1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phương ngữ nam bộ phương ngữ học

38 3,9K 26

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 205,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất nhiên phương ngữ vùng nào sẽ được vùng đó sử dụng để giao tiếp, nhưng nhìn chung phương ngữ Bắc vẫn được sử dụng rộng rãi hơn, ví dụ như trên các phương tiện truyền thông đại chúng h

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

I. DẪN LUẬN:

Tiếng Việt rất đa dạng và phong phú, là ngôn ngữ toàn dân và được sử dụng trên hầu hết lãnh thổ Việt Nam để làm công cụ giao tiếp cho người Việt nói chung Tuy nhiên, tùy theo từng vùng miền sử dụng chúng tiếng Việt được chia thành từng ngôn ngữ riêng Ngôn ngữ hình thành

từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương.Tùy vào sự khác nhau giữa kinh tế và

xã hội giữa những địa phương này thì ngôn ngữ của chúng cũng sẽ khác nhau

Ở Viêt Nam chủ yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ bắc (Bắc Bộ), phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Tất nhiên phương ngữ vùng nào sẽ được vùng đó sử dụng để giao tiếp, nhưng nhìn chung phương ngữ Bắc vẫn được sử dụng rộng rãi hơn, ví dụ như trên các phương tiện truyền thông đại chúng hay các văn bản hành chính, khoa học, thời sự, v.v… Các phương ngữ khác nhau chủ yếu ở ngữ âm rồi đến từ vựng, cuối cùng là vài sự khác biệt về ngữ pháp.Tuy nhiên, với xu hướng ngôn ngữ hiện tại, ta cũng có thể thấy được mối quan hệ phức tạp giữa tiếng Việt toàn dân và tiếng Việt phương ngữ hiện nay

Lý do là vì, sự di chuyển mạnh mẽ của dòng người giữa ba miền Bắc-Trung- Nam, giữa các địa phương cũng như trong nội bộ của một địa phương đang tạo ra những xáo trộn đáng kể giữa các phương ngữ tiếng Việt và giưa phương ngữ với tiếng toàn dân Chẳng hạn, các ngôn từ thuộc phương ngữ Nam Bộ đang tràn ra tiếng Việt toàn dân cũng như tiếng Việt phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ Ví dụ: trễ, kẹt, mắc, nhí, trái cây, heo, bông, chả giò, mắc cỡ, thắng, banh, ráng ; có

sự pha trộn các yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách giao tiếp giữa các vùng miền, tạo ra một dạng phương ngữ tiếng Việt mới Ví dụ, sử dụng tiếng Việt phương ngữ Bắc Bộ lại pha yếu tố phương ngữ Nam Bộ, sử dụng yếu tố phương ngữ Nam Bộ lại pha yếu tố phương ngữ Bắc Bộ, hoặc sử dụng tiếng Việt phương ngữ Trung Bộ lại pha yếu tố phương ngữ Bắc Bộ và Nam Bộ, từ đó tạo ra một biến thể tiếng Việt pha trộn Từ đó có thể thấy, phương ngữ Nam Bộ nhìn chung đang có những tác động mạnh mẽ đến ngôn ngữ toàn dân cũng như các phương ngữ vùng miền khác Bài nghiên cứu này chúng tôi tập trung làm rõ đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng của phương ngữ Nam Bộ, từ đó có thể hiểu rõ hơn về một phương ngữ lớn và mang tầm ảnh hưởng rộng rãi đến ngôn ngữ tiếng Việt nói chung

Trang 3

II. NỘI DUNG

1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÍ CỦA VÙNG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ:

- Về phạm vi: vùng phương ngữ Nam bộ gần như trùng khít với vùng văn hóa Nam

bộ cũng đồng thời là vùng địa lí hành chính Nam bộ, bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Chia làm ba khu vực là Đông Nam Bộ, Sài Gòn và Tây Nam Bộ

- Về vị trí địa lí: phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ

- Về địa hình: Đây là vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; địa hình tương đối bằng phẳng, đồi núi không nhiều, tập trung chủ yếu ở miền Đông với độ cao trung bình thấp (khoảng 700m)

- Về cách thức sinh sống của người dân Nam Bộ:

+ Cách thức hoạt động sản xuất: mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với các vùng miền khác: Ở Nam Bộ truyền thống nông nghiệp lúa nước của người Việt được phát huy ở mức tối đa (Nam Bộ sản xuất trên 50% lượng lúa của cả nước), đây cũng là nơi sản xuất 70% trái cây của cả nước Và do sở hữu một vùng sông nước giàu thủy sản và có ba mặt giáp biển nên Nam Bộ cũng là một ngư trường giàu có nhất nước, là cơ sở để phát triển các nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản

+Việc giao thương, đi lại cũng mang đặc thù sông nước rất rõ ràng: khi giao thông đường bộ chưa phát triển thì hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt không những không là rào cản mà còn là con đường đi lại, vận chuyển dễ dàng và được ưa chuộng nhất của người dân Nam Bộ Chính vì vậy, từ xưa, các trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông, rạch để thuận lợi cho việc mua bán và vận chuyển hàng hóa Đặc biệt ở miền Tây Nam Bộ còn có các chợ nổi (chợ nổi Long Xuyên – An Giang, Cái Răng – Cần Thơ, Phụng Hiệp – Hậu Giang, Cái Bè – Tiền Giang…) mà ở đó mọi hoạt động từ mua bán đến sinh hoạt thường nhật đều diễn ra trên sông nước

+ Về ăn uống: cơ cấu bữa ăn của người Nam Bộ thể hiện rõ cuộc sống của cư dân miền sông nước với thức ăn chính là thủy hải sản Và một món ăn mang nét đặc trưng của người Nam Bộ chính là mắm – là một món ăn dân dã nhưng cũng đồng thời là một đặc sản mang đậm hương vị quê hương

+ Về cư trú: Một mặt do điều kiện tự nhiên tác động, mặt khác do lối sống phóng khoáng, dễ hòa nhập, dễ thích nghi, “rày đây mai đó” nên nhà ở của người Nam Bộ thường tạm bợ hoặc họ có thể sinh sống trên ghe, thuyền…đặc biệt là có khả năng sống chung với lũ

Trang 4

Do địa hình bằng phẳng cùng với sự thích nghi một cách mạnh mẽ với cảnh sông nước của người dân bản xứ nên toàn vùng đất Nam Bộ hầu như không có sự khác biệt về sâu sắc về văn hóa, đặc biệt là về ngôn ngữ - một yếu tố vốn bị tác động mạnh mẽ bởi môi trường, địa lí Chính vì vậy, đi khắp các tỉnh của vùng Nam Bộ ta rất khó bắt gặp những đặc điểm ngôn ngữ khác biệt nhau Phải tinh tế và am hiểu nhiều về phương ngữ Nam Bộ mới có thể nhận ra một vài điểm sai khác rất nhỏ về ngữ âm giữa các địa phương.

