Bài thu hoạch chương trình cao cấp lý luận chính trị môn Khoa học lãnh đạo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc triển khai, ứng dụng CNTT (CNTT) trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ góp phần đáng kể vào việc hoàn thành các nhiệm vụ của các ngành, các cấp, trong đó có ngành Kiểm sát nhân dân. Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học, công nghệ, việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước nói chung và trong hoạt động tư pháp nói riêng của ngành Kiểm sát nhân dân không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) các cấp mà còn giúp cho người dân, các tổ chức làm việc với VKS được nhanh chóng, thuận tiện. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế khi triển khai áp dụng CNTT vào các khâu công tác của ngành Kiểm sát. Do đó, tôi chọn đề tài “Các giải pháp chính sách thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin trong ngành Kiểm sát nhân dân” làm đề tài tiểu luận của mình, nhằm làm rõ hơn thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm tăng cường việc áp dụng công nghệ vào công việc của Viện kiểm sát các cấp, nâng cao chất lượng công tác chuyên môn
Trang 1VIỆN LÃNH ĐẠO HỌC VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
-
BÀI THU HOẠCH
MÔN: KHOA HỌC LÃNH ĐẠO
CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÀNH
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Họ và tên học viên:
Mã số học viên:
Lớp:
Khóa học:
HÀ NỘI – 2021
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
1 Tầm quan trọng của ứng dụng CNTT 5
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ứng dụng CNTT 5
1.2 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong ngành Kiểm sát nhân dân 7
2 Thực trạng áp dụng khoa học công nghệ trong ngành Kiểm sát nhân dân 9
2.1 Những kết quả đạt được 9
2.2 Tồn tại, hạn chế 10
3 Các giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT 14
3.1 Nâng cao nhận thức về ứng dụng CNTT, chuyển đổi số; tăng cường trách nhiệm kỷ luật công vụ 14
3.2 Bảo đảm hạ tầng kỹ thuật 14
3.3 Xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu 15
3.4 Nâng cấp, phát triển, nâng cao chất lượng phần mềm ứng dụng 15
3.5 Bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp lý 15
3.6 Về tổ chức, nhân sự, cơ chế hoạt động, điều kiện bảo đảm 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKS : Viện kiểm sát
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc triển khai, ứng dụng CNTT (CNTT) trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ góp phần đáng kể vào việc hoàn thành các nhiệm vụ của các ngành, các cấp, trong
đó có ngành Kiểm sát nhân dân Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học, công nghệ, việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước nói chung
và trong hoạt động tư pháp nói riêng của ngành Kiểm sát nhân dân không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) các cấp mà còn giúp cho người dân, các tổ chức làm việc với VKS được nhanh chóng, thuận tiện
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế khi triển khai áp dụng CNTT vào các khâu công tác của ngành Kiểm sát Do đó, tôi
chọn đề tài “Các giải pháp chính sách thúc đẩy phát triển công nghệ thông
tin trong ngành Kiểm sát nhân dân” làm đề tài tiểu luận của mình, nhằm
làm rõ hơn thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm tăng cường việc áp dụng công nghệ vào công việc của Viện kiểm sát các cấp, nâng cao chất lượng công tác chuyên môn
Trang 5NỘI DUNG
1 Tầm quan trọng của ứng dụng CNTT
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ứng dụng CNTT
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế sâu rộng, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, là chìa khóa quyết định tốc độ, chất lượng phát triển của các quốc gia và nền kinh tế Tại Việt Nam, vai trò của khoa học và công nghệ trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng Nghị quyết Trung ương 6, khóa
XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW), Kết luận số 50-KL/TW của Ban Bí thư năm
2019 và nhiều văn kiện, nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa XII
đã tái khẳng định KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong các đột phá chiến lược được nhấn mạnh tại các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng khóa XIII
Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 năm 2020, chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí
thư, Chủ Tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong bài viết "Chuẩn bị và tiến hành
thật tốt Ðại hội XIII của Ðảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới" đã nhấn mạnh quan điểm: "Thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế"
Văn kiện Đại hội XII đặt ra nhiệm vụ “Phát triển mạnh mẽ khoa học và
