1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Đặc điểm trường ca Hữu Thỉnh ĐH Hồng Đức

219 1,9K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 174,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo đã tận tình truyền đạt những tri thức quí báu, dìu dắt giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo: PGS.TS Lưu Khánh Thơ đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, đồng thời đã hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quí báu cho tôi hoàn thành luận văn này.Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Khoa sau đại học trường Đại học sư phạm Hồng Đức, cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

UBND TỈNH THANH HOÁ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

NGUYỄN THẾ ANH

ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA HỮU THỈNH

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ

HỒNG ĐỨC, NĂM 2012

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 3

UBND TỈNH THANH HOÁ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

NGUYỄN THẾ ANH

ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA HỮU THỈNH

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ

Trang 4

HỒNG ĐỨC, NĂM 2012

Trang 5

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Khoa sau đại học trường Đại học

sư phạm Hồng Đức, cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã độngviên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệpnày

Hồng Đức, ngày 22 tháng 4 năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Anh

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôitrong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiêncứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Anh

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

MỤC LỤC

Trang

Mục lục i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI TRƯỜNG CA VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỮU THỈNH 8

Những tiền đề lý luận 8

Khái niệm trường ca 8

Một số ý kiến về trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại 10

1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại 14

1.1.4 Nội dung trường ca hiện đại 20

1 2 Quá trình sáng tác của nhà thơ Hữu Thỉnh 24

Các giai đoạn sáng tác 24

Quan niệm về thơ của Hữu Thỉnh 26

Chương 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRONG TRƯỜNG CA HỮU THỈNH 32

Hình tượng người lính 32

Người lính khi đối diện với hiện thực khốc liệt của chiến tranh 33

Tâm trạng người lính trong chiến trận 36

Lí tưởng cách mạng và hành trình đi tới chiến thắng 42

Khát vọng hạnh phúc 47

Hình tượng người phụ nữ 50

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Người Mẹ tảo tần, nhân hậu và giầu đức hy sinh 51Người Mẹ - điểm tựa vững vàng nơi hậu phương 54Người phụ nữ - biểu tượng của sự chịu đựng 56

Trang 9

Người phụ nữ với những góc khuất trong cuộc chiến tranh 58

Hình tượng đất nước 63

Hình tượng biển 69

Chương 3 ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG TRƯỜNG CA HỮU THỈNH 75 Ngôn ngữ 75

Ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ đời sống 75

Ngôn ngữ thơ mang màu sắc dân gian 78

Ngôn ngữ thơ sáng tạo mới mẻ 84

Thể thơ 86

Thơ tự do 86 Thơ văn xuôi 90

Giọng điệu 92

Giọng điệu ngợi ca, mang âm hưởng sử thi 92

Giọng điệu xót thương, cay đắng 96

Giọng điệu trữ tình, triết lí 99

PHẦN KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 10

ca phong phú và đa dạng về thể loại Khá nhiềubài thơ và nhất là trường ca của ông qua sự thẩmđịnh của thời gian vẫn còn nguyên giá trị.

Chính “sức bền ” sáng tạo, niềm say

mê văn chương đã giúp cho Hữu Thỉnh sớmkhẳng định mình qua các giải thưởng văn học.Đầu tiên phải kể đến là giải Ba cuộc thi thơ báo

Văn nghệ 1973 với bài Mùa xuân đi đón, tiếp đó

là giải A cuộc thi thơ 1975 - 1976 cho tác phẩm

Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất Năm 1991, tác giả lại tiếp tục nhận giải

Nhất trong cuộc thi thơ viết về Nhà trường do BộĐH&THCN cùng TWĐTNCSHCM tổ chức với

bài Thưa thầy Năm 1994, Hữu Thỉnh được Bộ

quốc phòng tặng thưởng giải xuất sắc với tác

phẩm Trường ca biển Đặc biệt ông đã hai lần

được trao giải thưởng chính thức của Hội Nhà

văn Việt Nam với trường ca Đường tới thành

phố (1980) và tập thơ Thư mùa đông (giải A

Trang 11

2năm 1995) Và

cũng với tập thơ

Thư mùa đông,

Hữu Thỉnh lại đoạt

giải thơ ASEAN

Đường

Trang 12

tới thành phố, Sức bền của đất, Trường ca biển đã được ghi nhận như là một

trong những gương mặt tiêu biểu Trường ca của ông có sức ôm chứa nhiềuvấn đề, về cả độ rộng của không gian và độ dài của thời gian, có khả năngkhái quát hiện thực rộng lớn, không những nhiều về số lượng mà còn đạt giátrị về chất lượng Vì vậy mà trường ca của Hữu Thỉnh là một dấu ấn nổi bậttrong sự nghiệp sáng tác của ông Nó như “miền đất hứa” ẩn chứa bao điềucần chúng ta khám phá

Với mong muốn tìm hiểu và khẳng định những nét độc đáo cũngnhư những đóng góp trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật

trong các sáng tác trường ca của Hữu Thỉnh, chúng tôi chọn Đặc điểm

trường ca Hữu Thỉnh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.