2. NGỮ ÂM:

2.1.Âm đầu:

2.1.1.Những hiện tượng biến đổi phụ âm đầu:

a) Bj, Dj, Zj, chj, kj, tl: Đây là những phụ âm kép mà yếu tố thứ hai là âm đệm, hay là một thuộc

tính của âm đầu hiện nay chưa rõ Theo GS Hoàng Thị Châu, yếu tố thứ hai là một thuộc tính của phụ âm đầu nhưng trước đây đã từng lầm tưởng là âm đệm

Phụ âm Bj hiện nay là một phụ âm môi – môi xát hữu thanh Theo như sự miêu tả của A.de.Rhodes cách đây hơn ba thế kỷ: “Có hai âm B, một âm không hoàn toàn giống với âm b của chúng ta Khi phát âm, luồng không khí không thoát mà được hút vào Còn âm B kia thì không hoàn toàn giống âm v của chúng ta, cũng không bật hơi mạnh mà hai môi hé mở trong khi phát

âm Đó là một âm môi như trong tiếng Do Thái cổ, chứ không phải âm răng”

Phụ âm Dj (thổ ngữ Bắc Bình Trị Thiên) có phương thức cấu âm như Bj, là phụ âm xát hữu

thanh, ngạc hóa mạnh Nhưng nó là phụ âm đầu lưỡi – răng, có thể so sánh với phụ âm đầu của

các từ this, that, the trong tiếng Anh (Để tiện việc in ấn, j chỉ là ký hiệu ghi lại hiện tượng ngạc hóa mạnh, D là phần chữ quốc ngữ)

Như vậy, từ điển của A.de.Rhodes đã ghi lại một dãy phụ âm xát hữu thanh ngạc hóa

mạnh, bao gồm Bj, Dj, Zj và G của tiếng Việt đầu thế kỉ XVII.

Sang đến thế kỷ XX, trong phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Trung có sự mất đi hiện

tượng ngạc hóa (tức mất j) ở những phụ âm kép tàn dư, kết quả tạo thành sẽ là các phụ âm xát như v, z, Z (sau đó chuyển thành z) Phương ngữ Nam thì ngược lại, yếu tố ngạc hóa lấn át phụ

âm trước nó và biến thành phụ âm đầu j ở cả ba trường hợp Phụ âm j có ba nguồn gốc khác nhau

ấy phát âm hoàn toàn giống nhau: là phụ âm mặt lưỡi, ngạc, xát, hữu thanh Cũng có thể đồng

nhất nó với bán phụ âm hoặc bán nguyên âm j.

Vậy, trong các phương ngữ phía Nam, bán nguyên âm j đã xuất hiện ở vị trí âm đầu và xuất

hiện với một tần số khá cao tạo nên sự khu biệt khá lớn giữa phương ngữ Nam với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung, vì nó đã thay thế cho ba phụ âm /v/ (v), /z/ (d), /z/ (gi) ở các phương ngữ khác

Xét các ví dụ:

vỗvề /vo3 ve2/ - jỗ jề /jo3 je2/

vộivàng /voj6 vaŋ2/ - jội jàng /joi6 jang2/

véovon /vɛw5 vɔn1/ - jéo jon /jɛw5 jɔn1/

dỗdành /zo3zɛ̆ŋ2/ - jỗ jành /jo3jɛ̆ŋ2/

dungdăng /zuŋ1 zăŋ1/ - jung jăng /juŋ1 jăŋ1/

daidẳng /zaj1 zăŋ4/ - jai jẳng /jaj1 jăŋ4/

giặcgiã /zăk6 za4/ - jặc jã /jăk6 ja4/

giòngiã /zɔn2 za3/ - jòn jã /jɔn2 ja3/

giữgìn /zɯ3 zin2/ - jữ jìn /jɯ3 jin2/

Trang 5

b) Sự tác động của âm đệm /-w-/ đến các phụ âm mạc và hầu đứng trước nó như /k/, /ŋ/, /h/, /ʔ/ đã làm xuất hiện âm /-w-/ ở vị trí phụ âm đầu Như vậy, bán nguyên âm /-w-/ đứng trong hệ thống phụ âm đầu của các phương ngữ Nam có thể xem là đặc trưng khu biệt nó với các vùng phương ngữ khác trên cả nước.

/ʔw/ – /w/: oan /ʔwan1/ - wang /waŋ1/

uyên /ʔwen1/ - wiêng /wieŋ1/

uy /ʔwi1/ - wi /wj1/

/hw/ – /w/: hoa huệ /hwa1 hwe6/ - wawệ /wa1 we6/

huy hoàng /hwi1 hwaŋ2/ - wi wàng /wi1waŋ2/

huênh hoang /hweŋ1 hwaŋ1/ - wênh wang /weŋ1 waŋ1/

/ŋw/ – /w/: nguyễn /ŋwien3/ - wiễng /wieŋ3/

ngoại /ŋwaj6/ - wại /waj6/

nguy /ŋwi1/ - wi /wi1/

/kw/ – /w/:qua /kwa1/ - wa /wa1/

quên /kwen1/ - wên /wen1/

Ngoài ra, dưới sự tác động của âm đệm, phụ âm kh /x/ còn chuyển hóa thành phụ âm ph

/f/.Tuy nhiên, phụ âm /x/ trong trường hợp này vẫn còn giữ lại những tính chất khác như khe xát,

vô thanh chứ không bị biến đổi hoàn toàn Ví dụ:

/xw/ – /w/: khoai lang /xwaj1 laŋ1/ - phai lang /faj1 laŋ1/

Khuya khoắt /xwie1 xwăk5/ - phia phắc /fie1 făk5/

khóa /xwa5/ - phá /fa5/

khỏe /xwe3/ - phẻ /fe3/

khoái /xwaj5/ - phái /faj5//ɣw/ biến thành một phụ âm môi, tuy vẫn giữ phương thức cấu âm xát hữu thanh là /v/, nhưng rồi nó lại biến đổi một lần nữa thành /j/ như tất cả những từ bắt đầu bằng /v/

/ɣw/ – /v/ - /j/: bà góa /ba2 ɣwa5/ - bà vá /ba2 va5/ - bà giá /ba2 ja5/

c) Phương ngữ Nam Bộ vẫn chưa có sự phân biệt giữa các âm bẹt lưỡi với quặt lưỡi, giữa âm đầu lưỡi với gốc lưỡi trong giao tiếp thường ngày Ví dụ:

/ʈ/ - /c/: trong trắng /ʈɔŋ1ʈăŋ5/ - chong chắng /cɔŋ1 căŋ5/

trời /ʈɤj2/ - chời /cɤj2/

trước /ʈɯɤk5/ - chước /cɯɤk5/

/ʂ/ - /s/: sao sáng /ʂaw1 ʂaŋ5/ - xao xáng /saw1 saŋ5/

sặcsỡ /ʂăk6 ʂɤ3/ - xặc xỡ /săk6 sɤ3/

Ở Tây Nam Bộ còn có sự chuyển hóa giữa âm rungr /z/ thành âm gốc lưỡi g, gh/ɣ/ Ví dụ:

/z/ - /ɣ/: rổ rá /zo4 za5/ - gổ gá /ɣo4 ɣa5/

ròng rã /zɔ̆ŋ2 za3/ - gòng gả /ɣɔ̆ŋ2 ɣa4/d) Tại một số địa phương ở Tây Nam Bộ, điển hình là Bến Tre còn có hiện tượng phát âm tr /ʈ/ thành t /t/ Ví dụ:

/ʈ/ - /t/: trong trắng /ʈɔ̆ŋ1 ʈăŋ5/ - tong tắng /tɔ̆ŋ1tăŋ5/

Bến Tre /ben5ʈɛ1/ - Bến Te /bən5 tɛ1/

Tiểu kết:

Sự biến đổi các phụ âm đầu (quặt lưỡi → bẹt lưỡi, môi-răng → ngạc…) trong phương ngữ Nam Bộ có thể là do nhiều nguyên nhân:

Về mặt xã hội, một mặt là do sự chi phối của các yếu tố lịch sử (khai khẩn, mở mang dần

về phía Nam, có sự gián tách so với tiếng Việt chuẩn).Mặt khác là do bản tính chất phát, giản dị, phóng khoáng của con người trên vùng đất biền này: linh hoạt, dễ thích nghi với môi trường mới,

Trang 6

luôn có những thay đổi kịp thời theo hướng đơn giản và thuận tiện để phù hợp với điều kiện sinh hoạt - lao động của mình.

Về mặt ngữ âm, hiện tượng chuyển từ âm quặt lưỡi sang đầu lưỡi, đồng hóa âm đệm ở một

số phụ âm còn là kết quả tất yếu của quy luật tiết kiệm trong ngôn ngữ

Trang 7

2.1.2.Bảng hệ thống phụ âm đầu trong phương ngữ Nam Bộ:

tiếng Việt

Âm phương ngữ Nam Bộ

Như vậy, hệ thống phụ âm đầu trong phương ngữ Nam Bộ gồm 23 phụ âm, bao gồm các phụ âm uốn lưỡi như phương ngữ Trung /ʂ/, /ʈ/, /ʑ/ Tuy nhiên, càng xuôi về miền Tây Nam Bộ,

ba phụ âm trên càng bị biến đổi khá mạnh, đặc biệt là phụ âm /ʑ/.So với các phương ngữ khác thì phương ngữ Nam thiếu phụ âm /v/ nhưng bù lại có thêm phụ âm /w/, không có phụ âm /z/ nhưng thay vào đó lại có thêm phụ âm /j/

2.2.Phần vần

2.2.1.Âm đệm:

2.2.1.1.Xét trong mối quan hệ với phụ âm đầu:

Trang 8

Trong phương ngữ Nam, âm đệm /-w-/ triệt tiêu hoàn toàn những phụ âm phía sau, tức là những phụ âm răng, lợi, ngạc Ví dụ:

Tuyêntruyền /twien1 ʈien2/ - tiêng triềng /tieŋ1 ʈieŋ2/

duyên /zwien1/ - diêng/jieŋ1/

tuyết /twiet5/ - tiếc /tiek5/

Âm đệm /-w-/ tác động đến các phụ âm mạc và hầu theo lối đồng hóa ngược tạo nên hai kiểu biến đổi (đã được trình bày ở mục 1.1)

a) Kiểu thứ nhất là đồng hóa hoàn toàn phụ âm đầu đứng trước nó như /k/, /ŋ/, /h/, /ʔ/, kết quả là làm xuất hiện một phụ âm /-w-/ ở vị trí phụ âm đầu Gọi là đồng hóa hoàn toàn vì dù nó là phụ

âm hầu hay âm mạc, vô thanh hay hữu thanh, tắc hay xát đều không để lại một dấu vết khu biệt nào (phần này đã được trình bày ở mục 1.1)

b) Kiểu thứ hai là đồng hóa bộ phận, tức là phụ âm chỉ bị môi hóa, còn những tính chất được khác

được giữ lại Điển hình như phụ âm kh /x/, khi đứng trước âm đệm /-w-/ thì bị chuyển hóa thành

âm ph /f/ nhưng vẫn giữ lại những tính chất khác như khe xát, vô thanh.

