1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa danh Bình Định Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngôn Ngữ Học

176 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa danh Bình Định Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngôn Ngữ Học Trình bày chi tiết về đặc điểm cấu tạo địa danh Bình Định, bao gồm: Phương thức địa danh, phương thức tự tạo, phương thức chuyển hóa, cấu tạo về danh từ chung và thành tố chung trong địa danh Bình Định. Cung cấp nguyên nhân tồn tại hay mất đi của một địa danh và nguồn gốc ý nghĩa của nhiều địa danh thuộc Bình Định

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

VÀI NÉT VỀ ĐỊA DANH

BÌNH ĐỊNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ TRUNG HOA SINH VIÊN THỰC HIỆN:

MÃ SỐ SINH VIÊN:

LỚP : KHÓA:

TP HỒ CHÍ MINH

M C L C Ụ Ụ

DẪN NHẬP 5

Trang 2

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1 Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới 7

1.2 Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 9

1.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Bình Định 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

1.4 Đối tượng nghiên cứu 12

1.5 Phạm vi nghiên cứu 12

4 Mục đích nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14

1.6 Ý nghĩa khoa học 14

1.7 Ý nghĩa thực tiễn 14

7 Bố cục của đề tài 14

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15

1.1 Những tiền đề lí luận 15

1.1.1 Định nghĩa địa danh 15

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu và vị trí của địa danh học 16

1.2 Những tiền đề thực tiễn 20

1.2.1 Vài nét về tỉnh Bình Định 20

1.2.2 Thống kê, phân loại địa danh Bình Định 46

TIỂU KẾT 46

CHƯƠNG 2 ĐẶC DIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH BÌNH ĐỊNH 47

2.1 Phương thức địa danh 47

2.1.1 Phương thức tự tạo 47

2.1.2 Phương thức chuyển hóa 55

2.2 Đặc điểm cấu tạo địa danh Bình Định 60

2.2.1 Cấu tạo địa danh Bình Định 60

2.2.2 Vấn đề danh từ chung và thành tố chung trong địa danh Bình Định64 TIỂU KẾT 68

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT CHUYỂN BIẾN CỦA ĐỊA DANH BÌNH ĐỊNH 70 3.1 Nguyên nhân tồn tại hay mất đi của một địa danh 70

3.1.1 Nhóm nguyên nhân xã hội 3.1.1.1 Hán hóa địa danh: 70

Trang 3

3.1.1.4 Tâm lí xã hội 72

3.1.2 Nhóm nguyên nhân ngôn ngữ 76

3.2 Đặc điểm chuyển biến của các loại địa danh 3.2.1 Đặc điểm chuyển biến của địa danh chỉ địa hình 77

3.2.3 Đặc điểm chuyển biến địa danh chỉ công trình xây dựng ở Bình Định 90 TIỂU KẾT 94

4.1 Nguồn gốc – ý nghĩa của một số địa danh Bình Định 96

4.1.1. Địa danh Gành Ráng 96

4.1.2 Địa danh Hầm Hô 98

4.1.3 Địa danh Bàu Sấu 100

4.1.4 Địa danh Bến Trường Trầu 101

4.2 Các địa danh gốc Hán 102

4.2.1 Vọng Phu Thạch 102

4.2.2 Phủ thành Quy Nhơn 103

4.2.3 Địa danh Phù Ly 103

4.3 Các địa danh gốc Chăm 104

4.3.1 Địa danh Đồ Bàn, Chà Bàn 104

4.3.2 Địa danh Thị Nại 106

4.3.3 Địa danh Cù Lao Xanh 106

KẾT LUẬN 107

4.2 Giá trị phản ánh hiện thực của địa danh Bình Định 107

4.2.1 Phản ánh lịch sử 107

4.2.2 Phản ánh địa lí tự nhiên 115

4.2.3 Phản ánh kinh tế 116

4.2.4 Phản ánh văn hóa 118

4.2.5 Phản ánh ngôn ngữ 128

TIỂU KẾT 129

KẾT LUẬN 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

PHỤ LỤC 139

1 Địa Danh Hành Chính 139

2 Địa Danh Chỉ Vùng Chưa Xác Định Rõ Ranh Giới: 1 158

3 Địa Danh Chỉ Địa Hình Thiên Nhiên 159

Trang 4

4 Địa Danh Chỉ Công Trình Xây Dựng 181

5 Di Tích Lịch Sử - Thắng Cảnh 207

Trang 5

DẪN NHẬP

1. Lí do chọn đề tài

Địa danh học là một bộ phận của Danh xưng học, một phân ngành của Ngôn ngữ học, chuyên nghiêncứu về tên gọi, danh xưng của các vùng miền, sông suối, hồ đầm, đơn vị hành chính… So với các ngànhkhoa học khác trên thế giới, Địa danh học là một khoa học ra đời khá muộn Theo một số tài liệu khảochứng công bố gần đây, trên thế giới, chuyên ngành Địa danh học được hình thành vào khoảng thế kỷXIX và đến đầu thế kỷ XX đã thực sự trở thành một trong những lĩnh vực mới của Ngôn ngữ học và đạtđược nhiều thành tựu đáng kể với hàng trăm công trình lớn nhỏ được công bố Đến giai đoạn nửa cuối thế

kỷ XX, ngành Địa danh học Việt Nam mới bắt đầu hình thành và có những bước phát triển cơ bản đầutiên

Là bộ phận cấu thành hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, địa danh và ngôn ngữ có quan hệ biệnchứng với nhau Nó vừa là một hình thức biểu hiện phong phú, vừa chính là phương thức tồn tại khá đặcbiệt của ngôn ngữ Vì thế, chúng ta không thể hiểu, giải thích địa danh nếu không sử dụng những tri thức

về ngôn ngữ Do đó, có thể xem địa danh là một loại cứ liệu lịch sử đối với việc nghiên cứu về lịch sửhình thành và phát triển từ vựng nói riêng và ngôn ngữ nói chung

Địa danh từ lâu được biết đến như một khái niệm mang trong mình nhiều nhiều giá trị hiện thực tolớn Nhắc đến một địa danh nào đó là nhắc đến một phần thiêng liêng trong mỗi người bởi bất kì một địadanh nào cũng gắn với một cá nhân hay tập thể nào đấy Địa danh do con người tạo ra nên bao giờ cũngphản ánh những nét văn hóa đặc thù, những phong tục tập quán tín ngưỡng của cộng đồng đã sinh ra nó.Qua một địa danh nhất định nào đó, chúng ta có thể tìm hiểu được quá trình lịch sử - xã hội của một dântộc, thấy được đặc trưng văn hoá, cuộc sống sinh hoạt, thậm chí nhu cầu tâm lý của họ Trong một vùngđất có nhiều dân tộc cộng cư với nhau, địa danh ở nơi đó cũng mang dấu tích của nhiều ngôn ngữ khácnhau Tên gọi lịch sử của mỗi vùng miền được hình thành trong những điều kiện xã hội, lịch sử nhất địnhmang những dấu ấn văn hoá nhất định Nhiều địa danh phản ánh tên gọi của dân tộc, cây cỏ, muông thú,

sự vật mang đặc trưng riêng biệt Những địa danh ấy đã trở thành vật hoá thạch, những đài kỉ niệm bằngngôn ngữ độc đáo, lưu trữ các thông tin văn hóa về thời đại mà nó chào đời, còn lưu giữ mãi về sau

Nghiên cứu địa danh cho cái nhìn tổng thể về sự ra đời và phát triển cùng quá trình biến đổi địadanh Việc tìm hiểu địa danh hình thành và mất đi như thế nào, nguyên nhân của quá trình chuyển hóa, lí

do còn tồn tại đến ngày nay của một địa danh là việc làm cần thiết Công việc ấy không chỉ có ý nghĩa đốivới việc tìm hiểu văn hóa, lịch sử của địa phương mà còn góp phần to lớn trong việc nghiên cứu địa lí tự

Trang 6

nhiên – xã hội và đặc biệt là ngôn ngữ của cộng đồng Bởi địa danh, xét ở một gốc độ nào đó, là hiện thâncủa lịch sử phát triển ngôn ngữ Và tìm hiểu địa danh Bình Định không nằm ngoài ý nghĩa trên.

Bình Định là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ với lịch sử hình thành khá đặc biệt, là mảnhđất anh hùng và hiên nganh qua khá nhiều biến cố lịch sử Bình Định có một nền văn hóa lâu đời đa dạng,phong phú, là sự hội tụ, kết tinh những tinh hoa của nền văn hóa Sa Huỳnh, nền văn hóa Chăm Pa, nềnvăn hóa các dân tộc của cư dân Bình Định và tiếp thu tinh hoa nền văn minh của các nước khác trong khuvực thế giới Đó là mảnh đất của các phong trào yêu nước, nơi xuất phát và là thủ phủ của phong tràonông dân Tây Sơn với người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung; là chiếc nôi của nghệ thuậttuồng và các làn điệu dân ca phong phú như bài chòi, múa hát bả trạo, hát H’mon Bình Định cũng là quêhương và nơi trưởng thành của nhiều nhà thơ nổi tiếng như Đào Tấn, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc

Tử, Yến Lan Ở vùng đất này, bên cạnh văn hoá của người Kinh, những di tích văn hóa cổ Chăm Pa chủ nhân xa xưa, vẫn còn tồn tại khá đậm nét với những bóng tháp chàm bên rặng dừa xanh ngắt, nhữngxóm, thôn sinh hoạt theo văn hoá Chăm và các dân tộc cộng cư  khác như Bana, H’rê… Nền văn hóa ấy

-đã tạo cho cư dân Bình Định vừa có phẩm chất cao quý của người Việt Nam, vừa có sắc thái riêng Đó làlòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù và sáng tạo trong laođộng, truyền thống hiếu học, trọng nghĩa tình đạo lý, thủy chung, tính giản dị trong lối sống Qua nhữngbiến cố lịch sử khác nhau, hệ thống địa danh của tỉnh cũng có ít nhiều thay đổi sao cho phù hợp sự pháttriển của từng thời kỳ, điều đó không chỉ phản ánh một cách trung thực lịch sử, ngôn ngữ mà còn biểuhiện sự đa dạng phong phú về văn hoá, lễ tục ở địa phương này trong tiến trình phát triển của nó

