nơi, nhất là các thành phố lớn, nơi áp lực công việc cao Người học thiền cũng đủ trình độ, ngành nghề và lứa tuổi Người trẻ tìm đến thiền để học hỏi, để tìm lại trạng thái tĩnh tâm, thanh thản, người già tìm đến thiền như một phương pháp dùng để dưỡng sinh thân tâm.

Ngoài những phong tục của người Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo đã được kể trên, chúng ta còn thấy một số tập tục khác cũng tương đối phổ biến và có ít nhiều liên quan đến Phật giáo mà chúng ta phải ghi nhận như: tục đốt vàng mã, tục coi ngày giờ, tục cúng sao hạn, tục xin xăm, bói quẻ,

Tính triết lý “nhân quả báo ứng” của Phật giáo cũng đóng vai trò quan trọng trong các bài ca tuồng,

vở diễn phù hợp với đạo lý phương đông và nếp sống truyền thống của dân tộc Hát chèo xuất hiện ban đầu chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thu hút nhiều tinh hoa nghệ thuật dân gian như múa, hát và diễn các vở truyện Nôm truyền thống Đáng kể nhất là vở “Quan Âm Thị Kính” đã đi vào dạng tuồng tiêubiểu chính thống khi nhắc đến môn nghệ thuật này Còn có các vở “Trương Viên”, “Lưu Bình Dương Lễ”, “Kim Nhan”, “Chu Mãi Thần”… đều mang tính thưởng thiện phạt ác và các vở này gọi là tiêu biểu nên có tên gọi là “chèo cổ”

4 Trình bày những đặc trưng và cống hiến cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển của tư duy nhân loại

Đặc điểm của Triết học Hy Lạp cổ đại

Tư tưởng hướng ngoại

Thiên về bản thể luận, khuynh hướng truy tìm bản nguyên của vũ trụ

Đề cao vai trò của lý tính

Cống hiến cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển của tư duy nhân loại.

Nhìn chung xuyên suốt lịch sử triết học Hi Lạp thời kì cổ đại là lịch sử đấu tranh của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thông qua cuộc đấu tranh giữa đường lối Democritus và đường lối Plato

5 Phân tích sự khác nhau giữa khuynh hướng tu duy triết học phương Đông và khuynh hướng tư duy triếthọc phương Tây thời cổ đại

Bài làm:

Tư duy của con người nói chung và các học thuyết triết học nói riêng dù ở thời kì cổ đại, trung cổ, phục hưng, cận đại hay hiện đại thì cũng vẫn đề cập đến giới tự nhiên, con người, xã hội loài người, vị trí,vai trò của con người trong đời sống của mình Tuy nhiên, khi đề cập đến các vấn đề này thì giữa người phương Tây và người phương Đông có những điểm khác nhau rất cơ bản

Trong khi khuynh hướng triết học phương Đông có tính chất hướng nội thì khuynh hướng triết học phương Tây có tính chất hướng ngoại Tư duy, triết học là của con người Khi tư duy và triết học

hướng về con người, xã hội loài người, nói nhiều về con người, xã hội loài người thì đó là khuynh hướng hướng nội Còn khi con người nhìn ra ngoài vũ trụ, nói nhiều về vũ trụ, giới tự nhiên thì đó là khuynh hướng hướng ngoại

Khuynh hướng tư duy của người phương Đông nói chung và triết học của người phương Đông nói riêng mang tính chất hướng nội Người phương Đông có nói về giới tự nhiên, nhưng ít hơn rất nhiều so với người phương Đông nói về con người, xã hội loài người Chín trường phái triết học cổ đại của Ấn Độ đều là những trường phái nói về con người, xã hội loài người Lục gia, sau trường phái triết học cổ đại của Trung Quốc thì có tới 5 trường phái (Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia) nói về con người, xã hội loài người Duy chỉ có Âm – dương gia nói về giới tự nhiên, về ngũ hành Tuy nói về tự nhiên nhưng Âm – dương gia lại quan niệm rằng giới tự nhiên là đại vũ trụ và con người là tiểu vũ trụ Cho nên tìm hiểu về giới tự nhiên, tìm hiểu về đại vũ trụ suy cho cùng vẫn là tìm hiểu con người Triết học phương Đông nói nhiều về con người và xã hội loài người, và điều đó vẫn ảnh hưởng cho đến ngày nay Khoa học xã hội và khoa học nhân văn ở phương Đông phát triển mạnh hơn phương Tây Và người phương Đông hướng sang người phương Tây để học hỏi, nhận chuyển giao khoa học, công nghệ

Trong khi đó người phương Tây có nói về xã hội loài người nhưng chủ yếu nói về vũ trụ và giới tự nhiên Ngày nay khoa học, kĩ thuật, công nghệ ở các nước phương Tây phát triển hơn các nước phương Đông rất nhiều Và khi đời sống vật chất của họ đã lên cao thì người phương Tây bị khủng hoảng về tư

Trang 14

tưởng, khủng hoảng về nếp sống thì họ hướng về người phương Đông để chắt lọc xem có thể kế thừa được gì không.

Trong lúc người phương Đông xây dựng chùa chiền, miếu mạo thì người phương Tây tập trung xây dựng hàn lâm viện

Điểm khác nhau cơ bản thứ hai, trong khi khuynh hướng tư duy hướng nội thì người phương Đông đánh gia rất cao vai trò của yếu tố đạo đức, còn người phương Tây trong khuynh hướng tư duy hướng ngoại thì họ cố gắng truy tìm bản nguyên của vũ trụ.

