Thơ chống Mỹ thực sự là vũ khí tinh thần có sức mạnh to lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước, ý chí chiến đấu, niềm tin vào thắng lợi của mỗi người dân nước Việt. Thơ nhanh chóng nhập cuộc vào cuộc kháng chiến, có mặt ở vị trí chiến đấu của mình và thực hiện sứ mệnh cao cả trên mặt trận văn nghệ, là một vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Thơ trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của mọi người, của toàn dân tộc. Qua đó, hiện thực đời sống chiến trường được tái hiện với tính chất ác liệt, dữ dội, với những gian khổ, hi sinh của cuộc kháng chiến. Trên khung cảnh ấy, nổi bật hình ảnh của những người lính trẻ dũng cảm, lạc quan.
Trang 1Mã số: 60 22 01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học:
TS.LÊ THỊ HỒ QUANG
THANH HOÁ, THÁNG 10/2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn: “Tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh”, tôi xinchân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô giáo khoa Ngữ văn, phòng Sau đạihọc trường Đại học Hồng Đức cùng đơn vị công tác, bạn bè đồng nghiệp,người thân đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gianhọc tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới TS
Lê Thị Hồ Quang, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quátrình làm luận văn
Tuy đã cố gắng rất nhiều, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ýkiến từ phía các nhà khoa học, quý thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Trang 3NHÀ THƠ HỮU THỈNH
Trang 4QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Nxb: Nhà xuất bản
TP: Thành phố
Tr: Trang
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang
đứng sau Ví dụ: [57, 14] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu
tham khảo là 57, nhận định trích dẫn nằm ở trang 14 của tài liệu này.
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và văn bản khảo sát 6
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: HỮU THỈNH TRONG THẾ HỆ NHÀ THƠ CHỐNG MỸ 8
1.1 Khái lược đặc điểm của thế hệ nhà thơ chống Mỹ 8
1.1.1 Hoàn cảnh sống và cầm bút 8
1.1.2 Lứa tuổi, quan niệm sáng tạo 9
1.1.3 Những tác giả nổi bật 11
1.2 Hữu Thỉnh - một gương mặt xuất sắc của thế hệ thơ chống Mỹ .15
1.2.1 Cuộc đời, con người 15
1.2.2 Hành trình và thành tựu thơ Hữu Thỉnh 16
1.3 Cơ sở tạo nên tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh 18
1.3.1 Bối cảnh xã hội, thời đại 18
1.3.2 Tạng chất tâm hồn và cá tính sáng tạo của nhà thơ 20
Chương 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRIẾT LÝ TRONG THƠ HỮU THỈNH 22
2.1 Những vấn đề nhận thức, triết lý trong thơ Hữu Thỉnh 22
2.1.1 Về hoạt động sáng tạo thơ và vai trò người nghệ sỹ 22
2.1.2 Về chủ đề Chiến tranh, Đất nước, Nhân dân 28
2.1.3 Về chủ đề đời sống nhân sinh thế sự 35
Trang 62.1.4 Về chủ đề tình yêu 41
Trang 72.2.1 Cái tôi tự ý thức cao độ 47
2.2.2 Cái tôi luôn tìm kiếm ý nghĩa của đời sống 51
2.2.3 Cái tôi ưa phân tích, lý giải và khái quát hóa vấn đề 55
Chương 3 : NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÍNH TRIẾT LÝ TRONG THƠ HỮU THỈNH 59
3.1 Tính triết lý thể hiện qua ngôn ngữ 59
3.1.1 Sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ nhằm gia tăng tính triết lý 59
3.1.2 Gia tăng hình thức phân tích, lập luận trong ngôn ngữ, hình ảnh .72 3.1.3 Xây dựng những biểu tượng thơ giàu tính khái quát 75
3.2 Tính triết lý thể hiện qua cách tổ chức văn bản 80
3.2.1 Cách đặt nhan đề bài thơ 80
3.2.2 Cách mở đầu và kết thúc bài thơ 82
3.3 Tính triết lý thể hiện qua giọng điệu 84
3.3.1 Giọng suy ngẫm, ưu tư 84
3.3.2 Giọng khái quát, triết lý 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã sản sinh ra một thế hệ nhà thơ tài hoa:Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, LưuQuang Vũ, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, NguyễnDuy… Trong thế hệ ấy, dẫu không phải là người xuất hiện và gây được ấntượng sớm nhất, song bằng tài năng thực sự của mình, Hữu Thỉnh đã mạnh mẽkhẳng định được vị trí riêng trên thi đàn Với một tiếng thơ mới mẻ, có trường
độ cảm xúc mãnh liệt, có tính trí tuệ và tính khái quát cao, thơ Hữu Thỉnh đã đisâu vào những vấn đề trung tâm của một giai đoạn lịch sử đầy biến động Thơông vì thế không bị hoà lẫn hay nhoè mờ đi trong dàn đồng ca chung của thế hệ.Cho đến nay Hữu Thỉnh vẫn hiện diện như một cây bút tiêu biểu nhất của thế hệmình, một thế hệ nhà thơ bước ra từ chiến tranh, đã từng “làm thơ ghi lấy cuộcđời mình”, ghi lấy cả một thời hào hùng, bi tráng của dân tộc
1.2 Tài năng của Hữu Thỉnh được khẳng định bởi một loạt các giải thưởng
thơ Đó là giải ba cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ (1972 - 1973), với bài Mùa
xuân đi đón; giải A cuộc thi thơ trên báo Văn Nghệ với Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất (năm 1975-1976) Sau đó bốn năm (1980),
ông lại giành giải Nhất cuộc thi thơ của Hội nhà văn cho trường ca Đường tới
thành phố Năm 1991, với bài Thưa thầy, tác giả đạt giải Nhất cuộc thi thơ do
Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp và Trung ương Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh tổ chức Năm 1994, tập Trường ca biển đã mang lại cho ông giải thưởng xuất sắc của Bộ Quốc phòng Tiếp đó, phải kể đến tập thơ Thư mùa
đông, ông đã giành được vòng nguyệt quế Hồng Đức quang với giải A của Hội
Nhà văn Việt Nam năm 1995 và giải thơ ASEAN của Hoàng gia Thái Lan năm
Trang 91999 Những giải thưởng ấy đã ghi nhận sức sáng tạo và những đóng góp củahồn thơ Hữu Thỉnh trong nền thi ca hiện đại Việt Nam Tuy nhiên, điều quan trọnghơn mọi ánh hào quang của các cuộc thi là sức sống lâu bền của tác phẩm trong lòngngười đọc Trong những năm gần đây, thơ Hữu Thỉnh đã được đưa vào học trongchương trình Ngữ văn phổ thông, giới thiệu ra nước ngoài và được rất nhiều nhànghiên cứu phê bình văn học đánh giá, công bố trên các báo chuyên ngành, đượcđông đảo công chúng yêu thơ đón đọc và thẩm bình.
1.3 Một trong những đặc điểm nổi bật trong thơ Hữu Thỉnh là tính triết lí.Tìm hiểu tính triết lí trong thơ Hữu Thỉnh, vì vậy không những có thể giúp tahiểu sâu thêm về tài năng và cá tính sáng tạo của một nhà thơ xuất sắc mà còngợi mở nhiều vấn đề lí luận về xu hướng vận động của cái tôi trữ tình trong thơViệt Nam hiện đại Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề này chưa được giới nghiêncứu, phê bình đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề Tính triết lí
trong thơ Hữu Thỉnh làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Được biết đến lần đầu qua những vần thơ đăng ở báo Người giáo viên nhân
dân năm 1962, nhưng mãi đến khi đạt giải thưởng thơ của Hội nhà Văn năm
1979 với trường ca Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh mới thực sự thu hút được
sự quan tâm của bạn đọc và giới phê bình văn học Cho đến nay số lượng bàiviết về thơ Hữu Thỉnh đã lên tới con số hàng trăm Ở đây, chúng tôi sẽ điểm quanội dung cơ bản của một số bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ
đã bàn về tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh như sau: “Triết lý trong thơ HữuThỉnh nhiều khi xuất phát từ những chi tiết rất nhỏ nhoi bình dị và nó được nảysinh từ những suy ngẫm không ngừng về lẽ sống, về cách xử thế, về quan hệ
Trang 10người, về cái cao cả mong manh đang bị bủa vây bởi cái thấp hèn, hung bạo” [7,21].