Tìm hểu địa danh Bình Định cho ta cái nhìn toàn diện về bức tranh văn hóa xã hội, về tiến trình pháttriển từ quá khứ tới hiện tại của lịch sử, địa lí và đặc biệt là ngôn ngữ của miền đất này

muốn tìm hiểu ý nghĩa, cơ chế đặt tên của các vùng miền, các đơn vị hành chính từ xa xưa đến nay để hiểubiết thêm về nguồn gốc, tiến trình phát triển lịch sử - văn hóa Bình Định, góp phần hoàn thiện bức tranhđịa danh của cả nước

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới

Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ rất lâu trên thế giới Sự phát triển này không phải chỉđược quan tâm ở các nước phương Tây mà ngay ở phương Đông, đặc biệt Trung Quốc, một nước liền kềvới chúng ta, địa danh cũng được quan tâm từ rất sớm như: Thời Đông Hán, Ban Cố đã ghi chép hơn 4000

địa danh trong bộ Hán thư, trong đó có một số địa danh đã được ông giải thích rất rõ về nguồn gốc và ý

Trang 7

nghĩa Đời Bắc Ngụy (380-535 TCN) trong Thủy Kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên đã ghi chép hơn 2 vạn

địa danh, số được giải thích ngữ nguyên là hơn 2300 địa danh

Ở các nước phương Tây, bộ môn Địa danh học chính thức ra đời vào cuối thế kỷ XIX Năm 1872,

J.J.Eghi (Thụy Sĩ ) công bố chuyên luận Địa danh học Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Ủy ban địa

danh của các nước Mỹ, Thụy Điển, Anh lần lượt ra đời, góp phần thúc đẩy sự phát triển khá nhanh chóngcủa khoa học nghiên cứu về địa danh

  Tiên phong trong lĩnh vực xây dựng hệ thống lí luận về lí thuyết địa danh là các nhà Địa danh học

Xô Viết Những năm 60 của thế kỉ XX tại Liên Xô đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này

ra đời E.M.Murzaev viết cuốn Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học (1965) và A.V.Superanskaia đã xuất bản công trình Địa danh là gì? (1985) Năm 1964, tiếp thu thành tựu nghiên

cứu của các nhà khoa học tiền bối, học giả A.I.Popov đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản của công tácnghiên cứu địa danh, trong đó chú trọng hai nguyên tắc chính là phải dựa vào tư liệu lịch sử của các ngànhNgôn ngữ học, Địa lý học, Sử học và phải thận trọng khi sử dụng phương pháp thành tố để phân tích cấu

tạo của địa danh Ngoài ra, I A Kapenco (1964) đã phát biểu những ý kiến bàn về Địa danh học đồng

đại Qua các công trình công bố trên tập san của Viện Hàn Lâm khoa học Xô Viết, N.V.Podonxkaija đã

tập trung phân tích, lí giải nội dung địa danh đã mang những thông tin gì Công trình của bà đã góp phầnlàm cho việc nghiên cứu địa danh ngày càng đi sâu vào bản chất Nhà nghiên cứu A.V.Superanskaia trong

cuốn  Địa danh là gì? (1985) đã đặt ra những vấn đề vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát cao.

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đi sâu vào những vấn đề thiết thực liên quan đến việcphân tích địa danh Ngoài việc trình bày cách hiểu về khái niệm địa danh, bà còn nêu lên các vấn đề khácnhư tính liên tục của tên gọi, không gian tên riêng và các loại địa danh (địa danh kí hiệu, địa danh mô tả,địa danh ước vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lí theo địa hình Có thể nói đây là những công trìnhlớn, có giá trị tổng kết những kết quả nghiên cứu cơ bản, đặt nền móng vững chắc cho các công trìnhnghiên cứu về Địa danh học về sau

Bên cạnh những công trình của các nhà Địa danh học Xô Viết, các nhà nghiên cứu địa danh ở một sốquốc gia cũng đã có những đóng góp không nhỏ trong lĩnh vực này Tại Pháp, học giả Ch.Rostaing (1965)

trong tác phẩm Les noms de lieux đã nêu ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh Đó là phải tìm ra các hình

thức cổ của các từ cấu tạo địa danh và muốn biết hình thức từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiếnthức ngữ âm học địa phương Chuyên luận này đã bổ sung những vấn đề mang tính lý luận cho vấn đề màA.I.Popov đã nêu ra trước đó

Nhìn chung, điểm qua một số công trình cơ bản trên, chúng ta có thể hình dung lịch sử nghiên cứuđịa danh học trên thế giới đã hình thành và phát triển qua ba giai đoạn Giai đoạn phôi thai ngay từ nhữngnăm đầu Công nguyên với việc tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa cũng như diễn biến của địa danh Giai đoạn

Trang 8

hình thành bắt đầu từ thế kỷ XIX và đến giữa thế kỷ XX giai đoạn này coi như chấm dứt để chuyển sanggiai đoạn phát triển và đạt được những thành công đáng kể Lúc đó thì Địa danh học Việt Nam mới bắtđầu dần dần hình thành.

1.2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, dù có muộn màng hơn so với thế giới, song vấn đề nghiên cứu địa danh cũng đượcquan tâm nghiên cứu từ lâu với những công trình nổi tiếng

Theo các tài liệu cổ thư của Trung Hoa như Tiền Hán thư, Dư địa chí, Hậu Hán thư, Tấn thư, trong

thời kỳ Bắc thuộc, để phục vụ cho công cuộc cai trị, người Trung Hoa đã chú ý đến các địa danh ở ViệtNam

Sau thời kỳ Bắc thuộc, trong thời kỳ phong kiến độc lập, đặc biệt từ thế kỷ XV trở đi, việc nghiêncứu địa danh mới được các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện Trong thời gian này, địa danh mới chỉđược các tác giả thu thập, tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa Đó là một số trứ tác của các học giả trí thức

Nho học Việt Nam như: Thời Lý có Nam Bắc phiên giới địa đồ (1172), thời Trần có An Nam chí lược của

Lê Tắc, thời thuộc Minh có Giao Châu địa chí của Trương Phụ (Trung Hoa), thời Lê Sơ có bộ Dư Địa

Chí của Nguyễn Trãi (1435), đặc biệt ở niên hiệu Hồng Đức, Lê Thánh Tông đã rất chú ý đến vấn đề

cương vực đất nước, ông đã cho biên soạn Thiên hạ bản đồ, đến thời Lê Trung Hưng thì tăng bổ và đổi tên

là Hồng Đức bản đồ, trong đó có phần phụ chú Giáp Ngọ niên bình Nam đồ, tức là phần chép thêm các

địa danh thuộc vùng Thuận Quảng mới được thu phục và tổ chức lại

Từ thời Lê Trung Hưng trở về sau, vấn đề nghiên cứu địa danh được các học giả chú trọng, tiêu biểu

như Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An (thế kỷ XVI), Hoan Châu Ký của Nguyễn Cảnh Thị (thế kỷ XVII), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn Năm 1723, nhà Hậu Lê cho biên soạn Tân Định bản đồ, Thiên

Nam lộ, cũng trong thời gian này, các ông Ngô Thời Sĩ, Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Tông Quải đã dựa

vào Dư Địa chí của Nguyễn Trãi và biên soạn thêm bộ Nam Quốc Vũ Cống Thời kỳ Tây Sơn, một có một

số công trình khai thác về địa danh cũng được chú ý như Cảnh Thịnh Tân đồ, Mục Dã Trấn Doanh đồ

Đặc biệt, vào thời kỳ nhà Nguyễn (1802 - 1945), thành tựu nghiên cứu về địa danh đã phát triển khá

mạnh mẽ, các công trình địa dư như Hoàng Việt nhất thống địa dư của Lê Quang Định (1806), Hoàng

Việt Địa Dư Chí của Phan Huy Chú (1821), Phương Đình Dư Địa Chí, Đại Việt địa dư toàn biên của

Nguyễn Văn Siêu (1900), Đại Nam thống chí (biên soạn thời Thiệu Trị), Đại Nam nhất thống chí (biên soạn thời Tự Đức), Đại Nam quốc cương vựng biên của Hoàng Hữu Xứng (1886), Đồng Khánh địa dư

chí (biên soạn thời Đồng Khánh) và các bộ địa chí địa phương như Bắc Thành địa dư chí của Lê Chất, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký, Nam Định tỉnh địa dư chí

Nhìn chung, các công trình địa dư được biên soạn trước năm 1945 chủ yếu tập trung vào phân loại,định hình tên gọi và nghiên cứu nặng về tính hành chính, lịch sử Các nhà biên soạn chưa chú tâm vào vấn

Trang 9

đề giải thích ý nghĩa của hệ thống này, vì thế những công trình trên là những tư liệu cần thiết, bổ túc chocác nhà nghiên cứu địa lý lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử và địa danh học lịch sử  

Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam thực sự có bước tiến đáng kể từ năm 1960 trở đi Với công

trình Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông của Hoàng Thị Châu (1964)

được xem như công trình đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu địa danh từ góc nhìn ngôn ngữ học

Cùng với công trình của Hoàng Thị Châu, chuyên luận Vấn đề về Địa danh học Việt Nam của GS Nguyễn

Văn Âu (1978) là công trình mang tính lý luận đầu tiên dưới góc nhìn Lịch sử - Địa lý - Ngôn ngữ học

Đặc biệt, năm 1991, công trình Địa danh ở Thành Phố Hồ Chí Minh của tác giả Lê Trung Hoa ra đời

đã thực sự tạo bước ngoặc lớn cho khoa nghiên cứu địa danh ở Việt Nam Đây là công trình đầu tênnghiên cứu địa danh dưới gốc độ ngôn ngữ học và trình bày khá hệ thống những vấn đề mà người nghiêncứu địa danh cần quan tâm (phân loại và định nghĩa địa danh, cấu tạo địa danh, ý nghĩa và nguồn gốc một

số địa danh )

Tiếp theo đó, một số cuốn từ điển địa danh đáng chú ý lần lượt xuất hiện như Sổ tay địa danh Việt

Nam của Đinh Xuân Vịnh (1995), đến năm 1996, Nguyễn Kiên Trường với luận án PTS Những đặc điểm chính về địa danh Hải Phòng.  Sổ tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dược – Trung Hải (1998), Từ điển địa danh Thành Phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh của Lê Trung Hoa (2003)

Năm 2006, Vũ Quang Dũng cho xuất bản Địa danh Việt Nam trong tục ngữ ca dao.