Các học thuyết triết học của người phương Đông đánh giá rất cao vai trò của yếu tố đạo đức Chín trường phái triết học Ấn Độ thời kì cổ đại với tư cách là triết học giải thoát thì con đường giải thoát là cuộc đời đức hạnh Một trong những học thuyết để lại đậm nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc là triếthọc Nho gia cùng các học thuyết khác cũng đánh giá rất cao vai trò của yếu tố đạo đức, thể hiện qua thuyết chính danh

Cho đến tận bây giờ, người Việt Nam cũng rất đề cao vai trò của yếu tố đạo đức Đề cập đến con người thường người ta đề cập đến đức và tài, nhưng người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng bao giờ cũng đặt cái đức bên trên cái tài Ngày xưa, Thạch Sanh là hình tượng người thanh niên Việt Nam truyền thống: đóng khố, cởi trần, bắp chân, bắp tay nổi lên cuồn cuộn, một tay cầm búa, một tay cầm đàn, lưng đeo cung tên Cầm bùa là biểu tượng cho lao động, cầm đàn là biểu tượng cho yêu đời, lưng đeo cung tên biểu tượng cho chống thú dữ, ngoại xâm Nhưng sau khi Thạch Sanh làm một loạt điềuthiện: chém mãng xà, cứu công chúa, dẹp tan giặc ngoại xâm thì nhân dân suy tôn Thạch Sanh lên làm vua Nhân vật cô Tấm trong chuyện cổ tích Tấm Cám sau khi làm một loạt những điều có đức thì được nhân dân suy tôn lên làm hoàng hậu Ở đây ta không hiểu Thạch Sanh lên làm vua, hay cô Tấm lên làm hoàng hậu theo nghĩa đen, mà nhân dân đánh giá cao vai trò của những người có đạo đức

Ngày nay, người Việt Nam vẫn coi trọng yếu tố đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh nói xây dựng con người mới vừa hồng, vừa chuyên chứ không nói xây dựng con người mới vừa chuyên, vừa hồng, tức coi đạo đức là gốc của cây, là ngọn nguồn của sông Trong mục tiêu giáo dục của Việt Nam hiện hành thì mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp Điều đó chứng tỏ yếu tố đạo đức được đặt lên hàng đầu trong nhưng phẩm chất và năng lực con người cần có

Trong khi đó khuynh hướng tuy duy triết học của người phương Tây là hướng ngoại, truy tìm bản nguyên của vũ trụ Talet nói khởi đầu vũ trụ là nước: thế giới này không có gì khác ngoài nước, vạn vật bồng bềnh trên nước, ngay trái đất này cũng bồng bềnh trên nước Khi nước đông lại nước tạo thành những vật ở thể rắn, khi nước tan ra tạo thành những vật ở thể loãng, khi nước bốc hơi nước tạo thành những vật ở thể khí Cái đặc, cái loãng, cái khí ấy quyện vào nhau, hòa vào nhau sản sinh ra vạn vật Heraclitus lại cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật: “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” Theo Anaximăngđrơ, khởi đầu của vũ trụ là apeiron Empêđốc thừa nhận sự tồn tại của bốn khởi nguyên độc lập, bất biến: đất, nước,không khí, lửa; chúng chịu sự tác động của hai loại lực là: tình yêu và thù hận Còn theo Đê mô crit thì vũtrụ được cấu thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên tử và chân không Quan điểm của mỗi triết gia là khác nhau Nhưng tất cả họ đều truy tìm cái gì là tận cùng của vũ trụ Vậy tại sao người phương Tây lại

cố gắng truy tìm tận cùng của vũ trụ? Có lẽ, nếu người phương Tây hiểu được điểm khởi đầu của vũ trụ, nếu con người làm chủ được điểm xuất phát ấy thì con người có thể hiểu được vũ trụ và làm chủ được vũ trụ

Tư duy của người phương Đông thể hiện trong triết học phương Đông mang tính chất duy cảm, đặt nặng vấn đề tình cảm lên trên Có mang tính duy cảm thì mới thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh, san

sẻ nỗi khổ với chúng sinh, tìm cách giải thoát cho chúng sinh Nếu không mang tính duy cảm thì triết học

cổ đại Ấn Độ không mang tính giải thoát Ở Trung Quốc cổ đại, triết học Nho gia tập trung giải quyết vấn

đề bình, loạn, xây dựng mẫu hình xã hội lý tưởng, con người lý tưởng như thế nào để đem lại cuộc sống thanh bình cho con người Yếu tố tình cảm của con người trong cuộc sống rất cần thiết, nhưng nếu tuyệt đối hóa yếu tố duy cảm thì không thể nào xây dựng được nhà nước pháp quyền Hình tượng vua Nghiêu

là một minh quân, sáng suốt nhưng khi học trò Mạnh Tử đặt vấn đề: Cha của vua Nghiêu phạm tội ăn cắp thì vua Nghiêu sẽ xử lý cha mình thế nào? Mạnh Tử trả lời: nếu cha của vua Nghiêu phạm tội ăn cắp thì vua Nghiêu sẵn sàng coi ngai vàng như cái dép hỏng vất nó đi để cõng cha trốn chạy Vậy thì còn đâu là

lý, luật Nhưng với người phương Đông, yếu tố tình cảm bao giờ cũng trội hơn

Tư duy của người phương Tây thể hiện trong triết học phương Tây mang tính chất duy lý, đặt cái đúng lên trên Người phương Tây coi trọng năng lực của tư duy.

Trang 15

Điểm khác nhau thứ tư: quá trình phát triển triết học phương Đông và quá trình phát triển

tư duy của người phương Đông nói chung không có sự đột biến, còn quá trình phát triển của triết học phương Tây có những khúc quanh

Nho gia ra đời cách đây khoảng 3000 năm mà đến tận bây giờ vẫn không có nhiều điểm khác biệt

Từ “thời bách gia chư tử” cho đến tận về sau Nho gia không có bước ngoặt Thậm chí đến thời đại nhà Thanh – triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc – các nhà tư tưởng cũng chỉ tiến hành tổng kết cuộc tranh cãi về hư và vô, tâm và vật Do người phương Đông sống duy cảm, nặng tính đạo đức nên khilàm gì đó đi trái lại người đi trước thì tự nhiên lại cảm thấy mình sống không có hậu, không có đạo đức Chính vì duy cảm không đi sâu vào đúng sai như triết học phương Tây nên những triết gia phương Đông không đủ trình độ tìm ra cái sai của người đi trước