Lý Hoài Thu, trong Một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện đại (Tạp chí Sông Hương, số 142, tháng 12/2010) đã khẳng định: “Thơ Hữu Thỉnh
có sự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và
độ xúc cảm tràn trào, giữa sự hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khảnăng viết những tác phẩm trường ca dài và thơ trữ tình ngắn ” [63, 51]
Trong Đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh (Tạp chí Hội Nhà văn Hải Phòng
7/11/2013), Anh Chi đánh giá về thơ Hữu Thỉnh: “Thơ ấy, tất có được những
xúc cảm lớn về Tổ quốc, về nhân dân, về biết bao người con đi suốt qua lửa máu
và hi sinh Thơ ấy, tất có được những suy tư về quê hương, đất nước, về tình yêu
và lẽ sống Thơ ấy viết về những giá trị lớn hơn cả thơ ca” [4, 21]
Thanh Thảo cũng chỉ ra được cái mạch ngầm thao túng hồn thơ Hữu Thỉnh
và âm thầm chảy suốt trong đời thơ ông: “Mỗi nhà thơ đi qua cuộc đời này theomột lối riêng, và trong khi hướng về phía trước những nhà thơ cũng hướng vềphía sau, về nơi từ đó mình ra đi Hữu Thỉnh đã không quên nhìn về cái làngnghèo, mái tranh nghèo nhà mình, đã không quên cái gốc gác nông dân củamình Và bây giờ, anh cũng không quên cái gốc lính của mình” [40, 32]
Trong chuyên luận Phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh của Nguyễn Thị
Thanh Trà, tác giả đã chỉ rõ được mối quan hệ giữa chiều sâu triết lý và độ cảmxúc tràn đầy trong thơ Hữu Thỉnh: “Là người có vốn tri thức văn hóa dồi dào,được nhào luyện trong thực tế nóng bỏng của cuộc chiến đấu, được bồi dưỡngsâu sắc về mặt lý tưởng, Hữu Thỉnh bước vào cuộc chiến vừa có cái trẻ trung,hồn nhiên của tuổi trẻ lại vừa có cái già dặn, sâu lắng, suy tư của thế hệ đi sau,được thừa hưởng phẩm chất cách mạng của thế hệ đi trước Điều này phần nào
đã tạo nên một mạch thơ giàu trải nghiệm trong nhiều sáng tác” Bên cạnh đó,
Trang 11tác giả cũng chỉ ra được những thay đổi tế vi về những biểu hiện chất triết lýtrong thơ Hữu Thỉnh: “Ở chặng sau chất triết lý trong thơ Hữu Thỉnh lại có sự thayđổi rõ rệt từ lối triết lý hóm hỉnh, bình dị hôm nào nay pha chút đắng đau, day dứt…chúng ta bắt gặp những suy tư, trầm lắng về thân phận con người” Và quan trọnghơn tác giả đã tựa vào sự thay đổi đó để làm đòn bẩy cho một nhận xét mang tínhkhái quát: “Thơ Hữu Thỉnh luôn ẩn chứa giá trị mang tính hướng nội thể hiện cáinhìn sâu lắng trước cuộc đời dâu bể Hữu Thỉnh luôn thành thật với chính mình đểtạo nên những vần thơ tinh khôi vẹn nguyên cảm xúc, toát lên một thứ triết lý giàu
mĩ cảm” [ 65, 50]
Ngoài chuyên luận nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Trà còn có những bàiviết khác đề cập tới chất triết lý trong các tập thơ cụ thể của Hữu Thỉnh
Thiếu Mai, khi đọc Đường tới thành phố, đã cho rằng: “Thành công chủ yếu
của Hữu Thỉnh cũng chính là thể hiện vừa sâu, vừa tinh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉchi li những tình cảm, những suy nghẫm của người chiến sỹ trong cuộc chiến đấuchống Mỹ Cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh… miêu tả trực diện những tổn thất
mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại vẫn thấy được
xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu… Hữu Thỉnh rất chú ý đến từng câu, chữ Anhkhông bằng lòng với lối nói sáo mòn” [30, 12]
Cũng đọc Đường tới thành phố, Hoàng Điệp cho rằng “Trường ca Sức bền
của đất đọng lại trong tâm trí của người đọc bởi những tâm sự, suy nghĩ, những
trải nghiệm sâu sắc của chính tác giả [6, 3]
Trịnh Thanh Sơn đưa ra những cách hiểu của mình về tập Thư mùa đông như sau: “Có thể nói, cả 36 bài thơ trong Thư mùa đông là sự tiếp nối của một
cô đơn dằng dặc”; “Thơ Hữu Thỉnh luôn tự dằn vặt và toàn những dấu hỏi Anhkhai thác tâm trạng bơ vơ ở nhiều cung bậc và nhiều khía cạnh có lúc làm ngườiđọc phải rưng rưng nghẹn ngào”; và “Đằng sau nỗi chán chường và ngờ vực ấy,
Trang 12ta nhận ra tấm lòng nhân hậu, đằm thắm yêu thương của người thi sĩ muốn níukéo để được sẻ chia, đôi khi mất bình tĩnh đến thành hốt hoảng” [36, 26].
Đọc Thương lượng với thời gian, Trần Đăng có những khám phá bổ ích qua bài viết Nghe Hữu Thỉnh thương lượng với thơ Tác giả cho rằng dòng chảy
xuyên suốt tập thơ không gì khác hơn “sự tiếc nuối thời gian đã mất, hay đúnghơn là sự tự ý thức về cái hữu hạn của chính mình” Qua tập thơ này, “HữuThỉnh gửi gắm cả một đời chiêm nghiệm của mình Ở đó có sự tắc nghẹn vớibao nỗi khổ tâm (…) Đó là quãng thời gian không phải sau chiến tranh, conngười vừa thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của đạn bom chết chóc nên ùa vỡ mừng vui,sống tử tế với nhau hơn, nhân hậu với nhau hơn, mà là quãng thời gian của mấymươi năm vật lộn với gian khó, trong đó có biết bao sự "phản thùng, thớ lợ",biết bao cặn lắng của những oan khuất
Cũng bàn về tập thơ ấy, Nguyễn Vũ Phượng Hoàng trong bài viết Gặp nhà
thơ trong tập thương lượng với thời gian đã có những kiến giải riêng hết sức
tinh tế: “Đối với nhà thơ Hữu Thỉnh, nhân loại và thời gian đang trở về trong thơhiện đại, không phải bằng con đường xưa của vĩnh cửu, mà là từ những giá trị vànhững dự cảm - cao thượng và đau khổ, kỳ vĩ và không hoàn hảo, đúng nhưnhân loại của thời mà chúng ta đang sống” Tập thơ đã “phác thảo một tình trạngđáng buồn của hiện thực, thay vì tiếng thét, Thương lượng với thời gian đã đónglên thập giá những miếng vá sống, với tinh thần và thanh điệu hiện đại” [20].Điểm lại những bài viết về thơ Hữu Thỉnh, có thể thấy chủ yếu là nhữngnhận xét đánh giá về một tập thơ hoặc một phương diện cụ thể nào đó trongsáng tác của ông Cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu,
khảo sát vấn đề Tính triết lí trong thơ Hữu Thỉnh.
Trang 133 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và văn bản khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh.