Như vậy, có thể khẳng định việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam đã hình thành và đang tiếp tụchướng tới giai đoạn phát triển cao Một loạt các công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo cáo,tạp chí lần lượt ra đời cho thấy địa danh dần trở thành đối tượng nghiên cứu quan trọng, không thể thiếutrong đời sống của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là ngôn ngữ học

1.3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Bình Định

Nằm trong mạch nghiên cứu chung của cả nước, địa danh Bình Định cũng được quan tâm tìm hiểu

tuy ở mức độ nhất định Về điều này phải kể đến Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh (1995),

Sổ tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dược – Trung Hải (1998), Địa danh văn hóa Việt Nam của Bùi

Thiết (1999)

Người đầu tiên đặt vấn đề một cách nghiêm túc, theo chúng tôi có lẽ là học giả Bùi Văn Lăng với

công trình Khảo cứu một số địa danh Bình Định (tác giả tự xuất bản, Quy Nhơn, 1934), Quách Tấn trong Non nước Bình Định (1966) đã khảo sát tương đối công phu về các địa danh trong địa bàn tỉnh Bình Định, tuy nhiên công trình của ông chỉ dừng lại ở những địa danh địa lý, lịch sử Trong công trình Tìm

hiểu Nhân danh - Địa danh Nam Trung bộ từ góc độ văn hóa (Đề tài NCKH cấp trường năm 2009), ThS.

Võ Minh Hải đã triển khai nghiên cứu về hệ thống địa danh của tỉnh Bình Định từ góc nhìn văn hóa Tuynhiên, đây lại là một công trình nghiên cứu tổng hợp cả về hệ thống nhân danh và địa danh của các tỉnh

Trang 10

Nam Trung Bộ nói chung, vì vậy số lượng tư liệu nghiên cứu về Bình Định cũng chỉ được tác giả nhắc

qua và chưa có phân tích cụ thể Tiếp theo đó, với bài viết Tìm hiểu ca dao địa danh Bình Định từ góc

nhìn văn hóa (Tạp chí Khoa học, Số II, Trường Đại học Quy Nhơn, 2010), tác giả cũng chính thức  đưa ra

một hướng tiếp cận văn hoá đối với hệ thống địa danh Bình Định thông qua những bài ca dao được sưu

tập ở địa phương. 

Ngoài ra địa danh Bình Định còn được xuất hiện rải rác trong các trang web, báo, tạp chí, cẩm nang

du lịch của địa phương và của cả nước Trong các tạp chí tiêu biểu như Tạp chí thông tin lý luận và

nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Bình Định,Tạp chí Đất võ của hội Đồng hương Bình Định tại Thành phố

Hồ Chí Minh Xuất phát từ nhiều phương diện và hướng tiếp cận khác nhau, vấn đề nghiên cứu địa danhBình Định đã và đang nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hoá địa phương.Như vậy, cho đến nay, cả nước nói chung và Bình Định nói riêng vẫn chưa có một công trình nào đivào nghiên cứu một cách đích đáng toàn bộ hệ thống địa danh Bình Định trên bình diện ngôn ngữ họcthực thụ Cho nên, theo chúng tôi, việc tiến hành thực hiện đề tài Vài nét về địa danh Bình Định là việclàm cần thiết và ý nghĩa

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài đi vào nghiên cứu địa danh Bình Định dưới gốc độ ngôn ngữ học (chủ yếu xét trên bình diện

từ vựng và ngữ nghĩa) Trong đó, đề tài chú trọng tìm hiểu phương thức cấu tạo, sự hình thành, biến đổicủa địa danh cùng với xuất xứ và ý nghĩa mà nó chứa đựng

1.5. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống tên gọi những đối tượng là địa danh thuộc tỉnh Bình Định

Hệ thống đó về cơ bản gồm bốn loại là địa danh chỉ địa hình, địa danh hành chính, địa danh chỉ các côngtrình xây dựng và địa danh chỉ vùng không xác định ranh giới rõ ràng Ngoài các địa danh tồn tại phổ biến

ở Bình Định chiếm phần lớn thì đề tài còn khảo sát một số địa danh thuộc các dân tộc ít người định cư lâungày ở địa bàn tỉnh

4. Mục đích nghiên cứu

Bên cạnh mục đích tìm hiểu tổng quan về điều kiện tự nhiên, địa lí kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnhBình Định, trọng tâm của đề tài là nghiên cứu phương thức đặt địa danh, phương thức cấu tạo, quá trìnhchuyển hóa về ngữ âm, ngữ nghĩa cũng như trình bày sự phân loại hệ thống địa danh theo từng phươngthức khác nhau (đơn tiết -đa tiết, thuần Việt - không thuần Việt ) Ngoài ra, đề tài còn nhằm tìm hiểu vềnguồn gốc, xuất xứ cùng những giá trị hiện thực mà địa danh phản ánh để thấy được mối liên hệ giữa địadanh học và các khoa học khác như văn hóa, địa lí, lịch sử, khảo cổ

Trang 11

5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp, thống kê phân loại: Khảo sát, thống kê, phân loại các địa danh tìm được để có cáinhìn tổng quát về hệ thống địa danh tỉnh Bình Định Trên cơ sở đó có thể thấy rõ số lượng từng loại, từ đócho phép rút ra những đặc điểm chung của các loại lớn và đặc điểm riêng của các tiểu loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Gồm so sánh, đối chiếu đồng đại và lịch đại So sánh, đối chiếuđồng đại là so sánh, đối chiếu địa danh của các vùng với nhau để thấy được điểm tương đồng và nét dịbiệt Còn so sánh, đối chiếu lịch đại nhằm xác định nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của địa danh (phần nàychủ yếu làm rõ bình diện ngữ nghĩa của địa danh)

- Phương pháp điền dã: Là phương pháp khá quan trọng của quá trình thực hiện một công trìnhnghiên cứu địa danh Bởi vì, nguồn gốc xuất xứ cũng như ý nghĩa của nhiều địa danh còn nằm trong “bộnhớ dân gian” tức là trong trí nhớ của người dân ở địa phương đang nghiên cứu Do đó, điền dã là con

đường đúng đắn và cần thiết để tìm hiểu “ lý lịch” của một dịa danh Để thực hiện công việc nghiên cứu

một cách chính xác và thuyết phục, chúng tôi đã đi điền dã tại một số địa phương trong điều kiện cho phép

để tìm hiểu thêm về năm tháng ra đời cũng như lý do đặt tên cho địa danh ở một số địa phương trên địabàn tỉnh Bình Định Đặc biệt, chúng tôi cũng sử dụng một số kết quả sưu tầm điền dã ở khu vực NamTrung Bộ của sinh viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Quy Nhơn từ năm 1988 đến 2009, được sử dụng

trong đề tài nghiên cứu Địa danh Bình Định nhìn từ góc độ văn hóa của ThS Võ Minh Hải giảng viên

trường Đại học Quy Nhơn

- Phương pháp khảo sát bản đồ: Có thể khảo sát, đối chiếu bản đồ địa phương theo phương thứcđồng đại hoặc lịch đại để phân khu những điểm có loại địa danh nào xuất hiện nhiều để tập trung tìm hiểunguồn gốc của địa danh qua tìm hiểu lịch sử, văn hóa của vùng

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.6. Ý nghĩa khoa học

- Góp phần bổ sung lý thuyết về nghiên cứu địa danh đối với một vùng miền có sự cộng cư, đan xencủa nhiều dân tộc Trong đó, ngôn ngữ, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc vừa bảo toàn một cách trọn vẹnsong cũng đóng góp nét riêng của mình cho cộng đồng

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm tư liệu cho ngành nghiên cứu lịch sử,văn hoá, du lịch của Bình Định nói riêng cũng như việc nghiên cứu địa danh Việt Nam nói chung Đồngthời kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần giúp Bình Định phát triển văn hoá, du lịch cũng như việc sử dụnglàm tư liệu tham khảo bổ ích trong việc giảng dạy văn hoá, dân tộc, lịch sử và giáo dục việc giữ gìn, pháthuy giá trị truyền thống về bản sắc văn hoá dân tộc trong nhà trường, trong huyện, thị xã và trong tỉnh

Trang 12

1.7. Ý nghĩa thực tiễn

Tư liệu và kết quả của khoá luận bước đầu góp phần xây dựng một công trình về địa danh tỉnh BìnhĐịnh Bên cạnh đó đề tài còn đóng góp cho nghiên cứu lịch sử, văn hóa và công tác hoạch định hànhchính của tỉnh Bình Định nói riêng và khu vực Nam Trung bộ nói chung

7. Bố cục của đề tài

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và Phụ lục, phần chính văn của đề tài được phân thành nhứng phầnlớn sau:

Chương 1: Những tiền đề lí luận và thực tiễn

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh Bình Định

Chương 3: Những đặc điểm về mặt chuyển biến của địa danh Bình Định

Chương 4: Nguồn gốc - ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh Bình Định.

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Những tiền đề lí luận

1.1.1 Định nghĩa địa danh

Địa danh học là một phân ngành quan trọng của khoa học ngôn ngữ học Việc định nghĩa đối tượngcủa nó - địa danh - trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm Bất cứ một quốc gia nào trên thế giớicũng có những điểm riêng biệt về địa lý, lịch sử của nước mình Tên gọi địa lý hay còn gọi là địa danh củamỗi nước, mỗi vùng đều có những cách thức đặt tên mang đặc trưng riêng của vùng miền Do đó, trong sựtồn tại thực tế của nó, địa danh rất phong phú và đa dạng

Ở Việt Nam, địa danh được nghiên cứu theo hai gốc độ: địa lí - văn hóa và ngôn ngữ học

Tiếp cận địa danh theo góc độ địa lí - văn hóa và ngôn ngữ học:

Nguyễn Văn Âu trong Một số vấn đề địa danh học Việt Nam cho rằng: “Địa danh là tên đất, gồm

tên sông, núi, làng mạc hay là tên các địa phương,các dân tộc”.