Do người phương Tây đề cao vai trò của cái đúng nên những thế hệ sau mà thấy cái sai của thế hệ trước thì không chịu Platông là thầy của Arixtốt, nhưng với phương châm “Platông là thầy nhưng chân lýcòn quý hơn nhiều”, Arixtốt đã đứng trên quan điểm duy vật tiến bộ phê phán thuyết ý niệm của Platông Cho nên khi đề cập đến đại cương lịch sử triết học phương Đông chủ yếu giới thiệu thời kì cổ đại vàghép liền quá trình phát triển triết học của các thời kì cổ, trung, cận đại Còn khi đề cập đến lịch sử triết học phương Tây người ta chia ra thành các thời kì cổ đại, trung đại, phục hưng, cận đại một cách riêng rẽ

Cách diễn đạt tư tưởng của người phương Đông nặng tính chất ẩn dụ còn cách diễn đạt tư tưởng của người phương Tây mang tính chất chính luận.

Người phương Đông không nói thẳng tư tưởng của mình khi diễn đạt, họ dùng hình tượng này, hìnhtượng kia để biểu đạt suy nghĩ của mình Thậm chí còn có cả bộ sách Kinh Thi dạy con người cách nói

Và tính chất này đi vào tất cả các ngõ ngách của người phương Đông

6 Trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học tây âu thời trung cổ và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội thời kỳ này

7 Trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học tây âu thời phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội thời kỳ này

8 Trình bày vai trò của triết học cổ điển Đức đối với sự ra đời của triết học Mác

9 Bằng sự ra đời và nội dung cơ bản của triết học phật giáo hoặc triết học nho gia, hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nổi tiếng, đời sống tinh thần của con người nói chung do điều kiện sống quy định

Bài làm:

Triết học Phật giáo

Các học thuyết triết học ra đời không phụ thuộc vào ý muốn của người sáng lập ra học thuyết đó màphụ thuộc vào điều kiện khách quan của cuộc sống, phụ thuộc vào đời sống tinh thần của con người trongthời kì lịch sử đó Đó là một nhận định đúng đắn, ta có thể thấy rõ điều đó qua bối cảnh ra đời và nội dung cở bản của triết học Phật giáo

Triết học Phật giáo do Tất Đạt Đa sáng lập vào khoảng cuối thế kỉ VI TCN, ở nước Catìlavệ - một nước nhỏ ở miền Đông – Bắc Ấn Độ (nay thuộc đất Nêpan) Tuy nhiên để làm rõ hơn bối cảnh lịch sử ta

sẽ điểm lại một số mốc lịch sử trước đó của Ấn Độ cổ đại Khoảng thế kỷ XV TCN người Arya vào Ấn

Độ Họ định canh, định cư và tiến hành quá trình nô dịch, đồng hóa, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa Đraviđa Xã hội lúc đó chia thành 4 đẳng cấp:

1) Đẳng cấp thần quyền (đẳng cấp cao quý nhất bao gồm những người hành nghề tế lễ, chủ yếu là người Arya)

2) Đẳng cấp thế quyền (bao gồm vua chúa, tướng lĩnh)

3) Đẳng cấp dân tự do (gồm những người có chút tài sản ruộng đất)

4) Đẳng cấp nô lệ (đẳng cấp thấp nhất và đông đảo nhất, bao gồm những ngươi tận cùng trong xã hội không có quyền lợi gì)

Phật giáo ra đời trong thời kì cổ điển (từ thế kỉ VII TCN đến thế kỉ VI) Đây là thời kì ranh giới giữa các đẳng cấp trở nên hết sức nghiệt ngã Sự ngăn cách giữa các đẳng cấp được tính bằng xương, bằng máu Lịch sử có ghi, khi người nô lệ nghe trộm kinh Vedan thì sẽ bị đổ chì vào tai vì họ cho rằng cáitai ấy không đáng được nghe kinh Veda Nếu người nô lện mà đọc trộm kinh Vedan thì sẽ bị cắt lưỡi bởi

họ cho rằng cái miệng ấy mà đọc thì là dơ lời của thần thánh Nếu đi ra ngoài đường bản tay của người nô

lệ chẳng may chạm vào người thuộc tầng lớp Bà la môn thì sẽ bị chặt tay, bởi vì người Bà la môn cho

Trang 16

rằng bàn tay người nô lệ đã làm dơ tấm thân của mình và để rửa được vết dơ ấy thì chỉ có máu của người

nô lệ mới có thể gột sạch Người nô lệ đi ra ngoài đường không được đi đường lớn mà phải đi đường nhỏ

và cầm 2 thanh gỗ hay tre gõ vào nhau để tạo tiếng lốc cốc để cho người khác biết là có một nô lệ đang đi

ở đó Khắp đất nước Ấn Độ rộng lớn chỗ nào cũng có tiếng kêu khóc, có máu chảy đầu rơi, bối cảnh xã hội cực kì u ám và ngột ngạt Và trong bối cảnh xã hội như vậy thì tất yếu xuất hiện khát vọng được giải thoát, khát vọng có cuộc sống bình đẳng bác ái khắp các tiểu vương quốc Đời sống tinh thần của con người bị điều kiện sống chi phối, quyết định Nếu xã hội Ấn Độ không ngột ngạt, không u ám như vậy sẽ không xuất hiện khát vọng được giải thoát Và khi đời sống đặt ra những vấn đề cần giải quyết thì các họcthuyết triết học trong đó có Phật giáo ra đời tập trung vào giải quyết vấn đề bình đẳng, bác ái, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Nội dung cơ bản triết học Phật giáo đề cập đến 2 mảng lớn: thế giới quan và nhân sinh quan

Về phương diên thế giới quan thì Phật giáo quan niệm vũ trụ không có điểm khởi đầu (vô thủy), không có điểm kết thúc (vô chung) Vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến đổi, không tĩnh tại (vô thường) cho nên không có bản thể thực mà chỉ có bản thể giả (vô ngã), chỉ có bản thể gần như thực (giả tướng) Vạn vật sinh thành và chuyển hóa theo quy luật nhân - quả, tức là nguyên nhần nào sẽ dẫn đến kết quả ấy