Nghiên cứu Đặc điểm trường ca Hữu Thỉnh giúp chúng ta có cái nhìn toàn

diện hơn về sự nghiệp sáng tác của ông

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn được trau dồi thêm kiếnthức về thơ hiện đại Việt Nam trước và sau 1975 Hy vọng đây sẽ là tài liệutham khảo hữu ích cho những bạn đọc yêu thơ Hữu Thỉnh, cho việc giảng dạyvăn thơ Hữu Thỉnh nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Năm 1975, tập thơ Âm vang chiến hào (in chung với Lâm Huy Nhuận)

ra đời Ngay ở tập thơ đầu tay, Hữu Thỉnh đã thể hiện một phong cách, mộtgiọng điệu riêng Trải qua thời gian, thơ ông ngày càng chiếm được cảm tìnhcủa người đọc và thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình

Số lượng các công trình, bài viết về sự nghiệp sáng tác của Hữu Thỉnhkhá phong phú Có những bài viết đánh giá, phân tích từng tác phẩm cụ thể,

có những đánh giá chung về sự nghiệp, phong cách thơ Hữu Thỉnh; nhìn

Trang 13

chung đều đi vào giải mã tác phẩm và khẳng định phong cách nghệ thuật độcđáo của nhà thơ.

Trang 14

Những bài viết đánh giá về các tập thơ

1 Đọc tập thơ “Thư mùa đông” Trần Mạnh Hảo nhận thấy, thơ Hữu

Thỉnh cô đọng, hàm súc, giàu chất trí tuệ, mang màu sắc thơ cổ điển phương

Đông “ý tại ngôn ngoại”, thiên về cảm nhận, do đó “khả năng dồn nén tư tưởng, cảm xúc, dồn nén chữ nghĩa” [21, 103] Bài viết của tác giả đã chỉ ra nét

tiêu biểu của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh, tuy nhiên tác giả chưa phân tích, lí giảicặn kẽ đặc điểm ấy được biểu hiện như thế nào, trên những phương diện gì?

2 Một trong những người đầu tiên nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh phải kể

đến là Thiếu Mai Với bài viết “Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố”, Thiếu Mai đã chỉ ra nét đặc sắc trong trường ca Hữu Thỉnh: Dường như “thấp thoáng đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp của ca dao, nhưng rõ ràng thơ anh không rập khuân theo ca dao, không bị ca dao lấn át” Nhìn chung tác giả đã nhận ra được chất dân gian trong trường ca “Đường tới thành phố”,

tuy nhiên tác giả chưa phân tích sâu sắc, cặn kẽ những đặc điểm ấy [42]

3 Cùng hướng tiếp cận trên, Mai Hương đã lí giải, phân tích, chứng minh sự thành công của Hữu Thỉnh khi vận dụng vốn văn học dân gian: “Hữu Thỉnh có khả năng vận dụng thông minh, sáng tạo vốn văn học dân gian Cách nghĩ và cách nói bằng hình ảnh của quần chúng được anh tiếp nhận tự nhiên và thành công” [27, 112] Đây là đóng góp và cũng là thành công của Hữu Thỉnh.

Bài viết đã có những kiến giải khoa học, xác thực, rõ ràng trong việc chỉ ra dấu

ấn của ca dao trong trường ca “Đường tới thành phố”.

4 Cùng hướng tiếp cận thơ Hữu Thỉnh như tác giả thiếu Mai và Mai

Hương, khi đọc “Trường ca biển” Hữu Đạt cho rằng “Thơ Hữu Thỉnh có nhiều cái mới mà không xa cái truyền thống, thậm chí có khi tái tạo lại cái đó

có từ trong truyền thống mà vẫn có dấu hiệu riêng về phong cách của mình”

[12, 163] Tác giả thấy được trường ca này là một sáng tạo về hình tượng và

Trang 15

ngôn ngữ thơ ca Bài viết đã bước đầu chỉ ra những cách tân nghệ thuật trên

cơ sở truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh

Trang 16

5 Ngoài ra còn có bài viết “Dài rộng với thời gian” của Đặng Hiển với những nhận định khá xác đáng về đặc điểm, nội dung tập thơ “kết hợp nhuần nhuyễn tính trữ tình và triết lí” Đặc biệt tác giả đi sâu khai thác đặc

sắc nghệ thuật tập thơ, đó là sự kết hợp tính dân tộc với tính hiện đại từ ngôn

ngữ tới hình ảnh, trong đó “sử dụng rộng rãi một cách sáng tạo các biện pháp tu từ, nhân hóa, ẩn dụ, chuyển đổi cảm giác” [26, 16] Nó khẳng định

phong cách thơ Hữu Thỉnh một cách độc đáo trong nền thơ ca Việt Namđương đại

Những bài viết nhận xét, đánh giá chung về nhà thơ Hữu Thỉnh

1 Lưu Khánh Thơ trong bài viết “Hữu Thỉnh – một phong cách thơ

sáng tạo” Sau khi khảo sát từ tập thơ “Âm vang chiến hào”, trường ca “Sức bền của đất”, “Những người đi tới biển” đã nhận định: Thơ ông có “giọng điệu tươi mát, hồn nhiên, tinh tế” Tác giả đã phát hiện ra ảnh hưởng của chất

liệu văn hóa dân gian đến thơ Hữu Thỉnh, cùng những tìm tòi, sáng tạo của

nhà thơ: “Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở những cách nói, cách ví von, so sánh, mà còn ở cách tư duy, liên tưởng độc đáo, ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết đó là nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có những câu thơ đa nghĩa, có tính hàm ẩn cao, mới lạ trong cách diễn đạt, bất ngờ trong cảm xúc” [59, 410] Cuối cùng tác giả rút ra kết luận khá xác đáng về phong cách thơ Hữu Thỉnh: “Đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về phía rợp mát Cái trầm lắng yêu thương lấn át cái ồn ào sôi sục” [59, 421].