3.2 Là một phẩm chất nghệ thuật, tính triết lí thể hiện ở nhiều phương diệntrong thế giới nghệ thuật thơ Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn Thạc sĩ,chúng tôi giới hạn khảo sát ở hai phương diện cơ bản là tính triết lý nhìn trênphương diện nội dung (nhãn quan nghệ thuật, đề tài, chủ đề và hình tượng thơ)
và tính triết lý nhìn trên phương diện hình thức (ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu).3.3 Về văn bản khảo sát, chúng tôi tập trung vào các tác phẩm sau của tácgiả Hữu Thỉnh:
- Sức bền của đất (1977)
- Đường tới thành phố (1980)
- Thư mùa đông (1994)
- Trường ca biển (1994)
- Thương lượng với thời gian (2005)
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khảo sát, nghiên cứumột cách có hệ thống một phẩm chất nghệ thuật nổi bật trong thơ Hữu Thỉnh làtính triết lí
4.2 Với mục đích đó, luận văn hướng tới những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu vị trí của Hữu Thỉnh trong thế hệ nhà thơ chống Mỹ
- Tìm hiểu những vấn đề nhận thức và hình tượng triết lý trong thơ Hữu Thỉnh
- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi lựa chọn một số phươngpháp nghiên cứu như: khảo sát, thống kê, phân loại; cấu trúc, hệ thống; phântích, tổng hợp; so sánh đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình tập trung tìm hiểu Tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh
với tư cách một phẩm chất nghệ thuật tiêu biểu, góp phần làm sáng tỏ những giátrị độc đáo và dấu ấn tài năng, cá tính sáng tạo của Hữu Thỉnh trong thơ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Hữu Thỉnh trong thế hệ nhà thơ chống Mỹ
Chương 2: Những vấn đề nhận thức và hình tượng triết lý trong thơ Hữu
Thỉnh
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh
Chương 1
HỮU THỈNH TRONG THẾ HỆ NHÀ THƠ CHỐNG MỸ
1.1 Khái lược đặc điểm của thế hệ nhà thơ chống Mỹ
1.1.1 Hoàn cảnh sống và cầm bút
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam là một trong những giaiđoạn lịch sử cam go, căng thẳng, ác liệt đồng thời cũng ghi lại những trang hàohùng trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta Cuộc chiến đặt dân tộc trước nhữngtình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Vận mệnh của đất nước đứng trước nguy cơmột mất một còn Đây là cuộc kháng chiến mà các nhà văn vừa cầm súng chiếnđấu vừa cầm bút ghi lại tinh thần yêu nước, lòng quả cảm, ý chí kiên cường và
Trang 15sự hi sinh vô bờ bến của một dân tộc trên tuyến đầu chống Mỹ Nhanh nhạy vàkịp thời, thơ nóng bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu Thơ ca, nhưmột thứ vũ khí đã tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc Cácthế hệ làm thơ cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh Mỹ Hàng trăm nhàthơ, nhà văn trẻ trực tiếp cầm súng ra chiến trường và sáng tác như Nguyễn Thi,Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân… và từ trong khói lửa,
nhiều tác phẩm tiêu biểu đã ra đời: Những bức thư từ tuyến đầu Tổ Quốc của Anh Đức, Vầng trăng quầng lửa của nhà thơ Phạm Tiến Duật, Những đứa con
trong gia đình của Nguyễn Thi…
Từ sau 30/4/1975, đất nước thống nhất trong niềm vui khôn xiết của đôi bờNam Bắc, trong hạnh phúc của giấc mơ giải phóng miền Nam nay đã thành hiệnthực Giấc mơ ấy vẫn hằn in trong từng giấc ngủ của người dân nước Việt, để rồingày cả dân tộc bắt tay vào xây dựng lại đất nước tràn đầy tự hào Tuy nhiên,thách thức đến với đất nước còn nhiều Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch
5 năm (1976 - 1980 và 1981 - 1985), Việt Nam đạt được những thành quả nhấtđịnh trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiềukhó khăn do mắc sai lầm trong chủ trương, chính sách chỉ đạo chiến lược pháttriển đất nước Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế -
xã hội Nhưng sức sống của một dân tộc bền bỉ lại một lần nữa đưa ta thoát khỏikhó khăn Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủnghoảng, Đảng và Nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới Công cuộc ấy làbước ngoặt lịch sử vĩ đại, làm thay da đổi thịt cả đất nước Đó không chỉ là đổimới trên đời sống xã hội, kinh tế mà còn đổi mới trên cả tư tưởng, văn hóa, vănnghệ Nhiều vị lãnh đạo của đất nước như thủ tướng Phạm Văn Đồng, tổng bíthư Nguyễn Văn Linh,… đã tuyên bố “cởi trói”, “đổi mới tư duy” cho văn nghệ
Trang 16Lúc đầu văn nghệ chỉ là những tiếng nói chung về sự hào hùng của một thời kìcách mạng, nay văn nghệ còn là tiếng nói về cuộc đời, về kiếp người.
1.1.2 Lứa tuổi, quan niệm sáng tạo
Trong đội ngũ đông đảo hàng vạn thanh niên cầm súng đi vào chiến trườngmiền Nam, nhiều tài năng thơ trẻ đã được phát hiện Đội ngũ này được tiếp tục
bổ sung từ quần chúng yêu thơ Quả thực, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
đã khơi nguồn cảm hứng lớn cho thơ, lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo.Cũng giống như thế hệ các nhà thơ mới 30-45, thế hệ nhà thơ chống Mĩ cũngxuất hiện với lực lượng trẻ đầy nhiệt huyết Lực lượng ấy đông đảo nhất từ đầunhững năm 60, đem lại cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, gợi cảm,
mà trong đó không ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định Họ mang đếncho nền thơ những tiếng nói sôi nổi, mới mẻ, duyên dáng Tiếng thơ của họ trẻtrung mà luôn trăn trở, nghĩ suy đầy trách nhiệm về Tổ quốc, về dân tộc Thơ họ
đã ghi lại chân thực hình ảnh cuộc chiến và người lính với cảm hứng sử thi lãngmạn đầy hào hùng Đáng quý hơn, thế hệ nhà thơ này đã nhận thức sâu sắc sứmệnh lịch sử lớn lao của thế hệ mình, họ đã chọn con đường đi cho mình trongnhịp sống cuồn cuộn của dân tộc thời đánh Mỹ
Những nhà thơ chống Mĩ nhận thức một cách đúng đắn con đường đi củamình Đó là vừa cầm súng chiến đấu, vừa cầm bút viết về đất nước Làm thơ vàđánh giặc là hai hành động đồng thời, trùng hợp, có liên quan đến nhau như mộtphản ứng “dây chuyền”, cái này thúc đẩy cái kia, cái kia tạo đà cho cái này thểhiện Bằng quan niệm ấy, họ đã để lại những vần thơ đầy trân trọng, tự hào.Sau 1975, hiện thực đất nước bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ từ chiếntranh chuyển sang hòa bình Có những chuyện hôm qua, các nhà thơ chống Mĩchưa kịp nói đến, còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập,
Trang 17để nhìn lại, như mất mát của con người trong chiến tranh, quy luật nhân sinhtrong xã hội,… Những điều này đòi hỏi các nhà thơ không thể mang những quanniệm cũ như trong thời chiến tranh, họ phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp vớihiện thực mới Quan niệm sáng tạo từ ca ngợi xuôi chiều trong chiến tranh trởthành những quan niệm hết sức phức tạp, đa diện trong cuộc sống hiện tại Tuynhiên, cái chung nhất vẫn là: nhìn thẳng vào hiện thực với tinh thần phê phán vàcái nhìn đầy nhân văn.
1.1.3 Những tác giả nổi bật
Thơ chống Mỹ thực sự là vũ khí tinh thần có sức mạnh to lớn trong việckhơi dậy lòng yêu nước, ý chí chiến đấu, niềm tin vào thắng lợi của mỗi ngườidân nước Việt Thơ nhanh chóng nhập cuộc vào cuộc kháng chiến, có mặt ở vịtrí chiến đấu của mình và thực hiện sứ mệnh cao cả trên mặt trận văn nghệ, làmột vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng Thơ trở thành tiếng nói chung của cảcộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thốngnhất của mọi người, của toàn dân tộc Qua đó, hiện thực đời sống chiến trườngđược tái hiện với tính chất ác liệt, dữ dội, với những gian khổ, hi sinh của cuộckháng chiến Trên khung cảnh ấy, nổi bật hình ảnh của những người lính trẻdũng cảm, lạc quan
Thơ chống Mỹ không chỉ mang ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại, mà còn làmột hiện tượng nghệ thuật lớn, đặc sắc, là một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, cónhiều thành tựu xuất sắc trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam Nó hàm chứatính chất sử thi và cũng không thiếu chất trữ tình lãng mạn Về ngôn ngữ, các nhàthơ trẻ có xu hướng đưa ngôn ngữ đời sống, đưa khẩu ngữ vào thơ, làm chongôn ngữ thơ có được cái nồng nàn của đời sống Trong thơ trẻ thời kỳ chống
Mỹ, ta bắt gặp những thủ pháp tu từ truyền thống được sử dụng theo kiểu tư duy
Trang 18hiện đại Những trang thơ trẻ mở ra trước mắt người đọc những liên tưởng đằmthắm mà biết bao thú vị.
Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày về một số gương mặt nổi bật của thế hệ nhàthơ chống Mỹ
1.1.3.1 Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 01 năm 1941 ở huyện Thanh Ba, tỉnh PhúThọ Thơ ông giàu chất hiện thực và tràn đầy cảm hứng lãng mạn Sự lạc quan đếnduy ý chí của Phạm Tiến Duật khiến những ai không bước ra từ cuộc chiến đó thấyrất khó để hình dung và chấp nhận được Đây có thể là một trong những nguyênnhân sâu xa khiến thơ của ông trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùngcách mạng, mang cảm hứng sử thi và âm hưởng tráng ca của cuộc chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc Có thể nói ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là một đặc điểm của thơ Phạm Tiến Duật.Bằng những tác phẩm nghệ thuật, ông đã nói hộ bao người tình yêu nước Nhữngvần thơ của ông thực sự đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ thanh niên nước tatrong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình
Nhiều bài thơ của Phạm Tiến Duật đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng thế
hệ trẻ thời bấy giờ nói riêng và công chúng yêu thơ nói chung như: Lửa đèn,
Tiểu đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong, Trường Sơn đông, Trường Sơn Tây… Những bài thơ này đã đưa ông lên vị trí hàng đầu của thơ ca
Việt Nam thời kỳ chống Mỹ với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ
thuật, đợt IV, năm 2012.