Tác giả Bùi Đức Tịnh trong Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ quan niệm: “Địa danh là một

danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt về phương diện địa lý, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội và các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính hay quân sự”

Trang 13

Hai tác giả Dương Thị The và Phạm Thị Thoa phát biểu rằng: “ Địa danh của một vùng hay của một

nước là tổng thể các tên riêng đặt ra để gọi các đơn vị địa lý tự nhiên hay nhân văn của vùng ấy hay nước ấy.”.

Tiếp cận địa danh theo góc độ ngôn ngữ học có các tác giả sau:

Hoàng Thị Châu cho rằng: “Địa danh là tên địa lý (toponym, geographical name) là tên vùng, tên

sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… được con người đặt ra”.

Tác giả Lê Trung Hoa trong công trình Địa danh học Việt Nam đã định nghĩa định danh như sau:

“Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các đơn vị lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều”.

Như vậy, chỉ riêng định nghĩa về địa danh đã có khá nhiều ý kiến khác nhau Nhìn một cách sơ lược,trong khi định nghĩa của Nguyễn Văn Âu chỉ quan tâm đến những đối tượng thiên nhiên , chưa chú ý đếnnhững đối tượng nhân tạo thì Hoàng Thị Châu chỉ mới chú trọng chức năng định danh trong ngôn ngữ,xem nhẹ các chức năng khác của địa danh Xét định nghĩa của tác giả Lê Trung Hoa, chúng tôi nhận thấy

đó là một định nghĩa tương đối cụ thể với tiêu chí rõ rang, dễ áp dụng hơn cả Do đó, trong công trình này,người viết dựa trên quan niệm về địa danh của tác giả Lê Trung Hoa để tiến hành nghiên cứu

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu và vị trí của địa danh học

1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của địa danh học

Bất kì một khoa học nào khi ra đời cũng xác lập đối tượng nghiên cứu riêng cho mình Theo đó, đốitượng của địa danh học là địa danh Địa danh học nghiên cứu tất cả các vấn đề có liên quan đến địa danhnhư nguồn gốc, xuất xứ, quá trình chuyển đổi (trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại), phương thức cấutạo, giá trị phản ánh hiện thực…

1.1.2.2 Vị trí của địa danh học

Từ khi mới ra đời, Địa danh học đã xác định vị trí khá quan trọng của mình trong ngôn ngữ học.Ngôn ngữ học có ba ngành chính là ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Từ vựng học có một ngànhnhỏ hơn là Danh xưng học, chuyên nghiên cứu tên riêng Danh xưng học lại chia thành hai ngành nhỏhơn: nhân danh học và địa danh học

Địa danh học nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và cả những chuyển biến của địa danh

Địa danh học chia thành nhiều ngành nhỏ hơn Các ngành chỉ nghiên cứu tên sông rạch (thủydanh), tên núi đồi (sơn danh) gọi là thủy danh học và nhân danh học Ngành nghiên cứu tên của các địađiểm quần cư (phương danh) được gọi là Phương danh học Còn ngành chỉ nghiên cứu các đối tượngtrong thành phố (phố danh) như tên đường, tên phố, tên các quảng trường…gọi là phố danh học

1.1.3 Phân loại địa danh

Trang 14

Khi bắt tay vào nghiên cứu địa danh, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại địa danh theo cáchriêng của từng người Trong đó có những bảng phân loại đáng chú ý:

Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh Việt Nam chia địa danh thành sáu loại:

1 Loại đặt theo địa hình và đặc điểm

2 Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian

3 Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử

4 Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu

5 Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp, tổ chức kinh tế

6 Loại đặt theo sinh hoạt xã hội

Nguyễn Văn Âu trong hai tác phẩm Địa danh Việt Nam và Một số vấn đề về địa danh Việt Nam đã

phân loại địa danh theo ba cấp: loại, kiểu, dạng

Địa danh kinh tế- xã hội

Trang 15

Thành phốQuốc gia

Lê Trung Hoa trong Địa danh học Việt Nam đã căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, chia

địa danh thành hai nhóm lớn là địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhântạo

Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên bao gồm tên các địa hình núi, đồi, gò, sông, rạch…

Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo có thể chia thành ba loại nhỏ:

- Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều như tên cầu, tên cống,chợ, đường phố, công viên…

- Địa danh chỉ các đơn vị hành chính như tên ấp, xã, phường, huyện, quận…

Có thể khái quát thành sơ đồ:

Mặt khác, theo ngữ nguyên, Lê Trung Hoa chia địa danh Việt Nam thành bốn nhóm lớn:

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh Hán Việt

- Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

Địa danh ở Việt Nam

Địa danhHán Việt

ĐỊA DANH

Địa danhvùng

Địa danh chỉcông trình xâydựngĐịa danh chỉ

Trang 16

Xét sự khác nhau giữa cách phân loại địa danh của ba tác giả tiêu biểu trên, ta thấy có nhiều sựkhác biệt Phân loại địa danh theo cách thứ nhất và thứ hai còn khá phức tạp và chưa hợp lý Cách thứnhất chưa hợp lý vì nếu chia địa danh thành hai loại là địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội thìchưa bao trùm nhiều loại địa danh khác như địa danh vùng (vùng, miền, khu…), địa danh chỉ các côngtrình xây dựng thiên về không gian hai chiều (cầu, đường, công viên…) Ở cách thứ hai, việc phân địadanh thành bảy kiểu cũng chưa hợp lý Thật ra ba kiểu đầu có thể gộp thành địa danh chỉ địa hình và bốnkiểu địa danh sau chỉ các đơn vị hành chính - gọi tắt là địa danh hành chính Cách phân chia theo 12 dạngcũng thế Sáu dạng đầu là địa danh chỉ địa hình, sáu dạng sau là chỉ hành chính Hai cách phân loại địadanh trên vừa thiếu lại vừa thiếu, chưa hợp lý

Đến Lê Trung Hoa, tác giả tổng kết địa danh thành bốn loại (như trên) Cách phân chia này tỏ rakhá hợp lý bởi khi phân theo đối tượng tự nhiên và nhân tạo, người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát hơn.Ngoài ra, cách phân chia như vậy đảm bảo được việc khảo sát các loại địa danh là đúng đắn và đầy đủ

Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chọn cách phân loại của tác giả Lê Trung Hoa để tiếnhành phân loại địa danh

Trang 17

Tháng 7-1471, vua Lê cho lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn Đến

năm 1490, theo Thiên nam dư hạ tập, phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và 100 xã

Năm 1570, Nguyễn Hoàng được vua Lê cử trấn nhậm hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam, trong đó cóphủ Hoài Nhơn Đến năm 1578, Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh làm tri huyện Tuy Viễn để lo trị an,giữ yên biên giới phía nam và chuẩn bị đưa quân, dân vào sinh sống, lập làng phía nam đèo Cù Mông.Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn Năm 1651, dưới thời chúaNguyễn Phúc Tần, phủ Quy Nhơn đổi thành phủ Quy Ninh

Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn Năm 1744, chúa Nguyễn PhúcKhoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn giữ nguyên Phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam, đặtcác chức tuần phủ và khám lý để cai quản Phủ lỵ được dời về phía bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn ChâuThành (nay thuộc xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn) Có thể nói, từ thời các chúa Nguyễn, Bình Định đã

có sự phân hóa giàu nghèo, giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Đến trước cuộc khởi nghĩa Tây Sơnnăm 1771, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra ở Bình Định, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩacủa chàng Lía

Năm 1773, cuộc khởi nghĩa nông dân của ba anh em nhà Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đứng đầu đãphát triển xuống Tây Sơn hạ đạo, chiếm lĩnh ấp Kiên Thành (nay là Kiên Mỹ) - nơi sinh thành của các thủlĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc tự xưng là đệ nhất trại chủ cai quản hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn Cũngtrong năm đó (năm 1773), nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn Tháng 3-1776,Nguyễn Nhạc cho sửa chữa và xây thêm thành Đồ Bàn, sau đổi tên thành “thành Hoàng đế”, tự xưng TâySơn vương, cho đúc ấn vàng, phong cho Nguyễn Lữ làm Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phụ chính, cáctướng lĩnh khác đều được phong chức cho tương xứng với một chính quyền Trung ương mới được thànhlập Năm 1793, sau khi vua Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đem quân đánh thành Hoàng Đế, nhưngthất bại Đội quân do vua Quang Toản cử vào đánh dẹp đã chiếm giữ và cai quản thành Hoàng đế Từ năm

1793 đến năm 1799, thành Hoàng Đế đổi thành phủ Quy Nhơn dưới vương triều Cảnh Thịnh

Trong các năm 1799 - 1802, thành Quy Nhơn bị quân Nguyễn Ánh chiếm đóng và đổi tên thànhBình Định và trở thành trung tâm cai trị của triều Nguyễn tại Bình Định trong những năm đầu thế kỷ XIX.Năm 1885, Bình Định trở thành tỉnh lớn ở Trung Kỳ

Năm 1890, thực dân Pháp sáp nhập thêm Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ đặt tạiQuy Nhơn Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách khỏi Bình Phú, Bình Định lại trở thành đơn vị hành chínhđộc lập Năm 1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ tỉnh Plây Ku, một nửa đất đai của tỉnhnày cho sáp nhập vào tỉnh Bình Định Đến năm 1913, thực dân Pháp lại sáp nhập Phú Yên vào tỉnh BìnhĐịnh thành tỉnh Bình Phú Năm 1921, thực dân Pháp lập lại tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945

Trang 18

Ngày 3-9-1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh lấy tên tỉnh là Tăng Bạt Hổ thay chotên Bình Định Tuy nhiên, tên gọi này chưa được Trung ương công nhận Vì thế, các văn bản chính thốngcủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn giữ tên tỉnh Bình Định

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1945 - 1954), Bình Định là tỉnh tự do, hậuphương chiến lược trực tiếp của chiến trường khu V, Tây Nguyên, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia Nhândân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp công, góp sức cùng cả nước đánhthắng thực dân Pháp xâm lược, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyềnthống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam

Tuy nhiên, theo tinh thần hiệp định này, Việt Nam tạm thời vẫn bị chia làm 2 miền, trong đó đế quốc

Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểumới của Mỹ Chính quyền Ngô Đình Diệm chia miền Nam Việt Nam thành hai miền: từ Bình Thuận trởvào gọi là Nam phần; từ Bình Thuận trở ra vĩ tuyến 17 gọi là Trung phần Trung phần lại chia thành haikhu vực, gọi là Trung nguyên Trung phần và Cao nguyên Trung phần Tỉnh Bình Định thuộc Trungnguyên Trung phần và là đơn vị hành chính cấp tỉnh cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (ngày30-4-1975)

Trong 20 năm (1954 - 1975), thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng

về đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, quân và dân Bình Định đã vượt qua vô vàn giankhổ, hy sinh chiến đấu anh dũng, kiên cường, bám đất, bám làng, góp phần cùng cả nước đánh thắng đếquốc Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương (ngày 31-3-1975)

Từ cuối năm 1975 đến năm 1989, tỉnh Bình Định hợp nhất với tỉnh Quảng Ngãi lấy tên là tỉnh NghĩaBình Trong 15 năm hợp nhất, nhân dân Bình Định cùng với nhân dân Quảng Ngãi ra sức khắc phục hậuquả chiến tranh, tiến hành cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng, khôngngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, phát huy truyền thốngyêu nước và cách mạng, nhân dân Bình Định đã và đang ra sức xây dựng quê hương Một cuộc sống mớitốt đẹp ở tương lai: ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh đang được nhân dân Bình Định cùngvới cả nước phấn đấu xây dựng

Bình Định bao gồm 1 thành phố trực thuộc 1 thị xã và 9 huyện:

Trang 19

Với vị trí địa lý đặc biệt đó, Bình Định có một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên Hệ thống đường quốc lộ 1A,đường sắt xuyên Việt cùng với quốc lộ 19 lên Tây Nguyên và cảng biển nước sâu Quy Nhơn - Nhơn Hộitạo thành huyết mạch cơ bản phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của Bình Định, miền Trung và TâyNguyên, cũng như khu vực tiểu vùng sông Mê Kông bởi trục đường hành lang Đông- Tây: Quy Nhơn -Kon Tum - Aptopo - Bắc Xế - Ubon Rat Cha Tha Ni, trục hành lang này có chiều dài khoảng 770km; mặt

Trang 20

khác từ Quy Nhơn lên đường 19 đến Kon Tum và theo đường 14 rẽ về phía Nam đến Stung Ố Treng(Campuchia).

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BÌNH ĐỊNH

Trang 21

1.2.1.4 Địa hình

Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phíađông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dạng địa hìnhphổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông gócvới dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm

ra biển Ngoài cùng là cồn vát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây Cácdạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:

Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh Đại bộ phận sườn dốc hơn 20° Có diện tích

khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha),Vân Canh (75.932ha), Tây Sơn và Hoài Ân (31.000 ha) Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, lànơi phát nguồn của các sông trong tỉnh Chiếm 70% diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão).Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiềukhu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là cácdải cát hẹp Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn vớicác cồn cát và đầm phá

Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha

(chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15° Phân bố ở cáchuyện Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha)

Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ mà phần lớn là các đồng bằng

nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của cáccon sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi Độ caotrung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng 25-50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000km² Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Côn, còn lại là các đồng bằng nhỏthường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các chân núi và ven biển

Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng

trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dảicát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dải cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dải cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát

từ Trung Lương đến Lý Hưng Ven biển còn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm MỹKhánh, đầm Thị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh Vũng Mới ; các cửa biển như

Trang 22

Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Quy Nhơn Các cửa trên là cửa trao đổi nướcgiữa sông và biển Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ,

Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động

Hải đảo: Ven bờ biển tỉnh Bình Định gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo

cơ sở của Việt Nam; Đảo đơn Hòn Ông Cơ

Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay Hòn Trâu Nằm gồm 4 đảo nhỏ;Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa Ven biển xã Mỹ Thọ có 3 đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là HònNước hay Đảo Đồn; Đảo Hòn Tranh còn gọi là Đảo Quy vì có hình dáng giống như con rùa, đảo này nằmrất gần bờ có thể đi bộ ra đảo khi thủy triều xuống; Đảo Hòn Nhàn nằm cạnh Hòn Đụn

Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảonhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn đá và cát Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đènhiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Quy Nhơn, thì Bình Định còn có 2 ngọn hải đăng: một ngọn đượcxây dựng trên mạng bắc của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ, ngọn này cótên gọi là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ hai được xây dựng trên đảo Cù LaoXanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn

Sông ngòi: Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy

Trường Sơn Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2

tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rấtlớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiềuluồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưugây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém Trong tỉnh cóbốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay TamQuan Ngoài các sông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ có nướcchảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện

Trang 23

Độ che phủ của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷphá nghiêm trọng Ngược lại, mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nước tưới.

Hồ đầm: Toàn tỉnh Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ mục đích tưới tiêu

trong mùa khô Trong đó có thể kể tên một số hồ lớn tại các huyện trong tỉnh như: hồ Hưng Long (AnLão); hồ Vạn Hội, Mỹ Đức và Thạch Khê (Hoài Ân); hồ Mỹ Bình (Hoài Nhơn); hồ Hội Sơn và Mỹ Thuận(Phù Cát); hồ Diêm Tiêu, Hóc Nhạn và Phú Hà (Phù Mỹ); hồ Định Bình, Thuận Ninh (Tây Sơn); hồ NúiMột (Vân Canh - An Nhơn); hồ Vĩnh Sơn, hồ Định Bình (Vĩnh Thạnh) Ngoài ra Bình Định còn có mộtđầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và ThịNại (Tuy Phước - Quy Nhơn) Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp và nuôi trồng thủy hải sản Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảngbiển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầuvượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay

1.2.1.5 Về khí hậu.

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khivào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều

Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C, cao nhất là 31,7°C

và thấp nhất là 16,5°C Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C

và thấp nhất 15,8°C

Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tươngđối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là79%

Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 Riêng đối với khu vực miền núi có thêm mộtmùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Mùa khô kéo dài tháng 1 - 8 Đối vớicác huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm 2.000 - 2.400 mm Đối với vùng duyên hải tổnglượng mưa trung bình năm là 1.751 mm Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núixuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đấtliền Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão

đổ bộ vào Tần suất xuất hiện bão lớn nhất tháng 9 - 11

Trang 24

1.2.1.6 Dân cư và xã hội

Bình Định là một tỉnh thành có dân số tương đối đông so với các tỉnh khác ở khu vực Trung Trung

bộ Theo số liệu thống kê của Chi cục Thống kê Bình Định, tính đến ngày 01 tháng 04 năm 2009, dân sốtỉnh Bình Định là 1.485.943 người bao gồm nhiều dân tộc khác nhau:

Trong số các dân tộc cộng cư ở Bình Định, Kinh là dân tộc có số lượng lớn nhất (1431742 người),chiếm tới 98% dân số của tỉnh Người Kinh (Việt) có mặt ở khắp nơi trên các vùng đất ở Bình Định, tuynhiên địa bàn cư trú chủ yếu của người Kinh là ở vùng đồng bằng, thành phố, huyện lỵ, thị trấn Các dântộc thiểu số ở tỉnh Bình Định chiếm số lượng không nhiều Trong các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định,dân tộc Chăm, Bana, H’rê, Hoa là những dân tộc có số lượng người tương đối đông so với các dân tộcthiểu số khác của tỉnh Các dân tộc Chăm, Bana, Êđê là những dân tộc có mặt từ khá sớm ở vùng đất BìnhĐịnh Họ là những dân tộc bản địa, những dân tộc thiểu số gốc của vùng Còn các dân tộc khác như ngườiTày, Nùng, Thái, H’rê ở Bình Định có số lượng không nhiều và nhất là họ mới di cư từ các nơi khác đếntrong những thời gian gần đây

Nguyên nhân dẫn đến sự có mặt của người Tày, Nùng, Thái, Êđê trên đất Bình Định đa phần là dokết quả các cuộc di dân đi kinh tế mới, các cuộc hôn nhân Nhưng dù nhiều hay ít, có mặt sớm hay muộn,

cư dân gốc - bản địa (Chăm, Bana, H’rê) hay cư dân từ nơi khác (Tày, Nùng, Thái ) chuyển cư đến vùngđất Bình Định, họ đều gắn bó với mảnh đất này và xem Bình Định là quê hương nặng nghĩa tình đối với

họ Tuy nhiên, khi nói đến các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định chủ yếu nói đến các dân tộc Chăm, Bana,H’rê, Hoa Bởi xét trên nhiều phương diện các dân tộc thiểu số này đã có những đóng góp tích cực vàoviệc xây dựng bảo vệ và phát triển vùng đất, đã hình thành nên những nét văn hoá cơ bản của vùng đấtgiàu truyền thống anh hùng thượng võ

1.2.1.7 Văn hóa

Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của vương quốcChămpa mà di sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo Đâycũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII với tên tuổi của anh hùng áovải Nguyễn Huệ; là quê hương và cũng là nơi dừng chân và nuôi dưỡng hồn thơ của của các danh nhân,văn thi sĩ như dũng tướng Trần Quang Diệu, đô đốc Bùi Thị Xuân, Tổng đốc Đào Tấn, thi sĩ Hàn Mặc

Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn, anh hùng Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp TrườngPhát Bình Định còn nổi tiếng bởi truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các

Trang 25

loại hình nghệ thuật như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, Hò Bá Trạo của cư dân vùng biển cùng vớicác lễ hội như: lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi

Bên cạnh đó khi nhắc tới Bình Định chúng ta còn tự hào hơn nữa về những giá trị văn hóa của địaphương này như hát Tuồng, võ Bình Định… Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng rất phát triển gắn liềnvới tên tuổi của Đào Duy Từ (hiện nay, đền thờ danh nhân Đào Duy Từ toạ lạc tại xã Hoài Thanh Tâyhuyện Hoài Nhơn, cách quốc lộ 1A 2 km), Đào Tấn Các đoàn hát tuồng trong tỉnh được hình thành ởkhắp các huyện Với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên mộttầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay Nguyễn Hiển Dĩnh của Quảng Nam