2 Trong cuốn Thơ Việt Nam hiện đại PGS.TS Lưu Khánh Thơ đã cho

rằng: một trong những đặc điểm nổi bật trong các sáng tác của Hữu Thỉnh nói

chung và trường ca nói riêng là mang đậm màu sắc dân gian “Trong làng thơ, anh nổi tiếng là người mê và thuộc nhiều ca dao tục ngữ Hữu Thỉnh có thể nói chuyện say sưa suốt ngày về ca dao Anh phân tích thấu đáo, cặn kẽ,

Trang 17

hiểu biết từng cái hay, cái đẹp của những câu ca dao như một người chuyên

Trang 18

nghiên cứu văn học dân gian Vốn kiến thức phong phú này đã làm Hữu Thỉnh thêm giàu có, tạo thuận lợi cho những tìm tòi sáng tạo của thơ anh Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở cách nói, cách

ví von, so sánh mà còn ở cách tư duy, cách liên tưởng độc đáo, ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết” [35, 411].

3 Nguyễn Đăng Điệp đã nhận thấy một số sự thay đổi trong cấu trúc

thơ, dòng thơ, tứ thơ của Hữu Thỉnh để tạo nên sự mới mẻ trong thơ: “Mô hình câu thơ, sự vật hiện tượng đem ra để so sánh thường nhỏ bé, tương quan

sự xuất hiện của những con số, tứ nằm ngay trong đơn vị câu”, giọng điệu thì trầm lắng suy tư và cuối cùng tác giả nhận xét “Xuất phát từ nền móng văn học dân gian nhưng đã xử lí chất liệu truyền thống bằng cái nhìn hiện đại nhằm tạo nên những đột phá về thi pháp thể loại” [15, 226].

4 Từ góc độ thi pháp, Trúc Thông đã phân biệt cái tôi trữ tình trong

thơ Hữu Thỉnh với ba biểu hiện: “Người lính cách mạng mà tình yêu nước rất

cụ thể trong tình yêu thương rất mực quê hương, đồng đất; người bảo toàn và đấu tranh phát triển nhân cách và nhà thơ của một thế hệ” Song nhìn vào toàn bộ sáng tác thơ Hữu Thỉnh ta thấy “ba nhân vật trữ tình ấy trộn hòa, xoắn bện, hiển hiện chỉ trong duy nhất một con người – nhà thơ, người lính Hữu Thỉnh” Tác giả đã phát hiện và nhận định “chất liệu văn hóa dân gian ngàn năm đã thấm dưỡng linh hồn những câu thơ, chữ thơ Những mảng dữ dội của đời sống thật, sự khỏe khoắn của thể trạng tâm hồn con người tham gia trực tiếp vào đời sống ấy đã bồi đắp nên chất hiện đại cho những dòng thơ mềm mại Giữ vững và làm tươi mới hơn câu thơ Việt trong cuộc vật mình đổi mới ngôn ngữ thơ đang dần dà mà quyết liệt diễn ra trong toàn bộ nền thơ ta, đó là đóng góp đáng trân trọng của thế hệ nhà thơ chống Mỹ mà Hữu Thỉnh là một trong số đại biểu xứng đáng nhất” [68].

Trang 19

5 Xuất phát từ đặc trưng thể loại, sau khi khảo sát các tập thơ Tiếng

hát trong rừng, Thư mùa đông, trường ca Đường tới thành phố, Trường ca biển, Lý Hoài Thu tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh và chỉ ra tư duy thơ đích thực của ông: “Một trong những tiềm năng thơ Hữu Thỉnh là sự nhạy cảm trực giác dĩ nhiên là không thể bắt bằng sự quan sát của thị giác, sự lắng nghe âm thanh của thính giác nhưng nhiều khi chúng bị đẩy lại và thay thế bằng cảm giác” [69, 45] Bằng cái nhìn khái quát, tác giả nhận thấy “Thơ Hữu Thỉnh giàu sức mạnh nội lực gắn bó máu thịt với đời sống tâm linh và truyền thống thơ ca dân tộc Việt Vam Thơ anh

có sự kết hợp phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lí và độ cảm xúc tràn trào, giữa sự hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khả năng viết những tác phẩm trường ca dài và thơ trữ tình ngắn” [69].