1.1.3.2 Nguyễn Khoa Điềm
Trang 19Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ, nhà hoạt động chính trị Việt Nam Ông
là cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch Ông đã từng nhận giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (giải B) với tập thơ Cõi lặng - năm 2010
Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách rõ nét ngay từ đầu và cóđóng góp quan trọng cho thành tựu của thơ chống Mỹ Tuy viết không nhiềunhưng những tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm đều được đánh giá cao Thơông là sự kết tinh nhuần nhị của xúc cảm và trí tuệ Chất triết lý trong thơ ônggây cho độc giả ấn tượng mạnh vì nó bắt nguồn từ những rung động tinh tế,nồng nàn sâu lắng của nội tâm Đó là cảm xúc dâng trào về chiến trường BìnhTrị Thiên khói lửa những năm chống Mỹ, và là bức tranh về phong trào đấutranh chính trị của học sinh, sinh viên trong những đô thị tạm chiếm miền Nam
Sự kết hợp đặc sắc này cũng thể hiện rõ trong những sáng tác sau 1975 củaNguyễn Khoa Điềm, viết về đời sống thế sự và “cõi lặng” nội tâm cá nhân củaông
1.1.3.3 Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ (1948 - 1988), sinh tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọnhưng quê gốc lại ở phường Hải Châu, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Ông lànhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại Ông đãtừng sống những năm tháng tuổi trẻ trong chiến tranh, vào bộ đội chiến đấu và trở vềsống trong một thời kỳ khó khăn của nước nhà: thời hậu chiến, kinh tế bao cấp vớichồng chất khó khăn, cơ cực
Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng như:
Hương cây (1968 - in cùng Bằng Việt trong tập Hương cây - Bếp lửa), Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993),…Thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bay
Trang 20bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao Rất nhiều bài thơ của ông
được bạn đọc yêu thích như: Và anh tồn tại, Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy
ong trong đêm sâu Ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn và tác phẩm kịch
mang đậm phong cách riêng
1.1.3.4 Nguyễn Duy
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyệnĐông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa.Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn,Thanh Hóa Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với
chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam trong tập Cát trắng.
Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký Năm 1997 ông tuyên bố "gác bút"
để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lên cácchất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải Từ năm 2001, ông in nhiều thơtrên giấy dó Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệthuật năm 2007
Thơ Nguyễn Duy có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêmnghiệm Thơ ông vì thế cứ ngấm vào người đọc trong nhiều thao thức suy nghĩ
Rất nhiều bài thơ của ông được bạn đọc yêu thích: Tre Việt Nam, Ánh trăng,
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Đò Lèn, Sông Thao, Ông được đánh giá cao trong
thể thơ lục bát, một thể thơ có cảm giác dễ viết nhưng viết được hay thì lại rấtkhó Thơ lục bát của Nguyễn Duy được viết theo phong cách hiện đại, câu thơvừa phóng túng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ Nguyễn Duy được giới phê bìnhđánh giá là người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này
1.1.3.5 Thanh Thảo
Trang 21Thanh Thảo, tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ởtỉnh Quảng Ngãi Từ mấy thập niên trước, Thanh Thảo đã được công chúng chú
ý qua những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và
thời hậu chiến: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng
cỏ (1978), Những ngọn sóng mặt trời (1981), Khối vuông ru-bích (1985), Từ một đến một trăm (1988),… Thanh Thảo đã nhận giải thưởng của Hội Nhà văn
Việt Nam năm 1979, giải thưởng Ban Văn học Quốc phòng An ninh, Hội Nhàvăn Việt Nam năm 1995, giải thưởng Nhà nước (đợt 1) về văn học nghệ thuậtnăm 2001
Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người tri thức nhiều suy tư, trăn trở về cácvấn đề xã hội và thời đại Cùng thế hệ các nhà thơ trẻ, Thanh Thảo đem đến tiếngthơ đầy ắp trăn trở, những suy ngẫm về các cặp phạm trù đối lập giữa được - mất,sống - chết, chung - riêng, cá nhân - cộng đồng, gia đình - Tổ quốc Thơ ông nóinhiều chiến thắng, nhưng còn nói nhiều hơn mất mát, hy sinh Ông là một trongnhững gương mặt xuất sắc của thơ thời chống Mỹ, cũng là một cây bút có nhiềucách tân, đổi mới về mặt cảm hứng, bút pháp trong dòng chảy của thơ Việt Namđương đại
1.2 Hữu Thỉnh - một gương mặt xuất sắc của thế hệ thơ chống Mỹ
1.2.1 Cuộc đời, con người
Hữu Thỉnh (sinh 15/2/1942), tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, bút danh
Vũ Hữu Sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống Nho học nhưngông đã phải trải qua một tuổi thơ không hề dễ dàng: ở 6 năm với bác ruột, 10tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn binh Pháp: Vân Tập, chợVàng, Thứa, Thanh Vân Từ sau hòa bình lập lại, vào năm 1954, ông mới đượcđến trường Năm 1963 ông tốt nghiệp phổ thông và nhập ngũ, trở thành một
Trang 22người lính thuộc trung đoàn 202 Từ đây Hữu Thỉnh đã tham gia một số hoạtđộng như học lái xe tăng, làm cán bộ tiểu đội, dạy bổ túc văn hoá, viết báo vàlàm cán bộ tuyên huấn Nhiều năm tham gia chiến đấu tại miền Bắc, ông đã trảiqua hầu khắp các chiến trường máu lửa.
Từ 1990 đến nay, Hữu Thỉnh chuyển sang công tác tại Hội Nhà văn, trởthành Tổng Biên tập Tuần báo Văn nghệ, tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văncác khoá 3, 4, 5, Ủy viên Ban Thư ký khoá 3 Từ năm 2000, Hữu Thỉnh là tổngthư kí hội Nhà văn Việt Nam Sau đó, Hữu Thỉnh làm chủ tịch Hội Nhà vănViệt Nam (3 nhiệm kỳ liên tiếp) đồng thời kiêm nhiệm Tổng biên tập báo Vănnghệ
1.2.2 Hành trình và thành tựu thơ Hữu Thỉnh
Nhìn chung, Hữu Thỉnh đã có đóng góp lớn cho thơ ca Việt Nam, cả trongthời kì kháng chiến chống Mĩ lẫn sau kháng chiến Ông sáng tác nhiều thể loạisong thành công hơn cả là thơ Thơ ông có vẻ ngoài dung dị và gần gũi songcũng hết sức tinh tế và gợi cảm bởi nó bắt nguồn từ cảm nhận bén nhạy của tácgiả về đời sống và con người Đặc biệt, thơ ông luôn ẩn chứa tính triết lí sâu sắc.Ông đã xuất bản nhiều tập thơ, cụ thể:
- Âm vang chiến hào ( in chung 1975)
- Đường tới thành phố (1980)
- Từ chiến hào tới thành phố (1979)
- Khi bé Hoa ra đời (in chung 1981)
- Thư mùa đông (1994)
- Trường ca biển (1994)
Trang 231.2.2.1 Trước 1975
Cũng như lớp nhà thơ chống Mĩ, Hữu Thỉnh đã nhận thức đúng đắn tráchnhiệm nặng nề nhưng Hồng Đức quang của thế hệ mình Thơ ông thời kì nàythường nói đến sứ mệnh của tuổi trẻ thời chống Mỹ, tình yêu quê hương, tổquốc, trách nhiệm với cộng đồng, Nhân dân, lịch sử… Điểm đặc biệt là HữuThỉnh thường nói về tình yêu nước một cách sâu sắc những hết sức giản dị