công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế” Năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là thực tiễn
nóng hổi rất sinh động, phong phú để chúng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung và
Trang 6làm sâu sắc thêm những bài học kinh nghiệm đã được đúc rút từ những nhiệm
kỳ trước Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội XIII của Ðảng chứa đựng nhiều điểm mới rất phong phú, toàn diện và sâu sắc, trong đó, các quan điểm phát
triển khoa học công nghệ tiếp tục được nhấn mạnh, cụ thể “Tiếp tục quán
triệt, thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”
Thực tiễn cho thấy, khoa học và công nghệ đang từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được tăng cường Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực hơn trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, con người Việt Nam Hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ được nâng lên, tạo chuyển biến tích cực cho hoạt động đổi mới và khởi nghiệp sáng tạo
Trong Văn kiện Đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định: “Xây
dựng chiến lược phát triển công nghệ của đất nước, chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên đất nước ta” Trong bối cảnh môi trường quốc tế cạnh tranh
ngày càng gay gắt, công nghệ được xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và bền vững, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính sách lớn thể hiện qua Nghị quyết 52 của Bộ Chính
Trang 7trị về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ Tư”; Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6
khóa XI về phát triển khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi, Các Chương trình quốc gia phát triển khoa học và công nghệ…
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã coi phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong các đột phá chiến lược quan trọng nhất trong giai đoạn tới, tạo bứt
phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Trong đó, cần “Có
thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ; nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ một số công nghệ mới, hình thành năng lực sản xuất mới có tính tự chủ và khả năng thích ứng, chống chịu của nền kinh tế; lấy doanh nghiệp làm trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ số Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo”
1.2 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong ngành Kiểm sát nhân dân
Ứng dụng khoa học, CNTT trong hoạt động của các ngành tư pháp nói chung, VKSND nói riêng với mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là CNTT trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; xây dựng và hoàn thiện các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tạo nền tảng xây dựng VKS điện tử, gắn liền với quá trình cải cách hành chính Có thể khẳng định, ứng dụng CNTT là giải pháp căn bản để thực hiện nhiệm vụ ngành Kiểm sát trong điều kiện thực hiện tinh giản biên chế, cải cách thủ tục hành chính và giảm chi phí vận hành quản lý hành chính Trong bối cảnh CNTT phát triển ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, đổi mới và ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ là một trong những giải pháp quan trọng và rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm
Trang 8sát hoạt động tư pháp, góp phần tinh thần thượng tôn pháp luật, công bằng xã hội, đảm bảo mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Hiện nay, ngành Kiểm sát được phân chia thành hệ thống VKSND và VKS quân sự Trong đó, VKSND được chia thành 04 cấp: VKSND tối cao; VKSND cấp cao; VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; VKSND cấp huyện; VKS quân sự được chia thành: VKS quân sự trung ương, VKS quân sự quân khu và tương đương, VKS quân sự khu vực và tương đương Chính vì vậy, việc thông tin, liên lạc để trao đổi các văn bản cũng như truyền đạt các ý kiến chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp
vụ của các cơ quan cấp trên đối với cấp dưới là công việc thường xuyên của ngành Kiểm sát Do đặc thù công tác vấn đề đặt ra đó là các văn bản, thông tin, ý kiến được truyền đạt giữa VKS cấp trên với VKS cấp dưới và ngược lại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc bí mật nghiệp vụ Tuy nhiên, thực tế việc trao đổi, cung cấp thông tin chỉ đạo, điều hành, triển khai nhiệm vụ theo hình thức truyền thống là thông qua hệ thống bưu chính như trước đây thường kéo dài, mất nhiều thời gian lại tốn kém chi phí sao, gửi, thủ tục rườm rà nên việc ứng dụng khoa học, CNTT trong quản
lý văn bản VKS được xem là một yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo việc xử lý, giải quyết công việc giữa VKS các cấp và công tác phối hợp giữa ngành kiểm sát với các cơ quan khác, phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương phải được thực hiện kịp thời, chính xác, bí mật và tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao
Một yêu cầu đặt ra đối với cải cách tư pháp là giảm các thủ tục rườm
rà, phức tạp cho nhân dân Các cơ quan tư pháp phải tiếp cận thông tin về tố giác tội phạm một cách kịp thời, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn ngừa thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, do đó áp dụng CNTT nhằm đảm bảo thời gian nắm thông tin của người dân một cách nhanh chóng, tổ chức các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa kịp thời
Mặt khác, nhiệm vụ chính của VKS đó là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, tham gia tố tụng, đại diện cho Nhà nước thực
Trang 9hành công tố và các hình thức kiểm sát đòi hỏi các Kiểm sát viên, công chức ngành Kiểm sát phải nắm vững các quy định của pháp luật trong khi các quy định của pháp luật thường xuyên sửa đổi, bổ sung Thực tế, bên cạnh việc bản thân mỗi công chức Kiểm sát tự trang bị các kiến thức pháp luật, VKSND tối cao cũng hỗ trợ cho công chức kiểm sát thông qua nhiều hình thức, trong đó
có việc ứng dụng công nghệ để cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, được sửa đổi, bổ sung, thay thế Do đó, việc áp dụng, phát triển khoa học công nghệ trong ngành Kiểm sát đóng vai trò hết sức quan trọng, đề
ra yêu cầu phải tăng cường áp dụng công nghệ trong các khâu công tác chuyên môn nghiệp vụ
2 Thực trạng áp dụng khoa học công nghệ trong ngành Kiểm sát nhân dân
2.1 Những kết quả đạt được
Những năm qua, ngành Kiểm sát nhân dân đã có những bước tiến lớn trong việc áp dụng khoa học công nghệ vào công tác chuyên môn, nghiệp vụ Việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm được thực hiện thường xuyên liên tục trên cổng thông tin điện tử Trước đây, người dân phải gửi thư qua đường bưu điện hoặc phải đến trực tiếp các cơ quan công an, VKS để tố giác, cung cấp thông tin về tội phạm Các phương pháp này có nhược điểm là thời gian để các cơ quan chức năng tiếp nhận thông tin chậm, không kịp thời ngăn chặn và
xử lý tội phạm Mặt khác, người cung cấp thông tin về tội phạm cho cơ quan chức năng phải đối mặt với việc bị lộ thông tin cá nhân, bị theo dõi, trả thù Tuy nhiên, với việc cải cách tư pháp, người dân hiện nay có thể gọi điện trực tiếp hoặc gửi thư điện tử đến các cơ quan chức năng Hình thức này vừa đảm bảo an toàn, bí mật cho người cung cấp thông tin, đáp ứng được tính kịp thời, nhanh chóng
Việc lưu trữ, sử dụng hồ sơ trong ngành Kiểm sát cũng đang dần thay đổi theo hướng số hóa hồ sơ Trước đây, khi phải sao lưu hồ sơ, phải phô tô tất cả các tài liệu Việc sao lưu cần đến kho lưu trữ, người bảo quản, chỉnh lý
hồ sơ Ngoài ra, khi cần sử dụng hoặc cần phải mang theo hồ sơ để phục vụ
Trang 10công tác chuyên môn thường rất vất vả, ngoài việc phải đảm bảo tính an toàn,
bí mật của hồ sơ nghiệp vụ thì khối lượng của các hồ sơ này cũng là một vấn
đề nan giải Có những hồ sơ lớn, số lượng bút lục lên tới hàng nghìn trang, hàng chục nghìn trang, thì việc vận chuyển những hồ sơ, tài liệu này không hề đơn giản Sau khi áp dụng số hóa hồ sơ, thì việc trích xuất, sử dụng hồ sơ, tài liệu điện tử này trở nên đơn giản hơn rất nhiều Chỉ với một thiết bị có khả năng lưu trữ và trích xuất, đọc dữ liệu như USB và máy tính, đều có thể sử dụng những tài liệu này một cách dễ dàng Các thông tin, tài liệu thu thập được đảm bảo đầy đủ, bí mật và tuân thủ đúng các quy tắc nghiệp vụ
Một ứng dụng quan trọng nữa của việc áp dụng công nghệ đó là ghi
âm, ghi hình trong hỏi cung bị can Việc ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hỏi cung bị can giúp nâng cao hoạt động của cơ quan tố tụng hình sự, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm Đảm bảo các quyền hợp pháp của bị can
Trong việc quản lý, chỉ đạo, điều hành, CNTT cũng mang lại những lợi ích to lớn Các văn bản quản lý, các chỉ thị nghiệp vụ thay vì phải gửi qua đường bưu điện như trước đây đều có thể sử dụng mạng nội bộ, phần mềm nghiệp vụ để gửi, đảm bảo nhanh chóng, kịp thời Các cuộc họp, hội nghị được tổ chức trực tuyến, tiết kiệm chi phí cho ngân sách Nhà nước, các đại biểu không phải đi lại xa xôi, mặt khác đảm bảo tính liên thông giữa các đơn
vị trong Ngành
2.2 Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng CNTT trong ngành Kiểm sát nhân dân còn gặp một số hạn chế, tồn tại, có thể kể đến như:
Ngành Kiểm sát thiết lập Trung tâm tích hợp dữ liệu tại VKSND tối cao là nơi đặt máy chủ, thiết bị mạng, thiết bị bảo mật, đường truyền, thiết bị lưu trữ,… quản lý tập trung hệ thống công nghệ thông tin, kết nối các máy tính, cài đặt, vận hành các ứng dụng dùng chung, tích hợp cơ sở dữ liệu của Ngành
Về mặt kiến trúc hệ thống, Trung tâm tích hợp dữ liệu vẫn theo hướng nền tảng công nghệ truyền thống, hệ thống máy chủ, lưu trữ, mạng được cài đặt trên nền tảng vật lý, do đó, hạ tầng chưa có tính chất mềm dẻo, chưa đơn