Nhìn chung những bài viết chỉ khái quát những nét chính trong thơ HữuThỉnh hoặc mới tập trung vào một số khía cạnh nổi bật trong các tác phẩm cụthể Bởi vậy rất cần có những công trình nghiên cứu một cách toàn diện, hệthống về trường ca Hữu Thỉnh Tuy vậy những ý kiến nhận xét, đánh giá củanhững người nghiên cứu đi trước là những định hướng và gợi mở vô cùng quýgiá cho chúng tôi khi thực hiện đề tài của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ở cả hai chặng đường sáng tác trước và sau 1975 Hữu Thỉnh đều có

những đóng góp đáng kể cho nền thơ hiện đại Bên cạnh những tập thơ: Tiếng

hát trong rừng, Thư mùa đông, Thương lượng với thời gian; Hữu Thỉnh

còn có những bản trường ca: Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Trường

ca Biển….

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các bản trường ca

Trang 20

nhưng cũng khảo sát cả các tập thơ của tác giả :

Trang 21

Âm vang chiến hào, Nxb Quân đội nhân dân, H.,1975.

Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội nhà văn, H., 1998.

Thơ với tuổi thơ, Nxb Kim Đồng, H., 2000.

Thương lượng với thời gian, Nxb Hội nhà văn, H., 2006.

Bên cạnh đó luận văn còn tìm hiểu sáng tác ở các thể loại khác của Hữu

Thỉnh để hiểu rõ hơn hành trình sáng tạo của tác giả.

Ngoài ra chúng tôi còn mở rộng phạm vi khảo sát và tham khảo các tập thơ,trường ca của thế hệ các nhà thơ chống Mĩ để đối sánh, tìm ra những néttương đồng và khác biệt trong trường ca Hữu Thỉnh

4 Đóng góp của luận văn

Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu trường ca Hữu Thỉnh, luận văn chỉ ra

những đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong Trường ca của ông.

Qua đó nhằm khẳng định những đóng góp nổi bật về mặt thể loại trường cacho thơ ca Việt Nam hiện đại của tác giả Luận văn còn là tài liệu tham khảohữu ích cho những độc giả quan tâm, yêu thích thơ Hữu Thỉnh nói riêng vàcho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích - tổng hợp

- Đối chiếu - so sánh

- Thống kê – phân loại

- Thi pháp học

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu tạo thành ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về thể loại trường ca và quá trình

Trang 22

sáng tác của Hữu Thỉnh

Chương 2: Thế giới hình tượng trong trường ca Hữu Thỉnh Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật trong trường ca Hữu Thỉnh

Trang 23

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI TRƯỜNG CA

VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỮU THỈNH Những tiền đề lý luận

Khái niệm trường ca

Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ và trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả” [44] Như vậy trường ca một thời dùng để chỉ các sử thi dân

gian như sử thi Đam San, nay thường dùng để chỉ các sáng tác thơ dài của các

tác giả như “Bài ca chim Chơ Rao” của Thu Bồn, “Đường tới thành phố”

của Hữu Thỉnh

Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng “Trường ca có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình Chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sử thi và truyện kể hoặc bằng nới rộng một vài truyền thuyết dân gian (Ahoyler) hoặc bằng cách cải biên các cốt truyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian Trường ca với tư cách một thể loại tổng hợp, trữ tình – tự sự, hoành tráng cho phép kết hợp những chấn động lớn, những cảm xúc trầm sâu và những quan niệm về lịch sử vẫn là một thể loại hiệu năng của thơ ca thế giới” [4].

Như vậy, khái niệm trường ca có nguồn gốc từ văn học phương Tây

“trường ca là thuật ngữ văn học dịch từ chữ pòeme của Liên Xô” [25], đã bắt

đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX, dùng để gọi tênnhững sáng tác dân gian có tính chất sử thi và có độ dài như Đam San, Xinh

Trang 24

Nhã Theo cách gọi này thì trường ca đồng nhất với sử thi, anh hùng ca(Iliats, Ôđixê, Ramyana, Mahabharata ) hoặc các khan của Tây Nguyên Tuy

Trang 25

nhiên trường ca hiện đại không thể là sự vận động tự nhiên của các trường catrong lịch sử như sử thi, anh hùng ca Mặc dù có những điểm giao thoa songtrường ca với tư cách là một thể lọai văn học độc lập luôn có những đặc trưngkhu biệt với sử thi, truyện thơ và thơ dài Điều dễ nhận thấy là trường ca và sử

thi đều là những tác phẩm có “tầm vóc” lớn lao cả về hình thức lẫn nội dung,

có sức ôm chứa những vấn đề trọng đại của dân tộc và thời đại Thế nhưngtrường ca trong văn học Việt Nam hiện đại có sự khác biệt nhất định so vớitrường ca truyền thống (sử thi) Kế thừa các sử thi cổ, trường ca trong văn họchiện đại không chỉ ca ngợi những anh hùng kiệt xuất, đứng đầu và là đại diệncho khí phách, tâm hồn, sức mạnh của một bộ tộc, dân tộc cụ thể, mà còn thểhiện chân dung, tầm vóc của dân tộc ấy trong chiều dài của lịch sử, chiều rộngcủa không gian, dưới ánh sáng của một hệ quy chiếu mang tính thời sự, thờiđại và nhân loại

Vì vậy, muốn chỉ ra đặc thù của trường ca cần phải gắn liền với bốicảnh thời đại và bối cảnh văn học mà nó ra đời Trường ca hiện đại Việt Nam

ra đời và phát triển trên nền hiện thực sôi động của các cuộc kháng chiến chốngPháp, Mỹ và công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh Có thể thấy rõrằng, sự nghiệp cách mạng Việt Nam phát triển theo xu hướng ngày càng dữdội, quyết liệt (trong chống giặc ngoại xâm) và ngày càng đổi mới (trong cuộcđấu tranh chống cái lạc hậu, cũ kĩ để xây dựng đất nước theo xu hướng hiệnđại, tiếp cận các nước trong khu vực và trên thế giới) Đây là tiền đề xã hội

thúc đẩy sự phát triển của văn học nói chung và cả trường ca nói riêng: “Thời đại chúng ta là thời đại của các bản trường ca Thực tiễn cách mạng trên đất nước ta là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho ai muốn viết trường ca” [30].