Trong bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh và bài thơ dài Sức bền của đất, Hữu
Thỉnh đã viết về bản thân mình, về những người thân yêu cùng đói no, ấm lạnh,cùng đổ máu, mồ hôi và nước mắt Đó là một giọng thơ về trận mạc không caogiọng lên gân mà gần gũi với đời thực
Trong thơ Hữu Thỉnh, ta luôn thấy hiện lên hình ảnh người lính Cách mạngvới tình yêu nước rất cụ thể Bên cạnh đó là hình ảnh người mẹ Trong nhữngbài thơ xúc động nhất về chiến tranh hình ảnh người mẹ luôn trở đi trở lại nhưmột điểm sáng, đọng lại nơi những câu thơ hay nhất Tiếp nữa là hình ảnhngười vợ, người yêu trong trái tim thổn thức người lính gắn liền với những đợichờ, chịu đựng, hy sinh cả một thời xuân sắc Ở chiều sâu tình yêu dành chonhững hình tượng thân gần nhất vừa kể trên, Hữu Thỉnh luôn suy nghĩ, pháthiện và tổng kết thành những chân lý đắt giá, những bài học đắp bồi cho nhâncách, cho bản lĩnh sống trước hết là cho chính ông, sau nữa là cho thế hệ trẻ -những “người cùng thời”
Trang 24mùa đông, Hữu Thỉnh lại đoạt giải thơ ASEAN năm 1999 Đó là sự ghi nhận
đối với một hồn thơ dồi dào, đầy sức sống Gần đây, ông còn viết những bài thơ
với lối nghĩ khá mới, in trong tập Thương lượng với thời gian Tất cả những
thành công đó thêm một lần nữa khẳng định con đường sáng tạo nghệ thuật màHữu Thỉnh đã chọn Nhìn vào chặng đường sáng tác của Hữu Thỉnh, điều dễdàng nhận ra ở ông là sức sáng tạo bền bỉ không mệt mỏi Nhắc đến Hữu Thỉnh
là người ta nhắc đến những bản tình ca và những bản trường ca
Thơ ông sau 1975 thấm đẫm cả hai nguồn cảm hứng: thứ nhất là nguồn cảmhứng của một dân tộc và thời đại anh hùng, thứ hai là cảm hứng về hiện thựccòn nhiều bất công ngang trái trong xã hội Trong đó nổi bật là cảm hứng thứhai Cũng như bao trí thức và văn nghệ sĩ khác, khi cuộc sống bước sang thời kỳđổi mới, Hữu Thỉnh đã phải mở rộng nhận thức, nhiều khi phải nhận thức lạinhững giá trị đời sống Cái tôi của tác giả luôn trăn trở về số phận con người vànỗi đau chiến tranh Nó cất lên tiếng nói ý thức sâu sắc về bản thân và đời sốngtrong một hiện thực mới bộn bề những thực/ giả, xấu/ tốt… không dễ phân định.Chất triết lý được gia tăng trong thơ ông là bởi vậy
1.3 Cơ sở tạo nên tính triết lý trong thơ Hữu Thỉnh
1.3.1 Bối cảnh xã hội, thời đại
Hữu Thỉnh là nhà thơ sống cả hai thời: thời chiến với những mất mát đauthương, thời bình với bao vấn đề trăn trở Rõ ràng bối cảnh ấy đã ảnh hưởng tớithơ ông, tạo nên những nghĩ suy sâu sắc về cuộc sống
Trước 1975, nhà thơ được sống trong không khí hừng hực của cuộc khángchiến chống Mĩ Bối cảnh đó dễ dàng đem lại cho các nhà thơ những cảm xúclãng mạn sử thi đầy hào hùng Qua thơ của Hữu Thỉnh cũng như nhiều tác giảcùng thế hệ ông, ta thấy hiện lên chân thực mà đầy hào sảng chân dung của
Trang 25Nhân dân, Dân Tộc, Tổ Quốc trong thời kháng chiến Nhân vật trữ tình trongcác sáng tác trữ tình này luôn suy nghĩ về ý nghĩa, trách nhiệm vô cùng thiêngliêng, hệ trọng của thế hệ mình Không phải bằng thuyết lý đại ngôn, ở đây nhàthơ lọc chắt thơ ra từ những mất còn cụ thể quyết liệt, từ một cuộc chiến tranh
cụ thể không ngừng, dù còn hay đã tắt tiếng súng
Sau 1975, khi môi trường xã hội có những biến động, cùng với sự đổi mới
về kinh tế, mở rộng tầm nhìn, cởi mở lối sống, những rạn vỡ, suy đồi nhâncách cũng được dịp bùng phát Cuộc sống không còn khói lửa nhưng lại cónhững ngọn lửa ngầm trong trái tim, số phận mỗi con người Cuộc sống thay đổichóng mặt Con người cũng thay đổi theo Những điều éo le, phức tạp trong sốphận, suy nghĩ của con người được hé lộ Tất cả những điều này tạo áp lực buộcngười cầm bút phải nghĩ khác và viết khác Từ đây, xuất hiện khát vọng bứcthiết là văn học nghệ thuật phải quan tâm đến con người, không phải là conngười sử thi, con người anh hùng như trong thời chiến, mà là con người của đờithường, con người của cá nhân, của số phận, thân phận Mối quan tâm cộngđồng đã nhường chỗ cho cá thể Cái chất ru vỗ, ngọt ngào của thơ ca trước 1975
đã nhường chỗ cho chất giọng ưu tư, chua chát đau đời Điều này gần như đãtrở thành chủ đề quen thuộc của thơ ca giai đoạn sau 1975: “Trong nỗi buồn
và cô đơn của cái tôi cá nhân đương đại, có thể nhận ra những triết lí vềthân phận và con người Đồng thời, từ góc độ nhân bản, có thể xem đó như sựnhạy cảm trước mọi nỗi đau nhân thế, trước sự không hoàn thiện của cuộcsống Đó cũng là một biểu hiện ngược, trạng thái “âm bản” của nỗi niềm khaokhát hạnh phúc, sự đồng cảm và tình người” [2, 135] Đọng lại trong thơ lànỗi buồn, nỗi đau thế sự Đó chính là cơ sở để thức tỉnh ý thức cá nhân và tinhthần nhân bản sẽ trở thành nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm củanền văn học sau năm 1975, trong đó có thơ Hữu Thỉnh
Trang 261.3.2 Tạng chất tâm hồn và cá tính sáng tạo của nhà thơ
Một yếu tố không kém phần quan trọng tạo nên chất triết lí trong thơ HữuThỉnh chính là tạng chất tâm hồn và cá tính sáng tạo của ông
Con người Hữu Thỉnh không mang nét sôi nổi như Phạm Tiến Duật, cáihào hoa đa tài của Quang Dũng Qua cuộc đời và thơ ông, ta thấy ông ưa sựtrầm lắng, nội tâm hơn cái ồn ào, hướng ngoại Cái tôi nội tâm của ông luônđầy ắp tâm trạng, nỗi trăn trở, sự day dứt, lo âu đầy trách nhiệm về chiếntranh vệ quốc, về hy sinh, mất mát, về nhu cầu, khát vọng của con người.Hữu Thỉnh đã không quên nhìn về cái làng nghèo, mái tranh nghèo nhàmình, đã không quên cái gốc gác nông dân của mình, không quên cái gốclính của mình Trong đó không thiếu những hụt hẫng về tinh thần trướcnhững trăn trở không nguôi về số phận và thân phận của con người ThanhThảo đã rất tinh tế khi nhận xét về cái tạng thơ của tác giả này: “Có lẽ, cáitạng của Hữu Thỉnh nằm ở những bài thơ, câu thơ giản dị một cách dân dã,hồn hậu nhưng nặng trĩu nỗi đời” [40, 8]
Ngoài ra, cá tính sáng tạo và tạng chất tâm hồn tác giả còn được in đậmtrong hai chữ: nhạy cảm Nguyên nhân tạo nên chất triết lí nằm trong cái cảmtinh tế của Hữu Thỉnh Ông có cách “bắt sóng” rất riêng với vạn vật, conngười Hữu Thỉnh là người đặc biệt nhạy cảm với cả những biến chuyển nhỏtrong thiên nhiên hay trong tâm trạng con người
Tinh tế, nhạy cảm, ưa suy ngẫm, luôn muốn bao quát đời sống trong chiềusâu bản chất, tuy nhiên, Hữu Thỉnh thường không tích nói dài, viết dài Ông ưamột cách diễn đạt ngắn gọn, giàu tính ẩn dụ sóng cũng mang chứa sức nặng triết
lý Theo Anh Chi: “Thơ Hữu Thỉnh, ngoài phẩm chất độc đáo là mộng mơ đểđạt tới những nhận thức cuộc sống, như chúng tôi có nói đến ở trên, còn những
Trang 27phẩm chất khác nữa Đó là sự kiệm lời ” [4] Vì kiệm từ ngữ nên mỗi hình ảnhđưa ra thường phải mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc chứ không phải chỉ là từngữ đưa đẩy dài dòng Đây có lẽ cũng là một lý do thúc đẩy nhà thơ tìm đến vớilối diễn tả khái quát - triết lý trong thơ .