Về phương diện nhân sinh quan thì triết học Phật giáo quan niệm rằng bản thân con người là nơi hội

tụ của 5 yếu tố (duyên hợp của ngũ uẩn): sắc uẩn, thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn Duyên có nhiều nghĩa, 1 trong những nghĩa của duyên là sợi dây vô hình ràng buộc cái nọ với cái kia Trong 5 tố chất (ngũ uẩn) thì những phần mà con người trông thấy được thì gọi là phần sắc (thuộc về yếu tố thể chất), những phần không trông thấy được gọi là phần danh (thuộc về yếu tố tinh thần)

Con người có phần hồn, phần xác Trong đó, phần hồn bất tử, vận động theo trạng thái luân hồi và chịu sự chi phối của nghiệp báo, còn phần xác không bất tử, khi người ta chết đi thì phần xác tan biến Đây là tư tưởng chịu ảnh hưởng của kinh Veda

Triết học Phật giáo quan niệm cuộc đời của con người khổ, bởi con người không nhận thức được mình là thực thể vô thường, vô ngã, không nhận thức được mình có phần hồn phần xác và phần hồn vận hành theo trạng thái luân hồi và chịu sự nghiệp báo Con người tưởng rằng cả cuộc đời mình là tất cả cho nên con người tìm mọi cách để thỏa mãn khát vọng cho cả cuộc đời, và khi con người tìm mọi cách thỏa mãn thì con người tích nghiệp ác, tạo nghiệp ác, nên kiếp sau phải gánh chịu nghiệp ác đó và con người chìm trong bể khổ triền miên Cách giải thích này chịu sự ảnh hưởng của kinh Veda

Con người hoàn toàn có thể từ giải thoát cho mình bằng cách hiểu tứ diệu đế và thực hiện được tứ diệu đế Khi hiểu và thực hiện được tứ diệu đế thì con người an trụ đồng cư cùng đứt Phật Tứ diệu đế được coi là xương sống của nhân sinh quan triết học Phật giáo

Khổ đế là quan điểm của triết học Phật giáo về nỗi khổ của cuộc đời Triết học Phật giáo quan niệm đời là khổ và đời có rất nhiều nỗi khổ Nhưng khái quát lại có thể chia các nỗi khổ của cuộc đời con người thành 8 nỗi khổ chính (bát khổ):

1 Sinh khổ Sinh ra là tồn tại, mà tồn tại dưới dạng gì cũng khổ Tồn tại dưới dạng vô sinh, hữu sinh, thực vật, động vật, con người thì khổ kiểu vô sinh, hữu sinh, thực vật, động vật, con người

2 Lão khổ Ai cũng đến lúc già tóc bạc, lưng còng, má hóp, trán nhăn, đi không được, ăn ngủ không được trong khi đó trong người còn bao nhiêu đam mê, khát vọng mà tài bất tòng tâm, lực bất tòng tâm, tuệ bất tòng tâm

3 Bệnh khổ Con người bị một bệnh sinh lý nào đó thì dù nặng hay nhẹ cũng rất khổ, thậm chí khổ cho cả người khác Ngày nay con người ta còn mắc các bệnh không phải sinh lý: bệnh tự kiêu, tự cao, bệnh công thần, bệnh tự ti…

4 Tử khổ Nhiều người nói con người ta chết rồi biết đâu là khổ nhưng không phải Chết là lúc duyên tan của ngũ uẩn rồi, cái thụ, tưởng không còn Người ta không còn thấy cái khổ chứ không phải cáikhổ không còn Người thân thương xót khóc lóc Và khi con người chết thì phải táng: thiên táng, địa táng,hỏa táng, thủy táng, khẩu táng Nhưng dù táng theo kiểu nào cũng có cái khổ riêng

5 Ái biệt ly khổ Yêu nhau mà phải xa nhau là khổ

6 Oán hội khổ Cái mình không thích, không ưa, không mong, không cầu mà trong cuộc sống mình

cứ phải gặp

Trang 17

7 Cầu bất đắc khổ Điều mình mong, mình muốn, mình ưa mà mình không đạt được Nhưng con người toàn mong những cái xa vời: mắt thích nhìn cái đẹp, tai muốn nghe cái hay, mũi thích ngửi cái thơm, lưỡi thích nếm cái ngon nhưng con người thích 1000 điều thì 999 điều bất đắc 1 cái cầu đắc thì nảysinh ra 1000 cái cầu mới nhưng bất đắc Và cứ thế cả cuộc đời con người tạo ra nỗi khổ và đuổi theo nỗi khổ.

8 Ngũ uẩn khổ Duyên hợp của ngũ uẩn làm cho con người khổ 5 giác quan của con người làm chongười ta khổ: mắt thích nhìn cái đẹp, tai muốn nghe cái hay, mũi thích ngửi cái thơm, lưỡi thích nếm cái ngon

Sinh, lão, bệnh, tử là những cái khổ về mặt sinh lý Ái biệt ly khổ, oán hội khổ, cầu bất đắc khổ là 3 cái khổ về mặt tâm lý Ngũ uẩn khổ là hội tụ cả cái khổ về mặt tâm lý và sinh lý Cả cuộc đời con người

từ lúc sinh ra đến lúc chết đi lúc nào cũng khổ Đức phật từng nói với con trai: “Này La Hầu La hãy xem kìa nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển”

Cái khổ là cái có thực, hiện hữu Chính vì vậy học thuyết này khuyên con người đừng bao giờ quên nỗi khổ, bởi quên cái khổ là quên cái có thực, mà quên cái có thực thì sẽ rơi vào cái giả dối Đã khổ vì cái giả tướng rồi, bây giờ lại quên cái khổ thì cái khổ cứ chồng chất lên Để không bao giờ quên nỗi khổ thì học thuyết này khuyên con người sống cuộc đời tam thường bất túc (3 điều bình thường cơ bản nhưng không nên đầy đủ): ăn, mặc, ở không nên quá đầy đủ Cho nên Phật tử nguyên thủy là phải chân đi dép

cỏ, đầu đội nón lá, mặc bộ quần áo bằng vải thô màu nâu (màu của đất đai, vĩnh hằng, thường trụ) hoặc vàng (là màu quý phái nhất của nhà Phật), đằng trước đeo một cái tráp, tay chống gậy Đó là cuộc sống tam thường bất túc Gia phong của Phật tử:

Áo rách đùm mây đun cháo sứ,

Bình xưa đựng nguyệt uống trà xưa

Ta cảm thấy một sự bất túc, nhưng đằng sau cái sự bất túc ấy ta lại cẩm nhận được một cái gì đó rất thánh thiện Cái bất túc bình thường không ai muôn, cái thánh thiện bình thường khó ai đạt được Phật tử khất thực là để chứng kiến nỗi khổ của chúng sinh, để nỗi khổ của cuộc đời thấm vào từng uẩn của người mình, để không bao giờ quên đời là bể khổ

Sau khi nhận thức được đời là khổ thì học thuyết truy tìm nguyên nhân gây ra nỗi khổ, tất cả nhũng nguyên nhân đó được thể hiên trong tập đế Tập đế là quan điểm triết học phật giáo về những nguyên nhân gây ra nỗi khổ Học thuyết này cho rằng có nhiều nguyên nhân nhưng có 12 nguyên nhân chính là người ta gọi là thập nhị nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhân, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử Nhưng trong 12 nguyên nhân này có 3 nguyên nhân chính: tham, sân, si Tham là lòng tham của con người., lòng tham của con ngươi không có đáy không có giới hạn Khi xuất hiện lòng tham thì con người tìm cách thỏa mãn lòng tham của mình Mà con người tham 1000 điều thì 999 điều là bất đắc nên con người trở nên sân hận Khi đã sân hận rồi thì con người trở nên si mê đến độ nhiều khi mình đánh mấtchính bản thân mình

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra nỗi khổ là trạng thái vô minh (tối tăm về mặt trí tuệ, sự kém hiểu biết), từ đó xuất hiện ái dục Theo Phật giáo sự tối tăm về mặt trí tuệ, sự dốt nát, kém hiểu biết của con người là đầu mối của mọi đầu mối Bởi cái điều con người biết thì như hạt cát mà cái điều con người chưa biết thì như sa mạc do đời người hữu hạn, năng lực và tầm nhìn hữu hạn trong khi thế giới này vô hạn Trong muôn vàn cái vô minh thì vô mình được gọi là khởi đầu của vô minh, của sự đau khổ

là do con người không biết mình là ai nên con người làm mình khổ, làm cho người khác khổ

Trong cuộc đời ta cảm thấy ta là cái rốn của vũ trụ, biết tất cả… cảm giác đó xuất hiện khi con người ta thành công và thành công liên tục Trong cuộc đời con người cảm thấy mình bé nhỏ như hạt cát

ấy là cảm giác thường xuất hiện khi con người ta thất bại và nhất là thất bại liên tục Nhưng khi tĩnh tâm lại con người suy nghĩ lại thấy mình không phải thiên thần cũng không phải là cái rốn của vũ trụ, cũng không phải là hạt cát Vậy ta là ai? Người Trung Quốc nói: con người ta chỉ biết ta là ai khi con người ta biết điểm dừng Nhưng điều này khó vô cùng bởi con người không biết dừng đúng lúc, vì con người quá tham

Trang 18

Theo Phật giáo giá như con người hiểu được mình hay vạn vật chỉ là thực thể vô thường, vô ngã thì lòng tham của con người sẽ ít hơn nhưng tiếc là con người không hiểu được điều đó, cứ tưởng mình là thật, vạn vật là thật nên nổi tham ái dục, muốn tất cả đều là của mình Và khi lòng tham xuất hiện thì con người tạo nghiệp ác, tích nghiệp ác và chìm vào bể khổ.

Như vậy, hai đế đầu tiên của tứ diệu đế tạo thành một cặp nhân – quả Khổ đế là kết quả còn tập đế

là nguyên nhân

Khác với các học thuyết khác Phật giáo trình bày kết quả trước nguyên nhân sau Trước tiên, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy cái thảm cảnh hiện tại của cõi đời Cái thảm cảnh bi đát này có nằm ngay trước mắt ta, bên tai ta, ngay trong chính mỗi chúng ta; những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ được, chứ không phải những sự thật xa lạ ở đâu đâu Ðã là một chúng sinh, ai không có sinh, ai không đau ốm, ai không già, ai không chết ? Và những trạng thái ấy đều mang theo tính chất khổ cả Ðã có thân, tất phải khổ Ðó là một chân lý rõ ràng, giản dị, không ai là không nhận thấy, nếu có một chút ít nhận xét Khi chỉ cho mọi người thấy cái khổ ở trước mắt, ở chung quanh và chính trong mỗi chúng ta rồi, đức Phật mới đi qua giai đoạn thứ hai, là chỉ cho chúng sanh thấy nguồn gốc, lý do của những nỗi khổ

ấy Ngài đã từ hiện tại đi dần về quá khứ, đã từ bề mặt đi dần xuống bề sâu, đã từ cái dễ thấy đến cái khó thấy Như thế là lý luận của Đức Phật đã đặt căn bản lên thực tại, lên những điều có thể chứng nghiệm được, chứ không phải xa lạ, viễn vong, mơ hồ

Diệt đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về khả năng con người có thể tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ và trạng thái mà con người đạt được sau khi đã tiêu diệt được những nguyên nhân gây ra nỗi khổ