Trong các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi nhận thấy

quan niệm về trường ca của tác giả Đào Thị Bình (“Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX” – LATS, 2008) là khá xác đáng:

Trang 26

“Trường ca thường là các tác phẩm trữ tình có dung lượng lớn hoặc vừa, có khả năng tổng hợp và phát huy những ưu thế nổi trội của cả ba loại

Trang 27

hình: trữ tình, tự sự và kịch Với kiểu kết cấu và phát triển theo hướng đan xen nhiều kiểu kết cấu hoặc kết cấu phức hợp, trường ca có thể bao quát và miêu tả những mảng hiện thực lớn ở cả bề rộng lẫn chiều sâu Ngôn ngữ, giọng điệu phong phú, đa dạng, giàu chất trí tuệ, vừa mang âm hưởng hào hùng của sử thi vừa thấm đẫm hơi thở của cuộc sống” [7].

Một số ý kiến về trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại

Trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại ra đời từ yêu cầu của hiệnthực cuộc sống dân tộc, từ khát vọng của một lớp thế hệ nhà văn muốn ghi lạithời đại hào hùng trong lịch sử Hàng trăm trường ca viết về cuộc kháng chiếnchống Mỹ ra mắt bạn đọc thu hút sự quan tâm của giới sáng tác và phê bìnhvăn học Trong một thời gian dài từ 1980, 1981, 1982 nhiều cuộc hội thảo

về trường ca diễn ra sôi nổi Tạp chí Văn nghệ quân đội và tạp chí Văn học làhai diễn đàn để các nhà nghiên cứu trao đổi về vấn đề này Đã có nhiều bàiviết công phu được đăng tải ở đây Nhìn chung, những người quan tâm đều cốgắng đi sâu vào thực tiễn thể loại để tìm ra những nét đặc thù của trường cahiện đại Về cơ bản các bài viết thường đi theo hai hướng: Thứ nhất là đi tìmđịnh nghĩa, thứ hai là cố gắng tìm ra các đặc điểm thể loại hoặc nói về mộtđặc điểm nào đó

Về vấn đề định nghĩa trường ca có rất nhiều ý kiến khác nhau Có thểlược qua những bài viết tiêu biểu như: Nhiều tác giả nêu ra vấn đề tên gọi

trường ca nhưng cuối cùng đều thừa nhận như một thực tế và xem “mỗi tác phẩm là một cách định nghĩa của tác giả về chính thể loại đó” [64] (Hữu Thỉnh); Tác giả Từ Sơn lại cho rằng “các tác phẩm dài hơi nên gọi là truyện thơ” Về khái niệm “Trường ca” Lại Nguyên Ân lại cho rằng “trường ca là

Trang 28

một hiện tượng giao thoa giữa tự sự và trữ tình” [2] (Bàn góp về trường ca) Tác giả Đỗ Văn Khang lại khẳng định “trường ca trong văn học Việt Nam

Trang 29

hiện đại chỉ có ý nghĩa mỹ học đầy đủ khi có tên gọi là trường ca sử thi hiện đại” [29] (Từ ý kiến về trường ca sử thi của Hêghen đến trường ca hiện đại ở

ta) Như vậy các ý kiến trên đã phần nào làm sáng rõ hơn về định nghĩatrường ca nói chung và trường ca hiện đại nói riêng Trong các ý kiến về địnhnghĩa trường ca, chúng tôi tâm đắc với ý kiến của Đỗ Văn Khang khi ông cho

rằng “trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại chỉ có ý nghĩa mỹ học đầy đủ khi có tên gọi là trường ca sử thi hiện đại” [29] Đây là ý kiến xác

đáng về trường ca hiện đại Bởi trường ca hiện đại ra đời trong hoàn cảnh đấtnước có những biến cố dữ dội Dân tộc ta đã có những trang sử đau thương

mà vô cùng anh dũng, không thể coi là nhỏ bé, vụn vặt bởi lẽ nó đã vượt

ra khỏi phạm vi một dân tộc, nó là những chiến công mà cha ông ta và nhân

dân ta đãgây dựng

Về đặc trưng thể loại, có nhiều bài viết đã nghiên cứu một cách khácông phu Các tác giả thường dựa vào sự so sánh giữa trường ca với thơ dài,trường ca với truyện thơ để nói lên đặc trưng của thể loại như: Trần NgọcVương, Mã Giang Lân, Vũ Đức Phúc, Mai Bá Ấn Trong các bài viết nàyđáng chú ý nhất là ý kiến của tác giả Mai Bá Ấn Theo tác giả giữa trường ca