2.2.1.2.Xét trong mối quan hệ với nguyên âm:

- Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, âm đệm /-w-/ khi đứng trước nguyên âm â /ɤ̆/ thì sẽ chuyển nguyên âm này thành nguyên âm ư /ɯ/ đồng thời kéo theo sự chuyển đổi về âm cuối /n/, /t/ thành

Để tránh hiện tượng đồng âm gây nhiễu thông tin, đối lập trong âm tiết lúc này không nằm

ở âm đệm mà chuyển sang nguyên âm Tính tròn môi của âm đệm /-w-/ trong những âm tiết trên

sẽ chuyển hoàn toàn sang nguyên âm a /a/, biến a thành nguyên âm tròn môi.

Tiểu kết:

Như vậy, thông qua những ví dụ đã dẫn có thể kết luận, âm đệm /-w-/ đang biến mất trong phương ngữ Nam Bộ Mặc dù âm đệm /-w-/ cũng đóng vai trò khá lớn trong âm tiết, tuy nhiên người dân Nam Bộ đã bỏ qua yếu tố này trong quá trình phát âm Nguyên nhân là do người Nam

bộ luôn có xu hướng đơn giản hóa cách phát âm và điều này trở thành thói quen cho cả cộng đồng Các từ có sự kết hợp của âm đệm thường phải tròn môi gây không ít khó khăn trong việc phát âm.Người từ vùng khác đến thường không hiểu lắm khi nghe người Nam bộ nói chuyện và cho rằng người Nam bộ phát âm sai, từ đó sự thể hiện trên chữ viết cũng sai theo Tuy nhiên thực

tế thì không phải vậy, đó chỉ là cách nói thường ngày để đơn giản hóa cách phát âm, ít tốn năng lượng.Đây cũng chính là một trong những đặc trưng quan trọng, khu biệt phương ngữ Nam Bộ với các vùng phương ngữ khác trên đất nước

2.2.2.Âm chính:

Trang 9

Phương ngữ Nam Bộ có đầy đủ âm chính giống hệ thống âm chính của tiếng Việt mặc dù vẫn có một số hiện tượng biến đổi như:

2.2.2.1.Biến đổi giữa nguyên âm dòng trước với nguyên âm dòng trước:

/i/ - /e/:

bệnh /beŋ6/- bịnh /biŋ6/

mênh mông /meŋ1 moŋ1/- minh mông /miŋ1 moŋ1/

mệnh lệnh /meŋ6 leŋ6/ - mịnh lịnh /miŋ6 liŋ6/

kềnh càng /keŋ2 kaŋ2/- kình càng /kiŋ2 kaŋ2/

thênh thang / theŋ1 thaŋ1/ - thinh thang / thiŋ1 thaŋ1/

êm ái /ʔem1 ʔaj5/ - im ái /ʔim1 ʔai5/

kềm chế /kem2 ce5/ - kìm chế /kim2 ce5/

bếp /bep5/ – bíp /bip5/

nếp /nep5/ – níp /nip5/

con nghêu /kɔn1 ŋew1/ – con nghiu /kɔn1 ŋiw1/

nếu /new5/ – níu /niw5/

Trang 10

/ie/ - /i/:

tiêm chích /tiem1 cik5/ – tim chích /tim1 cik5/

tìm kiếm /tim2 kiem5/ – tìm kím /tim2 kim5/

thiệp mời /thiep6 mɤj2/ – thịp mời /thip6 mɤj2/

hiếu thảo /hiew5 thaw4/– híu thảo /hiw5 thaw4/

chiếu /ciew5/ – chíu /ciw5/

2.2.2.2.Biến đổi giữa nguyên âm dòng giữa với nguyên âm dòng giữa:

thối /tʰoj5/- thúi /tʰuj5/

tôi /toj1/ - tui /tuj1/

/uo/ - /u/:

con muỗi /kon1 muoj3/– con mũi /kon1 muj3/

trái chuối /ʈai5 cuoj5/ – trái chúi/ʈaj5 cuj5/

cuối cùng /kuoj5 kuŋ2/ - cúi cùng /kuj5 kuŋ2/

Trang 11

Ngoài những hiện tượng biến đổi dễ nhận thấy trên đây, phương ngữ Nam Bộ còn có hiện tượng phát âm chuyển đổi khuôn vần/ɯw/(ưu) hay /ɯɤu/ (ươu) thành /u/ (u) trong phương ngữ Nam Bộ:

Ví dụ: mưu trí /mɯw1 ʈi5/ - mu trí /mu1 ʈi1/

rượu bia /ʑɯɤw6 bie1/ - rụ bia /ʑu6 bie1/

Sự chuyển đổi giữa nguyên âm a ngắn /ă/ và nguyên âm a dài /a/ cũng là một trong những đặc trưng đáng chú ý của phương ngữ Nam Bộ:

máu/măw5/ - máo /maw5/

tay /tăj1/ - tai /taj1/

sáu /şăw5/ - sáo /şaw5/

máy /măj5/ - mái /maj5/

Trang 12

2.2.3.Âm cuối:

Phương ngữ Nam Bộ cũng có đầy đủ 8 âm cuối /p-, t-, k-, m-, n-, ŋ-, -w, -j/ giống như hệ thống âm cuối của tiếng Việt Tuy nhiên, cặp phụ âm cuối /n-/, /t-/ đang có xu hướng biến đổi thành cặp phụ âm /ŋ-/, /k-/ trong quá trình phát âm

2.2.3.1.Biến đổi giữa hai phụ âm cuối /n-/ và /ŋ-/:

- Trong kết hợp với nguyên âm dòng trước:

lên men /len1 mɛn1/ – lên meng /len1 mɛŋ1/

hoa sen /hwa1ʂɛn1/ – hoa seng /hwa1ʂɛŋ1/

tiền /tien2/ – tiềng /tieŋ2/

con kiến /kɔn1 kien5/ – con kiếng /kɔn1 kieŋ5/

- Trong kết hợp với nguyên âm dòng giữa:

sơn /ʂɤn1/ – sơng /ʂɤŋ1/

lớn /lɤn5/ – lớng /lɤŋ5/

hoalan/hwa1lan1/ – hoa lang /hwa1 laŋ1/

tannát /tan1 nat5/ – tang nác /taŋ1 nak5/

dặndò /dăn6 dɔ2/ – dặng dò /dăŋ6 dɔ2/

lặnlội /lăn6 loj6/ – lặng /lăŋ6 loj6/

chân tay /cɤ̆n1 tăj1/ – chưng tay /cɯŋ1 tăj1/

chuồn chuồn /cuon2 cuon2/ – chuồng chuồng /cuoŋ2 cuoŋ2/

mong muốn /mɔ̆ŋ1 muon5/ – mong muống /mɔ̆ŋ1 muoŋ5/

2.1.1. Biến đổi giữa hai phụ âm cuối /t-/ và /k-/:

- Trong kết hợp với nguyên âm dòng trước:

bánh tét/bɛ̆ŋ5 tɛt5/ – bánh téc /bɛ̆ŋ5 tɛk5/

Trang 13

quét nhà /kwɛt5ɲa2/ – quéc nhà /kwɛk5 ɲa2/

tiết kiệm /tiet5 kiem6/ – tiếc kịm /tiek5 kim6/

- Trong kết hợp với nguyên âm dòng sau:

hút thuốc /hut5 thuok5/ – húc thuốc /huk5 thuok5/

nút áo /nut5 ʔăw5/ – núc áo /nuk5 ʔăw5/

trắng muốt /ʈăŋ5 muot5/ – trắng muốc /ʈăŋ5 muoc5/

tuốt tuồn tuột /tuot5 tuon2 tuot6/ – tuốc tuồng tuộc /touk5 tuoŋ2 tuok6/

Như vậy, qua những ví dụ trên có thể thấy, hiện tượng biến đổi giữa cặp phụ âm cuối /n-/, /t-/ thành /ŋ-/, /k-/ chính là một đặc trưng quan trọng của hệ thống âm cuối của phương ngữ Nam

Bộ Tuy nhiên không phải lúc nào hai cặp phụ âm cuối trên cũng có thể chuyển đổi qua lại như vậy Cần phải chú ý, nếu phụ âm /n-/, /t-/ phân bố sau hai nguyên âm dòng trước, có độ mở nhỏ

và trung bình như /i/, /e/ thì đối lập trong âm tiết không xảy ra ở âm cuối mà sẽ chuyển về nguyên âm Đó là lý do vì sao ta không thể dựa vào chữ viết để so sánh sự khác biệt giữa hai âm tiết Ví dụ:

thịtgà /thit6ɣa2/ - thịch gà /thɨ̆t6ɣa2 /

tintưởng /tin1 tɯɤŋ4/ - tinh tưởng /tɨ̆n1 tɯɤŋ4/

ngày tết /ŋăj2 tet5/ - ngày tếch /ŋăj2 tət5/

tên gọi /ten1 ɣɔj6/ - tênh gọi /tən1 ɣɔj6/

2.2.4.Bảng hệ thống vần trong ngôn ngữ Nam Bộ:

Trang 14

ă ăp ăk ăk ăm ăŋ ăŋ ăw/aw ăj/aj

Những vần in nghiêng đậm là những vần so với ngôn ngữ chuẩn đã được thay thế

Dấu gạch nghiêng ( / ) đặt giữa hai vần là hai biến thể của phương ngữ Nam Bộ

2.2. Hệ thống thanh điệu:

Phương ngữ Nam Bộ có 5 thanh điệu, trong đó thanh hỏi và ngã phát âm gần giống nhau.Người Nam bộ thường phát âm thanh ngã thành một thanh trung gian có âm vực gần như thanh hỏi, quy ước phát âm là thanh 3/4

Ví dụ: vẻ (vẻ vang) và vẽ (vẽ tranh) được phát âm không mấy khác biệt Hay xả (xả nước) với xã (xã hội), mở (mở cửa) với mỡ (dầu mỡ)…cũng không có điểm sai khác.

- Thanh ngang: Có âm điệu bằng và đi xuống thoai thoải như thanh huyền nhưng chúng khác

về âm vực

- Thanh sắc: Có đường nét đi lên như tiếng Bắc nhưng hầu như không có phần âm điệu bằng ngang mở đầu

- Thanh nặng: gần giống với thanh nặng của phương ngữ Bắc, kết thúc âm tắt thanh hầu hoặc

đi lên đôi chút ở cuối

Trang 15

3.Từ vựng trong phương ngữ Nam Bộ.

3.1.Khái quát từ vựng Nam Bộ

Nhiều từ vựng phương ngữ miền Nam có nguồn gốc từ bối cảnh sông nước, đặc điểm tự

nhiên của miền Tây Nam Bộ, như: có giang, quá giang, anh em cột chèo (phân biệt chèo lái, chèo kế, chèo mũi) chỉ anh em đồng hao ở ngoài Bắc, khẳm (chỉ thứ gì nhiều quá ví dụ khẳm tiền), chìm xuồng (chỉ vụ việc bị lãng quên), tới bến, xuống nước

3.1.2.Đặc trưng riêng:

Phương ngữ Nam Bộ có tính kế thừa và bổ sung ngôn ngữ chung, nhưng vẫn mang sắc thái riêng.Từ đặc điểm nước lên xuống ngày 2 lần ở ĐBSCL mà người ta có nhiều tên gọi về

nước Gọi nước lên hay xuống, ở Nam Bộ có tới mấy chục từ ngữ để diễn tả, như: nước lớn,

nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nướ

cbò… Riêng nước ròng còn được phân biệt: nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng

rặc ,nước ròng kiệt, hay còn gọi tắt là nước cạn,nước sát, nước rặc,nước kiệt…Thời điểm

nước đứng phương ngữ Nam Bộ gọi là “nước nhửn” Thời gian từ đỉnh triều cường đến đỉnh triều nhược, gọi là nước ròng; từ đỉnh triều nhược đến đỉnh triều cường gọi là nước

lớn.“Nước lớn chảy vô, nước ròng chảy ra” đó là câu thành ngữ mô tả hiện tượng thiên nhiên

ở ĐBSCL, có nghĩa phái sinh là người ta chỉ biết dựa vào thiên nhiên chớ không biết chinh

phục thiên nhiên,tới đâu hay tới đó Tại đỉnh triều nhược, nước chuẩn bị lớn gọi là nước nhửn

lớn, tại đỉnh triều cường, có nước nhửn ròng.Ở ĐBSCL, có 2 mùa gió Tây Nam và Đông

Nam, phương ngữ gọi là gió Nồm và gió Chướng (Nồm xuôi dòng Cửu Long, Chướng ngược dòng Cửu Long).Cửa sông, Nam Bộ gọi là vàm.