Tuồng còn gọi là hát bội hay hát bộ, sở dĩ nó có tên gọi như thế là vì ngoài việc hát thì yếu tố quantrọng góp phần tạo nên một vở tuồng hay và đặc sắc là hành động điệu bộ của các đào kép Việc kết hợp

võ thuật vào các màn nhào lộn, đánh trận ở mỗi đoàn có khác nhau tùy theo trình độ của đào kép Trướckia khi hát bội còn thịnh hành thì có nhiều đoàn hát nhưng những năm gần đây dưới sự biến động của kinh

tế thị trường thì nhiều đoàn dần giải tán, bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này có nguy cơ thất truyền.Lúc còn thịnh hành các đoàn hát bội thường được các làng, những gia chủ giàu có hay các lăng, đình venbiển mời về biểu diễn Sau những màn diễn hay người cầm chầu ném tiền thưởng lên sân khấu Thườngthì sau đêm hát cuối cùng các đoàn hay hát màn “tôn vương” để chúc tụng gia chủ, làng xóm gặp nhiềumay mắn và cuối màn “tôn vương” thì thường hát câu: “Rày mừng hải yến Hà Thanh - nhân dân an lạcthái bình âu ca” hay “Ngũ sắc tường vân khai Bắc khuyết - nhất bôi thọ tửu chúc Nam san”

Về võ thuật, ở khu vực Bình Định có hàng chục làng võ nổi tiếng Mỗi làng võ được nhắc tới luônkèm với các địa danh thực đã tồn tại trong lịch sử làng xã Bình Định nhiều thế kỷ Làng xưa nhất cũng cólịch sử chừng 600 năm, làng sinh sau đẻ muộn cũng đã hơn trăm tuổi. Huyện Tây Sơn có các làng PhúLạc, Xuân Hòa, An Vinh, Thuận Truyền Huyện An Nhơn có các làng An Thái, Thắng Công Huyện TuyPhước có các làng An Hòa, Kỳ Sơn Huyện Phù Cát có làng Phú Nhân, Đại An, Hoà Hội Huyện Phù Mỹ

có làng Mỹ Hòa Huyện Hoài Nhơn có làng Thanh Lương  Trong đó đặc biệt nhất là các làng võ ở huyệnTây Sơn

hàm chứa yếu tố đắc địa của một cái nôi võ thuật: Đồi núi phía tây là sự tiếp dẫn sơn mạch của TrườngSơn trập trùng tráng khí, với những ngọn núi thiêng đã đi vào các thư tịch cổ như ngọn Hánh Hót, ngọnTrưng Sơn (hòn Sung), ngọn Hoành Sơn (có núi Ấn và núi Kiếm), núi Ông Nhạc, núi Ông Bình, núi ôngDũng, hòn Lĩnh lương Những truông, hang, gò nổng gắn liền với việc luyện quân: gò Tập binh, gò Cấm

cố, bãi Tập voi, căn cứ Hầm Hô, mật khu Linh Đỗng… Dòng sông Kôn với những bến sông thịnh đạt vềđường mua bán, đồng thời cũng là chốn gặp gỡ đi về của anh hùng hào kiệt: bến Trường Trầu, quán Chiêu

Trang 26

Anh gắn liền với bước khởi nghiệp của Nguyễn Nhạc… Những làng xã âm vang như Kiên Mỹ, Phú Lạc,Xuân Hòa, An Vinh, Thuận Truyền, Thuận Nhứt,… Đúng như TS Đinh Bá Hoà trong chuyên luận Về

văn hoá Bình Định đã nhận xét vùng đất võ trời văn Bình Định như sau: “Ấy là nơi cúi đầu nghe sông hát,

ngẩng đầu nghe núi reo, nhắm mắt nghe roi quyền xé gió Ấy là Tây Sơn, tiêu điểm của đất võ Bình Định…”

và giọng cứng cỏi của miền núi

Đất Bình Định chạy dài từ đèo Bình Đê (phía bắc) đến đèo Cù Mông (phía Nam) đều có chung mộtgiọng nói Tuy nhiên nếu để ý, mà phải là người địa phương mới nhận biết được, giọng nói của người ởvùng Bắc Bình Định (từ Bồng Sơn trở ra) cứng hơn một tí vì hơi giống giọng Quảng Ngãi

Theo GS Hoàng Thị Châu, nếu tạm gác lại những nét dị biệt không căn bản ở những địa phươnghẹp, chúng ta có thể phân tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (dùng trong giao tiếpcủa Bắc Bộ), phương ngữ Trung và phương ngữ Nam (dùng trải dài từ đèo Hải Vân đến miền cực namcủa đất nước) Theo đó tiếng Bình Định được xếp vào phương ngữ Nam với những đặc điểm cơ bản sau:

1.2.1.8 1 Về Ngữ âm

Hệ thống thanh điệu: Mặc dù tiếng Bình Định nằm trong phương ngữ Nam nhưng chỉ riêng tỉnhBình Định phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã nên hệ thống thanh điệu gồm có 6 thanh

Hệ thống phụ âm đầu: Nhìn chung âm số lượng âm đầu: 21 phụ âm. Có hiện tượng biến đổi phụ

âm đầu như:

Không có âm uốn lưỡi /ş/  (chữ viết ghi là s) đều được chuyển thành /s/ (viết là “x”), cách thức cấu

âm vẫn giống, chỉ chuyển từ vị trí phát âm đầu lưỡi sang vị trí phát âm chân răng

Phụ âm trong phương ngữ Nam chịu sự tác động của âm đệm /-w-/ So với các phương ngữ khác,phương ngữ Nam Trung Bộ lại có thêm âm /w/ Do âm đệm /-w-/ đang dần biến mất trong khẩu ngữ nêndẫn đến sự thay đổi âm đầu hoặc âm chính

/ŋ, h, k, ʔ/ khi đi sau nó là một âm đệm thì đều được biến thành /w/ cho tất cả các trường hợp cònlại Theo đó thì /ŋ/ và /k/ đều là âm tắc cuối lưỡi và /h/ là âm xát thanh hầu, chúng đều có vị trí cấu âm gần

Trang 27

nhau Trong khi đó, âm đệm /w/ là âm môi, vì vậy khi lượt mất âm đệm thì âm đầu chúng lần lượt bị môihóa và đều biến thành một âm đầu miễn cưỡng là /w/

Những trường hợp còn lại thì được thay thế bằng những âm đầu khác hoặc giữ nguyên và biến đổi

về âm chính hoặc âm cuối

Các phụ âm [z-] ( tắc, hữu thanh, đầu lưỡi ) và [v-] ( xát, hữu thanh, môi ) có xu hướng được phát

âm là [j-] ( phụ âm mặt lưỡi-ngạc, xát, hữu thanh; có thể đồng nhất với bán nguyên âm hay bán phụ âm j)

Hiện tượng trên là kết quả biến đổi những phụ âm ngạc hóa Dj, Bj,Zj của thế kỉ XVII Ở phương ngữ Bắc,

các phụ âm này mất đi yếu tố ngạc hóa hình thành phụ âm xát: [v-, z-] Ở phương ngữ Nam, yếu tố ngạchóa lấn át phụ âm đứng trước và biến thành phụ âm/[j] Tuy nhiên không được sử dụng để thay thể hoàntoàn Nhiều từ vẫn giữ nguyên cách phát âm như tiếng Việt chuẩn

Sàng sảy / şaŋ2şǎi̯4/ X àng xảy / saŋ2sǎi̯4/

Sành sỏi /ş ɛ∶ŋ2 şɔ i̯4/ Xành xỏi /s ɛ∶ŋ2s4ɔ i̯4/

Sâu sắc / ş ɤ̆ų şǎ k 5/ Xâu xắc / s ɤ̆ų sǎ k 5/

Ng, h, k, ʔ

" W

Huyết áp /hwiet5 ap5/ Quiết áp /kwiet5 ap5/

Huyện lỵ /hwien6 l i̯6/ Quiện lỵ /kwien6 l i̯6/

Hoàng gia /hwaŋ2 za1/ Quàng gia /kwa ŋ2 za1/ Huấn luyện /hwɤ̆n5

lwien6/

Quứn(g) liện /kwɯn5 lien6/ Huân công /hwɤ̆n1 koŋ1/ Quưn(g)côn /kwɯn1 koŋ1/

Trang 28

V " J

Van vái /van1va i̯5/ Dan dái /zan1 zai̯5/

Vải vóc /vai̯4 vɔk2/ Dải dác /zai̯4 zak2/

Vang vọng /vaŋ1 vɔŋ6/ Dang dọng /jaŋ1 jɔŋ6/

Với /zɤi̯5/ Giới /jɤi̯5/

Âm đệm :

Không có âm đệm /-w-/, vì âm đệm bị rơi rụng nhiều để cho đơn giản và dễ dàng trong phát âm,giống với phương ngữ Nam bộ Vì vậy mà âm đầu sẽ biến đổi và phần vần cũng biến đổi theo Âm đệmđồng hóa bộ phận: Phụ âm chỉ bị môi hóa, còn những tính chất khác thì giữ lại:

Xw – f (hai phương thức cấu âm khe – xát và vô thanh được giữ lại)

Âm đệm tác động mạnh mẽ đến những phụ âm thanh hầu và mạc đứng trước nó nhưng lại bị triệttiêu hoàn toàn sau những phụ âm còn lại (răng, lưỡi, ngạc)

Người Bình Định có xu hướng đơn giản hóa phát âm và điều này trở thành thói quen cho cả cộngđồng

Các từ có sự kết hợp của âm đệm thường phải tròn môi khi phát âm (ví dụ: /-u-/ có tính chất bánnguyên âm môi, ngạc mềm, gây không ít khó khăn trong việc phát âm, vì người nói thường phải tròn môikhi muốn nói một từ có âm đệm, dẫn đến xu hướng bỏ hẳn âm đệm hoặc âm đệm xuất hiện ít hẳn