và thơ dài cũng cần có sự khu biệt để nhận thức đầy đủ đặc trưng của từng thể

loại Xu hướng “trường ca hóa” các tác phẩm thơ dài sẽ hạ thấp vai trò của

trường ca, xóa nhòa những yếu tố đặc trưng phân biệt nó với các thể loạikhác Bởi thơ dài thực chất là thơ trữ tình mở rộng phạm vi phản ánh hiện

thực bằng cách tăng cường yếu tố tự sự - “Thơ dài là thơ trữ tình nới rộng trường độ mà thôi” [5] Vì thế dù có cố gắng thế nào thì “độ dướn” của một

bài thơ, dù là thơ dài cũng chỉ là sự phát triển của những mạch lẻ cảm xúc

Còn trường ca không phải là thơ trữ tình mà coi thơ trữ tình là “một bộ phận

Trang 30

con” trong chỉnh thể tác phẩm trường ca Cảm xúc trong trường ca phải được

ủ men và bốc lửa qua từng đoạn, từng chương nối tiếp nhau trong một thời

Trang 31

gian dài với nội dung phản ánh đa diện, với một trí tưởng tượng đa chiều và

một trí tuệ đủ tầm văn hóa, lịch sử xuyên suốt trong quá trình sáng tạo Bên

cạnh đó một số tác giả đi từ sự vận động của các thể loại được gọi là trường cahoặc từ những lí thuyết về thể loại của nước ngoài để xem xét trường ca hiệnđại như các tác giả : Phạm Huy Thông, Đỗ Văn Khang, Hoàng Ngọc Hiến

Ngoài các bài viết được đăng tải trên báo chí, trong một số công trìnhnghiên cứu cũng xuất hiện một số bài viết về trường ca Sớm nhất, có lẽ là bàiviết của Lại Nguyên Ân, đầu tiên được đăng trên báo, sau được tập hợp trong

cuốn Văn học và phê bình Trong đó, bài viết “Mấy suy nghĩ về trường ca”

được viết trước 30 tháng 4 năm 1975 là bài viết công phu; ngoài việc ghi nhậnnhững thử nghiệm về trường ca, tác giả đã phân biệt rõ trường ca với các thểtài khác, nêu lên những đặc trưng cốt yếu của trường ca, các hình thức trường

ca được viết trong thời gian đó Bài viết “Thể trường ca trong thơ gần đây”

được Lại Nguyên Ân viết năm 1982 Trong đó, ông xem trường ca như một

thể tài và cẩn trọng cho rằng “trong phạm vi thơ hiện đại ở ta, có lẽ vẫn còn

đủ thận trọng để coi trường ca như là một thể tài đang hình thành và phát triển, với xu hướng chung là đưa yếu tố suy nghĩ trữ tình thành yếu tố chủ đạo của tác phẩm trường ca” Có thể nói rằng, với cuốn “Văn học và phê bình”, Lại Nguyên Ân đã dành mối quan tâm lớn nhất cho thể loại trường ca.

Những nhận xét đưa ra tuy vẫn dè dặt nhưng lại vô cùng quan trọng đối vớiphê bình và sáng tác văn học thời điểm ấy

Sau này, khi Vũ Văn Sỹ đề cập đến trường ca, ông đặc biệt chú ý đến

vai trò của thể loại trong hệ thống thơ Việt Nam hiện đại Trong bài Trường

ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại tác giả đã luận giải một cách

hợp lí về sự phát triển của thể loại này Đặc biệt, năm 1999 Hoàng Ngọc Hiến

Trang 32

đã xuất bản giáo trình Năm bài giảng về thể loại và một trong số những vấn

đề được ông đưa ra là “Mấy vấn đề đặc trưng thể loại và thi pháp của trường

Trang 33

ca” Đây là lần đầu tiên thể loại trường ca mới ở Việt Nam được đưa vào giáo

trình Có thể nói Hoàng Ngọc Hiến là người dành nhiều tâm sức cho việcnghiên cứu trường ca Từ các bản dịch, các bài giới thiệu về trường ca củaMaicôpxki, các lí thuyết về thể loại của Nga, ông đã khái quát nên những đặc

điểm cơ bản của trường ca hiện đại như: nội dung lớn, cảm hứng lớn, mối tương quan giữa tự sự và trữ tình Có thể nhận thấy đây là công trình công

phu, kết hợp chặt chẽ lí thuyết và thực tiễn với cách trình bày mang tính môphạm, tuy ngay trong cách đặt tên quyển sách đã ít nhiều mang tính nội bộ

Về những nghiên cứu mang tính trường qui, chúng tôi thấy trường ca ítnhiều đã được quan tâm, tuy số lượng các công trình vẫn còn ít và chủ yếu là

đề cập đến một vài khía cạnh, một vài tác giả viết trường ca Từ luận văn thạc

sĩ trở lên, có thể kể đến một số công trình như: Chất sử thi trong trường ca hiện đại 1954 – 1985 của Lê Thị Hồng Liên (Luận văn thạc sĩ Đại học sư phạm Huế - 2001); Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến đầu thế kỉ XXI của Đào Thị Bình (Luận án tiến sĩ, 2008); Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo của Mai Bá Ấn (Luận án tiến sĩ, 2008).