Tóm lại, thơ Hữu Thỉnh luôn là tiếng lòng tha thiết với cuộc đời, con ngườicủa một ngòi bút tài năng và đầy trách nhiệm Ở vào cái tuổi “tri thiên mệnh”,Hữu Thỉnh đã đủ độ chín trong suy tư trải nghiệm về thế thái nhân tình Đi cùngvới điều đó còn là quan niệm sáng tạo của nhà thơ: ông muốn nhận thức, lý giảiđời sống trong chiều sâu và sự khái quát của nó Tất cả những điều đó đã tạo nêntrong thơ ông tính triết lý đặc sắc Nó thể hiện một bản lĩnh sống, một bản lĩnhsáng tạo bền bỉ, độc đáo
Trang 28Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRIẾT LÝ TRONG THƠ HỮU THỈNH
2.1 Những vấn đề nhận thức, triết lý trong thơ Hữu Thỉnh
2.1.1 Về hoạt động sáng tạo thơ và vai trò người nghệ sỹ
Ý thức về thơ, về bản chất sáng tạo là một hoạt động hết sức cần thiết và có
ý nghĩa đối với người viết chuyên nghiệp Là một tác giả có nhiều thành tựucũng như bề dày kinh nghiệm sáng tạo, Hữu Thỉnh rất có ý thức về sáng tạo thơnhư một hoạt động nghề nghiệp đặc thù Nó được phát biểu rải rác trong nhiềubài viết và sáng tác của ông Chính sự tự ý thức về nghề thơ này đã tạo nên mộtcái tôi triết lí khá đậm nét trong thơ ông
Hữu Thỉnh từng thổ lộ: “Tôi rất tin: thơ là kinh nghiệm sống” [37] Câunói ngắn gọn trên được rút ra từ trong Kỷ yếu của Hội Nhà văn Việt Nam Vớiông, là nhà thơ thì hãy cứ viết, bằng chính kinh nghiệm rút ra từ chính nhữngthành công và cả những thất bại, mới để lại những sáng tác có giá trị Nhiềungười nghĩ rằng chỉ ngồi ở nhà là có thơ, còn tác giả thì ngược lại Với ông, phải
có những trải nghiệm sâu sắc đời sống mới thực sự có thơ Vốn sống càng đầyđặn bao nhiêu, sâu sắc bao nhiêu thì thơ càng có thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn vớiđộc giả Chính sự kinh lịch từng trải của con người sẽ góp phần đưa lại những
tư tưởng nhân sinh thẩm mĩ vừa gần gũi lại vừa sâu sắc trong thơ Bởi vì, nhưchính nhà thơ Huy Cận đã viết: “Cái chỗ đến cuối cùng của thơ là phải đem đếnmột cái gì nâng sự sống lên” [13, 24], Hữu Thỉnh cũng nhấn mạnh : “Thơ phải
là sản phẩm của một tâm hồn mạnh mẽ, quyết liệt, chiến đấu vì một cái đíchsáng đẹp,vì sự khao khát vươn tới những giá trị đạo đức và thẩm mỹ” [13, 26]
Trang 29Bàn về thơ cũng chính là bàn về một phương diện tế vi nhất của con người vàtạo vật Bởi vì thơ ca là biểu hiện tinh chất của cuộc sống “Thơ là cuộc sống tậptrung cao độ, là cái lõi của cuộc sống , phải đào, phải xới, phải chắt lọc mới rathơ được” [13, 12].
Như vậy, trong sáng tạo, vốn sống, kinh nghiệm sống đầy đặn ấy phải đicùng với sự mẫn cảm tâm hồn và tài năng của nghệ sỹ Nó phải được chuyểnhóa qua một ngòi bút tinh tế, sâu sắc Đồng thời nó phải đi cùng với một ý thứcthường xuyên tìm tòi, đổi mới cách nghĩ, cách viết Thiếu điều này thì không thể
có thơ được Chính vì vậy, trong một bài viết gần đây, ông đã phát biểu: “Thơhiện đại là với một vốn ngôn từ tối thiểu mà đạt được hiệu quả tối đa Nó đatầng, đa thanh, mở ra nhiều vùng liên tưởng Và nó phải là tâm trạng của ta, cáchnhìn, chỗ đứng của ta trong ngày hôm nay, không thể trộn lẫn” Thế nhưng đổimới đâu phải là đoạn tuyệt với quá khứ Ông khẳng định: “Cách tân không phải
là cắt đứt với truyền thống, mà để nghe truyền thống rõ hơn, nhân cái truyềnthống ấy trong hiện đại ” [34] Đặc biệt, trong thì hiện tại, nhà thơ nhận thức rất
rõ về mối quan hệ giữa thơ ca và độc giả cũng như vai trò quan trọng của tiếpnhận nghệ thuật Ông cho rằng: “Nếu nhà thơ lấy thơ hay là mục đích, thì côngchúng là mục đích của mục đích” [30]
Những phát biểu nói trên đã phần nào thể hiện được ý thức trách nhiệm vàniềm tin của nhà thơ đối với chính sứ mệnh cầm bút của mình Những quanniệm này cũng được thể hiện khá rõ trong các sáng tác của Hữu Thỉnh, đặc biệttrong thời kỳ Đổi mới Thay cho cái nhìn ca ngợi xuôi chiều trước 1975 là cáinhìn đầy dự cảm về thân phận con người, về hiện thực éo le trong xã hội, nhất là
về vấn đề đạo đức Giọng thơ hùng tráng của thời sử thi được thay bằng giọngtrầm tư triết lí Đặc biệt nhà thơ rất chú ý đề cao mối quan hệ giữa thơ ca và hiệnthực đời sống Đời sống là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của thơ ca Tiền đề của
Trang 30mọi sáng tạo đích thực nằm ở đây Rung động một cách hồn nhiên có được cũng từđây Mọi sự có thể thay đổi Riêng mối quan hệ máu thịt giữa thi ca với cuộc đời là
không thể thay đổi Chính vì thế, trong bài Tôi đi Bào Ngư ông viết:
Tôi lặn qua mấy tầng mặn chát
để bàn tay hồi hộp trước bào ngư Cũng có thể tôi tham lam nhiều quá trước bạc vàng dưới đáy biển bỏ quên Nhận ra tiếng của người nghèo đi tìm của biển mở toang những gành đá thâm nghiêm
Đây là những câu thơ giàu tính hình tượng và triết lí, nó đưa ra cho ta nhậnthức: không thể có những vần thơ chói sáng nếu người viết không từng nung nấucái khát khao hướng tới cái toàn mỹ, toàn thiện Tham lam ở lĩnh vực khác cóthể là đáng trách, riêng ở lĩnh vực nghệ thuật, sự “tham lam” nói trên lại rất cầnđược khích lệ Cuộc sống chắc chả ngặt nghèo gì đối với những tâm hồn luônrộng mở hướng tới chân - thiện - mỹ với những ham muốn khôn cùng
Trong cái nhìn đậm chất đạo đức thế sự, Hữu Thỉnh thấy thơ chính là một
phương tiện giáo dục con người Ở bài Tạp cảm, tác giả coi việc sáng tác thơ như là “gieo vụ mùa nhân nghĩa” Như vậy, nhiệm vụ chính của thơ là hạt giống
nhân nghĩa giúp nhân lên lòng tốt trong xã hội Tuy nhiên, nhìn vào thực tế đời
sống, ông thấy thơ vẫn chưa bắt kịp với sự biến đổi của hiện thực Bài thơ Tạp
cảm là tiếng thở dài đầy sự mong manh bất lực của văn chương và văn nghệ sĩ
trước cuộc đời:
Chưa viết giấy đã cũ Chưa viết sông đã đầy Đám cưới đi qua có người đứng khóc Chưa viết chợ đã đông
Trang 31Chưa viết đồng đã bạc Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa Câu thơ đứng giữa trời
Vó nhện cất sương rơi
Bài thơ là cái nhìn khá bi đát về đời sống Trang giấy thơ quá mỏng manh,
trong khi cuộc sống thì có bao nhiêu hiện trạng đáng buồn: giấy đã cũ, sông đã
đầy, người đứng khóc, đồng đã bạc, mất mùa nhân nghĩa Trong bài Mười hai câu, tác giả cũng nhận thấy sự hữu hạn của văn chương:
Nguyễn Du viết Kiều hơn hai trăm năm Gió vẫn lạnh trên vai người phận bạc Chèo Quan Âm trẻ già đều thuộc Nỗi oan khuất ở đời nào đã chịu vơi đâu Lép Tôn-xtôi viết "Chiến tranh và hòa bình"
Với hy vọng đó là cuộc chiến tranh cuối cùng trên trái đất Mùa đậu xuống mộ Ông với màu cây thành thực
Có ai ngờ lại thấy máu nhiều thêm Tôi đã gặp những dòng sông hùng dũng đẩy băng đi Nhưng rút cuộc cầm tù trong rét buốt
Bài thơ nói về các tác phẩm và tác gia văn học lớn mang tinh thần
nhân đạo cao cả có sức mạnh cảm hoá lòng người Song dẫu khi có Truyện
Kiều, có Quan Âm Thị Kính, có Chiến tranh và hòa bình… thì con người vẫn
đối xử tồi tệ với nhau Như vậy, văn chương vẫn chưa thực sự tác động tớihiện thực xã hội và cải hóa con người như tác giả mong muốn Tuy nhiênchính điều đó lại đặt ra một triết lý, cũng là một câu hỏi bức bách: văn họcnói chung, thơ ca nói riêng phải làm thế nào để đón đầu được hiện thực?Tiếng nói nhà thơ làm sao phải bắt kịp với tiếng nói của nhân dân để tạo nên
những “mùa nhân nghĩa”?!