Theo Phật giáo con người có khả năng tiêu diệt những nguyên nhân gây ra những nỗi khổ bằng cách tạo nghiệp thiện và tích nghiệp thiện Trạng thái mà con người đạt được sau khi tiêu diệt được nhữngnguyên nhân gây khổ được gọi là thường trụ (niết bàn) Thường trụ là trạng thái đối lập với vô thường Khi con người đạt đến trạng thái này thì con người được giải thoát Theo quan điểm của Phật giáo người chưa đạt được trạng thái niết bàn thì sau khi chết linh hồn tách khỏi thể xác và vẫn nằm trong vòng luân hồi và vẫn khổ Còn người đạt trạng thái niết bàn thì sau khi chết linh hồn vẫn tách khỏi thể xác nhưng thoát khỏi vòng luân hồi và tìm lại được đúng bản thân nó, đúng thế giới của nó và nó tồn tại ở đó hạnh phúc vĩnh cửu Đó là lúc con người hoàn toàn được giải thoát Trạng thái thường trụ không thể mô tả giải thích với nhau được Bởi đây là trạng thái tự mình chứng ngộ, tức là người nào đạt đến nó thì hiểu về nó chứ không thể giải thích, mô tả cho nhau được

Tư tưởng nhà Phật thể hiện qua lời răn, lời dạy và có những câu truyện ngụ ngôn, trong đó có câu truyện: con cá và con rùa:

Thuở xưa có một con cá Cá chỉ biết trong nước và không biết gì ngoại trừ nước Một hôm, cá mãi mê bơi lội trong ao đầm quen thuộc như mọi hôm thì gặp lại chị Rùa Hỏi ra thì rày lâu rùa đi dạo trên đất liền.

Cá hỏi: "Chào chị rùa, chị đi đâu mà mấy hôm rày tôi không gặp?"

- Này chị cá, chào chị Hôm rày tôi đi một vòng lên trên đất khô Rùa trả lời

- Đất khô à! Cá lấy làm ngạc nhiên Chị nói đất khô, vậy đất khô là gì? Đất làm sao khô được? Tôi chưa bao giờ thấy cái gì

mà khô Đất khô chắc là không có gì hết.

Bản tánh ôn hòa, Rùa nhỏ nhẹ đáp:

- Được, tốt lắm, nếu chị muốn nghĩ như vậy cũng tốt Không ai ngăn cản chị đâu Tuy nhiên, chỗ mà tôi đi mấy hôm rày đất khô thật

- Này chị rùa, đâu chị nói rõ lại coi Đất khô mà chị nói ra làm sao, giống như cái gì? Nó có ẩm ướt không?

- Không, đất khô không ẩm ướt

- Đất khô có mát mẻ và êm dịu, dễ chịu không?

- Không, đất khô không mát mẻ và êm dịu, dễ chịu

- Đất khô trong suốt và ánh sáng rọi xuyên qua được không?

- Không, đất khô không trong suốt và ánh sáng không rọi xuyên qua được

- Đất khô có mềm mại và dịu dàng để mình bơi lội trong ấy không?

- Không, đất khô không mềm mại, dịu dàng và mình không thể bơi lội trong lòng đất

Trang 19

- Đất có di chuyển và trôi chảy thành dòng không?

- Không, đất không di chuyển và trôi chảy thành dòng

- Đất có nổi sóng và tan ra thành bọt kông? Cá rất bực mình với loạt câu trả lời "không, không, …" của rùa

- Không, đất không nổi sóng Rùa thành thật trả lời.

Cá bỗng nhiên lộ vẻ hân hoan của người đắc thắng và vang lên:

- Thấy chưa, thật quả như tôi đã nói chớ gì nữa! Tôi đã bảo rằng đất khô của chị là hư vô, không có gì hết Tôi hỏi và chị đã xác nhận rằng đất khô và không ẩm ướt, không mát mẻ, không êm dịu và không trong suốt và ánh sáng không rọi xuyên qua được, không mềm mại và dễ chịu để mình có hể bơi lội trong ấy, đất cũng không di chuyển và trôi thành dòng, cũng không nổi sóng và cũng không tan rã thành bọt Không phải gì hết thì có phải là hư vô không?

Rùa đáp:

- Được, tốt lắm Này chị cá, nếu chị quả quyết rằng đất là hư vô, không có gì hết, thì chị cứ tiếp tục nghĩ như thế Thật ra, người nào đã biết nước và đất liền rồi sẽ nói rằng chị chỉ là con cá dại dột, vì chị quả quyết rằng cái gì mà chị không biết là không có gì hết, hư vô Nói là hư vô bởi vì chị không bao giờ biết

Đến đây, rùa bỏ cá ở lại một mình với ao đầm nhỏ bé, quay đầu lội đi và suy tưởng đến một cuộc viễn du khác trên đất khô, nơi mà cá tưởng tượng là hư vô…

Trạng thái niết bàn cũng vậy, không ai có thể giải thích được, nhưng khi đạt được rồi thì người ta không nói về niết bàn nữa, còn nếu nói về nó thì tức là chưa đạt đến

Theo Đức Phật, trạng thái niết bàn là trạng thái trong suốt về mặt tâm linh, trong suốt đến mức ở đó không còn ranh giới giữa các giá trị: giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, tốt xấu…

 Như vậy diệt dế chính là đế nói về sự giải thoát

Đạo đế: là quan điểm của triết học Phật giáo về chiều hướng và những con đường mà con người phải trải qua để đạt đến trạng thái niết bàn Về chiều hướng, để giải thoát con người phải đi từ giới đến định và tuệ Giới là những gì mà con người không được làm, trong những điều không được làm thì có 5 điều cơ bản con người không được vi phạm cho dù ở đâu và khi nào:

Ngũ giới:

Bất sát giới: không được giết hại một sinh linh nào, dù là to hay nhỏ Con người muốn sống trọn kiếp của mình thì hãy để vạn vật sống trọn kiếp của nó Phật tử ăn chay là vì vậy bởi ăn chay là không muốn sát sinh, phá giới này Khi Đức Phật còn tại thế thì người chỉ cấm không được ăn 5 loại thịt: thịt người, thịt hổ, thịt rắn, thịt chó, và không được ăn những thịt vì mình nên mới có Sau này Phật tử quy ước với nhau là không ăn tất cả các loại thịt để tránh sát sinh