Có những phương ngữ đi sâu vào tiềm thức người dân Nếu bạn hỏi người Long An:

“Quê bạn có nhiều lúa không? ”Câu trả lời:“Hằng hà!” Còn người Vĩnh Long sẽ trả lời:

“Nhốc luôn!” (với nghĩa rất nhiều) Từ “cà” có thể thêm vào nhiều từ kết hợp để tạo ra sắc thái biến động không ngừng: cà nhúng, cà nhắc, cà chớn cà cháo, cà khịa, cà rịch, cà tang…

ĐBSCL là vựa lúa, thuỷ sản, trái cây…vì thế những danh từ liên quan đến nông sản,nông

cụ, thuỷ sản rất phong phú Đơn cử những từ liên quan tới cây lúa thôi, chưa chắc một học sinh

thành phố hay thị xã trong vùng đã biết hết: gốc lúa gọi là rạ, thân lúa thu hoạch xong gọi là

rơm, nơi hạt lúa dính vào gọi là gié Lúa tròn mình gọi là trỗ đòng đòng Vỏ lúa: trấu Hạt gạo

bị mẻ ra: tấm Chất bột vàng bao quanh hạt gạo: cám trấu nhỏ gọi là trấu càng, tâm nhỏ gọi là

tấm mẳn Thành ngữ: “lo chuyện tấm mẳn”

Tính giàu hình tượng cụ thể, có thể là một đặc trưng của ngôn ngữ Nam Bộ Chẳng hạn: Bánh

phồng là bánh nướng phồng lên Bánh kẹp là bánh dùng kẹp mà nướng.Bánh lá dừa là bánh gói bằng lá dừa.Bánh tét là bánh phải dùng dây mà tét.Bánh xèo là bánh khi đổ nghe xèo xèo.Bánh ít

có thể là nói trại từ bánh ếch, vì giống hình con ếch.Ngoài Bắc từ tiếng Svont của người Pháp mà

Trang 16

gọi là xà phòng, còn trong Nam thì gọi là xà bông, vì khi chà xát thấy nổi bông trắng lốp.Ngoài Bắc gọi mì chính, trong Nam gọi bột ngọt, bởi nó là bột mà ngọt.Miền Bắc gọi dầu hỏa, trong Nam gọi dầu hôi, vì nó hôi Cứ như vậy mà liệt kê, ta thấy ngôn ngữ Nam Bộ có vẻ như khác

hẳn với ngôn ngữ vùng văn hóa phía Bắc Có người nói, có thể do có sự đối kháng từ thời Nam

Bắc triều, đàng ngoài đàng trong Ví dụ: heo với lợn Huỳnh với Hoàng.Cá chuối- cá lóc.Ô tô-

xe đò Thuyền- ghe… Có thể từ cách sống phóng khoáng của cư dân miệt đồng ngút ngát, mà

hình thành thói quen sử dụng từ tùy thích, miễn là phản ánh đúng tính cách mạnh mẽ của người

dân mở đất Chẳng hạn nói: bản mặt chằn vằn, đồ chằng tinh hổ lửa, đồ mặt rô, đồ quần què…

là một cách nói rất mạnh Phải chăng đó cũng là tính hài của ngôn ngữ bình dân vốn rất giàu chất hài trong cuộc sống

Lấy một vài cụm từ chỉ hình ảnh, ta sẽ thấy tính giàu hình ảnh và giàu chất hài của ngôn ngữ

Nam Bộ: ngồi chò hỏ, ngồi chành bành, ngồi chèm bẹp, ngồi chù ụ Không ai nói con gái ngồi chò hỏ, cũng không ai nói con trai ngồi chành bành bao giờ.(Trời đất, thằng Năm làm gì mới hừng đông đã ngồi chò hỏ đó mầy! Con gái con lứa gì đâu ngồi chành bành mắc ghét!).

Một đặc trưng nữa của ngôn ngữ Nam Bộ là tính rút ngắn Người dân đi chợ không hỏi chỗ cá

này bao nhiêu tiền, mà thường chỉ vào nó rồi hỏi: nhiêu hoặc bi nhiêu? Từ đó hình thành cách nói: bi dai, bi lớn, bi to, ế cum vầy nè, bự trảng thấy sợ, bành ky luôn, đẹp hết biết, hay hết xẫy, trúng ngay phóc, đụng ngay boong, nói ngay tróc, ngon hết ý… Nghĩa là chỉ cần nói chừng đó,

chứ không cần mất công diễn tả, diễn giải dài dòng.Tìm cách để nói gộp tất cả lại cho nhanh là

cách nói rất phổ biến Chẳng hạn: người ta vầy mà nhỏ!

Nắm đươc đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ thì mới sáng tạo văn bản thành văn mang màu sắc văn hóa Nam Bộ

Chẳng hạn bài ca dao sau thì không lẫn vào đâu được:

Cóc chết nàng nhái mồ côi

Chàng hiu đi hỏi lắc đầu hổng ưng

Con ếch ngồi ở gốc đưng

Nó kêu cái ẹo biểu ưng cho rồi.

3.1.3.Mật độ sử dụng:

Phương ngữ vùng nào tất nhiên được người dân vùng đó dùng để giao tiếp.Tuy nhiên ngoài ra còn có một số đặc điểm sau Gần đây khi giao thông vận tải, truyền hình, phim ảnh và internet phát triển nhìn chung người ngoài Bắc và trong Nam có xu hướng dễ hiểu nhau hơn, ở một mức

độ nào đó có ảnh hưởng lẫn nhau ví dụ ngoài Bắc dùng từ nhậu, dzô hoặc trong Nam dùng từ vào trong bóng đá hoặc từ bác xưng hô trên internet, phim ảnh nhiều hơn.