Những công trình này tuy không nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ thi phápthể loại nhưng đều là những tài liệu bổ ích cho người nghiên cứu và ngườiviết trường ca Đặc biệt qua đây cũng thấy được, hiện nay trường ca đang làvấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, để ý

Gần đây, nghiên cứu trường ca dường như lại trở nên sôi nổi với các

cuộc tọa đàm: về Trường ca Trầm tích (Hoàng Trần Cương) năm 2002, hai

cuộc tọa đàm về trường ca của Trần Anh Thái; với vô số các bài viết trênmạng Internet; với sự hồi phục của một số tác phẩm được khai sinh bởi nhữngtên tuổi lớn một thời bị lãng quên như trường ca của Trần Dần, Văn Cao và

sự ra đời của một số dạng trường ca mới Điều đó cho thấy thể loại này ở Việt

Trang 34

Nam vẫn tiềm tàng một lực hấp dẫn lâu bền.

Trang 35

.Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại

Trước 1945 – những tiền đề và sự hình thành thể loại.

Có thể nói, trước 1945, dạng trường ca hiện đại hầu như chưa có Tuynhiên những tiền đề để hình thành nó thì đã tiềm tàng từ xa xưa, trong sâuthẳm hoài vọng của dân tộc Có thể do hạn chế về thời đại, đặc biệt về mặt tưduy, mà tầm vóc vĩ đại của trường ca chưa được khẳng định, chưa được khởisắc Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có hai tiền đềchính cho sự hình thành của trường ca hiện đại

Trạng thái chống chiến tranh liên miên – tiền đề đầu tiên cho sự ra đời của trường ca Việt Nam là mảnh đất đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lúa

nước Cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng hay nhiều thiết chế văn hóa saunày dĩ nhiên đều không thể tách rời yếu tố gốc rễ ấy Có lẽ, cũng từ cội nguồnnày mà trạng thái xã hội truyền thống Việt Nam đa phần là bình lặng Nhịp độsống trong truyền thống của người Việt là chậm rãi, là đủng đỉnh, ngại ngùngtrước những đổi thay Điều này đã được thể hiện rất rõ trong văn thơ trungđại Đó là những bài thơ tĩnh lặng trong đêm mưa của Nguyễn Trãi, hay giống

như “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” của Nguyễn Khuyến Cũng bởi lẽ bản

chất con người là yên phận, ít tham vọng bá vương và qui phục Cũng bởi lẽ,những đổi thay trong xã hội đa phần làm người ta sợ hãi, vì những bất thườngtrong xã hội ấy đều gắn liền với chiến tranh, mà có lẽ ba điều người ta sợ nhất

là ốm đau, đói nghèo và chiến tranh; trong đó chiến tranh vẫn khủng khiếphơn cả vì nó là bất thường nhất, và nó là tai họa của toàn xã hội, toàn dân tộcchứ không riêng một gia đình nào Đương nhiên, một trạng thái xã hội bìnhlặng thì khó sinh ra trường ca

Song không phải sống điềm đạm trung dung thì không có sức mạnh

cộng đồng Bởi cái “đạm” trong phong cách người châu Á nói chung và

Trang 36

người Việt nói riêng khi được đánh thức cũng đầy uy lực Người Việt lúc bình

Trang 37

thường ngại va chạm nhưng khi có tai biến thì biết gồng mình và dám hy sinh.Cuộc sống thiên về tập thể tạo cho họ có tình yêu quê hương đất nước nồngnàn Điều này luôn là những tiền đề cho những bản trường ca Có thể nóichiến tranh chính là lúc ý thức cộng đồng của người Việt được thức tỉnh mạnh

mẽ nhất, và trạng thái chống chiến tranh liên miên cũng tạo cho người ta tâmthế hướng đến bảo vệ đời sống cộng đồng, bảo vệ lãnh thổ dân tộc Chỉ tính

sơ bộ, từ cuộc kháng chiến chống Tần (Thế kỉ III Tr.CN) đến cuộc chiến tranhchống xâm lược từ hai đầu biên giới (1979) Dân tộc ta đã trải qua 20 cuộcchiến tranh bảo vệ Tổ quốc, cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiếntranh giải phóng Có thể nói hơn 20 thế kỉ vừa qua, hầu như thế kỉ nào ngườiViệt cũng phải chống giặc ngoại xâm Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâmđều là bất khả kháng, cần thiết phải xẩy ra (bởi Việt Nam là nước nhỏ, thường

bị nước khác kéo quân sang xâm lấn, cho nên đó là hình thức tự vệ cần thiết)

Và vì thế chiến tranh Việt Nam thường thể hiện lòng yêu nước của nhân dân

và là những cuộc chiến tranh chính nghĩa Như Hêghen đã phân tích, “không

có nghĩa là mọi cuộc chiến tranh bình thường giữa hai dân tộc đối địch nhau đều là sự kiện sử thi Cuộc chiến tranh còn phải diễn ra nhân danh một đòi hỏi có tính toàn nhân loại và có tính lịch sử ” [24, 597] Có thể nói, chính ý

nghĩa của cuộc chiến tranh mới làm nên giá trị của nó Điều này, ngoài ýnghĩa chính trị và xã hội, nó sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa, tớitâm thức cộng đồng, tới lòng tự hào dân tộc Với dạng trường ca mang tínhchất sử thi nói riêng điều đó có ý nghĩa vô cùng quyết định, bởi không có tâmthức cộng đồng, không có lòng tự hào dân tộc thì mọi tiềm năng của thể loạiđều bị xóa bỏ