Bất tà đạo: Không được ăn trộm, cắp Giàu sống giàu, nghèo sống nghèo, an bần lạc đạo, chứ khôngphải thấy người ta có của ăn của để là mình sinh lòng tham đào hào khoét vách trộm cắp, đó là mọi, rợ,

di, tặc Ngày xưa Phật tổ chỉ nói đến ăn trộm, ăn cắp vật chất, còn ngày nay người ta ăn trộm cả vật chất lẫn tinh thần: đạo nhạc, đạo văn, đạo phim…

Bất tà dâm (không được dâm ô): Khi chưa xuống tóc đi tu thì dần dần phải đi từ chỗ đoạn dục đến chỗ diệt dục, cong khi đã xuống tóc đi tu rồi thì phải đoạn dục

Bất vọng ngữ (không được nói dối): Với ai, ở đâu, lúc nào cũng phải nói thật

Bất ẩm tửu (không được uống rượu): ngày xưa thì chỉ có rượu nhưng mà tư tưởng bất ẩm tửu ở đây

có nghĩa là không được dùng những chất có thể thay đổi đen tâm, tối tuệ

5 điều này này thực rất khó giữ Trong đó, bất tà dâm là điều khó giữ nhất

Định – là việc con người làm để giữ cho tâm tĩnh lại Bản thân của chúng ta bị quá nhiều điều

bên ngoài tác động đến làm cho tâm của chúng ta không được tĩnh Định làm cho tâm của chúng ta tĩnh lại không chịu sự tác động của ngoại cảnh Có nhiều cách để định tâm, nhưng theo Phật giáo thì cách tốt nhất là ngồi thiền Có nhiều cách thiền, ai cũng có thể thiền và thiền ở bất cứ đâu nhưng mối cách đều có quy định của nó Thiền không đúng có thể phản tác dụng, đã không định tâm được mà còn làm loạn tâm

mà người ta gọi là tẩu hỏa nhập ma Để hạn chế tác động của bên ngoài trong quá trình thiền thì người ta xây dựng thiền viện Từ ngồi thiền để định tâm, từ trạng thái định dẫn tới trạng thái tuệ - khai sáng về mặttrí tuệ Tuệ là trạng thái con người xóa được vô minh, đạt đến trạng thái cực kì trong sạch về mặt tâm linh(niết bàn)

Trang 20

Thiền: sau khi ngồi đúng tư thế, hạ hai mi mắt, chọn trong tâm thức của mình một điểm và mình dùng toàn bộ tâm và tuệ vào điểm đó, và đến một lúc nào đó ta sẽ thấy điểm đó sáng lên và đến lúc nào

đó ta sẽ nghe được những âm thanh rất bình thường, rất dễ chịu nhưng khi chưa ngồi thiền thì ta không hềnghe thấy Mức độ đó mà con người đạt được gọi là quán thế âm – trạng thái con người thiền định mà làm chủ âm thanh của trần thế Khi đạt được trạng thái quán thế âm rồi thì con người tiếp tục tập trung vào điểm sáng và con người bắt đầu nhận thấy mình, bắt đầu nhận ra những người thân của mình có thể chưa bao giờ từng gặp, đến lúc nào đó cảm thấy cả xã hội đang diễn ra trong đầu mình Và khi đã đạt đến trạng thái đó thì con người vẫn tiếp tục sống nhưng đến khi chết đi thì phần hồn lìa khỏi xác nhưng nó không bị cuốn vào vòng luân hồi mà nó tìm được thế giới của nó tìm được bản thân của nó

Những con đường mà con người phải trải qua Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy (suy nghĩ về con đường thành đạo cho đúng, về bản thân mình, về phần hồn, phần xác của mình…), chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến (con người luôn phải vươn lên phía trước của con đường thành đạo), chính niệm, chính định Bát chính đạo nhiều điều hơn và khó thực hiện hơn ngũ giới Ví dụ trong ngũ giớithì bất vọng ngữ, con người nói dối thì phá giới còn nói sai thì không phá giới nhưng trong bát chính đạo thì con người không chỉ không được nói dối mà còn phải nói đúng Nên thực hiện được điều ấy cực kì khó

Trong mối quan hệ giữa diệt đế và đạo đế thì đạo đế là nhân, diệt đế là quả Như vậy tứ diệu đế tạo

ra 2 cặp nhân - quả Nhưng hai cặp nhân quả này khác nhau về bản chất: cặp nhân – quả thứ nhất (khổ đế

- tập đế) là cặp nhân – quả ác vì nó gây nên nỗi khổ của cuộc đời, cặp nhân – quả thứ 2 là cặp nhân quả thiện vì nó đưa con người đến trạng thái niết bàn

Quá trình con người tìm hiểu tứ diệu đế, để hiểu và làm theo tứ diệu đế thì nhà Phật gọi là tu Thực chất tu là quán trình con người tự tìm hiểu mình để sống cho phù hợp với đạo, tức là phù hợp với con đường giải thoát Và khi con người tu thì thành chính quả ở nhiều cấp độ căn cứ vào tâm và kết quả con người đạt được Học thuyết Phật giáo đánh giá rất cao vai trò của chữ tâm Tu là tu ở tâm Trong kinh điển nhà Phật có câu truyện: Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh

Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh xá Kỳ Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?” Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật” Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền Bà thấy vua A Xà Thế lam công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?” Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau” Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng:

- Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ Mong cho con giải thoát tất cả hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si Mong cho con tịnh hóa tất cả những cấu uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.

Đêm ấy tất cả Các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy, khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn Khi trông thấy ngọn đèn còn cháy sáng, đầy dầu và bấc mới, ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày,”

và ngài cố thổi tắt Nhưng cây đèn vẫn cháy Ngài lấy tay bóp, lấy y chụp lên cho nó tắt, mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng Đức Phật vẫn nhìn ngài từ lúc đầu, và bảo:

- Mục Kiền Liên, có phải ông muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Ông không làm được đâu Ông không di chuyển được

nó, chứ đừng nói là dập cho nó tắt Nếu ông đem được bốn biển mà tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được, tại sao? Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh Chính động cơ ấy đã làm cho

nó có công đức vô cùng.