Trong xu hướng này, các từ của tiếng Nam Bộ nhập vào tiếng Việt chung là biểu hiện rõ nhất:

bột giặt, kem giặt (thay cho xà phòng bột, xà phòng kem), gạch bông, bông tai (gạch hoa, hoa tai), máy lạnh (điều hòa nhiệt độ), tiêu chảy (ỉa chảy, ỉa lỏng), bà bầu (bà chửa), chỉ, cây (vàng) (đồng cân, lạng (vàng)), quậy (phá), nhậu nhẹt (ăn uống, bia rượu), lì xì (mừng tuổi), nước tương (xì dầu), nhà thuốc/ nhà sách (cửa hàng thuốc/ cửa hàng sách), v.v.

Ngoài ra trong khi chat, nhiều thiếu niên hay cố tình viết sai chính tả để ký âm phương ngữ miền Nam hay miền Trung

3.2. Nhóm từ vựng phương ngữ Nam Bộ

3.2.1. Từ chỉ “riêng” có ở Nam Bộ

Trang 17

Đây là nhóm từ dùng để gọi tên những sự vật chỉ có riêng ở Nam bộ Loại này, trong từ vựng chung của toàn dân tộc không có từ tương ứng với chúng Trong đó lớp từ vựng phản ánh môi trường sông nước có sự phong phú đến mức cực đại.Lớp từ này vừa phản ánh môi trường sinh thái đặc thù vừa phản ánh kinh nghiệm, nhận thức sâu sắc của cư dân Nam bộ về môi trường sinh thái đó, đồng thời làm cho vốn từ vựng tiếng Việt thêm phong phú Cụ thể là:

- Địa hình đồng bằng sông nước: lạch, rạch, tắt, bưng, biền, cồn, giồng, xáng, vũng, trũng, gành, mương, kinh, cùlao,…

- Trạng thái sông nước: nước ròng, nước rông, nước nổi, nước kém, nước sát, nước đứng, nước ngập,…

- Động vật đồng bằng sông nước: tép bạc đất, tép bạc non, tép mồng, cá bóng dừa, cá thòi lòi, con tèng heng,…

- Thực vật đồng bằng sông nước: sầu riêng, đước, tràm, trâm bầu, dẹt, quao, mắm, bần, lác, dừa nước, mù u, bình bác, môn nước, kèo nèo, ráng, lôm chôm,…

- Phương tiện di chuyển: vỏ lãi, ghe, đò, cầu khỉ, cầu tre, tắt ráng, bến bắc, bến đò, cầu dừa, cầu ván,…

- Lối diễn đạt mang hình ảnh đồng bằng sông nước: anh em cột chèo, đi cầu, cầu tiêu, bể mánh, phá mồi, cá cắn câu, lặn lội, giả đò, xe cảng, tới bến,…

- Chỉ tên người, vùng đất, đặc sản: tên các tỉnh ở Nam Bộ, các địa danh như: Gành Hào, Tháp Mười, rạch Chèo,…ông già Ba Tri, kẹo Mỏ Cày,kẹo dừa…

3.2.2. Từ chỉ địa danh

3.2.2.1. Địa danh chỉ địa hình:

Nam Bộ có đầy đủ địa hình như Bắc Bộ, Trung Bộ: núi, rừng, cao nguyên, đồng bằng, biển đảo Tuy nhiên, phần lớn nằm trên địa bàn đồng bằng với nhiều dòng chảy.khác nhau.Thực địa này được phản ảnh trong địa danh ở Nam Bộ

- Địa hình Nam Bộ gồm hai bộ phận chính: địa thế tự nhiên và các dòng chảy + Về địa thế, phương ngữ Nam Bộ cũng có những từ ngữ của ngôn ngữ toàn dân, như : núi, gò, mô, bàu, đầm, hồ, hố, gành, đồng, ao, hòn, cồn, láng, đìa, cù lao, hàn …Bên

cạnh những từ phổ thông trên, Nam Bộ còn hàng chục từ chỉ địa hình khác

Bùng binh là chỗ phình rộng giữa sông rạch, đôi khi có cù lao ở giữa, ghe thuyền

có thể quay đầu

Búng là vùng đất thuộc tỉnh Bình Dương Dòng sông Sài Gòn chảy đến đây tạo

thành một chỗ xoáy sâu rất nguy hiểm đối với ghe thuyền.Chỗ đó gọi là búng, sau trở thành tên vùng đất.Búng là “chỗ nước sâu làm ra một vùng”

Bưng gốc Khmer bâng, nghĩa là “vùng đất sâu và rộng ở giữa đồng” Đường

Thét là chợ ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Đường thét là “đường rất

thẳng”, người xưa thường nói thẳng thét “rất thẳng”

Đường trâu là “đường trâu thường đi tạo thành rạch”.

Đường xuồng là “dòng nước mà các chiếc xuồng thường đi lại” Động là “cồn cát”.

Eo Lói là khúc sông nhỏ chảy từ Băng Cung ra Cổ Chiên, tỉnh Vĩnh Long.Eo lói

là “chỗ quanh gắt trên đường, trên sông, có hình cùi chõ”

Gãnh là “chỗ giồng đất xốp, vốn là bãi biển do phù sa bồi dần”

Trang 18

Gãy Cờ Đen là địa điểm có chợ Gãy, tỉnh Đồng Tháp Gãy cờ đen vì tại đoạn kinh

gãy khúc có cắm một lá cờ đen khá cao làm mục tiêu để ngắm theo đó mà đào cho con

Giáp nướccó hai loại: 1.Nơi hai dòng nước từ hai nguồn khác hướng ở hai đầu

chảy lại 2 Nơi hai dòng nước không cùng chiều gặp nhau, tạo thành vùng nước xoáy Ở

Nam Bộ có nhiều địa danh kiểu này: CầuGiáp Nước; chợ Giáp Nước; vùng Giáp Nước.