Điều này ban đầu còn gây khó khăn khi giao tiếp nhưng dần dần do sự xuất hiện càng dày đặc của

nó đã hình thành nên nét đặc trưng cho phương ngữ này

Phát âm Phiên âm Phát âm Phiên âm

Trang 29

/-w-/ Hoàng /hwaŋ2/ Quàng /kwaŋ2/

Sản xuất / şan4 swɤ̆t5/ Xản xút /san4 sut5/

Lở loét /lɤ4 lwɛt5/ Lở lét /lɤ4 lɛt5/

Lưu luyến /lɯų1lwien5/ Lưu liếng /lɯų1lieŋ5/

Luôn luôn /luon1 luon1/ Lun lun /lun1 lun1/ Hoàn toàn /hwan1twan2/ Quàn tàn /kwan2 tan2/

/-w-/ + a" o

Thoải mái / thɔa i̯4 ma i̯5/ Thỏi mái /thɔ i̯4 ma i̯5 /

Liên hoan /lien1hwan1/ Liên hon /lien1 hɔn1/

Âm chính:

Về đặc điểm ngữ âm của âm chính trong phương ngữ Bình Định có sự biến hóa khá phong phú vàthú vị

a Âm chính là nguyên âm đơn:

Sự biến đổi Âm chính ở Bình Định là rất phong phú và rõ rệt:

A " ea kéo dài (không có âm cuối)

Ê" i (khi có âm cuối)

Ê " ơ (khi không có âm cuối)

 " ư (khi có âm cuối là [-n], [-ŋ])

 " a (Khi âm cuối là u)

Ă " â (khi có âm cuối là [-k])

Ơ " ô (khi có [-m] là âm cuối)

Ô " o (khi có âm cuối)

Trang 30

Ă " e (khi âm cuối là n)

Phát âm Phiên âm Phát âm Phiên âm

A " ae Ba má /ba1 ma5/ Bae máe /baɛ1 maɛ5/

Ê " i

Bệnh /beŋ 6/ Bịnh / biŋ 6/

Bếp /bep5/ Bíp /bip5/

Ê " ơ

Lê thê / le1 the1/ Lơ thơ /thɤ1 thɤ1/

Bờ đê /bɤ2 đe1/ Heng héc /bɤ2 dɤ1//

 " ư

Chân /cɤ̆n1/ Chưn / cɯ1n /

Huân /hu ɤ̆n1/ hưn / hɯ1n /

Ô" o Công cộng /koŋ koŋ6 / Cong cọng /kɔŋ kɔŋ6/

b Âm chính là nguyên âm đôi, và một số trường hợp đặc biệt:

Tiếng Bình Định có nhiều biến đổi, phát âm lẫn lộn một số trường hợp:

Iê " I (khi có âm cuối)

Trang 31

Ươ " ư (khi có âm [-I ] cuối)

Ơi " quơi Trời ơi /țɤi̯2 ɤi̯ / Trời ơi /țɤi̯2 kw ɤi̯ /

Ôi " âu Thôi rồi /t h oi̯1ʑoi̯2/ Thâu rầu / t h ɤ̆i̯1ʑɤ̆i̯2/

Iêu " iu Thiêu / thieų1/ thiu /thi ų1/

Ui " uôi Cuối /kųoi̯5 / cúi /cui̯5/

Trang 32

Au " eo Cây cau /kɤ̆i̯ kaų/ Cây keo /kɤ̆i̯1 kɛɔ1/

Trang 33

Tiếng Bình Định không phân biệt được giữa:

Phát âm Phiên âm Phát âm Phiên âm

T " c Mạt sát /mat6şat5/ Mạc xác /mak6 sat5/

Chì chiết /ci̯2 ciet5/ Chì chiếc /ci̯2 ciek5/

N " ng Lan can /lan1 kan1/ Lang cang /laŋ 1 kaŋ 1/

Trang 34

Làn tuyết /lan2 twiet5/ Làng tiết /laŋ2 tiet5/

Ch " t Con ếch /kɔn1ek5/ Côn ết /kon1 et5/

Chệch /cek6/ Chệt /cet6/

Đáng chú ý hơn cả là sự biến dạng của nguyên âm dòng trước và dòng sau tròn môi khi kết hợpvới [-ŋ, -k] Bản thân hai âm cuối này cũng được thể hiện khác nhau khi kết hợp với các nguyên âm khácnhau

Đặc biệt về ngữ âm thì phương ngữ Nam Trung Bộ gần như đang dần biến mất bán nguyên âmcuối u̯/i̯ nên các vần kết thúc bằng bán nguyên âm cuối thường có sự thay đổi đặc biệt về ngữ âm như:

Ươi à ư (ví dụ: cười – cừ)

Ôi à âu (ví dụ: thôi – thâu)Bàn về giọng Bình Định., thử xét qua các điểm về Thổ ngữ, thổ âm, lối nói Bình Định, nguồn gốcgiọng nói, đặc điểm giọng nói và sau cùng là tầm ảnh hưởng

Do bản tính chất phát, giản dị, phóng khoáng của con người trên vùng đất Bình Định này: linhhoạt, dễ thích nghi với môi trường mới, luôn có những thay đổi kịp thời theo hướng đơn giản và thuận tiện

để phù hợp với điều kiện sinh hoạt, lao động của mình Về mặt ngữ âm, hiện tượng chuyển từ âm quặtlưỡi sang đầu lưỡi, đồng hóa âm đệm ở một số phụ âm là kết quả tất yếu của quy luật tiết kiệm trong ngônngữ

1.2.1.8 2 Thổ âm

Phần lớn thổ ngữ là sự biến thể một số từ ngữ ở một vùng nhỏ hẹp và là tiếng nói lưu hành ở từngđịa phương, còn thổ âm là giọng nói đặc trưng của một vùng có cùng tính chất phong thổ

Thổ Ngữ theo đà nam tiến: Tùy theo nguồn gốc, nhóm thổ ngữ này có hai loại:

Thổ ngữ gốc gác từ các tỉnh Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, đời Hồng Đức (1470- 1497), theo lớp người

di dân vào định cư phủ Hoài Nhơn, như tiếng:

Ghè: tiếng gọi chung ba loại chum, vại, lu, cỡ nhỏ và bằng sành Cũng trong bài Vè Cát Lái (hát

vô) có câu:

Trang 35

Gặp nhau chưa nói đã cười, Kìa núi Từ Phú là nơi nhiều ghè.

Té ra: chuẩn bị nói ra những điều bất ngờ vừa nhận thức được, nên thổ ngữ này thường đứng đầu

câu và tương đương với từ ngữ "thì ra, hóa ra"

Trong tuồng Cổ Thành của Đào Tấn, văn liệu dẫn chứng ở đoạn Quan Vũ được Tào Tháo thả cho về đất

Tây Thục, khi qua ải do Hạ Hầu Đôn trấn giữ, bị chặn lại vì hắn không muốn thả cọp về rừng

Hạ Hầu Đôn nói: "Giỏi đánh với Đôn đã!"

Quan Vũ trả lời: "Té ra ngươi đã muốn đề thương chấp kích Vậy thì ta cũng nguyền sánh mã giao

phong."

Vát: xiên, lệch sang một bên Với Bình Định, Vát là tiếng lóng của dân chài, chỉ sự việc kéo xiên

xiên lá buồm để thích nghi với thuyền chạy ngược gió Bài Vè Cát Lái (hát vô), có đoạn:

Vát ra khỏi mũi Sa Hoàng Kìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa.

Thổ ngữ phát sinh từ Bình Định, theo đà Nam tiến đến tận Nam Kỳ, cũng được xếp vào nhóm thổ

  Bậu: đồng nghĩa với đại danh tự (pronouns) "em, nàng, mình", dùng gọi vợ hay người yêu của ta.

Trong hội bài chòi, gặp con bài Tứ cẳng, còn gọi là Tứ ghế hay Tứ móc, chú Hiệu thường hô câu thai cóthổ ngữ này:

Một hai bậu nói rằng không, Dấu chân ai đứng bờ sông hai người.

Chàng ràng: Theo nghĩa thông dụng là quanh quẩn bên cạnh, không rời Ở Bình Định, tiếng

"chàng ràng" còn biểu thị tình trạng ham muốn cả hai, không dứt khoát bên nào Ca dao Bình Định dùngnhiều đến chữ này theo nghĩa thổ ngữ, có khi đặt ở đầu câu:

Chàng ràng ếch ở hai hang, Như chim hai ổ, như nàng hai nơi.

Có lúc đặt ở cuối câu:

Chợ chiều nhiều khế ế chanh, Nhiều con gái lứa nên anh chàng ràng.

Chầu rày : lúc này, hồi này, khoảng thời gian này Bài chòi Bình Định gặp con bài Bát bồng, Hiệu

thường hô câu thai:

Trang 36

Chầu rày đã có trăng non,

Để tui lên xuống có con em bồng.

Cỏn, Thẵng: đại danh từ ngôi thứ ba số ít, "cỏn": con ấy, con vợ mày; "thẵng": thằng ấy, thằng

chồng mày; và dùng cho người trên nói với con cháu một cách thân tình

Thổ ngữ này theo đà Nam tiến vào miền Lục tỉnh, nhưng giọng Nam quen phát âm thiếu dấu ngã(~), nên "cỏn, thẳng" cả hai đều mang dấu hỏi và trở thành phương ngữ Nam Bộ

Trong khi đó, Bình Định, phát âm đủ sáu dấu (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) nên "thẵng" mangdấu ngã

Thí dụ: Người cô hỏi đứa cháu gái: "Thẵng đi đâu rồi?" Người cháu trả lời: "Dạ, ảnh (chồng cháu) mới đi ra phố."

Gởi: nói trại âm tiếng "gửi" Ca dao Bình Định có câu:

Bơ vơ thì mặc bơ vơ, Nẫu về xứ nẫu, nẫu gởi thơ cho mình.

Hén: là thán từ đặt cuối câu, tương đương với tiếng "phải không, nhỉ", trình bày dưới hình

thức câu hỏi, nhằm tranh thủ sự tán đồng của người nghe:

Thí dụ: Vui quá hén!

Hông, Hổng: là trạng từ, biến đổi từ tiếng "không", trong câu trả lời biểu thị ý phủ định.

Thí dụ: Chồng hỏi vợ: "Em ăn hông"

Vợ trả lời: "Hổng ăn"

Hun: biến đổi từ tiếng "hôn", là áp môi hoặc mũi vào thân thể một người khác, thường ở mặt

và tay, rồi hít vào để tỏ lòng yêu thương, quý mến

Trang 37

Thí dụ: Mẹ hun con.