Trang 32Sau Đổi mới, một tư tưởng thẩm mĩ - xã hội mới xuất hiện, đó là tư tưởngnhìn thẳng sự thật trên tinh thần phê phán để xây dựng Sự trung thực xã hội,trong tư tưởng với quan niệm phải dấn thân vào cuộc đời, phải tôn trọng sự thật
là một cảm hứng phổ biến trong văn học nói chung, thơ ca nói riêng:
- Cái đẹp là sự thật
Hơn cả tắm trong lửa, trong nước là tắm trong những ý nghĩ trung thực
(Thanh Thảo)
- Thơ lặng lẽ gầy gò, thơ như thanh thép nguội
Thơ làm cột thu lôi dưới bão giông này (Nguyễn Khoa Điềm)
- Thơ không bao giờ câm lặng Như nhịp đập của trái tim trung thực
Là nhân chứng của anh
Là ngọn lửa trắng trong Trên lịch sử tối tăm trên tro bụi (Lưu Quang Vũ)
Cũng như một số nhà thơ cùng thế hệ, Hữu Thỉnh quan niệm thơ phải gắnvới trách nhiệm công dân, đạo đức nghệ sĩ Bằng cách nói hình tượng, ông xem
nhiệm vụ của người nghệ sỹ đích thực là “đi gieo mùa nhân nghĩa” Nhà thơ đi
tìm Thơ, cũng là đi tìm Con Người, tìm cái Đẹp và cái Thiện như mơ ước vàquan niệm của mình Đồng thời, sáng tạo thơ với ông cũng là một hành trìnhthanh lọc và tự thanh lọc:
Trang 33Lọc hết bùn đi Còn chút gì sót lại Đấy là anh sau những vui buồn
(Lọc)
Qua những phân tích trên, có thể thấy Hữu Thỉnh đã có những quan niệmsáng tạo riêng, và điều này đã tạo nên một sự thay đổi tích cực trong sáng táccủa ông Thay vì quan niệm thơ như một hoạt động tuyên truyền chính trị, giờđây, với ông, thơ được nhấn mạnh, đề cao trước hết với tư cách là một hoạt độngsáng tạo - nhận thức; thơ không được phép quay lưng trước những vấn đề nóngbỏng của hiện thực đời sống, thơ phải gắn liền với thời đại và thời cuộc, thơ phải
là tiếng nói trách nhiệm và ý thức xã hội tỉnh táo, trung thực của nghệ sỹ Nhậnthức đời sống trong chiều sâu triết lý chính là một đặc điểm nổi bật của HữuThỉnh Thơ có thể bàn về nhiều vấn đề đa dạng của hiện thực song cách thể hiệnphải giàu tính tư tưởng, hướng thơ trở về với đời thường, với số phận cá nhân,đào sâu vào tiếng nói nội tâm, đi sâu phân tích, lý giải thế giới cảm xúc, tâm linhsâu kín bí ẩn Đây là những đổi mới hết sức sâu sắc và nhân bản trong quanniệm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả
Tóm lại, Hữu Thỉnh đã có những quan niệm riêng đáng chú ý về bản chất
và vai trò của thơ ca với đời sống, trách nhiệm của người nghệ sỹ Quan niệmnày càng hết sức có ý nghĩa, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh hôm nay, khi nhiềungười chỉ lo cách tân về mặt hình thức mà quên đi bản chất thực sự của thơ ca,
đó là tiếng nói tinh thần của con người, nó được cất lên để ”người gần ngườihơn”
2.1.2 Về chủ đề Chiến tranh, Đất nước, Nhân dân
2.1.2.1 Góc nhìn và nhận thức, triết lý của Hữu Thỉnh về Chiến tranh, Đất nước, Nhân dân
Trang 34Hình ảnh đất nước là chủ đề không thể thiếu trong sáng tác của các nhà thơCách mạng Là một nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ, Hữu Thỉnh nhìn chiếntranh, đất nước, nhân dân từ góc độ một nhà thơ - chiến sỹ từng trực tiếp thamgia vào cuộc kháng chiến bảo vệ bờ cõi Tổ quốc và chứng kiến sự “vặn mình” vĩđại của cả dân tộc trước bão lửa chiến tranh Nhưng thường ông không nhândanh tập thể để nói về đất nước, nhân dân mà luôn nói bằng chính cảm nhận cánhân rất thực của mình Triết lí về chiến tranh, đất nước, nhân dân ấy đồng thờithể hiện tình yêu nước, tình yêu nồng nàn dành cho những con người Việt Namanh dũng, kiên cường
Tuy nhiên, trong mảng thơ viết về đề tài chiến tranh, đất nước, nhân dâncủa Hữu Thỉnh trước 1975, chủ yếu trội lên tính trữ tình – sử thi Nhiều bài, tínhtrữ tình sử thi lấn át triết lí Nó thiên về thể hiện niềm tin vào thắng lợi của cuộckháng chiến, vào sức mạnh lý tưởng Cách mạng
Nếu giai đoạn trước, nhà thơ thường nhân danh người lính để nói về tìnhcảm với nhân dân, Tổ quốc thì đến giai đoạn sau, Hữu Thỉnh quan tâm viết vềNhân dân ở góc độ thân phận, số phận cá nhận trong cuộc sống thường nhật vớibao lo toan, vất vả Mảng đề tài chiến tranh vẫn được khai thác song sự tự hàophơi phới đã giảm đi, thay vào là cái nhìn đa chiều hơn Chiến tranh cũng đượcnhận thức lại trong một tương quan rộng rãi hơn, gắn với cuộc sống đa dạng,muôn mặt và những day dứt trăn trở trước cuộc đời của tác giả Cách khai thácchủ đề chiến tranh ở đây, do đó, khá đặc biệt Ông thích đi vào suy ngẫm các sựkiện đơn lẻ, các cá nhân cụ thể với số phận riêng, chứ ít khi nói tiếng nói tập thểnhư nhiều nhà thơ khác Ta có thể thấy điều đó qua hầu hết các trường ca của tác
giả như: Biển, Đường tới thành phố,… cùng một số bài thơ như: Sang thu,
Thương lượng với thời gian,… Qua các biểu tượng thơ, Hữu Thỉnh muốn thể
hiện triết lí về sự rộng lớn, bất diệt của dòng đời cũng như đất nước, quê hương
Trang 35Như vậy, sau chiến tranh, tác giả nhìn nhận về Đất nước, Nhân dân trong một cảmhứng chiêm nghiệm, suy tư về nhân sinh, thế sự đậm nét Cách tiếp cận, cách khaithác đề tài này có điểm tương đồng với một số tác giả cùng thời, như Thanh Thảo,Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khoa Điềm… Các nhà thơ vẫn tìm được mạch nguồn đời
tư ngay khi nói về vấn đề chung của cả dân tộc
Thơ Hữu Thỉnh còn đề cập tới hình tượng đất nước với những chiều kíchkhông - thời gian lịch sử, văn hóa rộng dài Nếu trong chiến tranh, tác giả suyngẫm về trách nhiệm với quốc gia, dân tộc thì ở hình ảnh đất nước thời bình, tácgiả lại đưa đến những triết lí về nguồn cội con người Từ đó, gợi nhắc ta mộtthái độ sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước
Bằng các tác phẩm trường ca, tác giả đã bao quát được hình ảnh đất nước
trong mọi chiều không gian mà nổi bật nhất là rừng và biển Các không gian này hầu như đều được nhân hóa, ước lệ Trong chương 2 của trường ca Biển, Hữu Thỉnh đã lặp lại hình ảnh cát nhiều lần để nhấn mạnh một cuộc sống đặc trưng
của người chiến sĩ hải quân Cát trở thành biểu tượng cho phần biển đảo của quêhương thân yêu:
… Cát ở đây là lối đi Cát là chỗ ăn cơm chiêu ngụm nước Cát là giường nằm gối đầu lên cát Cát theo lá thư đồng đội gửi về Cát ở đây là tất cả
Cát là tiền duyên cát là điểm tựa
Ngoài ra, tác giả còn xây dựng hình ảnh làng quê với nét đặc trưng củavùng đồng bằng trung du Bắc Bộ Nó thể hiện rõ trong những bài thơ trữ tình
Trang 36ngắn Hữu Thỉnh giai đoạn sáng tác trong thời bình Trong bài Sang thu, khung
cảnh vùng quê ấy được gợi tả với bao cảm xúc thân thương:
Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về…
Đất nước còn hiện lên qua hình ảnh con người Bất kì ở không gian nào
cũng thấy bóng dáng, công sức của con người Trong trường ca Biển, ta thấy tác
giả tái hiện vùng biển đảo bao la dậy lên sức sống bởi những người bám trụ biểnđảo Cuộc sống của họ như hòa vào cát, vào biển để bảo vệ vùng lãnh thổ thiêngliêng của Tổ quốc Từ đó, ta thấy triết lí của Hữu Thỉnh về mối quan hệ giữa conngười với Tổ quốc, quê hương: “Cá nhân là chủ thể đất nước nương theo, sự tồnvong của đất nước được quyết định bởi từng cá nhân, từng cá nhân hợp thành dântộc, đất nước; hạnh phúc của dân tộc không thể nào trọn vẹn, nếu một cá nhân cònđau khổ, bất hạnh” [43, 32]