Trong các cuộc chiến ở Việt Nam, đặc biệt là những cuộc chiến chốnglại giặc ngoại xâm, dù dưới chế độ nào, đều có sự tham gia tích cực của nhân

Trang 38

dân Trước Nguyễn Trãi, hình ảnh nhân dân và vai trò của nhân dân ít được

Trang 39

nhắc đến trong văn học, trong quan niệm phong kiến họ vẫn là dân đen, con

đỏ, nhưng với lòng yêu nước, trong các cuộc kháng chiến, họ đều tự nguyệndốc hết sức mình Không thể có chiến thắng nếu vắng bóng dáng họ Nhândân là lực lượng đại diện cho sức mạnh cộng đồng, vì thế cũng mang đậm tâmthức, ý thức cộng đồng Các thể loại văn học mang tính chất sử thi luôn lấy đólàm tiền đề, làm cơ sở

Với một lịch sử như thế, đương nhiên, chủ nghĩa yêu nước là truyềnthống lớn nhất trong văn học Việt Nam Và âm hưởng anh hùng ca trong sửthi có dấu ấn trong toàn bộ nền văn học chống chiến tranh ở Việt Nam, từ vănhọc trung đại đến hiện đại Quả thật cha ông ta từ xưa đã không ngừng xâylên những Đại tự sự Từ các truyền thuyết như Thánh Gióng, Nỏ thần đếnhào khí Đông A, văn thơ thế kỉ XIX, văn thơ cách mạng hiện đại tất cả đềuxoay quanh sự sống còn của dân tộc Trường ca hiện đại đã nối tiếp mạch tự

sự ấy và lấy đó như là linh hồn của mình Như vậy, trạng thái chống chiếntranh liên miên vừa là tiền đề xã hội, vừa là tiền đề nội dung của trường ca

Thơ trường thiên – tiền đề của tư duy về hình thức của trường ca hiện đại Các thể loại thường có sự kế thừa lẫn nhau giữa, nhất thiết phải hồi đáp

những thể loại khác cũng như với những điều kiện xã hội khuôn đúc lênchúng Điều đó có nghĩa là, các thể loại như là sự liên thông và diễn giải lẫnnhau, và như vậy, chắc chắn trường ca cũng là sự hồi đáp của một tư duy vềthể loại đã có trong lịch sử Do dung lượng hạn chế của luận văn cho nên tìmhiểu mối quan hệ và tương quan giữa trường ca hiện đại và các thể thơ trườngthiên trước đây sẽ được chúng tôi phân tích ngắn gọn trên cứ liệu ba thể loạitiêu biểu thuộc dòng văn học viết: diễn ca lịch sử, truyện nôm và ngâm khúc

Trước tiên xin được bàn về diễn ca lịch sử Diễn ca lịch sử là những tácphẩm thơ Nôm trường thiên, mà phần lớn nội dung đều dựa vào quốc sử cùng

Trang 40

với truyền thuyết dân gian Thể lục bát và song thất lục bát là hai thể thơ quen

Ngày đăng: 31/08/2016, 08:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristot (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristot
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (1984), “Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca”, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca”", Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1984
3. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Lại Nguyên Ân (1988), 150 thuật ngữ, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1988
5. Mai Bá Ấn (2009), Đặc trưng trường ca Thu Bồn – Nguyễn Khoa Điềm – Thanh Thảo, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng trường ca Thu Bồn – Nguyễn Khoa Điềm – Thanh Thảo
Tác giả: Mai Bá Ấn
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2009
6. Đào Thị Bình (1999), Trường ca của các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ, Luận văn thạc sĩ, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca của các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ
Tác giả: Đào Thị Bình
Năm: 1999
7. Đào Thị Bình (2008), Thể trường ca trong Văn học Việt Nam từ 1945 – cuối TK XX, LATS, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể trường ca trong Văn học Việt Nam từ 1945 – cuối TK XX
Tác giả: Đào Thị Bình
Năm: 2008
8. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
9. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề về văn học so sánh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
10. Phạm Tiến Duật (1981), “Nhân bàn về trường ca, đôi điều nghĩ về hình thức”, Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân bàn về trường ca, đôi điều nghĩ về hình thức”", Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1981
11. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ loại hình), LATS Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (Nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
12. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
13. Hoàng Điệp (2008), “Hữu Thỉnh với thể loại trường ca”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh với thể loại trường ca”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Hoàng Điệp
Năm: 2008
14. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
15. Nguyễn Đăng Điệp (2003), “Hữu Thỉnh và quá trình đổi mới thơ ca”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình đổi mới thơ ca”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2003
16. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn Cách mạng và sáng tạo thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn Cách mạng và sáng tạo thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1977
17. Hà Minh Đức (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
18. Hà Minh Đức (2004), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
19. Hà Minh Đức (2001), Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
20. Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên, (Đồng chủ biên 2006), Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại, Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam– hình thức và thể loại
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w