Ở Nam Bộ có khá nhiều địa danh mang thành tố Giồng: ở thành phố Hồ Chí Minh

có giồng Am, rạch Giồng Bầu, ngã ba Giồng, giồng Cá Vồ; ở tỉnh Kiên Giang có huyện Giồng Riềng; ở Bến Tre có huyện Giồng Trôm;… Giồng là biến âm của Vồng, chỉ “dải

đất phù sa nổi cao lên, thường là ở ven sông”

Lung là “chỗ trũng quanh năm có nước đọng ở giữa đồng hoặc giữa rừng” địa

danh như rạch Lung,Lung Chim,Lung Sen,Lung Âm, Lung Gạo, Lung Lá, Lung Nai, Lung

Ngọn là “dòng nước nhỏ ở đầu sông rạch lớn Các địa danh như Rạch Ngọn,

Ngọn Én, Ngọn Dừa

Nổng là “gò” Có các địa danh như: Nổng Kè, Nổng Kè Lớn, Nổng Kè Nhỏ…

Ô là “vũng, bàu” ở Nam Bộ có các địa danh như: Ô Môn, Ô Ma, Ô Cấp…

Sống Trâu là cái tắt ở huyện Cần Giờ, tp HCM, dài độ 3.500m.Sống trâu là thế

đất/cát có nhiều đường dọc nổi lên như sống lưng con trâu

Trấp là chỗ trũng, ngập nước, nhỏ hơn bưng.Trấp bèo có lẽ trước đây là vùng

Ụ là chỗ sâu trên một dòng sông và ăn sâu vào đất liền để ghe thuyền đậu lại, và

bờ sông ở đây lài lài để dễ kéo thuyền lên sửa.Nam bộ có các địa danh như Ụ, Ụ Cây, Ụ ghe

Vàm là rạch ở phường Thạnh Lộc, quận 12, tp HCM; là “ngã ba sông, rạch”.

Xáng thường gọi là chiếc sà-lan, trên đó người ta đặt cái máy đào kênh, vét bùn

Kinh xáng là con kinh do xáng đào Ở Nam Bộ có nhiều con kinh đào mang tên này

+ Về tên các dòng chảy, ở Nam Bộ cũng dùng những từ phổ thông ở Bắc Bộ và

Trung Bộ, như sông, suối, mương, kinh/kênh,…Bên cạnh những từ toàn dân đó, Nam Bộ

còn dung hàng chục từ mang tính địa phương rõ rệt

Cái là từ chỉ các dòng chảy Ở Nam Bộ có độ 250 địa danh mang thành tố này ở

trước, trong đó có độ 200 địa danh chỉ các dòng nước Yếu tố đứng sau có thể chia làm 6 nhóm: 1 chỉ người; 2 chỉ vị trí; 3 chỉ tính chất; 4 chỉ vật thể; 5 chỉ con vật; 6 chỉ cây cối

Cái Tàu là rạch chảy qua vùng có nhiều người Hoa.

Cái Vồn là rạch đổ ra sông Hậu

Tiếp theo, yếu tố đứng sau có thể là vị trí.

Cái bát là “sông nhánh bên phải”.Còn cái cạy là “sông nhánh bên trái.Cái Cạy là

Cái bé là “sông/rạch/kinh nhỏ”; cái lớn là “sông/rạch lớn” Cái ngay là “kinh

thẳng”

Cái quanh là “con sông quanh co nguy hiểm”

Cái tắc có dạng gốc cái tắt, là “rạch để đi tắt từ nơi này đến nơi khác”

Trang 19

Cái xép là “rạch nhỏ”.

Một số yếu tố đứng sau là các vật thể tại chỗ

Cái Bè,Cái cát là “rạch cát”,Cái Cối,Cái muối là “rạch muối” Cái Răng…

Cái cá là “rạch cá” vì dưới rạch này trước đây có nhiều cá sấu.Cái chồn là “rạch

chồn” Cái nai là “rạch nai” Cái tôm là “rạch tôm”

Cái Cui,Cái da,Cái Dầu,Cái Mít,Cái nhum là “rạch có nhiều cây nhum mọc hai bên,Cái sơn là “rạch cây sơn”,Cái Trầu…

Cổ là “đảo cồn”.Các địa danh Nam Bộ nhưCổ Công / Cổ Cong,Cổ Tron,Cổ

Hóc là dạng cổ của hói, chỉ cái xẻo / xẽo, một dòng nước nhỏ.các địa danh Nam

Bộ như Hóc Môn, Hóc Hươu,Hóc Bà Tó

Lòng là từ phổ thông, nhưng ở Nam Bộ, nó còn chỉ dòng sông Các địa danh

Nam Bộ như Lòng Giằng Xay,SôngLòng Tàu,Lòng Ống …

Ngả là nhánh sông.Có các địa danh Ngả Bát, Ngả Cạy… Rạch là dòng nước tự nhiên, nhỏ hơn sông Các địa danh Rạch Giá; Rạch Dừa;

cầu Rạch Miễu…

Tắt ban đầu đứng sau các danh từ chỉ cách đi băng qua một chỗ nào đó để rút

ngắn lộ trình, như sông tắt, rạch tắt, ngả tắt, cái tắt,…Sau đó, thường bị nói gọn là tắt, rồi bị viết sai thành tắc Ở Nam Bộ có các địa danh như Tắc Cậu,Tắc Ráng

Xẻo là “lạch con” Ở Nam Bộ có khá nhiều địa danh mang từ này: Xẻo Gừa; Xẻo

Nga; Xẻo Quýt; Xẻo Sầm…

Xép là bàu ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Xép là “đàng nước nhỏ mà chẹt”

hoặc “khu vực của hai con rạch chạy bao quanh hình vòng cung, một con rạch cắt ngang”

3.2.2.2.Từ địa phương chỉ cây cối.

Từ địa phương chỉ tên thực vật ở Nam Bộ có số lượng nhiều hơn cả:

Trảng Bom,Trảng Bàng (cỏ bàng), Trảng Dớn,… Bồn Bồn ,Bún Cồng, Gò Chai, Ngan Dừa, Dừng, Nâu, Rạch Nga ,Xẽo Nga, Ráng ,Mướp Sát, Săng Đá,Săng Máu, Láng Thé ,Tóc Tiên, Giồng Trôm ,Vòi Voi…

Ngày đăng: 30/08/2016, 18:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh các từ ngữ thông dụng tại các vùng nam bộ,bắc bộ và trung bộ: - phương ngữ nam bộ  phương ngữ học
Bảng so sánh các từ ngữ thông dụng tại các vùng nam bộ,bắc bộ và trung bộ: (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w