Trong thơ, ta còn thấy những suy ngẫm, triết lí khá sâu sắc của Hữu Thỉnh
về Nhân Dân Trong cuộc chiến tranh, Nhân Dân phải chịu biết bao đau thươngsong vẫn kiên cường và cống hiến hết mình cho Tổ quốc Hình ảnh con người ấy
là người lính cách mạng với tình yêu nước Đó là hình ảnh người mẹ với sựnhân hậu, hi sinh hết mình Đó còn là hình ảnh người vợ, người yêu đợi chờngười ra đi mòn mỏi hết cả thời xuân sắc Qua đó, tác giả bộc lộ một triết límuôn đời: tình yêu nước của Nhân Dân Việt Nam là một tình cảm cao quý vàbất tử Nó thấm sâu trong từng tâm hồn con người Việt Nam Trong một loạt bài
Trang 37thơ, đặc biệt qua Chuyến đò đêm giáp ranh và Sức bền của đất, ta có thể thấy rõ
điều này
Viết về Nhân dân, tác giả đặc biệt chú ý tới hình tượng Người phụ nữ những người mẹ, người chị, người vợ Ở hình tượng người mẹ và người chị,Hữu Thỉnh thường chú ý ở phương diện đau thương, bất hạnh, những thiệt thòi
-hi sinh của họ:
- Mẹ ta ốm húp bát canh rau dệu (Đêm chuẩn bị)
- Ngày mai chúng ta về Chúng ta về
…Cho chị lấy chồng xa về giỗ tết Cho mẹ già nhận mặt đứa con dâu…
(Đêm chuẩn bị)
Đó vẫn là hình tượng của một người mẹ với tấm lòng thương yêu, chungthủy, sắt son, biểu trưng cho quê hương, cho hậu phương với tất cả những gianlao, vất vả của mình Hình ảnh mẹ hay được xây dựng trong mối liên hệ vớingười lính Tấm lòng của người mẹ cũng được nhìn nhận từ tình cảm của ngườilính và nó chủ yếu được Hữu Thỉnh khai thác ở khía cạnh những hành động ân
nghĩa cụ thể Trong Luống rau truy kích, mẹ đã tặng người lính hạt rau giền - vật
nhỏ bé mà đầy ý nghĩa:
Bạn tôi ghé qua nhà
Mẹ cho hạt rau giền mang theo làm giống
Trang 38Anh gói vào bao đạn vội đi
Ở giai đoạn sáng tác sau, hai hình tượng này vẫn xuất hiện với vẻ đẹp của sự
hi sinh song gắn liền với cảm hứng thế sự Hình ảnh của họ hiện lên với những lotoan, vất vả, nhọc nhằn của đời sống mưu sinh thường nhật Sự vất vả, lẻ loi của
mẹ được thể hiện mang ý nghĩa tượng trưng, đậm chất triết lí hơn trong giai đoạntrước Hình tượng mẹ nằm trong chuỗi suy nghiệm của tác giả về lẽ đời, tình đời
Mẹ là nguồn cội để tác giả bộc bạch những trăn trở về éo le trong cuộc đời như ở
bài Đất ngày thường, hay trở thành nỗi “ám ảnh” về cách sống trong cuộc đời trong Chạm cốc với Xa - in:
Miếng cơm manh áo che khuất mẹ tôi
Sự vô tình che khuất mẹ
Trong thời chiến, người mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc tiếp thêm sứcmạnh chiến đấu cho người chiến sĩ Trong hòa bình, họ là những bến cảng antoàn cho những chuyến trở về của nhân vật trữ tình, là người để giãi bày, chia sẻnhững tâm tư tình cảm, mà đa phần đó là những thất bại, những vấp ngã củanhân vật trữ tình trên đường đời
Qua hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt người mẹ, nhà thơ vừa khai sinh trongtâm tưởng chúng ta một bức tranh toàn vẹn và đầy ấn tượng về người phụ nữ,vừa thể hiện một triết lí đời sống: Cuộc sống này đẹp là do có sự hi sinh củangười phụ nữ
2.1.2.2 Sự tương đồng và khác biệt trong góc nhìn và nhận thức, triết lý của Hữu Thỉnh về chủ đề Chiến tranh, Đất nước, Nhân dân với một số nhà thơ Cách mạng
a Sự tương đồng
Trang 39Trước 1975, Hữu Thỉnh, cũng như phần lớn các nhà thơ cùng thế hệ,thường viết về đề tài chiến tranh, Đất nước, Nhân dân Trong đó, suy tư về chiếntranh, đất nước, nhân dân thành mảng chủ đề trở đi trở lại trong thơ ông Ví dụnhư khi tái hiện về mẹ, Hữu Thỉnh cũng xây dựng hình ảnh người mẹ như baongười mẹ Việt Nam khác với sự thủy chung, son sắt, cần cù, yêu nước, thươngchồng con… Đó là mẫu số chung của thơ ca Việt Nam viết về hình tượng này.Hoặc, khi tái hiện hiện thực chiến tranh, thơ Hữu Thỉnh cũng giống nhiều tác giảthời thơ chống Mĩ luôn chú trọng đề cập và giải đáp những vấn đề mang ý nghĩachính trị, bám sát thời sự diễn biến của cuộc chiến đấu, khẳng định đường lối vàquyết tâm chiến đấu của dân tộc,… Đó là những cảm hứng và chủ đề thườngtrực trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên và nhiều nhà thơ Cách mạng khác Nhàthơ trở thành nhà tư tưởng để phát hiện, khám phá và say mê khẳng định giá trịvĩnh hằng của Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, thời đại Cách mạng.
Bước sang giai đoạn sau 1975, xu hướng tìm tòi, đổi mới đã xuất hiện trongsáng tác của rất nhiều tác giả , trong đó có Hữu Thỉnh Cùng với một nhãn quanmới về đời sống và nghệ thuật, các nhà thơ nhanh chóng chuyển từ cảm hứngsáng tạo sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư Nó hòa hợp, song hành cùng vớihành trình đổi mới văn học Việt Nam ở những thập niên đầu của thế kỷ XXInày
b Sự khác biệt
So với các thơ ca đương thời, góc nhìn về hình tượng đất nước, nhân dântrong thơ Hữu Thỉnh có những nét khác biệt rõ nét Chẳng hạn thơ Hữu Thỉnhtrước 1975 thường mô tả về mẹ theo hình thức khái quát, triết lý, trong khi cácnhà thơ khác thường chọn cách bày tỏ trực tiếp tình cảm, cảm xúc với mẹ Sau
Trang 401975, hình ảnh người mẹ trong thơ Hữu Thỉnh càng thể hiện rõ khuynh hướngthơ ông Hình tượng ấy tiêu biểu hơn cho tấm lòng của người mẹ bình thường,người mẹ của gia đình và của mối quan hệ cá nhân.
Góc nhìn về đất nước của Hữu Thỉnh cũng có nét khu biệt Nếu ở các nhàthơ khác, Tổ quốc hiện lên qua mất mát chiến tranh hoặc được nhìn từ phươngdiện địa lý, văn hóa và những trang sử hào hùng thì ở thơ Hữu Thỉnh, Tổ quốcđược nhìn ở những hình ảnh gần gũi Thơ ông xây dựng hình tượng Tổ quốc cónét cụ thể hơn, gắn bó với con người hơn Hình tượng quê hương trong thơHữu Thỉnh gắn liền với cảnh đồng quê ruộng vườn của một vùng đất nôngnghiệp Nó hiện lên với tất cả những nhọc nhằn nhưng cũng thiêng liêng, đẹp đẽtrong kí ức của người đi xa Trong mối quan hệ giữa Tổ quốc và con người, tathấy cũng có nét khác biệt Nguyễn Nguyên Tản nhận xét rất xác đáng: “Cáiriêng tư đôi khi lại trỗi lên” một cách mạnh mẽ rõ rệt so với những đồng nghiệpđương thời bởi lẽ “theo quan niệm của Hữu Thỉnh, cá nhân là chủ thể đất nướcnương theo, sự tồn vong của đất nước được quyết định bởi từng cá nhân, từng cánhân hợp thành dân tộc, đất nước; hạnh phúc của dân tộc không thể nào trọnvẹn, nếu một cá nhân còn đau khổ, bất hạnh” [32, 31]
2.1.3 Về chủ đề đời sống nhân sinh thế sự
Điểm mới ở thơ Hữu Thỉnh sau 1975 thể hiện rõ nét ở mảng thơ thế sựnày Nó đi theo hướng chung của văn học đổi mới với bước chuyển cảm hứngđáng lưu ý từ trữ tình cách mạng sang trữ tình thế sự Giờ đây, thơ không còn bị
áp lực của cảm hứng ngợi ca và cái nhìn lãng mạn đối với hiện thực Với thể tàithế sự, thơ mang cảm hứng hiện thực rõ nét Đời sống thế sự trong thơ HữuThỉnh chủ yếu thể hiện ở triết lí về thân phận con người với những trăn trở, suy
tư trước những thăng trầm của cuộc đời, của lòng người, của đạo đức xãhội… Những biến đổi khôn lường của cuộc sống đã khắc sâu vào tâm trí của nhà