Mau (còn gọi là mâu) : nhanh, lanh Phương ngữ này đã thành phổ thông trong thơ văn, đơn

cử câu thai Nhứt nọc của bài chòi Bình Định:

Tiếng ai văng vẳng kêu đò, Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.

Qua: đồng nghĩa với đại danh từ ngôi thứ nhất "tôi, ta, tao"

Tiếng "qua" chỉ dùng cho bậc đàn anh xưng với đàn em hoặc với người cấp dưới Ca dao Bình Định

Ráng: đồng nghĩa với chữ "cố, gắng sức" Trong văn bản hát bả trạo, lưu hành ở Bình Định,

có đoạn Tổng khoang diễn hát với bạn chèo qua câu nói lối đã dùng thổ ngữ này: "Ớ bá trạo ơi! Anh

em ráng mà đưa thuyền cho tới nơi giang đáo xứ túc hộ trì."

Trển: trên đó, trên ấy Bài vè Chợ Gò Chàm, chú Hiệu dùng thổ ngữ "trển" hô bài chòi cho

câu thai Ngũ trợt:

Buôn mọi bán rợ, Mấy chú An Khê.

Ở trển đem về, Xấp trầu nài rễ.

Về ưu điểm: Người Bình Định chỉ phát âm sai, nhưng viết vẫn đúng chính tả Và chỉ phát âm

sai khi nói chuyện bình thường với người quen thân cùng xứ (vì lười phát âm) Khi có dịp giao tiếp,phát biểu, thuyết trình trước đám đông và đọc sách lại phát âm đúng Người Bình Định cũngkhôngdùng thổ ngữ khi viết văn, ngoại trừ trường hợp cố ý

Giọng nói lại phân biệt rõ ràng giữa hai phụ âm khởi đầu L với N (làm nhà, nhân loại), S với X (sâu

xa, xác suất) nên cũng dễ phát âm đúng với tiếng Anh (short, X- ray) và Pháp (soc, xylène)

Trang 38

Về khuyết điểm: Trên toàn cõi nước ta không có vùng nào phát âm hoàn toàn đúng, mà cũng

không có vùng nào phát âm hoàn toàn sai; và các điểm đúng, sai ấy không hoàn toàn giống nhau ỞBình Định, do bản chất của giọng nói ít để ý đến cách phát âm, nghĩa là không chịu khó phát âm chotrọn tiếng, nên thường nói sai các vần dưới đây Tuy nhiên, ngày nay do sự truyền thông và tiếp xúcrộng rãi, người dân ở thành phố và lớp trí thức đã phát âm đúng khá nhiều, còn ở thôn quê cũng cóphần sửa đổi

Tuy có nhiều yếu tố dị biệt, nhưng nếu xét riêng về giọng nói thì trường hợp đặc biệt của BìnhĐịnh có bị ảnh hưởng ít nhiều bởi giọng Chiêm Thành là giọng đọc không có trầm bổng NgườiChàm không có trầm bổng thì giọng Bình Định cũng ít chú ý đến sắc âm, nên mặc dù vẫn trầm bổngnhưng biên độ không rõ rệt lắm Giọng Bình Định có phần cứng và nặng Nhược điểm này, có thểsửa đổi dễ dàng, một khi sắc âm được tôn trọng Nghĩa là, tiếng nói thấp ra thấp, cao ra cao một cách

rõ ràng, khoan thai; đồng thời tránh phát âm sai và biến giọng Được vậy, giọng Bình Định vừa giữđược nét đặc trưng, vừa trở nên trong sáng chuẩn xác

1.2.2 Thống kê, phân loại địa danh Bình Định

Theo số liệu chưa đầy đủ mà chúng tôi thu thập được, có thể khái quát địa danh Bình Định theo sơ đồ sau:

Địa danh chỉ vùng không xác định rõ

Trang 39

những lí thuyết về nghiên cứu địa danh dần hình thành và tạo nền tảng vững chắc cho các công trình đivào nghiên cứu địa danh sau này.

Về tiền đề thực tiễn, tỉnh Bình Định là một vùng đất có địa hình, tự nhiên đa dạng, dân cư đông đúcvới nhiều thành phần dân tộc, lịch sử hình thành lâu đời, hệ thống địa danh xuất hiện với đầy đủ các kiềuloại

CHƯƠNG 2 ĐẶC DIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH BÌNH ĐỊNH

2.1 Phương thức địa danh

Địa danh từ bao đời nay đã trở nên gắn bó mật thiết với con người Mỗi tên làng, tên xã, tên sông,tên núi… là một cái gì đó đã đi vào trong tâm trí mỗi người và khắc sâu trong ấy như một phần không thểthiếu Đặc biệt là địa danh của quê hương, nơi mình sinh ra hoặc từng sinh sống hay đã từng đi qua, đặtchân đến, chắc chắn ta không thể nào quên bởi nó chứa đựng biết bao nhiêu tình cảm, bao nhiêu kỉ niệmcủa cuộc đời Bởi vậy, việc định danh cho địa danh là một việc làm hết sức quan trọng Nó quan trọng bởivừa phải vận dụng để gọi tên một đối tượng thiêng liêng, vừa phải chuyển tải được ý nghĩa về lịch sử cũngnhư văn hóa của vùng miền, lại vừa phải tuân thủ đúng đắn những yêu cầu của ngôn ngữ học Việc địnhdanh địa danh vì thế mà trở nên tốn nhiều công sức và khá phức tạp Trong hệ thống địa danh Việt Nam,một loạt các địa danh ra đời có chức năng một mặt nhằm chuyển tải suy nghĩ, mơ ước, nguyện vọng củanhân dân gửi gắm trong ấy, mặt khác lại phản ánh khá trung thực hiện thực thực tồn tại trong ngay bảnthân đối tượng là địa danh được định danh Như vậy, việc một địa danh ra đời là kết quả của một quá trìnhcân nhắc lâu dài để đảm bảo đầy đủ được cả hai mặt chức năng và ý nghĩa của nó

Trình bày về phương thức định danh địa danh, tác giả Lê Trung Hoa trong công trình Địa danh học

Việt Nam đã đưa ra hai phương thức định danh quan trọng là “phương thức tự tạo và phương thức chuyển

hóa” Đây là hai phương thức địa danh Việt Nam nói chung và địa danh Bình Định nói riêng

2.1.1 Phương thức tự tạo

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu địa danh thường xuyên đề cập đến phương thứcđịnh danh này, và xem nó như phương thức chủ đạo trong cách định danh địa danh Bởi theo phương thứcnày, địa danh được hình thành một cách tự nhiên nhất và nhiều nhất Phương thức tự tạo địa danh tức làcon người nơi đó, vùng miền đó dùng tiếng Việt sẵn có để đặt tên cho đối tượng là địa danh cần được gọitên Địa danh theo phương thức này khá phổ biến và được sử dụng nhiều nhất vì mang nhiều tính năng ưu

Trang 40

việt như đơn giản (vì đa số là dựa vào đặc điểm sẵn có của đối tượng), dễ nhớ, dễ thuộc Địa danh đượcđặt theo phương thức tự tạo thường chứa đựng nhiều ý nghĩa gắn liền với đối tượng cũng như là hiện thựcxung quanh đối tượng Phương thức này chủ yếu được sử dụng cho loại địa danh chỉ địa hình tự nhiên vàcông trình xây dựng, ít áp dụng cho các loại địa danh hành chính và địa danh vùng

Phương thức tự tạo được xác định gồm 5 cách sau:

2.1.1.1 Dựa vào các đặc điểm chính của bản thân đối tượng để đặt tên a/ Gọi theo hình dáng của đối tượng:

Theo cách này, địa danh được gọi tên theo hình dáng mà tự bản thân nó mang sẵn, bao gồm nguyênnhân thuộc về tự nhiên hay nhân tạo

Ví dụ: Ẹo Bà Nho (An Nhơn), Cù Lao Xanh (Quy Nhơn), Truông Bà Đờn (An Nhơn), Mũi Mác

(Quy Nhơn), Gành Hổ (Quy Nhơn), Hòn Vỏ Cá, Hòn Da Két (Quy Nhơn), Dốc Chàng Hảng (Đào AnKhê, ranh giới giữa Bình Định và Gia Lai), Hòn Chóp Vung (Quy Nhơn)

Cách định danh này chủ yếu áp dụng cho đối tượng là địa danh chỉ địa hình tự nhiên vì đây lànhững sản phẩm của tạo hóa, sẵn có, con người dựa vào những đặc điểm của chúng để gọi tên

b/ Gọi theo kích thước của đối tượng:

Ví dụ: Chợ Lớn (Quy Nhơn), Bãi Dài (Quy Nhơn), Nhà Thờ Lớn (Quy Nhơn),

c/ Gọi theo kiến trúc và cấu trúc của đối tượng:

Ví dụ: cầu Đôi (Tuy Phước), tháp Đôi (Quy Nhơn), Tháp Bánh Ít (Tuy Phước),

d/ Gọi theo tính chất của đối tượng:

Ví dụ: Gò Thành Cũ (An Nhơn) , núi Hiển Hách (Tây Sơn) , Hóc Sâu , Hòn Cao (Quy Nhơn), cầu

Nước Mặn (Hoài Nhơn), suối Nước Ngọt ( Phù Mỹ), suối Nước Nóng (Phù Cát), Nước Trắng (, NướcTrong, Suối Đục ( Phù Cát), Đèo Phủ Cũ (Phù Mỹ)

e/ Gọi theo màu sắc của đối tượng:

Ví dụ: Núi Xanh, Cù Lao Xanh (Quy Nhơn), Hòn Nước Đỏ (Quy Nhơn), Núi Đen (Quy Nhơn),

Cầu Đen, Cầu Trắng ( An Nhơn), Hòn Đá Đen (Quy Nhơn)

f/ Gọi theo vật liệu xây dựng đối tượng:

Ví dụ: Phường Đập Đá (An Nhơn), Bến Đá (Hoài Nhơn) , Khe Đá (Phù Cát) , Nhà Đá, chùa Ông

Đá , đèo Bến Đá

Ngày đăng: 06/04/2021, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w