Khi Đức Phật nói lời này, thì bà lão ăn xin đi đến ngài, và ngài nói lời thọ kí cho bà trong tương lai sẽ thành Phật.

Trang 21

Vua A Xà Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà già kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?” Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều

mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm thuận thành, tôn kính tuyệt đối của bà kia đối với Đức Phật”.

Đạt đến trạng thái niết bàn có từng cấp độ Cấp độ thấp nhất là La Hán đạt được khi con người vừa tạo đủ, vừa tích đủ nghiệp thiện vừa đủ khai sáng; trên cấp độ La Hán là cấp độ Bồ Tát và cấp độ cao nhất

là cấp độ Phật

Triết học Nho giáo

Sau những giai đoạn mà người ta biết đến Trung Quốc qua những truyền thuyết như vua Nghiêu, Thuấn thì Trung Quốc bước vào thời kì Tam Đại (Hạ - Ân – Chu) Ba Triều đại này gắn liền với lịch sử Việt Nam Thời kì nhà Chu chia thành 2 thời kì: Tây Chu (giai đoạn đầu nhà Chu đóng đô ở phí Tây) và Đông Chu (nhà Chu chạy về phía Tây) Thời Tây Chu đất nước rất ổn định, thiên hạ thái bình, nhà Chu biết chia đất để quản, biết chia dân để trị, hàng năm các nước chu hầu vẫn cống nạp đầy đủ Sử sách ghi lại thời này: của đánh rời ngoài đường cả ngà không ai nhặt, đêm ngủ cửa không phải cài then Chính vào lúc nhà Chu cực thịnh nhu vậy thì mầm mống của sự loạn lạc đã xuất hiện ngay trong nội bộ của nhà Chu,quan lại tìm cách giành chức, giành quyền, lúc đầu họ còn sử dụng lời nói, sau họ dùng binh lực để giành chức quyền cho mình Và lúc đó nhà Chu yếu đi, các nước chư hầu không còn bị thị uy nữa đem quân đánh lại nhà Chu dưới danh nghĩa bảo vệ nhà Chu Xã hội Trung Quốc chuyển từ trạng thái bình chuyển sang trạng thái loạn lạc Vua tôi nhà Chu phải chạy về phía Đông hình thành lên thời kì Đông Chu Đất nước Trung Quốc trở nên loạn lạc, luân thường đạo lý bị loạn lạc Từ trạng thái của đánh rời ngoài đường

cả ngà không ai nhặt, đêm ngủ cửa không phải cài then đến trạng thái đánh nhau giành đất thân chất đầy đất, đánh nhau giành thành thây chất đầy thành, trạng thái buổi sáng nghe chuyện tôi giết vua, buổi tối nghe chuyện con giết cha không còn là chuyện lạ Trong bối cảnh như vậy thì câu hỏi đặt ra đối với xã hội Trung Quốc: Tại sao xã hội đang từ bình lại chuyển thành loạn và đất nước đang ở trạng thái loạn lạc muốn trở về trạng thái thái bình phải làm như thế nào? Câu hỏi này không phải do một người nào đó đặt

ra mà do cuộc sống của con người đặt ra, do lịch sử của Trung Quốc giai đoạn này đặt ra Đây là vấn đề

có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội: trị nước, mẫu hình xã hội lý tưởng, mẫu hình con người lý tưởng, luật pháp, đạo đức, hệ giá trị… Trong bối cảnh đó rất nhiều học thuyết ra đời tập trung vào vấn đề bình, loạn, mẫu hình xã hội lý tưởng, mẫu hình con người lý tưởng, thuật trị nước Một lần nữa ta lại thấy nội dung các học thuyết triết học nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung không phải do con người nghĩ ra hay quyết định mà do điều kiện sống quy định

Bối cảnh đó tạo nên hiện tượng “bách gia chư tử” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua sáng), khắp đất nước Trung Quốc rộng lớn nơi nào cũng có học thuyết Tuy có nhiều song người ta phân chia cách học thuyết thành sáu phải lớn gọi là “lục gia” bao gồm: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia, Âm – dương gia, Pháp gia

Chứng minh bằng nội dung học thuyết :

Do sống trong thời buổi “Thiên hạ đại loạn” nên hoài bão suốt đời của ông là làm sao lập lại trật

tự kỷ cương xã hội, nhằm làm cho “an dân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” và hoài bão ấy thể hiện trong thuyết “Chính danh”.

Để trả lời cho câu hỏi “tại sao xã hội đang từ bình lại chuyển thành loạn?”, Nho gia đã xây dựng thuyết chính danh Theo quan điểm của Nho gia, “danh” là tên gọi của mỗi vật, mỗi người trong một mối quan hệ nhất định Mỗi danh đều có những yêu cầu về cái được và cái phải của nó Chính danh là người nào mang danh nào phải được thực hiện những yêu cầu mà danh đó cho phép và phải thực hiện bằng được những yêu cầu mà danh ấy đòi hỏi, nếu không phải chuyển sang danh khác cho tương ứng với khả năng, tương ứng với điều kiện của mình Đối lập với chính danh là loạn danh Loạn danh là khi con người ta không đáp ứng được những yêu cầu hoặc không được thực hiện những yêu cầu của danh ấy Chính danh thì xã hội sẽ bình, loạn danh thì xã hội sẽ loạn Thành công của Nho gia là nhận thấy sự loạn

xã hội không phải do trời mà do con người sống không chính danh, nó bị quyết định bởi hành vi, hành động của mỗi người

Theo Nho gia, mẫu hình xã hội lý tưởng là xã hội trong đó mọi người sống đúng với danh mà mình đang mang Xã hội có nhiều mối quan hệ thể hiện quá nhiều danh, nhưng xét chung thì có 5 loại danh cơ bản được thể hiện qua 5 cặp danh cơ bản được gọi là ngũ luân: quân – thần, phụ - tử, phu – phụ, huynh – đệ và bằng hữu Mối quan hệ giữa các cặp danh này được sắp xếp theo trật tự xác định Trong ngũ

Ngày đăng: 19/03/2017, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w